- Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy năng lực học tập của học sinh, giúp các em biết cảm nhận cái hay, cái đẹp, ý nghĩa cuộc đ
Trang 1Phòng GD và ĐT Huyện Phúc Thọ Trường THCS Võng Xuyên
-*** -ĐỀ TÀI Sáng kiến kinh nghiệm
TÊN ĐỀ TÀI:
Nâng cao kĩ năng làm văn thuyết minh
cho học sinh lớp 8
Tổ: Khoa học xã hội
Năm học: 2019-2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NA,
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 2-*** -ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I SƠ YẾU LÝ LỊCH
- Ngày tháng năm sinh : 03/9/1973
- Năm vào ngành : 1996
- Đơn vị công tác : THCS Võng Xuyên
- Trình độ chuyên môn : Cử nhân khoa học ngành ngữ văn
- Hệ đào tạo : Từ xa - Đại học Sư phạm Huế
- Bộ môn giảng dạy : Ngữ văn 8
Trang 3A.ĐẶT VẤN ĐỀ TÊN ĐỀ TÀI: “ NÂNG CAO KĨ NĂNG LÀM VĂN THUYẾT MINH CHO
HỌC SINH LỚP 8”
I, LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Căn cứ luật giáo dục năm 2019 với mục tiêu: “ giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp
Có phẩm chất, năng lực, có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc…phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, nâng cao dân trí phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc và hội nhập quốc tế
- Để đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy năng lực học tập của học sinh, giúp các em biết cảm nhận cái hay, cái đẹp, ý nghĩa cuộc đời qua thực tế, những áng thơ văn… Các
em có thể tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng óc quan sát
và khả năng nhận xét làm cho tâm hồn và trí tuệ con người thêm phong phú giúp các em hiểu và yêu văn chương hơn, học tốt môn ngữ văn, đặc biệt là các em hiểu yêu cuộc sống và sống tốt hơn Vì vậy, đối với thầy cô ngoài việc cung cấp bài dạy theo hướng dẫn của sách giáo khoa, sách giáo viên, chuần kiến thức kĩ năng… chúng ta cần quan tâm đến rèn kĩ năng viết văn cho học sinh, đó là lí do tôi chọn đề tài này
II, ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
- Phạm vi: kiến thức, kĩ năng làm văn lớp 8
- Đối tượng nghiên cứu là phần tập làm văn lớp 8 kì I Luyện các bài tập rèn kĩ năng làm văn thuyết minh Đối tượng dạy là học sinh lớp 8D, dạy bồi dưỡng nhu cầu nâng cao kiến thức môn học, số tiết thực hiện 6 tiết
- Thời gian: năm học 2019-2020
III, MỤC ĐÍCH Ý NGHĨA, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1) Mục đích ý nghĩa
- Hình thành năng lực viết văn cảm nhận cái hay cái đẹp của văn chương, trong cuộc sống và rèn năng lực tự học
- Thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục: Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học
Trang 42) Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp dung số liệu, so sánh đối chiếu, phân tích, phân loại, …
- Phương pháp giao tiếp, phương pháp dạy học theo sự phát triển năng lực của học sinh
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
-B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I, CƠ SỞ LÍ LUẬN:
- Học sinh cần phân biệt được văn thuyết minh với văn tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận khác nhau ở chỗ nào va rút ra được kết luận văn thuyết minh là một kiểu văn bản riêng mà các văn bản trên không thay thế được
- Việc nâng cao kĩ năng làm văn thuyết minh là cần thiết cho học sinh vì toàn bộ chương trình làm văn lớp 8 kì I và đầu học kì II là văn thuyết minh Qua đó sẽ xóa đi mặc cảm ngại học văn và giúp đỡ các em tháo gỡ những khó khăn vướng mắc mà lâu nay các em chưa làm được
- Để thực hiện đề tài này, tôi chủ động đọc, tìm hiểu tài liệu, SGK, sách giáo viên, bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn THCS quyển 4, những điều cần biết bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ văn 8… về vấn đề rèn luyện kĩ năng làm văn thuyết minh
II, THỰC TRẠNG DẠY VĂN THUYẾT MINH Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG:
1) Thuận lợi, khó khăn:
Ở lớp 7 các em đã được rèn luyện cách làm văn biểu cảm, nghị luận… nhưng
kĩ năng vận dụng còn rất hạn chế, không chủ động sáng tạo khi diễn đạt nội dung từng phần cũng như toàn bài Bài làm của học sinh còn sơ sài, câu văn chưa có hình ảnh Sự say mê đọc sách của các em là quá ít điều đó làm nghèo nàn vốn từ
