Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn, tôi đề xuất một số biện pháp nhằm giáodục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên tại liên đội góp phần nâng caochất lượng cuộc sống và
Trang 1PHẦN A : MỞ ĐẦU.
Tên đề tài: “Một số giải pháp giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội
viên tại Liên đội THCS”
1 Lí do chọn đề tài.
Trong xã hội hiện đại, với sự "nở rộ" của các loại văn hóa phẩm, mối quan hệ rộng mở, lối sống phóng khoáng, tuổi trưởng thành được "trẻ hóa"… trong đó tuổi vị thành niên (VTN) là độ tuổi có nhiều thay đổi tâm sinh lí, nhạy cảm trước
những thay đổi của cơ thể và môi trường, luôn ở trong tình trạng thích khám phá bản
thân và trải nghiệm nhiều cảm giác mới mẻ điều này khiến trẻ vị thành niên đứng trước nhiều nguy cơ quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không an toàn; dễ bị
xâm hại tình dục dẫn đến dễ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS; mang thai ngoài ý muốn, phá thai không an toàn… Theo số liệu ghi nhận tạiBệnh viện Phụ sản Trung ương, mỗi năm có khoảng 900 ca trẻ vị thành niên tới bệnhviện để nạo phá thai Có những em đã phải trở thành bà mẹ "bất đắc dĩ" khi mới 10tuổi và có những em 15 tuổi đã nạo phá thai 2 lần Một trong những nguyên nhân dẫnđến các vấn đề trên là do các em thiếu hiểu biết về giới tính, tình dục; thiếu kỹ năng
sống cần thiết để tự bảo vệ mình trước những nguy cơ ở xung quanh Thì hơn lúc nào hết, chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) vị thành niên đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Trong Luật bảo vệ trẻ em Luật trẻ em 2016, Luật số: 102/2016/QH13, ban hành
ngày 05 tháng 04 năm 2016 tại Điều 16 khoản 1 Đã nêu rõ: “Trẻ em có quyền được
giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân”
Thêm vào đó, tại Điều 43 Luật trẻ em năm 2016 ghi rõ : “ Trẻ em được bảo đảm
về giáo dục, tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe
tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định của pháp luật”
Trên thực tế, mặc dù việc giáo dục, tuyên truyền về sức khỏe sinh sản đã có sự cải
Trang 2Tại Liên đội, trong các buổi sinh hoạt dưới cờ, các tiết học ngoại khóa đã tuyêntruyền tới đội viên về chủ đề CSSKSS, Đội tuyên truyền măng nonvà ban chỉ huyLiên - chi đội cũng đã tích cực tham gia các tiết tập huấn và tuyên truyền tích cực tớicác bạn đội viên Tổ chức diễn đàn: Trao đổi với đội viên về vấn đề CSSKSS.
Tuy vậy, đa phần đội viên cũng như cha mẹ học sinh (CMHS) còn chủ quan, xemnhẹ tính cấp thiết của việc giáo dục CSSKSS cho trẻ vị thành niên Đội viên chưa tíchcực trong việc chủ động trang bị cho mình những kiến thức và kĩ năng về sức khỏesinh sản Với vai trò là giáo viên tổng phụ trách (GVTPT) Đội, trực tiếp đảm nhận vaitrò tuyên truyền, giáo dục CSSKSS cho đội viên trong liên đội; hiểu được khá rõ tâm
lý cũng như hoàn cảnh của đội viên.Tôi rất muốn tìm hiểu thật kĩ những giải pháp hữuhiệu, phù hợp với đặc điểm của liên đội để trang bị những kiến thức và kĩ năng thiếtyếu cho đội viên của mình Do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục
về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên ở trường THCS”
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, thực tiễn, tôi đề xuất một số biện pháp nhằm giáodục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên tại liên đội góp phần nâng caochất lượng cuộc sống và hoạt động Đội cho các em
3 Đối tượng nghiên cứu,đối tượng khảo sát thực nghiệm
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niêncho đội viên ở trường THCS
3.2 Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
Khảo sát và thực nghiệm với học sinh trong nhà trường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lí luận:
Nhằm bổ sung lí luận đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục về sức khỏe sinhsản vị thành niên cho đội viên liên đội THCS
4.2 Nghiên cứu thực trạng:
Trang 3Để phân tích, đánh giá ưu điểm, bất cập, chỉ ra nguyên nhân của bất cập, làm cơ sở
đề xuất các biện pháp nhằm giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viênliên đội THCS
Đề xuất biện pháp nhằm giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viênliên đội THCS
4.3.Tổ chức khảo nghiệm:
Để đánh giá được tính khả thi và tính cấp thiết của các biện pháp nhằm giáo dục vềsức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên liên đội THCS
