1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm môn lý thuyết công tác xã hội lý thuyết hệ thống sinh thái

20 175 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 203,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể đánh giá một cách khái quát và đưa ra những phương pháp can thiệp cụ thể và hữu ích, nhân viên xã hội cần có những cái nhìn những mối quan hệ xung quanh, dùng các thuyết để làm

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI

CHỦ ĐỀ: LÝ THUYẾT HỆ THỐNG SINH THÁI

Bài tập nhóm

Môn: Lý thuyết công tác xã hội

Giảng viên: Ths Trần Thị Mỵ

Sinh viên: nhóm 6

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09/11/2016

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM 6

Hồ Thị Loan- 1556150041

Nguyễn Thị Hậu- 1556150020

Nguyễn Thanh Hoa -1556150022

Trần Thị Kim Liên -1556150039

Đỗ Nguyên Thùy Dương -1556150012

Hoàng Thái Anh -1556150002

Trang 3

MỤC LỤ

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

Một số khái niệm về thuyết 1

1 Lịch sử 1

2 Sơ lược về thuyết hệ thống sinh thái 2

HỆ THỐNG SINH THÁI THEO MẪU CỦA HỆ THỐNG XÃ HỘI 3

BIỂU ĐỒ SINH THÁI 4

3 Một số khái niệm về đặc tính của con người và môi trường 5

3.1 Sự Hài Hoà Giữa Cá Nhân và Môi Trường và Khái niệm trọng tâm 5

3.2 Khái niệm về đặc tính của con người 7

3.3 Khái niệm về đặc tính của môi trường 8

4 Các luận điểm trọng tâm 8

4.1 Vấn đề của con người và sự trao đổi qua lại giữa con người và môi trường 9

4.2 Stress và tác nhân gây stress 9

4.3 Đường đời và thời gian, không gian 10

5 Đối tượng Công tác xã hội (phạm vi, điều kiện áp dụng) 11

6 Các bước hỗ trợ 12

6.1 Đánh giá ban đầu 12

6.2 Can thiệp theo 3 hướng 13

6.3 Kết thúc hỗ trợ và lượng giá 13

7 Một số điểm cần lưu ý trong thực hành 13

8 Hạn chế và phê bình Thuyết hệ thống sinh thái 13

9 Đánh giá và can thiệp công tác xã hội 14

9.1 Mục tiêu 14

9.2 Công cụ 14

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 4

MỞ ĐẦU

Môi trường là yếu tố quan trọng đối với mỗi cá nhân và càng quan trọng hơn trong công tác

xã hội xét từ khía cạnh con người luôn chịu sự tác động của môi trường, chịu ở dưới tác nhân khác nhau, các hệ thống khác nhau Để có thể đánh giá một cách khái quát và đưa ra những phương pháp can thiệp cụ thể và hữu ích, nhân viên xã hội cần có những cái nhìn những mối quan hệ xung quanh, dùng các thuyết để làm rõ vấn đề của thân chủ, và một trong những thuyết không thể thiếu đó chính

là thuyết Hệ thống sinh thái Thuyết hệ thống sinh thái cho rằng con người chịu tác động ở ba cấp độ: Sinh học và tâm lý (cấp vi mô), gia đình, bạn bè, đồng nghiệp (cấp trung mô), và các tổ chức thiết chế, cộng đồng (cấp vĩ mô) Chúng ta cùng nhau đi vào sâu hơn đê tìm hiểu Lý thuyết này

NỘI DUNG

Một số khái niệm về thuyết

Thuyết hệ thống: Nhiều các khái niệm về hệ thống theo từ điển tiếng Việt: “Hệ thống là tập hợp

nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất.”