Với giáo viên chưa tổ chức được nhiều hoạt động nhằm phát triển kĩ năng quan sát, tưởng tượng… cho học sinh như: tham quan một số di tích lịch sử hay những cảnh đẹp ở địa phương…
Từ cơ sở trên, tôi nhận thấy việc rèn luyện kĩ năng làm văn thuyết minh cho học sinh lớp 8 là rất cần thiết
2) Số liệu điều tra trước khi thực hiện:
- Trước số liệu tôi đưa đề bài cụ thể và kết quả thu được như sau:
Trang 5p
Sĩ số Số
bài
Kết quả
8D 37 37
Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
2 5,4 10 27 20 54,1 5 13,5
- Kết quả chưa cao là do: Học sinh chưa có năng lực, chưa nắm bắt được đặc điểm của đối tượng…
Vì vậy tôi hướng dẫn học sinh một số kĩ năng chính như sau:
III, NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN (nội dung chủ yếu của đề tài):
Trong quá trình giảng dạy, việc rèn luyện các thao tác kĩ năng viết là hết sức quan trọng Học sinh khi đã nắm chắc lí thuyết thì phải có kĩ năng thực hành thì kết quả bài viết mới tốt lên được Các kĩ năng đó là học phải nắm được đặc điểm
và các bước làm một bài văn thuyết minh Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành
cụ thể như sau:
1) Một số vấn đề chung về văn thuyết minh
1.1) Khái niệm:
- Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích Văn bản thuyết minh có tính chất tri thức, khách quan, thực dụng là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích cho con người
- Để củng cố nội dung vừa ôn tập giáo viên yêu cầu học sinh làm bài tập
Bài tập : So sánh các văn bản sau đây và cho biết văn bản nào là thuyết minh? Tại sao?
- Văn bản 1: …Tính hiện đại của lí luận văn học và phê bình văn học là một đề tài rất phong phú Tính hiện đại đó tất yếu gắn liền với tính khoa học, tính nhân văn, tính chủ thể với nhu cầu tự do dân chủ, bình đẳng, công bằng, văn minh… phê bình văn học trong ý nghĩa hiện đại không hề có nghĩa là “đánh người” mà
là sống, là cùng chung sống, và sang tạo trong xã hội văn học, cùng làm giàu cho nền văn học dân tộc Việt Nam ta
(Trích: Tính hiện đại của tư duy lí luận, phê bình văn học – Trần Đình Sử)
- Văn bản 2:
Cha: Câu tục ngữ “mềm nắn rắn buông” ý nói gì vậy?
Con: Dạ, câu này dạy ta kinh nghiệm chọn trái cây chín khi ăn ạ!
Trang 6(Theo báo thiếu niên tiền phong số 132/ tháng 12/ 2002)
- Văn bản 3:
Cá đuối thường sống ở vùng biển nhiệt đới Thân hình chúng nom dẹt và mỏng, do hai vây ngực rộng và phẳng ở hai bên, gắn liền với thân Khi cá bơi, các vây ngực mềm này chuyển động lên xuống trong nước trông rất đẹp Cá đuối màu xanh sẫm, nhưng cũng có loài đuối lưng có những đốm màu trắng nom rất nổi bật Chiếc đuôi dài giúp cá đuối giữ thăng bằng dưới nước Tuy nhiên, đuôi cá đuối có nọc độc, có thể châm đốt gây nguy hiểm cho con người
và các động vật khác Cá đuối thích sống thành từng đàn Người ta nhìn thấy bầy
cá đuối ba đến bốn con bơi cạnh nhau Chúng cũng rất thích nhảy múa nữa Lúc
“cao hứng”, cá đuối còn nhảy vọt lên trên mặt nước, cao đến vài mét Song, cá đuối cũng biết giấu mình dưới cát để tránh kẻ thù
(Báo Họa Mi số 35-2003)
- Gợi ý: Văn bản 3 là văn bản thuyết minh vì:
+ Văn bản 1: văn nghị luận về lí luận văn học và phê bình văn học thời hiện đại + Văn bản 2: truyện cười: cách hiểu một câu tục ngữ
+ Văn bản 3: Thuyết minh về loài cá đuối ở vùng biển nhiệt đới:
Giới thiệu đặc điểm chung: Loài cá sống ở vùng biển nhiệt đới
Đặc điểm cá đuối: Thân, hai vây, màu sắc, đuôi,…
Tập tính cá đuối: Sống thành đàn…
1.2) Đề văn thuyết minh:
- Bao gồm một phạm vi rộng lớn của cuộc sống con người từ những đồ dung, từ những di tích, thẳng cảnh, cây, hoa, động vật, những món ăn dân tộc, đồ ăn dân gian, phong tục tập quán, tập thơ, thể loại văn học,…
- Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục dễ hiểu, học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
1.3) Yêu cầu và phương pháp thuyết minh:
Yêu cầu: Đối với bài văn thuyết minh cần có tri thức về đối tượng cần thuyết minh
- Muốn có tri thức phải học tập, tích lũy hàng ngày từ sách báo, quan sát, tìm hiểu
- Kiến thức về đối tượng tức là phải hiểu biết về đối tượng thuyết minh: Là cái gì? Có đặc điểm tiêu biểu gì? Cấu tạo ra sao? Hình thành như thế nào? Có giá trị, ý nghĩa gì?
