1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

một số biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh qua phân môn tiếng việt – ngữ văn 9

23 57 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 271 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cùng với tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và những thực trạngchung của của xã hội và của học sinh lớp tôi như đã nêu trên nên tôi chọn đề tài “Rèn luyện kỹ năng

Trang 1

I TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO HỌC SINH QUA PHÂN MÔN TIẾNG VIỆT – NGỮ VĂN 9.

II ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tầm quan trọng của đề tài:

Trong thực tế, khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trênlớp, giáo viên đều phải xây dựng 3 mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹnăng, hình thành thái độ, năng lực Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trongdạy học và giáo viên đều nhận thức sâu sắc yêu cầu này Tuy nhiên, có thể nóirằng do phải chạy theo thời gian, phải chuyển tải nhiều nội dung trong khi thờigian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trung cung cấp kiến thức mà ít quantâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năng ứng xử với xã hội, ứng phó

và hòa nhập với cuộc sống

Trong thời gian gần đây, giáo dục kỹ năng giao tiếp(KNGT) cho học sinhđược quan tâm nhiều hơn Giáo dục KNGT cho học sinh phổ thông hiện naykhông bố trí thành một môn học riêng trong hệ thống các môn học của nhàtrường phổ thông bởi KNGT phải được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi khi có điềukiện, cơ hội phù hợp Do đó, giáo dục KNGT phải thực hiện thông qua từngmôn học và trong các hoạt động giáo dục Vì vậy, cơ hội thực hiện giáo dụcKNGT rất nhiều và rất đa dạng Có thể đề cập tới một số phương thức tổ chứcsau: Thông qua dạy học các môn học; qua chủ đề tự chọn; qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp; qua hoạt động trải nghiệm

Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNGT với các hoạt động giáo dục vốn đãđược lồng ghép vào chương trình giáo dục từ nhiều năm nay như giáo dục bảo

vệ môi trường, phòng chống ma tuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vịthành niên, … tạo nhiều cơ hội và điều kiện để triển khai giáo dục kỹ năng sống

( KNS)

2 Lí do chọn đề tài:

Thời gian qua, dù giáo dục KNS có được quan tâm nhưng hiệu quả vẫncòn nhiều hạn chế thể hiện qua thực trạng về KNS của học sinh còn nhiều khiếmkhuyết

Thực tế cho thấy, tình trạng học sinh thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiện qua hành

vi ứng xử không phù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với các tình huốngtrong cuộc sống như: ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu

lễ độ với thầy cô giáo, cha mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môitrường, giữ gìn vệ sinh công cộng, gây phiền hà cho người khác khi sử dụngđiện thoại di động,

Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng(chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,…) Tổchức giáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dụckhác, nội dung giáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một

số hoạt động khác (hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, ) cho nên phải tính

Trang 2

Tại điều 2, Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 có nêu: “Mục tiêu giáo dục là

đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” cùng với tầm

quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh và những thực trạngchung của của xã hội và của học sinh lớp tôi như đã nêu trên nên tôi chọn đề tài

“Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm lớp và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” để nghiên cứu và vận dụng.

Từ những vấn đề nêu trên, tôi đã lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm “Giáodục kỹ năng giao tiếp cho học sinh qua phân môn Tiếng Việt – Ngữ Văn 9”

Tiếp cận theo bốn trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kỹ năng học tập, kỹnăng làm chủ bản thân, kỹ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kỹ nănglàm việc

Tuy nhiên, kỹ năng sống (life skills) có thể hiểu là khả năng làm chủ bảnthân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội

và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống

Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thứcthành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh

2 Vị trí:

Giáo dục kĩ năng sống (KNS) là một nội dung quan trọng được thực hiệnmột cách có hệ thống trong các nhà trường Giáo dục KNS giúp học sinh rènluyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân và cộng đồng, đối phó với nhữngsức ép của cuộc sống, phòng ngừa những hành vi có hại cho thể chất và tinhthần của các em Giáo dục KNS giúp tăng cường khả năng tâm lí, khả năngthích ứng, giúp các em có cách thức ứng phó với những thách thức của cuộcsống

Môn Ngữ văn ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc thực hiệnmục tiêu giáo dục, góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh, là mộtmôn học có nhiều khả năng giáo dục KNS cho HS, điều đó được thể hiện:

Trang 3

- Nhiệm vụ và nội dung môn Ngữ văn chứa đựng những yếu tố của giáodục KNS, phù hợp với trọng tâm của giáo dục KNS là quá trình đối thoại, tươngtác lẫn nhau, sử dụng vốn kinh nghiệm của người học để thực hành kĩ năng; phùhợp với cách tiếp cận làm thay đổi hành vi của người học trên cơ sở nhận thức

về các vấn đề của cuộc sống

- Một trong những đặc điểm của môn Ngữ Văn là sự tích hợp nhiều nộidung giáo dục, trong đó có các nội dung giáo dục về các vấn đề xã hội, nhânvăn Vì vậy, việc tích hợp nội dung giáo dục KNS vào môn Ngữ văn là điều cóthể thực hiện và phù hợp với xu thế hiện nay

- Việc giáo dục các chuẩn mực xã hội không thể chỉ xuất phát từ yêu cầunhà giáo mà phải xuất phát từ quyền lợi và nhu cầu phát triển của học sinh Giáodục KNS giúp học sinh có những kĩ năng thiết thực để sống an toàn, lành mạnh,

có hiệu quả, do đó học sinh hứng thú học tập và lĩnh hội các chuẩn mực mộtcách chủ động, tự giác

Từ khả năng giáo dục KNS trong môn Ngữ văn được xác định là hết sứcquan trọng và cần thiết, mục tiêu giáo dục KNS trong môn Ngữ văn cũng đượcxác định rõ ràng

Giáo dục KNS trong môn Ngữ văn ở trường THCS nhằm giúp học sinh:+ Hiểu được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân có thể sống tựtin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển thể chất và tinh thần

+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, biết xử trí linh hoạt trong các tình huốnggiao tiếp hằng ngày; có kĩ năng tự bảo vệ mình; rèn luyện lối sống có tráchnhiệm với bản thân, bè bạn, gia đình và cộng đồng

+ Có nhu cầu rèn luyện KNS trong cuộc sống hằng ngày; ưa thích lối sống lànhmạnh, có thái độ phê phán đối với những biểu hiện thiếu lành mạnh; tích cực, tựtin tham gia các hoạt động, có quyết định đúng đắn trong cuộc sống

3 Tầm quan trọng:

Môn Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong giáo dục kỹnăng sống cho học sinh, bởi đây là một môn khoa học xã hội và nhân văn, môn

tâm của con người mà còn giúp học sinh có năng lực giao tiếp, nhận thức về xãhội, con người, bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và địnhhướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách

Từ khi thuật ngữ “kĩ năng sống” và vấn đề giáo dục kỹ năng sống đượcđặt ra như một vấn đề cấp bách của thời đại thì dạy học Ngữ văn được nhìn nhậnmột cách hệ thống hơn, người giáo viên khi thiết kế bài học thường có ý thứchơn trong việc lồng ghép kỹ năng sống vào trong môn học làm sao vừa đảm bảokiến thức cơ bản vừa giáo được kỹ năng sống cho học sinh

Trang 4

Đối với các tiết học đọc- hiểu văn bản vì thời gian có hạn nên phần lồngghép kỹ năng sống thường không nhiều và người giáo viên không có hoặc rất ítthời gian để lắng nghe những phản hồi từ phía học sinh và kịp thời uốn nắn, hìnhthành những kỹ năng tích cực.

Trong khi đó các giờ học Tiếng việt do đặc thù của phân môn, giáo viên

có nhiều thời gian để hình thành cho học sinh kỹ năng giao tiếp, kỹ năng phảnbiện, kỹ năng hợp tác… Đặc biệt là các giờ học Tiếng Việt thường gợi nhiềuhứng thú, hấp dẫn đối với học sinh bởi các em có thể trình bày quan điểm,những suy nghĩ của riêng cá nhân mình

Người giáo viên qua đó có thể nắm bắt được suy nghĩ, quan điểm của họcsinh, từ đó hướng các em đến một lối sống tốt, có ý nghĩa

Vì vậy giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua các tiết Tiếng Việt có thểphát huy được tính tích cực, những giá trị tốt đẹp và đánh thức tiềm năng conngười ở mỗi học sinh

IV CƠ SỞ THỰC TIỄN

Việc giáo dục, rèn luyện KNS là một phạm trù rộng, tất cả các bộ môn,các tổ chức đoàn thể: Đoàn, Đội….tất cả giáo viên và học sinh đều phải bắt tayvào thực hiện Trong đó môn Ngữ văn là môn học có nhiều khả năng để thựchiện nội dung này nhất

Trong những năm gần đây, việc giáo dục học sinh trong nhà trường đãkhông hạn chế ở việc giảng dạy, cung cấp tri thức văn hóa mà yêu cầu cần phảicung cấp cho các em những kiến thức cần thiết về kĩ năng trong cuộc sống hàngngày Đặc biệt từ năm học 2011- 2012 đến nay Bộ Giáo dục Đào tạo đã đưa nộidung giáo dục KNS vào các môn học và đã tập huấn cho đội ngũ cán bộ cốt cán,cho đến giáo viên trực tiếp đứng lớp ở các cấp học và triển khai nội dung nàymột cách có hệ thống Và đây cũng là xu thế giáo dục chung của nhiều nước trênthế giới

Tuy nhiên khi triển khai và tổ chức thực hiện giáo dục KNS nói chung vàđối với môn Ngữ văn nói riêng nhiều lúc giáo viên còn lúng túng khi lựa chọn

kỹ năng thích hợp, việc điều tiết giữa nội dung bài học với các KNS cần giáodục trong áp lực thời gian 45’của một tiết học

đang là vấn đề “nóng” được giới nghiên cứu và xã hội quan tâm ,nhất là trướctình trạng báo động về nhân cách, đạo đức, lối sống của một bộ phận giới trẻhiện nay

trong nhà trường theo chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo là một trong nhiềucon đường hình thành kỹ năng sống ở mỗi người, nhưng giáo dục kỹ năng sốngtheo con đường giáo dục nhà trường sẽ đảm bảo vai trò chủ đạo của giáo dục và

Trang 5

có thể đem lại hiệu quả cao hơn nhờ tính khoa học và tính chuyên nghiệp củanó.

Thế nhưng tình hình chung ở các trường phổ thông hiện nay là phần lớnthời gian dạy học đều dành hết cho các môn học chính khóa còn kỹ năng sống ítđược quan tâm, có chăng là đưa vào lồng ghép với các hoạt động khác như hoạtđộng ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp…và thường có tính hình thức, làmchiếu lệ Giáo dục cần phải hướng đến một chương trình toàn diện, dạy học làdạy cả tri thức, kỹ năng và thái độ sống để học sinh có thể hội nhập, thích nghivới thế giới

V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU :

1 Mục tiêu giáo dục Kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS

Giáo dục kĩ năng sống thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháptích cực ở trường THCS nhằm giúp học sinh:

- Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS

b.Về kĩ năng:

- Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả

và tự tin trong các giao tiếp hằng ngày

- Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trongcuộc sống

- Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trướcnhững nguy cơ ảnh hưởng đến sự an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xãhội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác ); giúp HS phòng ngừanhững hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân

Trang 6

- Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xãhội; có ý thức nghề nghiệp

2 Các bước giáo dục kĩ năng sống:

thực hiện

Vai trò của GV/HS Gợi ý một số KTDH 1.Khám

phá

-Kích thích HS

tự tìm hiểu xemcác em đã biết gì

về những kháiniệm, kiến thức,

kĩ năng sẽ đượchọc

-Giúp GV đánhgiá, xác địnhxem HS đã biết

gì, có kĩ năng gì

có liên quan đếnbài mới

-GV (cùng với HS)thiết kế hoạt động(có tính chất thửnghiệm)

-GV (cùng với HS)đặt câu hỏi nhằm gợilại những hiểu biếtliên quan đến bài họcmới

-GV giúp HS xử lí,phân tích các hiểubiết hoặc trải nghiệmcủa HS, tổ chức vàphân loại chúng

-GV đóng vai trò lập

kế hoạch, khởi động,đặt câu hỏi, nêu vấn đề,ghi chép

-HS cần chia sẻ, traođổi, phản hồi, xử líthông tin, ghi chép -Một số kỹ thuật dạyhọc chính: động não,thảo luận, chơi trò chơitương tác, đặt câuhỏi,

2.Kết nối Giới thiệu thông

tin, kiến thức và

kĩ năng mớithông qua việctạo ‘cầu nối’ liênkết giữa cái ‘đãbiết’ với cái

‘chưa biết’ Cầunối này sẽ kếtnối kinh nghiệm

có của HS vớibài học mới

-GV giới thiệu mụctiêu bài học và kếtnối chúng với cácvấn đề đã chia sẻ ởbước 1

-GV giới thiệu kiếnthức và kĩ năng mới

-Kiểm tra xem kiếnthức và kĩ năng mới

đã được cung cấptoàn diện và chínhxác chưa

-Nêu ví dụ khi cầnthiết

GV nên đóng vai tròcủa người hướng dẫn

HS là người phản hồi,trình bày quan điểm/ýkiến, đặt câu hỏi/trảlời

-Một số kĩ thuật dạyhọc:thảo luận theonhóm, người học trìnhbày, khách mời, đóngvai, sử dụng phươngtiện dạy học đa chứcnăng (chiếu phim,băng, đài, đĩa )

-GV nên đóng vai tròcủa ngươì hướng dẫn(facilitator), người hỗtrợ

-HS đóng vai trò ngườithực hiện, người khámphá

Trang 7

kiện có ý nghĩa.

-Định hướng HSthực hành đúngcách

-Điều chỉnhnhững hiểu biết

và kĩ năng cònsai lệch

nhân để hoàn thànhnhiệm vụ

-GV giám sát tất cảmọi hoạt động vàđiều chỉnh khi cầnthiết

-GV khuyến khích

HS thể hiện nhữngđiều các em suy nghĩhoặc mới lĩnh hộiđược

-Một số kĩ thuật dạyhọc: đóng kịch ngắn,viết luận, mô phỏng,hỏi/đáp, trò chơi, thảoluận nhóm, tranhluận

4.Vận dụng Tạo cơ hội cho

HS tích hợp, mởrộng và vậndụng kiến thức

và kỹ năng cóđược vào cáctình huống, bốicảnh mới

-GV (cùng với HS)lập kế hoạch cáchoạt động đối vớinhiều môn học, lĩnhvực học tập dòi hỏi

HS vận dụng kiếnthức và kĩ năng mới

-HS làm việc theonhóm, cặp và cánhân để hoàn thànhnhiệm vụ

-GV và HS cùngtham gia hỏi và trảlời trong suốt quátrình tổ chức hoạtđộng

-GV có thể đánh giákết quả học tập của

HS tại bước này

-GV đóng vai trò ngườihướng dẫn và ngườiđánh giá

-HS đóng vai trò ngườilập kế hoạch, ngườisáng tạo, thành viênnhóm, người giải quyếtvấn đề, người trình bày

và người đánh giá.-Một số kĩ thuật dạyhọc: dạy học hợp tác,làm việc nhóm, trìnhbày cá nhân, dạy học

Trang 8

STT Tên bài học Các KNS cơ bản Phương pháp/kỹ thuật dạy học

-Tự nhận thức -Hợp tác

-Phân tích tình huống mẫu để hiểucác phương châm hoại thoại cầnđảm bảo trong giao tiếp

-Thực hành có hướng dẫn đóng vailuyện tập các tình huống giao tiếptheo các vai khác nhau để đảm bảocác phương châm hoại thoại tronggiao tiếp

-Động não: Suy nghĩ phân tích các

cứ vào đối tượng vàcác đặc diểm của tìnhhuống giao tiếp

-Tự nhận thức

-Phân tích tình huống giao tiếp tiếp

để thấy tác dụng hiệu quả trongcách xưng hô giao tiếp

-Thực hành có hướng dẫn xưng hôphù hợp với các tình huống hoạithoại

3 Thuật ngữ -Giao tiếp: Trình bày

trao đổi về đặc điểmvai trò cách sử dụngthuật ngữ trong tạolập văn bản

-Ra quyết định: Lựachọn và sử dụngthuật ngữ phù hợpvới giao tiếp

-Thực hành có hứơng dẫn luyện tập

sử dụng thuật ngữ trong tạo lập câu,đoạn, bài văn, trong những tìnhhuống giao tiếp cụ thể

-Phân tích các tình huống để hiểuđặc điểm vai trò, cách sử dụngthuật ngữ tiếng việt

-Động não:suy nghĩ phân tích các

ví dụ để rút ra những bài học thiếtthực về sử dụng thuật ngữ

-Giao tiếp trình bàysuy nghĩ ý tưởng,trao đổi về đặc điểmcách phát triển từvựng Tiếng việt

Phân tích tình huống mẫu để hiểucác cách phát triển từ vựng cầnđảm bảo trong giao tiếp

-Phân tích các tình huống để hiểucách phát triển từ vựng tiếng việt.-Động não:suy nghĩ phân tích các

ví dụ để rút ra những bài học thiếtthực về sử dụng từ Tiếng việt

Trang 9

-Tự nhận thức -Hợp tác

b Thường xuyên lồng ghép các trò chơi dân gian, trò chơi ô chữ vào bài học

Trong xã hội xưa, trò chơi dân gian chiếm vị trí quan trọng trong khônggian giải trí của cả người lớn lẫn trẻ nhỏ Thông qua hoạt động của nguời lớn,trẻ nhỏ thường học bằng cách bắt chước, và cứ như vậy, các trò chơi dân gianđược lưu truyền qua các thế hệ Chính nhờ những trò chơi đơn giản nhưng thú vị

đó mà trẻ em xưa được giáo dục tính cách và phát triển thể chất

Dưới góc độ giáo dục, các trò chơi dân gian có thể được chia thành bốnnhóm chính: nhóm trò chơi vận động giúp phát triển sức khỏe thể chất như bịtmắt bắt dê, rồng rắn lên mây, ; nhóm trò chơi học tập tập cho trẻ em cách quansát, tính toán như các loại cờ, ô ăn quan, giải đố, ; nhóm trò chơi sáng tạo giúptrẻ phát triển trí tưởng tượng, sự khéo léo và khiếu thẩm mĩ như làm con vật từ

lá cây, nặn đất, ; và nhóm trò chơi mô phỏng hành động của người lớn như xâynhà, mua bán, Sự thi đua trong khi chơi giúp trẻ thực sự nhập vai thành nhữngngười lớn mà nhờ đó dần học được cách ứng xử trong quá trình phát triển nhâncách

Các trò chơi dân gian cũng là môi trường rèn luyện kỹ năng sống của trẻ.

Chỉ khi chơi các trò chơi tập thể, tính đoàn kết của các em mới được thích nghihay khi thêm bạn thêm bè bất chợt của một cuộc chơi sẽ giúp các em biết cách

sẻ chia, linh hoạt

Như vậy, trò chơi dân gian có khả năng giúp trẻ em phát triển toàn diện cả

về thể chất lẫn tâm hồn, trong học tập lẫn cuộc sống Có được khoảng thời gianvui chơi thoải mái sẽ giúp các em học tập thêm hào hứng Sân chơi lành mạnhcòn có vai trò phát huy những năng khiếu tự nhiên hay những phẩm cách tốt ởtrẻ, và hạn chế được những tính cách không tốt

Ví dụ: khi dạy bài: Nghĩa tường minh- Hàm ý Giáo viên yêu cầu học sinh chia

nhóm và thực hiện trò chơi rồng rắn lên mây

Mục đích:

- Luyện cho trẻ chạy theo đường dích dắc

- Giáo dục tính tập thể:

* Tổ chức trò chơi : Hái hoa dân chủ

Tiết 18: Xưng hô trong hội thoại (Sách Ngữ văn 9, Tập 1)

Tổ chức trò chơi hái hoa dân chủnhư sau:

Trong mỗi bông hoa là mỗi câu hỏi hoặc yêu cầu:

Câu 1: hãy đọc một bài thơ hay hát một bài hát về tình bạn, tình cảm giađình, tình thầy cô

Câu 2: Bạn có cảm nhận gì sau khi nghe bài thơ đó?

Trang 10

Câu 3: Nêu những cảm nhận của em về thái độ tình cảm của bạn em đốivới những người thân trong gia đình.

Câu 4: Em sẽ dùng từ ngữ xưng hô như thế nào khi gặp bạn bè, ngườithân, thầy cô?

Mỗi HS hái một hoa và trình bày theo yêu cầu nội dung câu hỏi

Đây là một trong những hoạt động dạy học mà HS yêu thích nhất vì nókích thích sự hứng thú học tập, làm cho tiết học thêm sinh động và hấp dẫn.Đồng thời qua hình thức này GV cũng rèn được một số kĩ năng giao tiếp cho

HS Đó là kĩ năng lắng nghe tích cực, kĩ năng thể hiện sự tự tin,kĩ năng giao tiếp, ứng xử.

c Tổ chức đàm thoại, đóng vai, phản biện giữa học sinh- học sinh:

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một sốcách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằmgiúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụthể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải làphần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phầndiễn ấy

Ưu điểm:

- Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độtrong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn

- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạođức và chính trị – xã hội

- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vaidiễn

*Khi thực hiện phương pháp đóng vai giáo viên cần lưu ý:

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi,trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

- Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

- Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp

- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

- Phải dành thời gian phù hợp cho HS thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bịđóng vai

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm

- Trong khi HS thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV nên đi đến từng nhóm lắngnghe và gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết

Trang 11

- Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóngvai

Ví dụ: Khi dạy bài các phương châm hội thoại, để học sinh dễ nhận ra các tình

huống giao tiếp trong cuộc sống thì giáo viên cần cho học sinh đóng vai như:

Chàng rễ và người hàng xóm

HS đàm thoại trực tiếp sau đó các em nhận thức được tầm quan trọng của lờinói trong giao tiếp, giúp các em có ý thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp trong giaotiếp

Câu chuyện về An và Ba

- Một học sinh đóng vai An đẻ hỏi: Cậu học bơi ở đâu vậy?

- Một học sinh trả lời: Học bơi dưới nước.

- Học sinh đóng vai An: sau khi nghe câu trả lời của bạn tỏ thái độ ngạc nhiên, không hiểu

Đóng vai Người ăn xin và cậu bé.

d Tạo không khí lớp học luôn vui vẻ, gần gũi, thân thiện giữa thầy- trò, giữa trò – trò( quan hệ hợp tác)

"Môi trường lớp học" là một trong những yếu tố quan trọng góp phầnnâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học các môn học Trong mỗi lớp học,giáo viên và học sinh cùng nhau xây dựng được "môi trường lớp học thân thiện"

sẽ tạo cho học sinh cảm giác gần gũi, chủ động việc tìm tòi nội dung của mônhọc Đây là động cơ để các em phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, từ đólôi cuốn các em đến với bài học một cách tự tin và hứng thú

Cùng nhiều hoạt động khác, hoạt động xây dựng "môi trường lớp họcthân thiện" giúp học sinh hình thành và phát triển các kĩ năng ban đầu, cơ bản vàcần thiết phù hợp với sự phát triển chung của học sinh Kĩ năng giao tiếp, kĩnăng tham gia các hoạt động tập thể, kĩ năng nhận thức góp phần hình thành vàphát triển tính tích cực, tự giác, tinh thần tập thể cho học sinh Trên cơ sở đó bồidưỡng cho học sinh thái độ đúng đắn, tinh thần trách nhiệm chung với công việccủa tập thể

Để giúp học sinh học tốt, lĩnh hội các kiến thức kỹ năng để trở thànhnhững con người phát triển toàn diện thì mỗi người giáo viên không chỉ tổ chứccác hoạt động dạy học mà còn phải tích cực tổ chức các hoạt khác, đặc biệt cầnquan tâm đến hoạt động xây dựng "môi trường lớp học thân thiện", nhất là tronggiai đoạn hiện nay khi mà ngành giáo dục đang tích cực tham gia phong trào thiđua xây dựng "Trường học thân thiện học sinh tích cực" (Thực hiện Chỉ thị số40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ GDĐT) thì việc "Xâydựng môi trường lớp học thân thiện" càng trở nên cần thiết Thông qua hoạtđộng này sẽ tạo hứng thú cho quá trình dạy học, các em sẽ được trao đổi thông

Ngày đăng: 13/04/2021, 08:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w