Theo định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”:

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt đông thống nhất.” Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống,đồng thời là một bộ phận của hệ thống lớn hơn

Khái niệm về hệ thống sinh thái:

Theo định nghĩa

Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng

để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái (Ecology systems)

Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm,

xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái

1 Lịch sử

Quá trình hì thành: Lý thuyết hệ thống sinh thái được Carel Bailey Germain – Giáo sư ngành

Trang 5

khái niệm về một "quan điểm sinh thái" trong khi giảng dạy tại Columbia vào giữa những năm bảy mươi, và sau đó, cô dựa trên nền tảng đó mà phát triển lý thuyết này với sự hỗ trợ của đồng nghiệp

là Alex Gitterman

Mục đích của Gitmain lúc đó là đưa lý thuyết này áp dụng vào công tác xã hội với cá nhân Bởi lẽ mặc dù nhân viên xã hội cơ bản từ lâu đã biết rằng con người tồn tại trong một ma trận xã hội và sự chuyển biến tâm lý sâu rộng và phức tạp, song nghề CTXH lúc đó lại thiếu một khái niệm nhằm liên kết các ảnh hưởng môi trường và văn hóa rộng lớn đối với mỗi con người, giúp cho nhân viên CTXH có đủ kiến thức để đối mặt với những khó khăn của thân chủ

Quá trình phát triển: 1983 Meyer tiếp tục xây dựng và mở rộng ra để đáp ứng nhu cầu giảng dạy

tại Mỹ

Theo thời gian, Germain và Alex nhận thấy rằng quan điểm sinh thái không chỉ có thể áp dụng trong CTXH cá nhân mà còn thích hợp để áp dụng cho CTXH nhóm, CTXH cộng đồng và họ đã dựa trên thành quả nghiên cứu có được để phát triển mô hình đời sống ( Life model) dùng trong thực hành

Hiện nay, Lý thuyết hệ thống sinh thái đã được áp dụng giảng dạy và đưa vào thực hành trên toàn thế giới

2 Sơ lược về thuyết hệ thống sinh thái

Lý thuyết hệ thống sinh thái và tiếp cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái theo truyền thống được dựa trên một mô hình tâm lý học của Freud, trong đó chẩn đoán và điều trị tập trung chủ yếu vào tâm lý của thân chủ và sự can thiệp tích cực, nhanh chóng của gia đình

Điểm đặc biệt nhất của cách tiếp cận theo lý thuyết hệ thống sinh thái là nó cung cấp một lăng kính nhằm tìm ra mối quan hệ giữa con người với môi trường xung quanh dựa trên nền tảng sinh thái học

(Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và

các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng Các chủ đề mà các nhà sinh thái học quan tâm như đa dạng sinh học, phân bố, giá trị (sinh khối), số lượng (quần thể) của các sinh vật, cũng như sự cạnh tranh giữa chúng bên trong và giữa các hệ sinh thái.).

Lý thuyết này chú trọng đến việc kết nối các mối quan hệ giữa con người và môi trường để giải quyết vấn đề con người đang đối diện, từ thuyết hệ thống sinh thái này, nhân viên xã hộ có thể đánh giá môi trường sống của thân chủ như gia đình, bạn bè, hang xóm, đồng nghiệp, cơ quan… nhằm hiểu tình trạng, vị trí hiện tại của thân chủ trong môi trường mà họ đang sống

Trang 6

HỆ THỐNG SINH THÁI THEO MẪU CỦA HỆ THỐNG XÃ HỘI

HỆ THỐNG VĨ MÔ

Hệ thống chính trị

Hệ thống văn hóa xã hội

Hệ thống

pháp luật

Hệ thống nhà nước

Hệ thống vi mô ( tiểu hệ thống cá nhân)

Hệ thống trung mô

Hệ thống tâm lý

Hệ thống xã hội

Hệ thống sinh học Nhóm

Gia đình

Trang 7

BIỂU ĐỒ SINH THÁI

CHÚ THÍCH: 1 Đường Mối quan hệ tương tác mạnh

2 Đường Mối quan hệ tương tác bình thường

3 Đường Mối quan hệ tương tác lúc mạnh lúc yếu

4 Đường Mối quan hệ tương tác yếu

Note: Nếu 2 mũi tên 2 chiều là đường biểu diễn tương tác 2 chiều Nếu chỉ tác động từ một phía để mũi tên một chiều