- Muốn có tri thức về đối tượng thì phải biết quan sát Quan sát không chỉ là nhìn, xem mà còn xét để phát hiện đặc điểm tiêu biểu của sự vật Biết tra cứu từ
Trang 7điển, phân tích ví dụ: như đối tượng thuyết minh chia làm mấy bộ phận, mỗi bộ phận có đặc điểm gì, quan hệ các bộ phận ấy ra sao
Phương pháp thuyết minh:
- Phương pháp thuyết minh là một vấn đề then chốt của bài văn thuyết minh Nắm được phương pháp, học sinh sẽ biết ghi nhận thông tin nào, lựa chọn những số liệu nào để thuyết minh về một sự vật, hiện tượng
- Nếu hiểu cấu tạo của sự vật, thì phải trình bày sự vật theo quá trình hình thành của nó từ trước đến sau
- Các phương pháp thuyết minh: nêu định nghĩa, liệt kê, nêu ví dụ, dùng số liệu,
so sánh, đối chiếu, phân tích, phân loại…
- Giáo viên giúp học sinh ôn lại lí thuyết và lấy ví dụ minh họa:
+ Phương pháp nêu định nghĩa: Cần phải xác định được đối tượng thuộc vào loại sự vật nào, hiện tượng gì và chỉ ra đặc điểm nổi bật riêng cuả đối tượng trong loại sự vật hiện tượng đó
VD: Để giúp đối tượng hiểu biết thế nào là kể chuyện, người nêu định nghĩa cần nêu được các ý cơ bản sau: kể chuyện là phương thức tự sự kể lại các diễn biến tình tiết, chi tiết và toàn bộ câu chuyện
+ Phương pháp giải thích: Là phương thức dùng tri thức khoa học giảng giải các đặc điểm, tính năng, công dụng … của sự vật hiện tượng
VD: Không nên ép bé tập đi quá sớm
Hầu hết các bé khi mới sinh ra đều có đôi bàn chân đẹp Sự chăm sóc hợp lí có thể giữ cho đôi bàn chân ấy khỏe mạnh Lúc mới sinh, hầu hết xương bàn chân đều có một phần sụn mềm dẻo, vì vậy dễ bị méo nếu phải chịu đựng sức nặng hoặc bị gò ép
+ Phương pháp liệt kê: Là phương pháp có mức thuyết phục cao Phương pháp này đòi hỏi cách trình bày phải khách quan, có thứ tự cần nêu lần lượt các đặc điểm, tính chất của sự vật theo một trình tự nhất định
VD: Văn bản “ Cây dừa Bình Định” tác giả đã liệt kê về tác dụng cây dừa trong cuộc sống: “Thân dừa làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồi xôi, nước dừa để uống để kho cá, kho thịt
+ Phương pháp nêu ví dụ: Là phương pháp nêu ra những dẫn chứng cụ thể, xác thực, đáng tin cậy để minh họa cho vấn đề được thuyết minh
VD: Tại viện nghiên cứu các bệnh tim mạch, bác sĩ viện trưởng cho biết: chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co lại, gây những bệnh nghiêm trọng: huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim
Trang 8+ Phương pháp dùng số liệu: Là phương pháp dung các số liệu vào quá trình thuyết minh, các số liệu này thường là kết quả của một quá trình tìm hiểu, khảo sát thống kê, … nên có sức thuyết phục cao
VD: Khi nêu tác hại trầm trọng của chứng đột quỵ Tác giả đưa ra những con
số thống kê làm giật mình người đọc như: “ Tai biến này xảy ra nhiều ở các nước phát triển: ở Pháp mỗi năm có khoảng 360 000 người mắc bệnh (Là nguyên nhân gây tử vong đứng hạng thứ ba sau các bệnh ung thư và tim mạch)
Ở Mĩ có 5 000 000 người mắc bệnh vào năm 1985 Tại khoa thần kinh của bệnh viện Chợ Rẫy, tai biến mạch máu não chiếm 1/4 số bệnh nhân nội trú hàng năm, trong đó xuất huyết não chiếm 42% nhóm nhũn não 58% (Nam chiếm khoảng 60%, nữ 40%)