5.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra khảo sát
- Phương pháp thực nghiệm giáo dục
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
6 Phạm vi, kế hoạch nghiên cứu.
6.1 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tìm hiểu, đề xuất một số biện pháp giáo
dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên Liên đội THCS
6.2 Kế hoạch nghiên cứu, thực hiện:
Lập kế hoạch nghiên cứu, tập hợp số liệu thống kê cụ thể về hiệu quả của các biệnpháp giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên, đối chiếu so sánh cácbiểu mẫu và rút ra kết luận Từ các kết luận đưa ra các giải pháp
6.3 Thời gian thực hiện:
+ Khảo sát thực trạng bắt đầu từ tháng 10 năm 2019
+ Ứng dụng: Từ tháng 11 / 2019 đến tháng 2/ 2020
+ Nghiệm thu: cuối tháng 2/ 2020
Trang 4PHẦN B NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN.
1.1 Cơ sở lí luận.
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản.
* Biện pháp: ( Đối với khái niệm “Biện pháp”, trên webside www.từ- điển com)
có nêu lên một số cách hiểu sau:
“Biện pháp là cách làm, cách giải quyết vấn đề cụ thể”
“Biện pháp là cách tổ chức, khắc phục những hiện tượng tiêu cực”
“Biện pháp là cách xử lí công việc hoặc gải quyết vấn đề”
* Nhận thức: theo webside www https://vi.wikipedia.org có đưa ra cách hiểu: Nhận thức: là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức và những am hiểu thông
qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan, bao gồm các quy trình như là tri thức, sự chú
ý, trí nhớ, sự đánh giá, sự ước lượng, sự lí luận, sự tính toán, việc giải quyết vấn đề,việc đưa ra quyết định, sự lĩnh hội và việc sử dụng ngôn ngữ
Nâng cao nhận thức: Là làm tăng thêm quá trình tiếp thu kiến thức và những amhiểu thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan
*Định nghĩa về sức khỏe sinh sản
Tại hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cai-rô (Le Caire) tháng 4
năm 1994, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra định nghĩa về Sức khoẻ sinh sản: “Sứckhoẻ sinh sản là một trạng thái khoẻ mạnh, hài hoà về thể chất, tinh thần và
xã hội trong tất cả mọi khía cạnh liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức năng vàquá trình sinh sản chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tổn thương hệ thốngsinh sản” Như vậy, SKSS là sự hoàn hảo về bộ máy sinh sản, đi đôi với sự hài hoàgiữa sinh học với tinh thần và xã hội
Sức khoẻ sinh sản tuổi Vị thành niên là những nội dung nói chung của sứckhỏe sinh sản, nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi VTN
*Định nghĩa tuổi vị thành niên
Trang 5Vị thành niên là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn, được đánh dấubằng những thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ xã hội chuyển từgiản đơn sang phức tạp.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới: Vị thành niên là những người trong độ tuổi từ 10 đến
19 Như vậy những người này ở trong độ tuổi thiếu nhi và trước tuổi trưởng thành.Tuổi Vị thành niên được chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu (Tiền vị thành niên): 10-13 tuổi
- Giai đoạn giữa (Trung vị thành niên): 14- 16 tuổi
- Giai đoạn cuối (Hậu vị thành niên): 17- 19 tuổi
Từ việc nghiên cứu định nghĩa của một số khái niệm trên, tôi có thể hiểu: biệnpháp giáo dục về SKSSVTN cho đội viên liên đội THCS là cách thức tổ chức cáchoạt động để giáo dục, tuyên truyền kiến thức nhằm giáo dục cho đội viên về sứckhỏe sinh sản vị thành niên Bên cạnh đó, ngăn ngừa nguy cơ mà trẻ VTN gặp phải
1.1.2 Những thay đổi ở độ tuổi VTN
1.1.2.1 Những thay đổi về thể chất:
* Ở nữ: Phát triển chiều cao, phát triển cân nặng, tuyến vú phát triển → Ngực to
ra, khung chậu phát triển → mông to ra (to hơn nam giới), Phát triển lông mu, đùithon bộ phận sinh dục phát triển: âm hộ, âm đạo to ra, tử cung và buồng trứng pháttriển, có kinh nguyệt, ngưng phát triển bộ xương sau khi hình thể đã hoàn thiện
* Ở nam: Phát triển chiều cao, phát triển cân nặng, phát triển lông mu, thay đổi
giọng nói (bể giọng, giọng nói ồ ồ), sau 18 tuổi giọng trầm trở lại, tuyến bã, tuyến mồhôi phát triển, ngực và hai vai phát triển, các cơ của cơ thể rắn chắc, lông trên cơ thể
và mặt phát triển, xuất hiện lông ở bộ phận sinh dục, dương vật và tinh hoàn pháttriển, bắt đầu xuất tinh, trái cổ do sụn giáp phát triển, ngưng phát triển bộ xương sau khi hình thể đã hoàn thiện
Chú ý: Thời kỳ dậy thì chính thức ở nam và nữ chứng tỏ rằng: bộ máy sinh dục
Trang 61.1.2.1 Thay đổi về tâm sinh lý:
* Nhân cách: Cố gắng làm được những điều mình mong muốn, thường đặt ranhững câu hỏi: Tôi là ai? Tôi có thể làm gì?
* Tâm lý: Cảm thấy mình không còn là trẻ con nữa, muốn được đối xử như ngườilớn, muốn thoát ra khỏi những ràng buộc của gia đình, thường xảy ra những xung độtgiữa trẻ VTN và cha mẹ
* Tình cảm: Quan tâm và có cảm giác lạ với người khác phái, yêu đương nôngcạn, quan hệ tình dục không an toàn
1.1.3 Các nguy cơ hay gặp ở tuổi VTN
Do những thay đổi trên mà trẻ VTN dễ bị: dụ dỗ, mua chuộc, lừa gạt, xâm hại và dễbắt chước
* Quan hệ tình dục bừa bãi, không an toàn, hậu quả:
- Mang thai sớm ngoài ý muốn: Dễ bị sẩy thai, đẻ non, nhiễm độc thai, làm tăngnguy cơ tử vong mẹ; Do khung chậu phát triển chưa đầy đủ nên khi sinh dễ phải canthiệp bằng thủ thuật hoặc phẫu thuật; Làm mẹ quá trẻ, cơ thể phát triển chưa đầy đủ
dễ dẫn đến thiếu máu, thai kém phát triển, dễ bị chết lưu; Bỏ học giữa chừng, ảnhhưởng tới tương lai; Làm mẹ sớm dễ bị căng thẳng, khủng hoảng tâm lý, tổn thươngtình cảm, dễ chán nản, cảm thấy cách biệt với gia đình và bạn bè; Bị người kia bỏ rơihoặc phải cưới gấp với người mà bạn không muốn có cam kết cuộc sống với ngườiđó; Bản thân và gia đình phải gánh chịu những định kiến của xã hội; Gánh nặng vềkinh tế khi nuôi con; Góp phần làm tăng chi phí xã hội, tăng dân số; Phá thai có thểđưa đến các tai biến: choáng, chảy máu, nhiễm trùng, thủng tử cung, vô sinh
- Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) và HIV/AIDS: Theo
Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 250 triệu người mới bị nhiễm các bệnhlây truyền qua đường tình dục mà lứa tuổi VTN chiếm số lượng cao Lý do lây nhiễmbệnh LTQĐTD cao ở độ tuổi này là: Chưa được thông tin đầy đủ về các bệnhLTQĐTD và HIV/AIDS; Chưa nhận thức được nguy cơ và tầm quan trọng của việcphòng chống lây nhiễm bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS; Chưa ý thức được bản thân có
Trang 7nguy cơ; Các bạn gái khó khăn, lúng túng khi thảo luận, vận động bạn tình về sự antoàn, bảo vệ tránh có thai và bệnh LTQĐTD Do đó, việc tư vấn để VTN có thái độphòng tránh các nguy cơ dẫn đến bệnh LTQĐTD là rất cần thiết và rất quan trọng
* Nguy cơ xâm hại tình dục ở tuổi vị thành niên ở nước ta hiện nay mại dâm vàhiếp dâm đang là một vấn đề xã hội nhức nhối
* Dễ bị lôi cuốn bởi các chất kích thích, chất gây nghiện như: rượu, thuốc lá,
ma túy
1.1.4 Vị trí, vai trò của giáo dục CSSKSS cho đội viên Liên đội
* Vị trí: Vị thành niên là độ tuổi có nhiều thay đổi tâm sinh lí, nhạy cảm trước
những thay đổi của cơ thể và môi trường, luôn ở trong tình trạng thích khám phá bảnthân và trải nghiệm nhiều cảm giác mới mẻ Sự thu hút giới tính ở độ tuổi này khá caocùng với đặc điểm tâm lí lứa tuổi là nguyên nhân của nhiều quan niệm lệch lạc, dẫnđến tình trạng quan hệ tình dục không an toàn, báo động nạn nạo phá thai tăng caotrong giới trẻ Chăm sóc, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên là một nhiệm vụquan trọng trong công tác giáo dục trong nhà trường, từ đó đặt ra những yêu cầu bứcthiết của việc cần phải giáo dục SKSSVTN để thẳng thắn trao đổi, tháo gỡ những thắcmắc cho học sinh, đồng thời hướng dẫn để các em học sinh tự phòng tránh những sự
cố không may xảy ra
Trang 8*Vai trò: thông qua các buổi hoạt động ngoại khóa sẽ giúp học sinh hiểu được
tầm quan trọng của việc tự chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bản thân, có những biệnpháp để tự bảo vệ mình trước nguy cơ và không để mình bị rơi vào hoàn cảnh có nguy
cơ bị và tình huống nguy hiểm Ngoài ra CMHS nhận thức được sự cấp thiết của việcgiáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho con cũng như việc bảo vệ con em mìnhtrước những mối đe dọa đang rình rập Họ sẽ không lơ là, mất cảnh giác để rồi “gửitrứng cho ác” mà không hề hay biết
Không những vậy, các hoạt động này cũng sẽ tạo được lòng tin của CMHS vớinhà trường Từ đó sẽ xây dựng được mối quan hệ đẹp giữa gia đình và nhà trườngtrong nhiều hoạt động khác
1.1.5 Nội dung chính của công tác giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên cho đội viên Liên đội THCS.
Về kiến thức: đội viên biết được thế nào là sức khỏe sinh sản vị thành niên, những
thay đổi về mặt thể chất, tâm sinh lý khi bước vào độ tuổi vị thành niên, những nguy
cơ gặp phải và các biện pháp để phòng tránh các tác hại
Kĩ năng: Trang bị cho đội viên kỹ năng chăm sóc, thiếu hiểu biết về cơ thể, đặc
biệt là sự thay đổi của cơ thể khi đến tuổi dậy thì Bổ sung những điều các em cònthiếu hụt; nâng cao kỹ năng sống giúp các em đưa ra quyết định sáng suốt trong lĩnhvực SKSSVTN, hành động đúng, đúng thời điểm
Thái độ: tự giác trau dồi thêm kiến thức về sức SKSSVTN Tích cực tuyên
truyền những điều mình được học cho bạn bè, anh chị em, gia đình và xã hội
1.2 Cơ sở thực tiễn:
Trường tôi là một ngôi trường có phong trào hoạt đội Đội tốt, đội ngũ GV cótrình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình và có trách nhiệm cao trong công việc.Ban giám hiệu (BGH) nhà trường rất quan tâm và tạo điều kiện cho phong trào hoạtđộng Đội, các em học sinh ở đây rất ngoan, nề nếp và rất hứng thú với các hoạt độngĐội
Trang 9Bên cạnh những thuận lợi thì liên đội còn gặp một số khó khăn: Một số GV chưanhiệt tình, chưa có nhiều kiến thức, kỹ năng, nên khi TPT triển khai các chương trìnhhoạt động còn gặp khó khăn, chưa có sự đồng thuận.
Từ nhận thức về vai trò của hoạt động Đội trong nhà trường và đặc biệt là vị trí,vai trò và lợi ích của việc giáo dục về SKSSVTN cho đội viên Là một GV- TPT Độitôi nhận thấy cần phải đưa ra Một số biện pháp giáo dục về sức khỏe sinh sản vị thànhniên cho đội viên vào trong các hoạt động ngoại khóa và hoạt động Đội
Trang 10CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG 2.1 Một vài nét về đặc điểm và thực trạng.
2.1.1 Một vài nét về đặc điểm và tình hình chung của liên đội trường tôi Thuận lợi: Liên đội có 651 đội viên, tổng số 16 chi đội Với số lượng đội viên
nhiều song các em rất có ý thức tham gia các buổi hoạt động ngoại khóa do liên độinhà trường tổ chức Liên đội luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao, quan tâm tận tình củaBan giám hiệu nhà trường, sự nhiệt tình của đại diện Ban cha mẹ học sinh
Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ thông tin nên đa
số các em đội viên có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu những kiến thức về giới tính dễdàng từ nhiều nguồn khác nhau
Giáo viên Tổng phụ tránh thường xuyên được tham gia các lớp bồi dưỡng, cácbuổi tập huấn về SKSSVTN Được cung cấp đầy đủ và chi tiết các tài liệu có liênquan, được giải đáp kịp thời các thắc mắc trong quá trình triển khai công việc của
Trang 11mình Đội viên hào hứng, tích cực tham gia các buổi tập huấn và trả lời các mẫu phiếukhảo nghiệm.
Khó khăn: Đội viên nhiều em chưa nhận thức được đầy đủ về SKSSVTN.
2.1.2 Thực trạng của biện pháp giáo dục SKSSVTN cho đội viên Liên đội THCS.
2.1.2.1 Thực trạng về biện pháp giáo dục đã áp dụng triển khai trong liên đội.
Thực hiện theo công văn chỉ đạo của Hội đồng Đội cấp trên, Liên đội cũng đãtriển khai công văn tới tất cả học sinh trong tiết sinh hoạt dưới cờ
Kế hoạch hoạt động của TPT:
+ Sưu tầm bài viết trên các giáo trình, tài liệu, báo đài về SKSSVTN và phát thanhtrên loa của nhà trường vào tiết ra chơi các ngày trong tuần
+ Tổ chức các buổi tập huấn cho ban chỉ huy liên- chi đội vào các buổi giao banBCH của tháng, thêm vào đó cũng trao đổi với ban chỉ huy liên chi đội để tìm hiểu,thu thập thông tin của các em đội viên khác
+ Tổ chức các buổi nói chuyện, trao đổi với đội viên về vấn đề XHTD trong 15phút cuối của tiết sinh hoạt dưới cờ, để các em được trực tiếp nói lên những khúc mắccủa bản thân ( GV TPT cho đội viên được viết câu hỏi và gửi kín tới phòng Đội) + Trong các buổi họp CMHS: trực tiếp tuyên truyền tới các bậc cha mẹ để họ kịpthời nắm bắt được thông tin, đồng thời cũng thu thập thêm được những phản hồi từphía CMHS để có hoạt động phù hợp
Kế hoạch của Phụ trách chi đội: tổ chức các buổi sinh hoạt đội ( vào tiết 5 thứ 7tuần chẵn trong tháng ) với chủ đề chăm sóc SKSSVTN Bên cạnh đó, phối hợp vớiTPT để có thêm thông tin cũng như tài liệu về SKSSVTN Ngoài ra, trong quá trìnhthực hiện TPT luôn nhận được sự hỗ trợ tích cực của các lực lượng giáo dục khác:giáo viên bộ môn ( tích hợp giáo dục giới tính trong tiết học Sinh học, Giáo dục côngdân đưa ra các tình huống có vấn đề trong các tiết giáo dục công dân), từ phía CMHS
Trang 12Về kiến thức SKSSVTN , qua điều tra thực tế cho thấy các em đội viên còn chưanhận thức đầy đủ Khi nhà trường triển khai các hoạt động các em mới để ý và tìmhiểu về SKSSVTN Nhưng do tuổi các em còn nhỏ, các em còn mải chơi nên nhữngthông tin được cung cấp các em rất mau quên.
Kiến thức về SKSSVTN các em còn rất yếu Các em chưa nhận thức được tầmquan trọng và những nguy cơ tiềm ẩn sẽ gặp phải khi thiếu kiến thức về SKSSVTN.Khi được hỏi, các em chỉ đưa ra được một số hiểu biết sơ sài về giới tính, thiếu kiếnthức về vệ sinh thân thể, nhiều em chưa nắm được sự thay đổi tâm sinh lí - giải phẫu
Vì vậy, các em thiếu kỹ năng chăm sóc, thiếu hiểu biết về cơ thể, đặc biệt là sự thayđổi của cơ thể khi đến tuổi dậy thì Chính vì vậy, nhiều trường hợp các em ở lứa tuổi
vị thành niên mang thai ngoài ý muốn, bị xâm hại tình dục
Về thái độ, ý thức tìm hiểu kiến thức SKSSVTN, các em nằm trong ban chỉ huyliên- chi đội, tuyên truyền măng nonrất tích cực và chủ động trong việc trang bịnhững kĩ năng cho bản thân mình cũng như giúp các bạn trong chi đội mình Một số ítđội viên thì lại chỉ tích cực, tỏ ra lo lắng, sốt sắng trong khi tham dự các buổi sinhhoạt, sau đó các em lại lãng quên ngay
Về phía địa phương căn cứ vào đặc điểm thực tế, cũng đã có một vài trường hợptảo hôn, nạo hút thai ngoài ý muốn Tôi đã nhận thấy nhiều nguy cơ tiềm ẩn, rất đángbáo động Trước đây xã tôi vốn là một xã thuộc huyện chưa phát triển mạnh, khi ấymôi trường sống vẫn rất dân dã, thuần nông Đến những năm gần đây, cuộc sống củangười dân đã có nhiều thay đổi theo nền kinh tế thị trường Cùng với việc đời sốngcủa người dân đã có nhiều cải thiện về mặt vật chất, việc tiếp cận với mạng xã hội,internet… thì cũng kéo theo đó là hệ quả về đạo đức và các mối quan hệ Nhiều bậc
PH chỉ mải mê kiếm tiền mà xao nhãng, ít quan tâm đến sự phát triển về tâm- sinh lýcủa trẻ, không kiểm soát các hoạt động sinh hoạt và định hướng sự phát triển ở lứatuổi vị thành niên của trẻ
Về phía nhà trường, đã tổ chức tuyên truyền tới đội viên về kiến thức SKSSVTNtrong các tiết sinh hoạt dưới cờ Phát tài liệu trực tiếp tới các chi đội để GVTPT có thể
Trang 13trao đổi trực tiếp với đội viên, đội Tuyên truyền măng noncũng thường xuyên đưa tintrong tháng 11, 12/2019 và 01/2020 Bên cạnh đó, BGH cũng rất tạo điều kiện để TPT
tổ chức lớp tập huấn để trang bị kiến thức về SKSSVTN cho ban chỉ huy Liên- chiđội ( 2 buổi/ HKI, 2 buổi/ HKII)
Theo kết quả điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến và những hiểu biết về đặc điểmtình hình tôi nhận thấy:
Đối với đội viên: số lượng 95 em
1 Những thay đổi về thể chất,
tâm-sinh lý ở tuổi VTN
1515,8%
lý ở tuổi VTN, cách vệ sinh chu kỳ kinh nguyệt, vệ sinh bộ phận sinh dục Đội viênchưa hiểu hết được những hậu quả nghiêm trọng nếu bị thiếu kiến thức về SKSSVTN
Trang 14phải) Khi được hỏi về nguy cơ do thai sản, nguy cơ lây nhiễm bệnh LTQĐTD, nguy
cơ quấy rối tình dục thì phần đông các em chỉ biết sơ qua và không hiểu về nhữngnguy cơ này Từ những số liệu trên tôi nhận thấy rõ, đội viên trong liên đội rất nhiều
em đang thiếu kiến thức về SKSSVTN và có thể rơi vào các tình huống nguy hiểmnhưng các em chưa nhận thức được điều đó Có quá ít đội viên biết cách trang bị cáckiến thức và cách chăm sóc SKSSVTN
2.1.3 Những ưu điểm và bất cập trong quá trình giáo dục SKSSVTN cho đội viên liên đội THCS.
Ưu điểm: về phía nhà trường, GVPTC luôn nhận được sự ủng hộ và hỗ trợ tận
tình của ban giám hiệu, các thầy cô giáo và đội viên trong Liên đội cũng như đại diệncủa Hội cha mẹ học sinh GVTPT được tham gia các buổi tập huấn bổ ích Đội viêntrong liên đội thường xuyên được nhắc nhở, nêu cao cảnh giác và cần trang bị những
kĩ năng về chăm sóc SKSSVTN phòng tránh các nguy cơ như quan hệ tình dụckhông an toàn, vệ sinh không đúng cách, xâm hại tình dụ… trong các tiết sinh hoạtdưới cờ, các buổi phát thanh măng non… Các biện pháp giáo dục đưa ra đã thu hútđược sự chú ý của đội vên Giúp các em phần nào giáo dục về chăm sóc SKSSVTN
và trang bị cho bản thân những kiến thức và kĩ năng đơn giản nhất để không gặp phảicác nguy cơ cho bản thân
GVPTC bên cạnh việc phụ trách đội viên trong chi đội, họ còn rất nhiều mảng côngviệc: chuyên môn, hồ sơ sổ sách họ không có nhiều thời gian để tổ chức hoạt độngcho đội viên chi đội mình
GVTPT bên cạnh những công việc của Đoàn - Đội vẫn còn kiêm nhiệm khá nhiềunhững mảng việc về chuyên môn, do vậy chưa thể có sự đầu tư cần thiết cho côngviệc này
2 2 Các biện pháp