CÁC NHÓM NGƯỜI CHĂM Nhóm Chăm ở Ninh Thuận- Bình Thuận Nhóm Chăm Ninh Thuận-Bình Thuận gồm những người Chăm cư trú ở tỉnh NinhThuận, Bình Thuận, có tên gọi là Campaduraga; có tổng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
Vũ Thị Giàu 11157008
Tô Hữu Thiện 11157289 Nguyễn Trung Đông 11157006
Lê Thị Thời 11157061 Nguyễn Thị Thanh Thúy 11157034 Nguyễn Thị Hồng 11157144
TP.HCM 12/2013
Trang 2MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ 3
II TỔNG QUAN 3
2.1 TÂM LÝ KHÁCH DU LỊCH 3
2.2 VĂN HÓA CHĂM 4
2.2.1 Nguồn gốc và phân bố dân cư 4
2.2.2 Hoạt động kinh tế 10
2.2.3 Tín ngưỡng tôn giáo 10
2.2.4 Phong tục tập quán 15
2.2.5 Quan hệ xã hội 18
2.2.5.1 Quan hệ giữa người Chăm với người Chăm 18
2.2.5.2 Quan hệ giữa người Chăm với cộng đồng khác 18
III NHỮNG ĐIỀU MÀ KHÁCH DU LỊCH CẦN BIẾT KHI KHÁM PHÁ VĂN HÓA CHĂM 18
3.1 CUNG CÁCH PHỤC VỤ DU LỊCH CỦA NGƯỜI CHĂM 18
3.1.1 Ẩm thực truyền thống đặc sắc của người Chăm 18
3.1.2 Tưng bừng đón khách trong các lễ hội 21
3.2 NHỮNG ĐIỀU CẤM KỴ ĐỐI VỚI DU KHÁCH 29
3.2.1 Cấm kỵ về mặt tôn giáo 29
3.2.2 Cấm kỵ trong giao tiếp với người Chăm 30
IV KẾT LUẬN 30
Trang 3I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, du lịch cũng góp một vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tếcủa nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo thống kê trên thế giới, cókhoảng 800 triệu người đi du lịch hàng năm, trong đó có hơn 60% là đi với mục đíchtìm hiểu và khám phá những nét văn hoá mới lạ Và tại Việt Nam – một đất nước với
54 dân tộc anh em sẽ là chiếc “chìa khoá” để phát triển du lịch Bên cạnh những loạihình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghĩ dưỡng, du lịch mạo hiểm… gần đây dulịch văn hoá được xem là một loại hình đặc thù của các nước đang phát triển và thuhút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.Du lịch văn hoá chủ yếu dựa vào nhữngsản phẩm văn hoá, những lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán của các dântộc…để tạo nên sức hút đối với du khách Tuy nhiên, con đường để đạt được những
thành quả to lớn còn lắm chông gai Chính vì thế, nhóm quyết định chọn đề tài “Văn Hoá Chăm Và Những Điều Cần Biết” nhằm mục đích muốn mang đến cho du
khách một cái nhìn tổng quan về nền văn hoá của dân tộc Chăm, những vấn đề cần lưu
ý khi đến tham quan và nắm bắt được tâm lý của họ
Tâm lí khách du lịch :
Tâm lí khách du lịch không còn đi tìm vẻ đẹp thuan fbề mặt và chiều rộng mà cókhuynh hướng đi vào sự độc đáo và chiều sâu Ngày nay, môi trường truyền thông quánhanh chóng và hiện đại trong thế kỉ này đã tranh nhau khai thác mọi ngõ ngách củahình ảnh, những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và kỳ quan trên thế giới xuất hiệnthường xuyên và được gới thiệu đủ mọi khía cạnh trên báo chí và màn ảnh Sự xuấthiện phổ biến đến độ làm cho phần đông khách du lịch trên toàn thế giới mất đi sựngạc nhiên kỳ thú khi đặt chân đến một thực cảnh nổi tiếng vì trước đó họ đã nhì nthấy quá nhiều lần qua môi trường thông tin đại chúng Bởi vậy, khai thác thế mạnh
du lịch không phải là xây dựng cho nhiều khách sạn năm sao, bảy sao hay khai thácnhững phương tiện kỹ thuật mới nhất mà tạo ra một nơi du lịch hài hòa, thoải mái thõamãn tâm lý của khách du lịch
Trang 4II.2 VĂN HÓA CHĂM
II.2.1 Nguồn gốc và phân bố dân cư
Người Chăm là một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh tronglịch sử; có nền văn hóa phát triển; có quan hệ đồng tộc, đồng tôn với các cộng đồngngười Chăm ở các nước khác như Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Mỹ, Pháp,Australia, Canada Ở Việt Nam người Chăm có quan hệ gần gũi với nhóm dân tộcnhư Ê Đê, Gia Rai, Chu Ru, Raglai Người Chăm có tập quán bố trí cư trú dân cưtheo bàn cờ Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại giađình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật Trong làng cáckhoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ Phần lớn làng Chăm códân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người
Người Chăm thường sinh sống tập trung trong paley Chăm (làng Chăm) Mỗipaley có khoảng 300 đến 400 hộ gia đình, cùng theo một tôn giáo nhất định, gồmnhiều tộc họ sinh sống với nhau Mỗi paley đều có một đơn vị hành chính của làng làHội đồng phong tục và Po Paley (Trưởng làng); trong đó Po Paley là người đóng vaitrò rất quan trọng trong Paley Người Chăm được xác định là cư dân bản địa ở khuvực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam và đã có quá trình định cư lâu đời ở khuvực này Trải qua hàng ngàn năm, dưới những biến cố lịch sử, xã hội, chủ yếu là dochiến tranh và mâu thuẫn nội bộ, người Chăm không còn cư trú tập trung ở khu vựcduyên hải Nam Trung Bộ mà phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam vàmột số các quốc gia khác
Hiện nay, người Chăm phân bố chủ yếu ở Campuchia, Việt nam, Malaysia,Thái Một số người Chăm di cư sang các nước khác như tộc Utsul ở đảo Hải Namđến bang Terengganu của Malaysia hay vùng Hạ Lào Trong thế kỷ XX, nhiều ngườiChăm hoặc gốc Chăm di cư sang Mỹ và các nước phương Tây khác
Ở Việt Nam có khoảng 145.235 người Chăm sinh sống, sống rải rác ở các tỉnhphía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai,Tây Ninh, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang Do đặc điểm cư trú, tínhchất tôn giáo và sắc thái văn hóa mang tính vùng miền, người Chăm ở Việt Nam đượcchia thành 3 nhóm cộng đồng chính là Chăm Hroi, Chăm Ninh Thuận-Bình Thuận vàChăm Nam Bộ Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân tộc Chăm ở ViệtNam có 161.729 người, cư trú tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Chăm cưtrú tập trung tại các tỉnh như Ninh Thuận 67.247 người, chiếm tỷ lệ 41,6% tổng sốngười Chăm tại Việt nam; Bình Thuận 34.690 người, chiếm tỷ lệ 21,4% tổng số ngườiChăm tại Việt Nam; Phú Yên 19.945 người, An Giang 14.209 người, Thành phố HồChí Minh 7.819 người, Bình Định 5.336 người, Đồng Nai 3.887 người, Tây Ninh3.250 người
Trang 5CÁC NHÓM NGƯỜI CHĂM
Nhóm Chăm ở Ninh Thuận- Bình Thuận
Nhóm Chăm Ninh Thuận-Bình Thuận gồm những người Chăm cư trú ở tỉnh NinhThuận, Bình Thuận, có tên gọi là Campaduraga; có tổng số dân khoảng 98.000 người;(Ninh Thuận 66.000 người; Bình Thuận 32.000 người); đây là nhóm cộng đồng ngườidân tộc Chăm lớn nhất chiếm khoảng 67,60% tổng số người Chăm ở Việt Nam
Chăm Ninh thuận
Theo kết quả tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009, người chăm ở tỉnh Ninh Thuận
có 67.274 người, đứng thứ hai sau người Việt (432.399 người) Nơi đây, người chăm
cư trú tập trung trong 22 palei ( đọc là palay : xóm, ấp, làng ), phân bố ở 12 xã và 6huyện thị : Thuận Bắc (1 palei), Ninh Hải (2 palei), Ninh Sơn (1 palei), thành phốPhan Rang- Tháp Chàm (1 palei), Ninh Phước (13 palei), Thuận Nam (4 palei) Trong
đó, hai huyện có người chăm cư trú đông nhất là Ninh Phước và Thuận Nam, với dân
số 51.527người (1/4/2009), đứng thứ hai sau người Việt (123.184 người) Người 22palei đó, người chăm còn cư trú rải rác ở những palei khác, nhưng do chiến tranh, cóthời kỳ bị dồn dân lập ấp, nên các palei này không còn nguyên vẹn, chỉ còn lại cái tên
và một số ít người chăm lưu ngụ
Theo hướng phân bố từ bắc xuống nam, danh mục 22 palei có người chăm cư trútập trung ở Ninh Thuận lần lượt như sau:
1 Palei Bal Riya: làng Bình Nghĩa, thuộc xã Bắc Sơn, huyện Thuận Bắc Đây làmột palei chăm Ahier, đa sô người chăm sinh sống ở đây là người Bà Chăm
2 Palei Pabblap Klak: thôn An Nhơn, thuộc xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải Đây
là một palei chăm Aval
3 Palei Pabblap Birơw: thôn Phước Nhơn,thuộc xã Xuân Hải, huyện Ninh Hải.Đây là một palei Chăm Aval được tách ra từ palei Pabblap trước kia Ở đây, ngườichăm theo Hồi giáo Bani và Hồi giáo Islam
4 Palei Cang: thôn Lương Tri, thuộc xã Nhơn Sơn, huyện Ninh sơn Đây là mộtpalei chăm Aval
5 Palei Tabơng:làng Thành Ý, thuộc xã Thành Hải, thành phố Phan Rang- ThápChàm Đây là một palei Chăm Ahier, dân cư chủ yếu là người Bà Chăm
6 Palei Bauh Bini: làng Hoài Trung, nay được chia làm 2 thôn, thuộc xã PhướcThái, huyện Ninh Phước Đây là một palei chăm Ahier
Trang 67 Palei Dara: trước là làng Như Ngọc, nay là làng Như Bình, thuộc xã PhướcThái, huyện Ninh Phước.
8 Palei Bauh Dana: làng Chất Thường, thuộc xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước
9 Palei Bblang Kachak: thôn Phước Đồng, thuộc xã Phước Hậu, huyện NinhPhước
10 Palei Chauk: làng Hiếu Lễ, thuộc xã Phước Hậu, huyện Ninh Phước
11 Palei Bauh Dơng: thôn Phú Nhuận, thuộc xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước
12 Palei Hamu Tẩnn: làng Hữu Đức, thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước
13 Palei Thôn: làng Hậu Sanh, thuộc xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước
14 Palei Dană Panrang/ Hamu Chrauk: làng Vĩnh Thuận (Bầu Trúc), thuộc xãPhước Dân, huyện Ninh Phước Đây là một palei Chăm Ahier
15 Palei Chaklaing: làng Mỹ Nghiệp, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện NinhPhước
16 Palei Bal Chaung: làng Chung Mỹ, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện NinhPhước Đây là một palei Chăm Ahier
17 Palei Chwah patih: làng Thành Tín, thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước
18 Palei Patuh: làng Tuấn Tú, thuộc xã An Hải, huyện Ninh Phước
19 Palei Rơm: làng Văn Lâm Nay chia làm hai thôn, thuộc xã Phước Nam, huyệnThuận Nam Đây là palei hỗ hợp, có cả hai người chă theo Hồi giáo Bani và ngườichăm theo Hồi giáo Islam sinh sống
20 Palei Ia Liu: thôn Phước Lập, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam
21 Palei Palao: thôn Hiếu Thiện, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam Đây làmột palei chăm Ahier
22 Palei Pabhan: làng Vụ Bổn, thuộc xã Phước Nam, huyện Thuận Nam Đâ làmột palei chăm Ahier
Chăm Bình Thuận
Hơn 29.000 người Chăm cư trú ở Bình Thuận đã phân bố thành từng làng tại một
số huyện trong tỉnh, đông nhất là các làng thuộc địa phận huyện Bắc Bình Tại đây có
ba xã: Phan Thanh, Phan Hòa, Phan Hiệp tập trung 100% làng của người Chăm Rảirác các huyện khác có làng Chăm ở thành từng cụm như Lạc Trị (Tuy Phong), Ma
Trang 7Lâm (Hàm Thuận Bắc), Tân Thắng (Hàm Tân), Lạc Tánh (Tánh Linh)… Tên gọi củacác làng Chăm xưa kia thường đặt theo đặc điểm địa hình Như làng gần với bàu cá cótên Play Chakak (nay là Cảnh Diễn); làng có động cát trắng, Play Choah Patih (ThànhTín); làng có nước ngọt, Play Ya Mih (Minh Mị)… và mặc dù ngày nay hầu hết tênlàng đã được đặt bằng tiếng Việt song người Chăm vẫn còn quen dùng tên gọi cổtruyền của làng quê mình.
Nhóm chăm Hroi
Nhóm Chăm Hroi bao gồm những người Chăm hiện đang sống rải rác từ NhaTrang trở ra, chủ yếu là ở tỉnh Phú Yên và Bình Định; tổng số khoảng 20.500 người.Người Chăm Hroi có nguồn gốc từ những người Chăm cổ là một bộ phận của cộngđồng Chăm Việt Nam và từ lâu được gọi là Chăm Hroi
Chăm Phú Yên
Người chăm đang cư trú tại Phú Yên hiện nay thật sự là con cháu của cư dânChăm pa, đã lên miền núi sinh sống qua nhiều thế hệ Do cách ly với cộng đồng lâungày nên trong đời sống, kinh tế, xã hội và văn hóa có những khác biệt so với cộngđồng người chăm đang sống tại Ninh Thuận, Bình Thuận và các nơi khác
Người chăm- Phú Yên có nhiều tên gọi dân tộc gắn với địa danh nơi họ sống hoặcđặc điểm nơi họ sống Chẳng hạn như ngừoi chăm sống ở suối Hà đang, huyện ĐồngXuân tự nhạn mình là người chăm Hà Đang Người chăm tại Thuận Hải gọi những cưdân gốc Chăm sinh sống tại các tỉnh Phú Yên và Bình Định là H’roi hay Hờ Roi Nóichung, chăm Hroi là tên gọi tộc người chăm sống ở vùng núi phía Tây Bình Định vàPhú yên Nguồn gốc của tên chăm Hroi này được Ka Sô Liễng, nhà sưu tầm văn họcdân gian giải thích: “ đây là tên gọi chung chỉ người chăm sống ở vùng thấp gần ngườiKinh nhằm phân biệt một bộ phận người Chăm sống rừng già, thường gọi là chămDlay Yưa” Tên gọi này đã phân biệt cộng đồng chăm sống ở vùng núi Bình Định,Phú yên và cộng đồng chăm sống tại dồng bằng củ Ninh Thuận, Bình Thuận, và cáctỉnh Nam Bộ
Chăm Bình Định
Ở Bình Định, người Chăm cư trú tập trung ở huyện Vân Canh Ở huyện Vân Canh,người Chăm sống xen cư với người Bana và người Kinh Người Chăm ở huyện VânCanh tỉnh Bình Định có khá nhiều tên gọi và tên tự gọi khác nhau: Chăm Hroi, Hroi,
A roi, Chăm ĐắcRây, Chăm Hơđang, Chăm Đèo … Theo đồng bào Chăm ở VânCanh, Chăm Hroi (hay Hroi, A roi) chỉ là những người Chăm ở vùng cao, là ngườiChăm ở vùng núi Chăm ĐắcRây hay Chăm Hơđang là Chăm phía mặt trời mọc.Đồng bào Chăm giải thích: Trước kia người Chăm sống ở vùng thấp, vùng mặt trời
Trang 8mọc, sau đó họ mới chuyển lên vùng cao (vùng có tên là Hroi) hiện nay người Chămở Vân Canh rất tự hào khi gắn ý nghĩa Chăm với nghĩa “Chăm mặt trời mọc”.
Nhóm Chăm Nam Bộ
Nhóm Chăm Nam Bộ bao gồm những người Chăm sinh sống chủ yếu ở An Giang,Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh Đông Nam Bộ với tổng số khoảng 26.700người, cư trú ở các tỉnh như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang,Kiên Giang, Bình Dương, Bình Phước trong đó tập trung chủ yếu ở An Giang vàThành phố Hồ Chí Minh Người Chăm ở đây có cùng nguồn gốc với người ChămHroi và người Chăm ở Ninh Thuận-Bình Thuận, nhưng do nguyên nhân lịch sử, nhiềungười Chăm đã rời Việt Nam đến các nước như Campuchia, Thái Lan, Malaysia vàonhững thế kỷ trước Từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ thứ XX, một bộ phậnngười Chăm ở Campuchia mâu thuẫn với người Khmer bản địa và sự ngược đãi củachính quyền Campuchia nên đã tìm về cư trú ở An Giang và Tây Ninh, tạo nên cộngđồng người Chăm ở hai tỉnh này Những năm sau đó, một bộ phận nhỏ người Chămnày chuyển đến một số tỉnh khác ở Nam Bộ để sinh sống
Chăm An Giang
Dân số người Chăm ở tỉnh An giang theo số liệu năm 1999 là 12 vạn người , sốngtập trung thành những ấp ( puk) hay liên ấp , xen kẽ trong những xã (palei) của ngườiKinh từ biên giới Việt- Campuchia , rải rác chạy dài theo dòng Hậu giang và sôngKháng Bình hợp lưu ở Tam Giang ( thị xã Châu Đốc ) , rồi đổ xuống xã Khánh Hòa ,huyện Châu Phú, An giang Ở An Giang, hai huyện Phú Tân và An Phú là nơi có cáccộng đồng người Chăm cư trú khá lâu đời Người Chăm An Giang có nguồn gốc, xuất
xứ từ Nam Trung bộ, thuộc vương quốc Chăm Pa cổ Dọc theo sông Hậu từ Châu Đốctrải dài đến giáp biên giới Campuchia có cả thảy 7 làng Chăm là Châu Giang, ĐaPhước, Châu Phong, Lama, Vĩnh Tường, Búng Lớn, Búng Bình Thiên, Đồng Cô Kỵ.Hiện nay, có khoảng hơn 2.000 hộ với trên 13 ngàn người Chăm Islam sinh sống, cưtrú tại đây Sau các biến cố lịch sử, người Chăm dần thích nghi, hòa nhập với cuộcsống mới trên vùng đất Tây Nam bộ Tuy nhiên, cộng đồng Chăm An Giang vẫn giữđược những nét văn hóa đặc trưng của tín đồ theo đạo Islam
Về phía sông Hậu Giang:
Ấp Đồng Ki , thuộc xã Quốc Thái , huyện An Phú , tiếng Chăm gọi là “Kaoh khi-a” ,
có nghĩa là " Cồn cây sạo" Sau này kết hợp với ấp Đồng Đức thàng xã Đồng Cô Ky( thời Pháp), dưới chế độ ngày nay gọi là Quốc Thái Còn ấp Đồng Đức cắt về xã PhúHữu
Ấp La Ma hay Cù lao Ba, thuộc xã Vĩnh Trường, huyện An Phú Tiếng Chăm gọi là
"kaoh Palau Ba" có nghĩa là " ba cù lao"
Trang 9Ấp Phũm Soài, tiếng Chăm gọi là "puk Paok" có nghĩa là" ấp chòm xoài" Nay dân sốphát Triển nên có chòm xoài trên chòm xoài dưới " puk Paok ngok , puk Paok mala"
Ấp Châu Giang, thuộc xã Châu Phong , huyện Tân Châu Tiếng Khmer gọi là "Motjrut" nghĩa là " mõm con heo" người Chăm cũng gọi theo là " Motjrut" Cũng có ykiến cho rằng Châu Giang có nghĩa là làng theo họ Châu nằm dọc bờ sông Vì thờinhà Nguyễn để dễ nắm bắt lí lịch, danh sách thu thuế, quan lại nhà Nguyễn đều ghépngười Chăm theo họ "Châu" hay " Chau" Ngày nay nơi đây vẫn còn có người mang
họ Châu trước tên của mình Ví dụ Châu sa man , Châu sa mach ( Châu- sulayman,Châu- mohamad)
Ấp Phước Thành, thuộc xã Đa Phước , huyện An Phú, tiếng Chăm gọi là " kohKaboak" , có nghĩa là "cồn tơ tằm"
Ấp Khánh An, thuộc xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tiếng Chăm gọi là " koh TầmBoong" có nghĩa là " cồn cây gậy"." Tầm boong" là tiếng Khmer, do đó địa phươngnày có thể người Khmer đã cư trú trước người Chăm?
Về phía sông Khánh Bình:
Ấp Sa Bâu, thuộc xã Khánh Bình, huyện Châu Phú, tiếng Chăm gọi là " Prek Sabau"
có nghĩa là " rạch cỏ tranh"( cỏ tranh lợp nhà)
Ấp Ka Kôi, thuộc xã Nhơn Hội, huyện An phú Tiếng Chăm gọi là " koh Kôi", cónghĩa là " cồn quan thuế" ( cồn có trạm thuế)
Ngoài ra còn có một số người Chăm ở xã Khánh Bình và nhơn Hội, huyện An Phú đã
di cư đến xã Vĩnh Hanh, Châu Thành( An Giang) từ năm 1979 sống bằng nghề ruộngrẫy
Thời chế độ Sài Gòn, người Chăm ở Châu Giang và Châu Phong có di cư lên SàiGòn trên 4000 ( bốn ngàn) người, sống bằng nghề buôn bán hàng rong và làm thuê.Trong khoảng thời gian này cũng có trên dưới 3000( ba ngàn) người ở địa phương trênđây đi khai hoang, sống bằng nghề làm ruộng rẫy ở tỉnh Bà Rịa và Đồng Nai Rải ráccũng có một số ít sống trong thị trấn và thị xã
Chăm Thành phố Hồ Chí Minh
Ở thành phố Hồ Chí Minh, người Chăm có hơn 7.000 người đang cư trú trên hầuhết các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh Trong quá khứ cộng đồng này đã phải
Trang 10thực hiện một cuộc hành trình dài từ cố hương Trung Bộ vào vùng đất Nam Bộ, để rồi
từ đó đến định cư tại Sài Gòn - nay là Thành phố Hồ Chí Minh Cộng đồng Chăm sớmtiếp xúc văn hóa Islam và tôn giáo này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tập quán thườngngày
II.2.2 Hoạt động kinh tế
Người Chăm định cư trên dải đất miền Trung với đặc điểm địa hình là miền đấthẹp, kéo dài và được cấu tạo bởi ba vùng: Núi - Đồng bằng - Biển cả Khí hậu nơi đâykhắc nghiệt, khô ẩm, nhiều nắng, ít mưa Điều kiện tự nhiên, địa lí môi sinh đó đãhình thành nên nền kinh tế của người Chăm Chăm là một dân tộc có nhiều ngànhnghề truyền thống lâu đời như thêu, dệt, làm đồ gốm, làm gạch, chế tạo công cụ sảnxuất, buôn bán, đóng thuyền, đánh cá, điêu khắc đặc biệt là nghề trồng lúa nướcđược người Chăm phát triển từ rất sớm và luôn có những cải tiến về giống và thủy lợi.Người Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính Kỹ thuậtthâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo Hainghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông Trước kia, người Chăm khôngtrồng cây trong làng vì cho rằng cây sẽ là nơi cư trú của ma quỉ
Bên cạnh đó người Chăm còn là những người làm vườn giỏi Họ trồng nhiều hoamàu và cây ăn trái như ngô, khoai lang, đậu xanh, đậu nành, chuối, dừa, hồ tiêu…Nhờ đó mà dân cư có hoa quả và ăn rau xanh 4 mùa Người Chăm còn biết khai thácnhững khu rừng lớn có các loại gỗ mun, trầm hương, vỏ cây làm thuốc nhuộm… rấtđược ưa thích trên thị trường Họ cũng biết khai thác tài nguyên khoáng sản ở xứ họ
để đem bán ở xa Nói chung kinh tế truyền thống của người Chăm bao gồm cả nghềnông, nghề đi biển và khai thác rừng Ba hình thái kinh tế đó đã góp phần làm cho đờisống kinh tế Chăm phát triển phồn thịnh và hiện nay còn in dấu ấn đậm nét trong lễhội Chăm Tuy nhiên ngày nay, một số ngành kinh tế truyền thống đã bị mất đi Hiệnnay người Chăm không còn làm nghề biển Tuy một số làng Chăm ở Ninh Thuận nhưBỉnh Nghĩa vẫn còn sống gần biển nhưng họ không làm nghề biển mà lại quay lưngvới biển Đa số (khoảng 95%) người Chăm Ninh Thuận ngày này sống bằng nghềnông, và một số ít làm nghề chăn nuôi và khai thác rừng Đến nay họ vẫn còn pháthuy truyền thống làm lúa nước và chăn nuôi gia súc, gia cầm Hoạt động nông nghiệpvẫn là nền kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế củangười Chăm hiện nay
II.2.3 Tín ngưỡng tôn giáo
Trong cộng đồng người Chăm, hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng làm nên nét vănhóa đặc trưng cho văn hóa bản địa góp phần làm phong phú cho nền văn hóa ViệtNam nói chung, đóng góp vai trò quan trọng trong việc thu hút du khách đến với ViệtNam
Trang 11Khi nói về tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc này, nhiều người trong chúng ta xácnhận rằng: tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân Chăm có một sắc thái riêng, rất
đa dạng và phong phú, ngoài sự kết hợp hài hòa giữa Ấn Độ giáo với tín ngưỡng dângian và lễ hội truyền thống mang tính bản địa của dân tộc Chăm, theo đó tính vượt trộicủa yếu tố dân tộc bao giờ cũng lớn hơn và mang tính bền vững hơn trong đời sống xãhội của cộng đồng Như đã nói, tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng cư dân Chăm cómột sắc thái riêng, theo đó tính vượt trội của yếu tố dân tộc bao giờ cũng lớn hơn Tuynhiên, một vấn đề khác nữa là nét đặc thù của dân tộc này còn có một đặc điểm mangtính nguồn gốc, được phỏng theo yếu tố tôn giáo mà xã hội loài người đã chia cộngđồng dân tộc Chăm thành bốn nhóm tín ngưỡng – tôn giáo khác nhau
Nhóm thứ nhất, là tín ngưỡng – tôn giáo bản địa cổ Bà la môn, còn gọi là BàChăm Nhóm này, cư trú ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, thuộc vùng Cực Nam,Trung bộ, với khoảng 46.000 người;
Nhóm thứ hai, là Chăm Bàni, còn gọi là đạo Bàni hoặc Hồi giáo Bàni Nhómnày, hiện cư trú tại ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước, với khoảng39.500 người;
Nhóm thứ ba, là người Chăm theo tín ngưỡng Islam, gọi là Chăm Islam hoặc Hồigiáo Islam (đạo Islam) Nhóm này, hiện cư trú ở khu vực miền Đông và miền TâyNam Bộ, bao gồm các tỉnh: Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Phước, Bình Dương, thành phố
Hồ Chí Minh, Long An, Trà Vinh, Kiên Giang và tập trung chủ yếu ở tỉnh An Giang,với khoảng 25.700 người – trong đó An Giang là 12.700 người;
Nhóm thứ tư, là cộng đồng người Chăm không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào, còngọi là Chăm Roi Cư ngụ ở các tỉnh: Phú Yên, Bình Định và Đắc Lắc, với khoảng18.400 người
Tín ngưỡng dân gian
Trong cộng đồng Chăm, ngoài hệ thống tổ chức tôn giáo, còn có một hệ thống tổchức tín ngưỡng dân gian Hệ thống tổ chức này chủ yếu để thực hiện những yêu cầunghi lễ phục vụ cho các thần (Po Yang) như cúng bái, dâng lễ vật lên các thần để cầu
an, cho nên, không đòi hỏi một cách chặt chẽ và nghiêm ngặt như hệ thống tổ chứctôn giáo Mỗi Palei thường gồm có các vị thầy cúng Maduen, Muk Kajuw, Ong Ka-ing, Gru Kaleng v.v… Các vị này thường được kế tục theo cha truyền con nối
Tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Chăm là niền tin vào những thần linh(Pô Yang) Với niềm tin vào tín ngưỡng đa thần , người Chăm quan niệm thiên nhiên
và mọi vật thể xung quanh con người đều có linh hồn – tất cả đều có linh hồn và luônluôn có mối quan hệ với con người Hơn nữa, người Chăm coi cuộc sống sau khi chết
“thế giới bên kia” mới là nơi linh hồn tồn tại mãi mãi Vì vậy, trong cuộc sống họ luôn
Trang 12tôn thờ đấng tạo ra vũ trụ Đấng ấy, được người Chăm gọi là ông trời (Pô Yang Hit).Ngoài Pô Yang Hit, họ còn có phong tục tin thờ hệ thống Pô Yang và các lễ hội truyềnthống cổ khác.
Từ ngàn xưa, cộng đồng cư dân Chăm vốn đã gắn bó với tín ngưỡng đa thần, nên
họ quan niệm rằng trong cuộc sống hàng ngày của các Pô Yang không chỉ có mốiquan hệ với con người, mà còn tác động, chi phối toàn bộ sinh hoạt của con người Vìvậy, trong cuộc sống họ luôn luôn có niềm tin – con người muốn được các Po Yangphù hộ và che chở thì phải biết tin thờ các thần linh, nếu không tin thờ mà ngược lạilàm “trái ý” các thần linh, thì con người ắt sẽ bị các thần linh trừng phạt Từ nhận thức
và quan niệm đó, nên trong cuộc sống thường ngày người Chăm thường khấn lễ, cầuxin sự cứu độ và che chở các thần linh, nhất là những lúc con người gặp hoạn nạnhoặc tai ương trong cuộc sống Điều đó cho thấy tín ngưỡng thần linh nó phản ảnh sựhòa đồng giữa con người – thiên nhiên – thần linh và nó ràng buộc con người luônluôn quan hệ với thần linh Từ mối quan hệ “giao cảm” này, cũng có thể hiểu rằng tínngưỡng thần linh cũng thuộc phạm trù tôn giáo, vì cả hai đều phản ảnh niềm tin vàothế giới siêu nhiên
Xuất phát từ quan niệm coi thiên nhiên và vạn vật xung quanh con người đều cólinh hồn, nên từ ngàn xưa tổ chức – xã hội của dân tộc này có truyền thống tin thờ tínngưỡng đa thần, đứng đầu là Pô Yang hit, cùng hệ thống Pô Yang, như: Thần Núi (PôYang chơt), Thần Nước (Pô Yangla), Thần sét (Pô Yang patan), Thần Lúa (Pô YangSri), Thần Chuột (Pô Yang Takuh) v.v… Đồng bào Chăm có niềm tin và thờ các vị ấytrong các Đền, Tháp và còn được chạm nổi ở các kiến trúc cổ, đặc biệt là ở các Tháphoặc được tạc nguyên hình bằng các loại đá quí, đồng đen, kim loại vàng cùng với cácthần linh khác Ngoài sự tin thờ các Pô Yang như đã nói trên đây, trong cuộc sống củamình đồng bào Chăm luôn luôn gắn bó với các thần linh và linh hồn của những ngườitrong họ tộc đã chết Bởi thế việc tín ngưỡng thần linh và thờ cúng ông bà, tổ tiên củangười Chăm được xem là một tập tục, truyền thống đạo đức chiếm giữ một vị trí vôcùng quan trọng trong đời sống tâm linh của cộng đồng
Tuy nhiên, ngày nay cộng đồng người Chăm ở nước ta việc tín ngưỡng ba vị thần
ấy không còn sâu đậm như dưới thời các vương triều Chămpa xưa, mà họ coi trọng vàtin thờ ba vị thần chính của người Chăm, là Thánh Mẫu Po InưNagar – là vị nữ thầntạo ra nước Chămpa xưa, tạo ra cây lúa và hai Quốc vương đã hóa thần là PoKlongarai (còn gọi là vua Lác) và thần Pô Rô Mê, bởi các vị thần này vừa trực tiếpvừa rất gần với tình cảm, tâm lí tổ chức – xã hội của cộng đồng người Chăm
Tôn giáo của người Chăm
Trang 13Người Chăm chủ yếu theo 2 nhóm tôn giáo chính là Bàlamôn và Hồi giáo NgườiChăm theo Hồi giáo được gọi là người Chăm Bàni và Chăm Islam, còn người Chămtheo Bàlamôn được gọi là Bà Chăm.
1) Người Chăm Bàni
• Hệ thống thánh đường
Thánh đường Bàni là một ngôi nhà lớn nằm trong khuôn viên được bao bọcbằng những tường rào ở trung tâm làng Cổng khuôn viên hướng đông bắc, có máiche Các bức tường thánh đường được xây dựng bằng gạch nhưng vẫn có khung nhàbằng gỗ, những hàng cột gỗ lớn Đòn dông nhà đặt theo hướng đông - tây, cửa thánhđường mở hướng đông ở phía đầu hồi Có một nhà khách làm bằng gỗ, đòn dônghướng bắc - nam Trong lòng thánh đường để trống, không trang trí gì Chỉ có mộtmihrab ở bức tường trong cùng, là một khung gỗ cao chừng 2m, rộng khoảng 1,5m, lànơi để các tu sỹ đọc kinh và làm lễ Bên phải của mihrab có một cái bục gọi là minbar,
là nơi để vị Khotip giảng kinh Trong khuôn viên thánh đường còn có một cái giếng
để lấy nước làm lễ thánh tẩy Thánh đường là nơi các tu sỹ và các tín đồ Bàni đến cầunguyện và dâng lễ trong các dịp lễ, là nơi làm lễ phong các chức sắc tu sỹ Bàni, nơitập trung tín đồ tham dự mùa chay Ramưwan Phụ trách thánh đường là một hội đồng
do tín đồ bầu lên, có nhiệm kỳ từ 3 đến 5 năm Hiện nay thánh đường còn là nơi hộihọp của các chức sắc, các nhân sỹ trí thức để bàn bạc việc làng
• Hệ thống chức sắc Bàni
Mỗi thánh đường Bàni đều có đội ngũ chức sắc phụ trách các sự vụ tôn giáo.Tầng lớp tu sỹ Bàni được gọi chung là “thầy char”(cũng giống như thầy pà xế ởBàlamôn) Theo quan niệm “nhất thể lưỡng hợp”, chức sắc Bàlamôn được coi là âm(tóc búi tó) thì chức sắc Bàni là dương, cạo tóc, để râu Các cấp tu sỹ có trang phụcchức sắc riêng: áo quần màu trắng, áo dài, cạo tóc và bịt khăn Hệ thống tu sỹ Bàniđược tổ chức rất chặt chẽ, được phân công theo khu vực thánh đường và được chiathành bốn cấp: Chức sắc Char (Achar), Chức Khotíp hay típ, Chức Imưm hay mưm,Thầy cả Pô grù là chức vụ cao nhất và duy nhất trong một thôn hay một thánh đườngBàni Đối với tín đồ Bàni, thầy Char rất được nể trọng Ông vừa là người thay mặt chothánh Ala làm các nghi thức tôn giáo, vừa là người thay mặt cho người Chăm của cảhai tôn giáo Bàlamôn và Bàni làm chủ nhiều nghi lễ mang tính chất dân gian củangười Chăm Bàlamôn và Bàni Trong các lễ Ri chà của người Chăm Bàlamôn, phải cócác thầy Char đến khai lễ Trong các nghi lễ cộng đồng mang tính nông nghiệp nhưRija nưgar, Kap hlâu Krong, Mưrôi, Plao asah, các thầy Char đều đến và làm chủ lễmột số tiểu lễ Trong các lễ tẩy uế đất đai, nhà mới, chữa bệnh, các gia đình ChămBàlamôn đều có mời thầy Char làm lễ Chức sắc Bàni phải nối theo dòng họ và mỗi
họ phải có một người làm thầy Char Như vậy, mỗi thầy char trong một thánh đường
Trang 14đều là đại diện cho dòng họ mình Muốn trở thành thầy char thường phải hội đủ cáctiêu chuẩn: Phải giỏi chữ để học kinh thánh Trước khi làm lễ tôn chức đã phải họckinh thánh; Là người đã có vợ, bản thân người nhập vào hàng ngũ thầy Char và vợphải trong sạch Vợ hoặc chồng không phải là một trong các trường hợp song sinh;Phải là tín đồ Bàni ít nhất là ba đời.
• Hệ thống thần linh và hệ thống giáo lý giáo luật
Từ tín ngưỡng đa thần của Bàlamôn giáo, người Chăm Bàni chuyển sang tínngưỡng nhất thần, chỉ thờ phụng thánh Ala và thiên sứ Môhamet Tuy nhiên, trongtiềm thức của người Chăm Bàni vẫn sâu đậm quan niệm đa thần, thể hiện trong việctham gia vào các nghi lễ mang tính chất nông nghiệp như lễ hội Rija nưgar, lễ hộiKaplau krong, Plao Pasah Các thầy Char vẫn làm chủ một số nghi lễ cộng đồngquan trọng Người Chăm Bàni ngoài việc cầu nguyện Pô Âu lóa (Ala), vẫn cầunguyện các thần linh từ xa xưa như các thần thiên nhiên: thần Mưa, thần Biển, thầnNúi, thần Nước, thần Sông và một số nhân thần như Pôklongirai, Pôrômê, Pô InưNưgar…
• Hệ thống nghi lễ, việc thờ cúng
Khác với Hồi giáo chính thống, tín đồ Bàni không làm lễ năm lần mỗi ngày.Ngày thánh lễ là vào thứ sáu hàng tuần và cũng chỉ tổ chức đơn giản vào một thời giannhất định và mỗi năm chỉ có 9 tháng tổ chức ngày thánh lễ thứ sáu Tháng chayRamưvan là thời gian quan trọng nhất của người Bàni, nhưng người theo Bàni khôngphải nhịn ăn vào ban ngày như luật Hồi giáo quy định Chỉ có các tu sỹ phải nhịn ăn
ba ngày đầu của tháng Ramưvan mà thôi Trong tháng Ramưvan, các tu sỹ phải tu ởthánh đường, không được về nhà và chỉ được ăn những lễ vật dâng cúng Khi ăn cơmchỉ được dùng tay và chỉ ăn nửa bên phải Tu sỹ phải tắm rửa sạch sẽ, ít nhất mỗi ngàymột lần
2) Người Chăm Islam
Người Chăm ở vùng Nam Bộ khác với cộng đồng cư dân Chăm ở các tỉnh củamiền cực Nam Trung Bộ ở chỗ chỉ theo một tín ngưỡng, là niềm tin vào Thượng đếAlah, đó là Hồi giáo Islam
3) Người Chăm Bàlamôn
Cùng với việc tin thờ các Thần linh, người Chăm còn có tín ngưỡng tin thờchung hoặc riêng ba vị thần có nguồn gốc Bà la môn giáo Ấn Độ, đó là:
Thần Brahma, là chúa tể vạn vật, là vị thần đứng đầu trong các vị thần,
Thần Vishu, là thần bảo tồn
Thần Shiva, là thần phá hoại và tạo tác
Trang 15Thần Brahma là vị thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài, một vị thần đứng đầutrong các vị thần Ở di tích Mĩ Sơn (Quảng Nam), ngoài tượng được tạc bằng đá hoacương, thần Brahma, còn được tạc trên các mí tháp, đền; còn thần Vishnu thườngđược tạc hình dáng có bốn tay và trên tay có cầm các bảo vật như: Ốc Tù và (Sanka),Đỉa tròn (cakra), hoa sen (Padama), quả Chùy (Oada) và được tạc nguyên hình lúccưỡi trên lưng con chim thần (Garada).
Ngoài ra, người Chăm còn tin thờ thần Shiva – vị thần này được tạc nhiều hìnhdáng khác nhau hoặc đứng có sáu tay hoặc cưỡi trên lưng con bò đực (Nan din) với tưthế tấn công hoặc được tạc vai Hộ pháp canh giữ các đền Thần Shiva còn được tạcdưới nhiều biểu tượng khác nữa, như: Dưới hình thức cái phù linh (Linga) – một trụ
đá tròn trên một cái đế dùng hứng nước phép khi hành lễ, là biểu tượng cho sức mạnh
và sự sinh tồn của loài người, sự phối hợp giữa người đàn ông (Linga) với người phụ
nữ (Yoni) – biểu tượng về sự thống nhất giữa Âm và Dương, tức là giữa Linga vàYoni nguyên lí của sự sinh tồn và phát triển Sự lưỡng hợp này, thể hiện một cách sâuđậm như là một truền thống trong sinh hoạt tinh thần cũng như sinh hoạt xã hội củacộng đồng cư dân Chăm ở nước ta Sự tin thờ nhiều biểu tượng của thần Shiva saunữa là biểu tượng con bò đực (Nandin), hiện thân của sức mạnh sinh tồn
II.2.4 Phong tục tập quán
Người Chăm theo đạo Hồi( nhóm Ba Ni và nhóm Ixlam) và đạo Bà Lamôn( chiếmkhoảng 3/5 dân số Người Chăm duy trì chế độ mẫu – hệ, con gái theo họ mẹ, con gáiđược kế thừa tài sản, con gái út phải nuôi dưỡng bố mẹ Người Chăm thờ nữ thần
Trong cưới hỏi
Con gái Chăm sẽ đi hỏi chồng và người con trai sẽ ở rể, , nhà gái cưới chồng chocon gái, con trai ở rể đén khi chết đi sẽ được nhà vợ thờ cúng cho đến khi hết tang thì
sẽ được nhà trai mang hài cốt đem về thờ cúng Trong lễ mai mối, với người Chăm,con gái chủ động mọi công việc trong hôn nhân nên khi người con gái mới lớn thì nhàgái thường chủ động chọn chồng cho con gái qua hình thức mai mối Ông mai bà mối(ong binyuk muk binyuk) phải có tài ăn nói lưu loát, nói bóng nói gió để thể hiện ý đồcủa nhà gái Đây là một nét nhân văn đặc trưng của chế độ mẫu hệ người Chăm vì họnhà gái luôn phải giữ kín chuyện mai mối,tiền hôn nhân nếu chưa biết được ý tứ củanhà trai như thế nào Trong lễ dạm hỏi, sau khi nhà trai đồng ý, nhà gái sẽ xin ngàylành tháng tốt (harei siam bilan siam) để tiến hành lễ hỏi (nao puec) Trong lễ này, nhàgái sẽ chuẩn bị lễ vật dâng cho họ nhà trai Lễ vật rất đơn giản bao gồm trầu, cau,rượu và bánh truyền thống (ahar puec likei) như tapei nung (như bánh tét của ngườiKinh), tapei bilik (bánh ít)… và một ít trái cây Khi họ nhà gái mang lễ vật sang thì họnhà trai cũng đã chuẩn bị nghi thức đón lễ vật Chiếu được trải dài trước sân nhà, hai
họ ngồi thành hàng đối diện theo hướng Đông – Tây Câu chuyện cưới xin được bắt