(Bác sĩ Bùi Công Trạng: Người lớn và chứng đột quỵ)
+ Phương pháp so sánh: Là phương pháp có tác dụng làm nổi bật bản chất của vấn đề cần được thuyết minh
VD: Thuyết minh cờ vua có thể so sánh với cờ tướng: Cờ vua và cờ tướng đều dùng quân tướng đứng đầu, chia làm hai phe đối lập nhau, tướng và vua khi
đã bị chiếu tướng thì đều thua Nhưng cờ vua khác cờ tướng là con cờ vua có uy lực mạnh mẽ, khi cờ tàn nó có thể một mình ra trận, giết đối phương, còn tướng trong cờ tướng thì chỉ được đi loanh quanh trong cung tấm
+ Phương pháp phân loại phân tích: Là phương pháp chia vấn đề, đối tượng thuyết minh thành nhiều loại, nhiều mặt, nhiều khía cạnh để làm rõ từng ý
VD: Sự phân bố dân cư:
“Hiện nay dân số trên thế giới là 6 tỉ người Tính ra bình quân trên 1km2
đất liền có hơn 46 người sinh sống Tuy thế không phải nơi nào trên bề mặt trái đất cũng có người ở Căn cứ vào mật độ dân số có thể biết nơi nào đông dân cư, nơi nào thưa dân cư Những nơi điều kiện sinh sống và giao thông thuận lợi như đồng bằng đô thị hoặc các vùng khí hậu ấm áp, mưa nắng thuận hòa đều có mật độ dân cao Ngược lại những vùng núi hay vùng sâu xa đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt thường có mật độ dân số thấp
- Để củng cố nội dung trên giáo viên yêu cầu học sinh làm một số bài tập
Bài tập:
Bài 1: Đoạn văn thuyết minh sau dùng phương pháp nào là chủ yếu?
Dế có kêu bằng miệng không?
Buổi tối mùa thu, trong lùm cỏ, dưới góc tường, thường phát ra tiếng tuýt tuýt của con dế Điều thú vị là tiếng kêu này không phải được phát ra từ miệng của nó mà thông qua sự ma sát lẫn nhau của đôi cánh
Trang 9Dế trưởng thành đều có hai đôi cánh Cánh trước (cánh ngoài) tương đối cứng, có tác dụng phát ra tiếng kêu và bảo vệ cơ thể Cánh sau (cánh trong) mềm, dùng để bay lượn Cánh trước của dế đực thông thường có các loại gân cánh đan xen dọc ngang hoặc song song, giữa gân cánh hình thành cửa sổ cánh trong suốt Một đường gân của hai cánh trước rất to, trở thành cơ quan phát âm của loài dế Còn phía dưới gân ngang của cánh phải trước có một loạt mấu răng cưa nổi lên, hình thành âm răng Khi dế đực kêu, âm răng của cánh phải trước và gân ngang của cánh trái trước không ngừng cọ sát vào nhau, kéo theo sự cộng hưởng của cửa sổ cánh trong suốt, làm phát ra âm thanh (giống như chiếc cung của đàn vi-ô-lông không ngừng ma sát vào dây đàn) Khi dế sống ở trong hang, khe gạch, kẽ đá, nhờ tác dụng phóng thanh của nơi ở, tiếng kêu sẽ càng vang hơn
(Theo Xuân Tâm) (Giáo viên gợi ý để học sinh nhận ra được đoạn văn thuyết minh trên sử dụng phương pháp giải thích là chủ yếu: tiếng dế kêu phát ra không phải bằng miệng
mà do sự ma sát của hai đôi cánh)
Bài 2: Các đoạn văn dưới đây sử dụng phương pháp nào là chủ yếu? Tác dụng của các phương pháp ấy trong đoạn văn:
- Đoạn 1: Không biết cơ man nào là tảo bé hơn hạt bụi sống trôi nổi trên mặt các đại dương Chúng đã nhả ra cho chúng ta phần lớn ô xi trên trái đất, có thể còn nhiều hơn các khu rừng già trên đất Nam Mĩ mà ta quen suy tôn là lá phổi của hành tinh Nếu thật công bằng phải trả tên gọi vinh quang ấy cho đám tảo mà mắt ta không đủ tinh tường để thấy trên bề mặt biển cả