Tổ chức đoàn thể

Chăm sóc sức khỏe

An sinh xã hội

CÁ NHÂN Gia đình hạt

nhân

Vui chơi giải trí

Gia đình mở

rộng

Trường học Hàng xóm

Bạn bè

Trang 8

3 Một số khái niệm về đặc tính của con người và môi trường

3.1 Sự Hài Hoà Giữa Cá Nhân và Môi Trường và Khái niệm trọng tâm

3.1.1 Sự Hài Hoà Giữa Cá Nhân và Môi Trường

Diễn ra khi môi trường có tài nguyên và phương pháp phân phối tài nguyên một cách công bằng và hợp lý để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người Có ba trường hợp thiếu hài hoà giữa cá nhân và môi trường:

Môi trường có tài nguyên và phương pháp phân phối hợp lý nhưng cá nhân không sử dụng, có thể

vì thiếu kiến thức về tài nguyên hay không có ý chí sử dụng tài nguyên

Môi trường có tài nguyên nhưng không có phương pháp phân phối công bằng và hợp lý

Môi trường không có tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân

Trong cả ba trường hợp trên đây, nhân viên CTXH đều có thể đóng một vai trò tích cực trong việc tạo ra hài hoà giữa cá nhân và môi trường, đạt được an sinh cho mọi công dân.

3.1.2 Các khái niệm trọng tâm

Tương Tác/Interaction:

Là sự tác động qua lại không ngừng giữa các thành phần tạo nên cá nhân hay giữa cá nhân và các thành phần khác trong hệ thống Tác động qua lại này có thể tiêu cực hoặc tích cực và ảnh hưởng đến an sinh của cá nhân, thí dụ quan hệ xấu với hàng xóm gây nên sự căng thẳng, bực mình; quan

hệ tốt với cộng đồng giúp nhân viên CTXH hoàn thành hữu hiệu nhiệm vụ giúp đỡ khách hàng khiến cho cả nhân viên CTXH lẫn khách hàng đều hài lòng…

Trang 9

Nguyên Liệu/Input:

Là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của các nguồn tài nguyên mà cá nhân nhận được

từ môi trường

Sản Phẩm/Output:

Là năng lượng, thông tin, truyền thông, sự hỗ trợ của cá nhân dành cho môi trường

Trạng Thái Ổn Định/Homeostasis:

Diễn ra khi có sự tương tác hài hoà giữa cá nhân và môi trường, cá nhân đóng góp cho môi trường

và được môi trường hỗ trợ một cách tương xứng

Điểm Giao Thoa/Interface:

Là tác động qua lại hoặc nơi chính xác diễn ra tác động qua lại giữa hai hệ thống riêng biệt hay giữa

cá nhân và môi trường Trong quá trình lượng định theo lý thuyết Hệ thống môi sinh, điểm giao thoa chính xác cần được xác định để tập trung vào đó năng lực và tài nguyên nhằm tạo ra thay đổi Trong thí dụ nhiều cộng đồng thiểu số không sử dụng đúng mức tài nguyên xã hội ở California kể trên, điểm giao thoa là vấn đề truyền thông Khi giải quyết được vấn đề này sẽ giải quyết được, hoặc góp phần giải quyết được vấn nạn ít sử dụng tài nguyên xã hội của người thiểu số ở California Thí dụ khác: nhiều cặp vợ chồng than phiền không có hạnh phúc vì nhiều nguyên nhân: bất đồng trong việc nuôi dạy con cái, đối xử với cha mẹ hai bên, chi tiêu trong gia đình, quan hệ vợ chồng nguội lạnh, không có thì giờ cho nhau… nhưng nhiều khi điểm giao thoa cũng chỉ là vấn đề truyền thông, tức là không biết cách truyền đạt cho nhau những nhu cầu, quan tâm, lo lắng, vui,buồn, một cách đúng phương pháp và hiệu quả

Thích Ứng/Adaptation :

Là khả năng thay đổi để thích nghi với những biến động của bản thân và môi trường, thí dụ lập gia đình, thay đổi công việc, dọn nhà, gia đình thêm người, bớt người… Thích ứng đòi hỏi năng lượng, khi cá nhân không có đủ năng lượng để thích ứng, nhân viên CTXH sẽ giúp cá nhân huy động được

Trang 10

năng lượng cần thiết từ môi trường để thích ứng Thích ứng cũng có nghĩa là tạo ra thay đổi môi trường để thỏa mãn nhu cầu của con người

Đối Phó/Coping:

Là một hình thức của thích ứng Thích ứng có nghĩa rộng, bao trùm mọi trường hợp khi cá nhân đối diện một thay đổi mới hoặccủa môi trường hoặc của bản thân Đối phó là sự phấn đấu để thích ứng với một thay đổi, một tình huống tiêu cực

Liên Lập/Interdependence:

Con người không thể sống hoàn toàn biệt lập mà phải nhờ đến nhiều người khác để được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản: ăn, mặc, nhà ở, hạnh phúc, sự an toàn…

3.2 Khái niệm về đặc tính của con người

Con Khi con người có sự trao đổi qua lại với môi trường thì năng lực đối phó với stress của người cao hay thấp tùy thuộc vào 4 yếu tố sau:

Mối quan hệ (Relatedness): Năng lực đối phó stress phụ thuộc vào các mối quan hệ giữa con người với mạng lưới xã hội như: gia đình, bạn bè, hàng xóm… Nói cách khác, nếu một người có mối quan

hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm,… thân thiết thì người đó có khả năng đối phó với stress cao hơn

Năng lực (Competence): Năng lực nhằm thay đổi môi trường này có từ khi nó được sinh ra và được phát triển do con người có cơ hội học tập, tiếp cận các nguồn tài nguyên Con người sẽ có năng lực này càng cao nếu trong quá khứ có nhiều kinh ngiệm, thành công trong việc thay đổi môi trường sống của bản thân

Tự quản lí(Self – direction): Nếu con người có nhiều mối quan hệ với môi trường và có năng lực thì con người sẽ có sự độc lập, khả năng quyết định và nhận trách nhiệm cao Khả năng tự quản lí giúp cho con người có khả năng tự bảo vệ bản thân khỏi những áp lực mà con người gặp phải

Trang 11

Sự tự trọng (Self – esteem): Sự tự trọng có ảnh hưởng nhiều đến cảm xúc và hành vi của con người.

Sự tự trọng của bản thân một người càng cao khi người đó có nhiều mối quan hệ với môi trường, có năng lực và khả năng tự định hướng

3.3 Khái niệm về đặc tính của môi trường

Con người cần có các điều kiện phù hợp từ một “ môi trường dinh dưỡng” để phát triển Con người cần chú ý các yếu tố về môi trường xã hội, môi trường địa lí để điều chỉnh môi trường sống thích hợp, tránh tạo stress cho bản thân

Môi trường xã hội: Bao gồm gia đình, bạn bè, hàng xóm, các nhóm, các cơ sở xã hội, trường học, chế độ chính sách, pháp luật, tôn giáo, văn hóa… Môi trường xã hội cũng bao gồm các nhóm có thế lực tạo sự uy hiếp cho thân chủ

Môi trường vật lí: Bao gồm môi trường tự nhiên, hệ thống giao thông, các điều kiện có ý nghĩa quan trọng và không thể thiếu cho cuộc sông con người nhưi khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên đất, không khí, thực vật, động vật…

4 Các luận điểm trọng tâm

Trong hoạt động công tác xã hội, sự vận dụng lý thuyết về hệ thống sinh thái trong quá trình phân tích vấn đề và lựa chọn giải pháp để giải quyết vấn đề của cá nhân hoặc gia đình sẽ không phát huy được hiệu quả tối ưu nếu chỉ tập trung vào các vấn đề sinh thái và xã hội Lý thuyết về các hệ thống cho thấy rằng, nếu muốn giải quyết được vấn đề của mỗi một cá nhân hoặc một cá thể gia đình thì trước hết phải đặt họ vào trong hoàn cảnh xã hội mà họ đang là thành viên và đôi lúc cũng phải được kết hợp với các lý thuyết về tâm lý xã hội thì mới có thể đem lại hiêu quả tốt Các quan điểm

về “Con người trong hoàn cảnh”, sau này được đề cập đến như là: “con người-trong-môi trường (PIE) được phát triển từ đó Người đặt nền tảng cho sự phát triển của các quan điểm này là Germain

và Gitterman với sự hình thành “mô hình cuộc sống” của họ Mô hình đời sống được dựa vào phép

ấn dụ về sinh thái học, trong đó con người phụ thuộc vào nhau và phụ thuộc vào môi trường: họ là

“con người-trong-môi trường” Mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ qua lại: cái này ảnh hưởng lên cái kia thông qua sự trao đổi Theo “mô hình cuộc sống” này, cuộc sống của mỗi một con người đều phải đi theo một con đường, được gọi là đường đời Trên con đường đời đó, mỗi con người sẽ gặp phải một số các sự kiện xảy ra như là những áp lực của cuộc sống, những giai đoạn chuyển tiếp, hoặc một số các vấn đề khác có thể gây ra những sự rối loạn hoặc xáo trộn đối

Trang 12

với khả năng sự thích nghi với môi trường sống của họ khiến họ cảm thấy không thể nào giải quyết được Họ sẽ phải thực hiện hai bước đánh giá về các nhân tố gây ra áp lực và những áp lực đó Trước hết là họ đánh giá sự xáo trộn nghiêm trọng tới mức nào và nó có gây tổn hại hay mất mát gì không hoặc đó chỉ là một thử thách Thứ hai, họ xem xét đến những biện pháp đối phó và nguồn tài nguyên để giúp đỡ họ Họ cố gắng giải quyết bằng cách thay đổi một số điểm nơi chính họ, môi trường hay trong quan hệ trao đổi giữa bản thân họ và môi trường Những dấu hiệu từ môi trường

và từ những phản ứng về thể chất và tình cảm cung cấp cho họ những sự phản hồi về sự thành công của họ trong việc giải quyết vấn đề

4.1 Vấn đề của con người và sự trao đổi qua lại giữa con người và môi trường

Theo Carel Germain thì nhu cầu và vấn đề của con người được nảy sinh trong sinh hoạt hàng ngày

và vấn đề của con người phát sinh do sự ttrao đổi qua lại giữa con người và môi trường bị mất cân đối và không phù hợp sựu trao đổi qua lại Không đơn thần là nguyên nhân kết quả và kết quả mà nguyên nhân dẫn đến kết quả và ngược lại

Nếu giữa con người và môi trường có sự trao đổi phù hợp thì điều này sẽ làm cho con người có cảm giác thỏa mãn, an tâm hơn và tạo động lực để phát triển hơn

Ngược lại, nếu sự trao đổi không tốt, không phù hợp thì điều này sẽ làm cho con người rơi vào tình trạng không thích ứng môi trường, dẫn đến stress và chức năng của con người sẽ không hoàn thiện Chính vì thế, để lý giải được vấn đề của một người thì cần phải có cái nhìn bao quát với nhiều yeus

tố phức tạp liên quan với môi trường sống của người đó

4.2 Stress và tác nhân gây stress

Stress là gì?

Stress là một khái niệm đa hình.Trong thường ngày chúng ta đều trải nghiệm stress ở nhiều khía cạnh khác nhau trong các hoạt động của chúng ta:ở trường, ở nhà, nơi công sở và thậm chí cả trong các hoạt động thể dục thể thao cũng có stress, stress luôn luôn tồn tại quanh ta

Có thể hiểu đơn giản stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần

Ngày đăng: 13/04/2021, 07:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w