(Theo Lê Quang Long)
- Đoạn 2: Ta đến Viện Nghiên cứu các bệnh tim mạch, bác sĩ viện trưởng cho biết: Chất nicotin của thuốc là làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim Có thấy một bệnh nhân bị tác động mạch chân lên những cơn đau như thế nào, rồi phải cắt dần từng ngón chân đến cả bàn chân; có thấy những người 40 – 50 tuổi đã chết đột xuất vì nhồi máu cơ tim; có thấy những khối ung thư ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê gớm của thuốc lá
(Nguyễn Khắc Viện) Gợi ý:
- Đoạn 1 (Sử dụng phương pháp so sánh): Ta khó có thể hình dung ra diện tích đám tảo trên biển cả có ích như thế nào nếu không so sánh với khu rừng già Nam Mĩ trong việc cung cấp ô xi cho sự sống trên toàn hành tinh
Trang 10- Đoạn 2 (Sử dụng phương pháp nêu ví dụ): Nếu chỉ nhìn những người hút thuốc
lá thì khó lòng thấy tác hại của thuốc lá Tác giả cho ta quan sát những người bệnh giai đoạn cuối, hậu quả về sau nhiều năm hút thuốc, ngoài việc thấy tác hại của nó, ta còn cảm thấy ghê sợ nữa
1.4) Cách làm bài văn thuyết minh
a) Định hướng làm bài
- Trước tiên, cần xác định chính xác và rõ ràng đối tượng cần thuyết minh là đối tượng nào? Cần thuyết minh điều gì?
- Ví dụ: Muốn thuyết minh về tác hại của thuốc lá thì người làm bài thuyết minh phải hiểu được tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe, đối với kinh tế, đối với môi trường Sau đó cần nắm được mục đích của bài viết là gì? Viết cho ai? Có định hướng đúng rõ
b) Sưu tầm, ghi chép và lựa chọn tư liệu cho bài viết:
Tìm và lựa chọn tư liệu là bước quyết định để xây nội dung bài viết
- Để thông tin đưa ra thuyết minh có sức thuyết phục cao cần tiếp cận đối tượng
để quan sát, điều tra tạo ấn tượng cảm xúc về đối tượng đó
- Đọc các tài liệu của người đi trước viết về đối tượng, sưu tầm ý kiến bình phẩm về đối tượng
- Cần chọn tư liệu đặc sắc, điển hình, gây ấn tượng
c) Viết bài văn thuyết minh
Viết phần mở bài:
Giáo viên hướng dẫn học sinh phần mở bài cần đạt cái gì Gồm hai yêu cầu: + Dẫn dắt giới thiệu đối tượng thuyết minh
+ Vai trò, tầm quan trọng của đối tượng thuyết minh trong đời sống
Mở bài có nhiều cách viết nhưng chủ yếu là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp, lựa chọn phương pháp nào là tùy vào nội dung mục đích bài viết và phương thức biểu đạt
- Ví dụ 1: Khi giới thiệu về Hà Tây quê lụa có thể mở bài trực tiếp như sau:
Hà Tây là tỉnh có địa hình tương đối đa dạng bao gồm đồi, núi và đồng bằng
Do ảnh hưởng của địa hình nên khí hậu Hà Tây có nhiều tiểu vùng khí hậu nóng
ẩm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,8 0C Vùng gò đồi có nhiệt độ trung bình 23,5 0C khí hậu lục địa chịu ảnh hưởng của vùng gió Lào Vùng núi Ba Vì có Khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình 18 0C Hà Tây có nhiều hồ đẹp, giao thong đường bộ, đường thủy đều thuận tiện
- Ví dụ 2: Khi giới thiệu về Lạng Sơn- một vùng danh lam thắng cảnh có thể mở bài gián tiếp như sau: