1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã phúc xuân, thành phố thái nguyên, tỉnh thái nguyên

77 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể

Trang 1

TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

TỈNH THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 8.44.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG Người hướng dẫn khoa học:GS.TS ĐÀO THANH VÂN

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc./

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2020

Học viên

Phạm Mỹ Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của ban giám hiệu Trường Đại học nông lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, cùng sự tận tình giảng dạy của các thầy cô trong khoa Môi trường đã giúp tôi hoàn thành khóa học của mình Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo GS.TS Đào Thanh Vân đã rất tận lòng hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Nhân dịp này tôi cũng gửi lời cảm ơn tới cán bộ UBND xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và đặc biệt tôi xin cảm ơn gia đình đã luôn ở bên động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của một học viên, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi hoàn chỉnh đề tài này tốt hơn, phục vụ tốt hơn công tác thực tế sau này

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Học viên

Phạm Mỹ Anh

Trang 5

MỤC LỤC

CAM ĐOAN 2

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

3 Ý nghĩa của đề tài: 2

3.1 Ý nghĩa khoa học: 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn: 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài: 3

1.2.Cơ sở pháp lý: 6

1.3 Tổng quan về môi trường nông thôn trên thế giới và Việt Nam 7

1.3.1 Môi trường nông thôn trên thế giới 8

1.3.2 Môi trường nông thôn ở Việt Nam 13

1.3.3 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 14

1.4 Những bài học thành công từ quá trình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam 25

1.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 26

1.5.1 Mức độ đạt chuẩn NTM 29

1.5.2 Tình hình thực hiện tiêu chí Môi trường trong xây dựng NTM tại Thái Nguyên 30

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 32

2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 32

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 32

2.1.2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu 32

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 32

2.2.Nội dung nghiên cứu 32

2.3.Phương pháp nghiên cứu 32

2.3.1.Phương pháp thu thập tài liệu 32

2.3.2.Phương pháp thống kê xử lý số liệu 34

2.3.3.Phương pháp tổng hợp, đánh giá, phân tích 34

2.3.4 Phương pháp chuyên gia Error! Bookmark not defined 2.3.5.Phương pháp điều tra thực địa 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên thiên nhiên môi trường xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên 35

3.1.1 Vị trí địa lý 35

3.1.2 Địa hình, địa mạo 35

3.1.3 Khí hậu, thủy văn 36

3.1.4 Tài nguyên đất 38

3.1.5 Điều kiện kinh tế - xã hội 40

3.2 Đánh giá hiện trạng môi trường Xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên 41

3.2.1 Cơ cấu sử dụng đất, năng suất, sản lượng các cây trồng chính tại địa bàn xã Phúc Xuân 41

3.2.2 Thực trạng về việc sử dụng phân bón 41

3.2.3 Thực trạng về việc sử dụng thuốc BVTV 46

3.2.4 Thực trạng rác thải sinh hoạt tại xã Phúc Xuân 51

Trang 7

(Nguồn: Kết quả điều tra , năm 2018 ) 52

3.2.5 Thực trạng về phế thải chăn nuôi tại xã Phúc Xuân 55

3.2.6 Thực trạng môi trường nước trong sản xuất nông nghiệp tại xã Phúc Xuân 56

3.3 Đánh giá việc thực hiện tiêu chí 17: Tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phúc Xuân 57

3.3.1 Công tác xây dựng nông thôn mới 57

3.3.2 Đánh giá tiêu chí 17: Môi trường 58

3.4 Khó khăn và các giải pháp đối với tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên 60

3.4.1 Khó khăn khi thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 60

3.4.2 Các giải pháp đạt tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 61 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ: 63

1 Kết luận: 63

2 Đề nghị: 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 8

BNN&PTNT : Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn BVMT : Bảo vệ môi trường

MHNTM : Mô hình nông thôn mới

NTM : Nông thôn mới

NQ/TW : Nghị quyết, Trung ương

SXKD : Sản xuất kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm khí hậu thành phố Thái Nguyên (Số liệu trung bình từ 2015 – 2019) 37Bảng 3.2 Hiện trạng diện tích, cơ cấu các loại đất xã Phúc Xuân 2019 38Bảng 3.3 Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chính 41Bảng 3.4 Các loại phân bón hữu cơ được sử dụng chủ yếu của xã

Phúc Xuân 42Bảng 3.5 Các loại phân bón vô cơ được sử dụng chủ yếu của xã Phúc Xuân 43Bảng 3.6 Lượng phân bón hữu cơ và mức khuyến cáo sử dụng phân bón cho cây trồng 44Bảng 3.7 Đặc điểm sử dụng phân bón của người tại xã Phúc Xuân 45Bảng 3.8 Các loại thuốc BVTV người dân thường hay sử dụng tại

xã Phúc Xuân 47Bảng 3.9 Đặc điểm sử dụng thuốc BVTV tại xã Phúc Xuân, năm 2018 48Bảng 3.10 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của thuốc BVTV 50Bảng 3.11 Khối lượng và tỷ lệ RTSH của trung bình hộ tại xã Phúc Xuân 51Bảng 3.12 Thành phần các chất hữu cơ trong RTSH của hộ gia đình tại xã Phúc Xuân 52Bảng 3.13 Thành phần các chất vô cơ trong RTSH của hộ gia đình tại xã Phúc Xuân 52Bảng 3.15 Tình hình sản xuất chăn nuôi tại xã Phúc Xuân, năm 2018 55Bảng 3.16 Kết quả phân tích mẫu nước được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp tại xã Phúc Xuân 57Bảng 3.17 Tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới của xã

Phúc Xuân 58

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Mô hình chăn nuôi sản xuất giun quế ở huyện Gia Lâm,

TP Hà Nội 15

Hình1.2 Người dân thôn Hà Thanh, xã Tượng Sơn, Thạch Hà phân loại rác 17 Hình 1.3: Con Cuông nhân rộng mô hình con đường hoa ở hầu khắp các tuyến đường 19

Hình 1.4: Bà con bản Xiềng (xã Môn Sơn) và Khe Rạn (xã Bồng Khê) tích cực xây dựng NTM và làm du lịch cộng đồng 20

Hình 1.5: Khuôn viên xanh được xây dựng tại Trạm xử lý nước thải phường Bách Quang, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 22

Hình 1.6 Những con đường bích họa tại làng quê Đan Phượng 23

Hình 1.7 Ao hồ sau khi được cải tạo tại Đan Phượng, Hà Nội 24

Hình 1.8 Cổng nghĩa trang được xây dựng kiên cố Đường nội bộ được bê tông hóa và rãnh thoát nước 24

Hình 1.9 Các ngôi mộ được xây dựng đúng quy cách và sắp đặt theo hàng lối 25

Hình 1.10 Khu vực hung táng và cát táng được phân khu rõ rệt 25

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức quản lý môi trường trên địa bàn xã Phúc Xuân 53

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình thu gom, vận chuyển RTSH tại xã Phúc Xuân 54

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Nông nghiệp, nông thôn và nông dân có vai trò to lớn từ trong quá trình lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Qua các giai đoạn cách mạng, nông dân luôn là lực lượng hùng hậu, trung thành nhất đi theo Đảng, góp phần làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Có thể nói, Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt của Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là chương trình khung, tổng thể phát triển nông thôn với 11 nội dung lớn, tổng hợp của 16 chương trình mục tiêu quốc gia và 14 chương trình hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai ở địa bàn nông thôn trên phạm vi cả nước Xây dựng nông thôn mới thực chất là chương trình do nhân dân lựa chọn, đóng góp công sức thực hiện

và trực tiếp hưởng lợi Chương trình xây dựng nông thôn mới có ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế - chính trị - xã hội vì nó mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân nông thôn (chiếm khoảng 70% dân số cả nước), thông qua đó, chương trình sẽ điều hòa lợi ích, thành quả công cuộc đổi mới cho người dân khu vực nông thôn

Môi trường nông thôn đang chịu những sức ép ngay từ chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của nông thôn, đồng thời còn chịu tác động từ hoạt động của các KCN, CCN và khu vực đô thị lân cận Đó chính là nguy cơ ô nhiễm môi trường từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản, chế biến nông sản thực phẩm, phát triển làng nghề và sản xuất công nghiệp Ở một số vùng nông thôn, môi trường nước hoặc môi trường không khí đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt việc quản lý CTR nông thôn chưa thực sự được coi trọng, đã và đang là vấn đề bức xúc

Phúc Xuân là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, với đặc điểm là xã giàu truyền thống cách mạng Định hướng phát triển kinh tế của

xã trong thời gian tới là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp

Trang 12

Trong những năm vừa qua kinh tế đã có nhiều sự phát triển vượt bậc nâng cao đời sống nhân dân, kéo theo đó là vấn đề ô nhiễm môi trường đã bắt đầu xuất hiện Xã Phúc Xuân được chọn là một trong những xã thí điểm ưu tiên thực hiện các tiêu chí của nông thôn mới của thành phố Thái Nguyên

Xuất phát từ thực tiễn trên, để hiểu rõ hơn về thực trạng môi trường nông thôn tại xã, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thành tiêu chí môi trường cùng với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa phương, tôi tiến hành thực hiện

đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu

chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại xã Phúc Xuân, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng môi trường trong sản xuất nông nghiệp và các yếu

tố ảnh hưởng đến môi trường trên địa bàn xã Phúc Xuân

- Đưa ra giải pháp cụ thể, phù hợp với địa phương để thực hiện đạt các chỉ tiêu về tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới xã Phúc Xuân

3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác

động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật (Luật bảo vệ môi trường, 2014)

- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của

thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật

- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn

chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành

Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh

tế -xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư

Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau: “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn”

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều

Trang 14

quan điểm khác nhau

Ngân hàng Thế giới (1975) đã đưa ra khái niệm: Phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong sốnhững người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn

Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Với điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác”

- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới:

Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và

an ninh quốc phòng, mục tiêu chung của chương trình là: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức

tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường

Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng nông thôn mới nhằm thực hiện 19 tiêu chí bao gồm: 1: Quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, 8: Thông tin và truyền thông, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Lao động có việc làm, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật

tự xã hội 19 tiêu chí này được chia thành 05 nhóm: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm

Trang 15

2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị

1.1.2 Tiêu chí Môi trường và an toàn thực phẩm (tiêu chí số 17):

Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng

Tiêu chí môi trường là tiêu chí số 17 thuộc nhóm 4 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới được chia thành 5 chỉ tiêu cụ thể như sau:

Tiêu chí môi trường theo bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới

TT Tên tiêu

chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu

chung

TDMNphía Bắc

≥95% (≥60%

nước sạch)

≥95% (≥50% nước sạch)

17.2 Tỷ lệ cơ sở sản xuất – kinh doanh nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định về BVMT

100% 100%

17.3 Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh – sạch – đẹp, an toàn

17.4 Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch 17.5 Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư Đạt Đạt

Trang 16

TT Tên tiêu

chí Nội dung tiêu chí Chỉ tiêu

chung

TDMNphía Bắc

tập trung, cơ sở sản xuất – kinh doanh được thu gom,

xử lý theo quy định 17.6 Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh và đảm bảo

3 sạch

≥85% ≥70%

17.7 Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường

- Căn cứ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ

về việc quy định chi tiết một số điều của luật bảo vệ môi trường;

- Căn cứ Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;

- Căn cứ Thông tư Số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015

Trang 17

của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định đề án bảo vệ môi trường chi tiết đề

án bảo vệ môi trường đơn giản;

- Căn cứ văn bản số 2054/BTNMT-KHTC ngày 27/4/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện một số chỉ tiêu thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020;

- Nghị định 38/2015/ NĐ - CP ngày 24/4/2015 về quản lí chất thải và phế liệu

- Căn cứ Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;

- Thông tư số 05/2017/TT-BNNPTNT ngày 01/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn một số nội dung thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;

- Căn cứ Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 -2020;

- Căn cứ quyết định số 2540/QĐ-TTg, ngày 30/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, hồ sơ xét, công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới; địa phương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020;

- Quyết định số: 115/QĐ-UBND ngày 14/4/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc ban hành một số tiêu chí, chỉ tiêu xã nông thôn mới tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2016 - 2020

- Nghị quyết số 05-NQ/ĐU, ngày 12/5/2017 của Ban chấp hành Đang

ủy xã Vĩnh Lợi về xây dựng nông thôn mới năm 2017

1.3 Tổng quan về môi trường nông thôn trên thế giới và Việt Nam

Trang 18

1.3.1 Môi trường nông thôn trên thế giới

Theo Lê Thạc Cán và cộng sự (1995) Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình môi trường ở trên Thế giới hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả nhân tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên, có những đặc điểm sau:

*Suy giảm tài nguyên đất:

Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số và suy giảm tài nguyên đất Theo số liệu của viện Tài nguyên Thế giới, vào năm 1993 quỹ đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng trọt chiếm khoảng 20,6%, đồng cỏ 69,6% Diện tích đất bình quân đầu người trên toàn Thế giới là 2.432 ha, ở châu Á là 0,81 ha, ở châu Âu là 0,91 ha Phần lớn đất trồng trọt tăng thêm chủ yếu lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả xấu về môi trường

* Hình thành các siêu đô thị:

Xu thế đô thị hoá này sẽ dẫn đến sự hình thành các siêu đô thị với dân số trên 4 triệu người Sự hình thành các siêu đô thị tất cả các nước đều gây nên những khó khăn và phức tạp về môi trường sống: Ô nhiễm do công nghiệp, giao thông vận tải, tiêu tốn nhiều vật liệu năng lượng, xử lý rác thải và các vấn

đề xã hội Tại các nước đang phát triển, những vấn đề về môi trường lại càng trở nên phức tạp do sự hình thành các nhóm dân cư nghèp khổ phải sống trong các khu “ổ chuột”, thiếu thốn điều kiện vệ sinh, tiện nghi, đời sống vật chất, văn hoá, xã hội; hoặc nhiều người lớn thất nghiệp, trẻ em lang thang cơ nhỡ hình thành các nhóm dân cư “hè phố” với cuộc sống thiếu thốn, bất định

* Tăng trưởng dân số nhanh:

Dân số thế giới đã lên tới 7,515 tỷ người và tiếp tục tăng tới 8,8 tỷ trong

3 thập kỉ tới Trong đó, 83,5% là dân số các nước đang phát triển Sau năm

2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050 Tốc độ tăng trưởng dân số Thế giới là 1,68% trong thời gian từ năm 1990-1995 đã giảm xuống còn 1,43% trong thời gian từ năm 2000- 2005 Hiện nay mỗi năm trên

Trang 19

trái đất có khoảng 93 triệu trẻ sơ sinh, vào đầu thế kỷ XXI con số này là 92 triệu Ở châu Á tốc độ tăng trưởng dân số hiện nay là 1,78% và sẽ giảm xuống còn 1,39% trong thời gian từ năm 2000-2005 (Cục điều tra dân số Hoa Kì, 2017)

* Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kỳ suy giảm:

Trong các hoạt động của con người, tới nay sản xuất nông nghiệp được xem là loại hình hoạt động có tác động mạnh mẽ, nhiều mặt nhất tới môi trường Với việc cải tiến kỹ thuật và công nghệ, mở rộng diện tích trồng trọt, con người

về cơ bản đã thoả mãn nhu cầu về lương thực cho mình Tới giữa thế kỷ 21 dân

số sẽ lên tới 10 tỷ để nuôi sống số người này cần tăng sản lượng hiện nay lên 2,5-3 lần Trong lúc ở châu Á, châu Âu và Nam Mỹ sản lượng lương thực tăng nhanh hơn dân số, thì châu Phi ngược lại trong thập kỷ 1982-1992 sản lượng lương thực trên đầu người giảm 5% Năm 1994 so với 1993 sản lượng lương

thực toàn thế giới giảm 1%

* Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều:

Có thể nói rằng trong thập kỷ cuối cùng cùng của thế kỷ XX, tất cả các quốc gia từ các quốc gia đang bị nội chiến tàn phá đều có những cố gắng vượt bậc để phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu to lớn Tuy nhiên, sự không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữ các quốc gia ngày càng tăng Đầu thập kỷ 90, Hoa Kì vẫn là nước có tổng sản phẩm xã hội cao nhất thế giới bằng 5,6 tỷ USD, tiếp đó là Nhật Bản với tổng sản phẩm xã hội bằng 3,3 tỷ USD Trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, vùng có tăng trưởng kinh tế cao với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội trên 6% trong những năm đầu thập kỷ 90 Khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á có tốc độ tăng trưởng lớn hơn 7% trong lúc phần Nam á chỉ tăng trưởng nhỏ hơn 4%

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo nhu cầu lớn về tài nguyên thiên nhiên, nhân lực, cơ sở hạ tầng thúc đẩy quá trình đô thị hoá Nếu không quản

lý tốt thì đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thoái môi trường Sự phân

Trang 20

bố thu nhập trong khu vực phân bố không đều 25% dân số sống dưới mức nghèo khổ Điều này tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên thiên nhiên do những người nghèo khổ, không vỗn, không phương tiện và thiết bị chỉ còn cách kiếm sống độc nhất là khai thác cùng kiệt tài nguyên thiên nhiên còn ở trong tầm lao động của họ

*Chất thải rắn sinh hoạt (CTR)

CTR sinh hoạt ngày càng tăng lên đồng biến với tăng trưởng của thu nhập quốc dân Thành phần của CTR sinh hoạt cũng thay đổi theo hướng tăng lên của bộ phận CTR sinh hoạt không thể chế biến thành phân hữu cơ được

* Đô thị hoá mạnh mẽ:

Từ giữa năm 2009, dân số sống ở khu vực đô thị trên thế giới đạt 3,42

tỷ, lớn hơn dân số sống ở nông thôn (3,41 tỷ) Có sự chênh lệch lớn về mức độ

đô thị hoá giữa các nhóm quốc gia trong quá trình phát triển Trong khi tỷ trọng

đô thị ở các nước phát triển đã gần 53% năm 1950, các nước ở chậm phát triển cần một thập kỷ nữa mới có một nửa dân số sống tại các khu đô thị Vào năm

2050, dân số đô thị của thế giới sẽ tăng lên 84%, từ 3,4 tỷ năm 2009 lên 6,3 tỷ, gần bằng quy mô dân số của toàn thế giới năm 2004 Về cơ bản, tất cả sự tăng trưởng dân số đô thị của thế giới sẽ tập trung vào các vùng đô thị của các nước đang phát triển, nơi dân số được dự báo tăng từ 2,5 tỷ năm 2009 lên 5,19 tỷ vào năm 2050 Cũng trong thời gian này, dân số nông thôn của các nước kém phát triển dự báo sẽ giảm từ 3,4 tỷ xuống 2,9 tỷ Trong các nước phát triển hơn, dân

số đô thị dự báo sẽ tăng từ 0,9 tỷ năm 2009 lên 1,1 tỷ vào năm 2050 (Liên hiệp quốc, 2010)

Có thể thấy rằng, các quốc gia phát triển có một tỷ lệ dân số sống ở các

đô thị cao hơn các nước đang phát triển Nhiều quốc gia đã đạt khoảng 90% dân số đô thị, thậm chí 100% dân số sống ở đô thị (Singapore, Hồng Kông) Vì

đã đạt tỷ lệ đô thị hoá cao, đến mức “bão hoà” nên quá trình đô thị hoá ở các nước phát triển dường như chững lại Điều này tương phản với các nước đang

Trang 21

phát triển, đô thị hoá xuất hiện nhanh ở những nước này, các chuyên gia đô thị

dự báo rằng trong những thập niên tới tăng trưởng đô thị hầu hết sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển (Hoàng Bá Thịnh, 2012)

* Mất cân đối dân số đô thị và nông thôn:

Theo Hoàng Bá Thịnh trong bài viết Đô thị hóa và quy mô dân số đô thị năm 2012 Không thể phủ nhận di cư và đô thị hoá có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của các vùng miền Tuy nhiên, đô thị hoá và các dòng

di cư từ nông thôn đến đô thị đang là một thách thức với các quốc gia Hiện tượng di cư với số lượng lớn, tạo nên những sức ép khiến đô thị gặp tình huống nan giải về nhiều phương diện (giải quyết việc làm, giáo dục, y tế, giao thông, môi trường, trật tự xã hội) Sự phân bố dân cư không đồng đều khiến chính phủ nhiều nước không hài lòng Mức độ không hài lòng với mô hình phân bố dân

cư ở châu Phi là 75% và châu Á 57% các quốc gia mong muốn có sự thay đổi lớn về phân bố dân cư Tại Mỹ La Tinh và vùng Caribe, Thái Bình Dương và châu Âu 40% chính phủ mong muốn có những thay đổi lớn về phân bố dân cư Các chính sách nhằm thay đổi phân bố dân cư thường tập trung giảm di cư vào các thành phố lớn Năm 1976, 44% các nước đang phát triển báo cáo đã triển khai các chính sách này và năm 2009 tỷ lệ này tăng lên 72% Đồng thời tại các nước phát triển, tỷ lệ các quốc gia có các chính sách giảm di cư vào các thành phố lớn giảm từ 55% năm 1976 xuống 26% năm 1996, sau đó tăng lên 34% năm 2009 Ở Thái Bình Dương, 83% các quốc gia có các chính sách này; châu Phi, 77%, châu Á, 66%; Mỹ La Tinh và vùng Caribe, 68% (Hoàng Bá Thịnh, 2012)

Mặc dù tỷ lệ đô thị hoá ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các quốc gia trong khu vực, nhưng cũng đã và đang đối diện với những mặt trái của đô thị hoá, đặc biệt là đối với hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh Hai năm qua, Hà Nội đã và đang đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế

Trang 22

dân nhập cư, bao gồm cả dự thảo Luật thủ đô với những tiêu chuẩn tạo nên những “rào cản” người ngoại tỉnh về Thủ đô

* Nhu cầu về năng lượng tăng nhanh:

Tạp chí Thống kê Năng lượng thế giới BP(BP Statistical Review of World Energy) cho biết, than là nguồn nhiên liệu hóa thạch duy nhất đạt vượt mức tăng trưởng trung bình trên thế giới 5,4%, trong khi tiêu thụ hạt nhân giảm mức kỷ lục 4,3% Cụ thể là, tiêu thụ nhiên liệu hạt nhân tại Nhật Bản giảm 44,3% và tại Đức giảm 23,2% Sử dụng than tại khu vực châu Á tăng cao, đặc biệt là Trung Quốc, đạt mức 9,7%, chiếm 69% mức tăng trưởng sử dụng than trên toàn cầu Tại các nước không thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Econmic Coopertion and Development - OECD), con số này

là 6,1% Dầu mỏ vẫn là nguồn nhiên liệu được sử dụng nhiều nhất trên thế giới với mức tăng 33,1% Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng dầu có xu hướng sụt giảm và đang dần mất thị phần Các nguồn nhiên liệu tái tạo cũng đạt được mức tăng trưởng sử dụng cao, từ 0,7% năm 2010 lên 2,1% năm 2011, trong đó năng lượng gió tăng 25,8% và năng lượng mặt trời tăng 86,3% Sản lượng etanol sụt giảm do ngành mía đường bị đình trệ

* Gia tăng sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu:

Trong trồng trọt, việc sử dụng ngày càng tăng thuốc BVTV và phân bón hóa học đang ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường Theo kết quả nghiên cứu

về hấp thụ phân bón trong hoạt động trồng trọt, cây trồng hấp thụ trung bình khoảng 40-50% lượng phân bón, trong đó cây trồng hấp thụ phân đạm khoảng 30-45%, phân lân 40-45%, phân kali 40-50%; 50-60% lượng phân bón còn lại vẫn tồn lưu trong đất Lượng sử dụng phân lân và phân kali trên cây lúa là khá cao, gấp trên 6 lần so với mức khuyến cáo Dư lượng phân hóa học làm ô nhiễm nguồn nước, gây phú dưỡng hoá, gây tác hại tới thủy sinh, nguồn lợi thủy sản

và làm thoái hóa đất Hóa chất BVTV gây ô nhiễm môi trường thông qua nhiều con đường khác nhau như nước thải từ kho chứa thuốc khi có sự cố đổ vỡ, nước

Trang 23

mưa chảy tràn qua các kho chứa đã bị xuống cấp, lượng thuốc còn dư đọng lại trong chai bị quăng xuống ao, hồ, sông hay lượng thuốc dư thừa trongquá trình

sử dụng quá liều lượng ngấm vào đất cũng như mạch nước ngầm Ngoài ra, việc không tuân thủ thời gian cách ly sau khi phun thuốc, tình trạng vứt bao bì hóa chất BVTV bừa bãi sau khi sử dụng diễn ra rất phổ biến (Bộ TNMT, 2014)

1.3.2 Môi trường nông thôn ở Việt Nam

Nông thôn Việt Nam ở mỗi vùng miền có những đặc trưng khác nhau về điều kiện tự nhiên nên sự phát triển KT-XH cũng có nhiều đặc trưng và định hướng khác nhau, với tổng diện tích tương đương 80% diện tích toàn quốc, nông thôn giữ vai trò là vành đai xanh, góp phần giữ cân bằng sinh thái giữa vùng nông thôn và thành thị

Bên cạnh đó kinh tế nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển KT-XH ở các vùng nông thôn Những năm gần cùng với sự phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, các hoạt động kinh tế khác trong nông thôn không ngừng được phát triển Cơ cấu kinh tế nông thôn đang chuyển dần từ kinh tế thuần nông sang các hoạt động tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Năm 2012, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 61% trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng 2% so với năm 2008 Giá trị sản xuất công nghiệp nông thôn luôn

có mức tăng trưởng cao hơn giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp Nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp trong đó có cụm công nghiệp chế biến ở nông thôn như các cụm nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm rau quả, cá tra, tôm, chè, cà phê, ở các vùng nguyên liệu, đặc biệt khu vực ĐBSCL, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ đã được hình thành Hệ thống dịch vụ ở nông thôn cũng

có bước chuyển mình mạnh mẽ như cơ giới hóa nông nghiệp và dịch vụ thương mại cung ứng vật tư nông nghiệp và tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ thủy lợi thú y, bảo vệ thực vật Du lịch nông thôn gắn liền với văn hóa truyền thống và sinh thái nông nghiệp đang được nhiều địa phương chú trọng phát triển (Lưu Đức Khải, 2012)

Trang 24

Theo kết quả nghiên cứu vừa công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos tháng 02/2012 vừa qua, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát Về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe, Việt Nam đứng vị trí

77 Về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80 Tính theo chỉ số chất lượng môi trường EPI, Việt Nam xếp thứ 79 Các kết quả này cho thấy, trong những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã chú trọng hơn công tác bảo vệ môi trường song tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ởnhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng môi trường ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn

Bên cạnh những thành tựu đạt được, cũng nảy sinh những bất cập tác động đến môi trường, đe dọa sự phát triển bền vững Một khảo sát mới đây của Viện Nước,tưới tiêu và môi trường cho thấy với khoảng 70% dân số ở khu vực nông thôn, mỗi năm phát sinh 13 triệu tấn rác thải sinh hoạt, khoảng 1.300 triệu m3nước thải sinh hoạt và khoảng 7.500 tấn vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật Trong

đó, khoảng 80% khối lượng rác thải, nước thải sinh hoạt (Lưu Đức Khải, 2012)

1.3.3 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

Qua 10 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy việc thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM có nhiều sự cải thiện rõ nét qua các năm Kết quả một số mô hình xây dựng nông thôn mới tiêu biểu:

1.3.3.1 Mô hình xử lý chất thải chăn nuôi sản xuất giun quế ở huyện Gia Lâm,

TP Hà Nội

Là một trong những huyện có nhiều xã (Phù Đổng, Đặng Xá, Kim Sơn, Trung Mầu ) có thế mạnh về chăn nuôi quy mô lớn như nuôi bò sữa, lợn,

Trang 25

huyện Gia Lâm phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường do không có nơi xử lý chất thải chăn nuôi của các hộ gia đình Riêng xã Phù Đổng có đàn

bò với tổng khoảng 2.000 con, mỗi ngày thải ra gần 20 tấn phân Số phân này một phần các hộ dân sử dụng làm hầm biogas, còn hầu hết bà con đổ ra ao, hồ, mương, rãnh, thậm chí đổ ra vệ đê, gây mất mỹ quan, ảnh hưởng đến môi trường

Chính vì vậy, được sự ủng hộ của chính quyền, việc nuôi giun quế để xử

lý chất thải của đàn bò sữa được người dân áp dụng Đây được xem là mô hình nghiên cứu sáng tạo, khép kín (tự sản xuất - tự tiêu thụ), kết hợp giữa 3 yếu tố khoa học - môi trường - kinh tế, giúp xử lý chất thải nông nghiệp bằng biện pháp sinh học lần đầu tiên được triển khai có quy mô, góp phần tích cực giải quyết ô nhiễm môi trường và tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương

Tại trang trại của ông Nguyễn Xuân Hùng, mỗi tháng ông thu mua của

bà con 360 tấn phân bò để thực hiện việc nuôi giun Hiện nay, ông thu hoạch giun quế thành phẩm, giun quế giống và phân sạch từ giun quế Với giá bán 20.000 đồng/kg sinh khối (giun giống), 100.000 đồng/kg giun thành phẩm, 2.500 đồng/kg phân sạch, trang trại của ông cung cấp giống và phân bón cho nhiều trang trại lớn ở miền Bắc và trên địa bàn Hà Nội

Hình 1.1: Mô hình chăn nuôi sản xuất giun quế ở huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

1.3.3.2 Mô hình phân loại rác thải tại nguồn ở Hà Tĩnh

Trang 26

Ô nhiễm chất thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn Hà Tĩnh là vấn đề nổi cộm Với dân số sống tại nông thôn hơn 1 triệu người, chiếm trên 72%, thì ước tính mỗi ngày lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn nông thôn khoảng 700 tấn/ngày Trước thực trạng đó, một số xã đã xây dựng thành công nhiều mô hình phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình như Tượng Sơn, Nam Hương, Thạch Điền, Thạch Tiến, Hương Trà, Tùng Ảnh , trong đó điển hình là xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà đã xây dựng nhiều mô hình phân loại xử lý chất thải tại nguồn trên địa bàn xã

Việc phân loại xử lý rác thải tại nguồn tại nông thôn Hà Tĩnh được thực hiện tại hộ gia đình hoặc tập trung ở các khu sản xuất nông nghiệp Theo đó, rác thải được phân loại thành rác tái chế, rác khó phân hủy và dễ phân hủy Sau khi phân loại rác, hộ gia đình, hợp tác xã sản xuất sẽ tập trung rác hữu cơ tại các khu sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chất thải chăn nuôi để ủ với chế phẩm sinh học làm phân bón hữu cơ vi sinh với khối lượng lớn, lượng phân bón này sẽ phục vụ lâu dài cho sản xuất nông nghiệp nhằm hạn chế đốt gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi thức ăn và sức khỏe con người Công nghệ này áp dụng đơn giản, tiết kiệm chi phí, dễ thực hiện và phù hợp với điều kiện người dân nông thôn

Trang 27

Hình1.2 Người dân thôn Hà Thanh, xã Tượng Sơn, Thạch Hà phân loại rác

Hiện có hơn 71 nghìn hộ dân thực hiện phân loại rác tại hộ và hơn 30 nghìn hộ đã được tập huấn sử dụng chế phẩm sinh học ủ phân hữu cơ tại nhà Đặc biệt, toàn tỉnh đã xây dựng được gần 300 mô hình ủ phân vi sinh tập trung Hầu hết các hộ dân thực hiện theo hỗ trợ hướng dẫn từ Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ cơ sở

1.3.3.3 Mô hình xây dựng cộng đồng thôn bản gắn với du lịch ở Con Cuông, tỉnh Nghệ An

Con Cuông là huyện miền núi vùng cao biên giới, có 7 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 75% Nơi đây, những nếp nhà sàn cổ được giữ gìn quy hoạch theo ô bàn cờ cứ 6 nhà một ô với nhiều ngã tư, ngã ba trong bản tạo nên nét riêng hiếm có ở miền núi Ngày nay xung quanh bản những khóm hoa, đường hoa đã mọc lên tươi thắm, vệ sinh môi trường sạch đẹp hơn, chuồng gia súc đã được cách ly xa nhà ở, nhà vệ sinh của từng hộ cũng vậy, nếp ăn ở sinh hoạt của bà con đồng bào đã văn minh sạch sẽ hơn

Trang 28

Tại bản Liên Đình, nhiều hộ xây dựng được bể nước sạch, dẫn nước tự chảy từ suối về đủ dùng quanh năm, không phải cõng nước như xưa Còn tại

xã Bồng Khê - vùng đất bao quanh thị trấn Con Cuông nằm bên sông Lam và được bao bọc bởi những dãy lèn đá vôi quanh năm mây phủ, có 130 hộ trồng hoa, trồng cây cảnh, bằng lăng xanh mát làm đẹp cho thị xã sinh thái, công tác

vệ sinh môi trường được giữ gìn Dọc đường Quốc lộ 7 qua xã hoa thược dược, layơn, mào gà… khoe sắc bên vườn nhà, người dân ở đây yêu hoa, chăm hoa

từ trước nay hòa vào phong trào xây dựng NTM, cùng nhau trao đổi kinh nghiệm trồng hoa, trồng cây ăn quả, phát triển trang trại cho thu nhập cao

Trang 29

Hình 1.3: Con Cuông nhân rộng mô hình con đường hoa ở hầu khắp các

tuyến đường

Trong khi đó ở bản Khe Rạn, xã Bồng Khê hay bản Xiềng, xã Môn Sơn,

là những bản nổi tiếng về du lịch cộng đồng với các câu lạc bộ cồng chiêng, văn nghệ, những món ăn hấp dẫn du khách quốc tế và trong nước đến du lịch tại Con Cuông cũng là những bản làng “đáng sống” Khách có thể đến trải nghiệm du lịch homestay, cầu treo thơ mộng, êm đềm với sắc xanh lá cọ, những nếp nhà sàn cổ kính thấp thoáng dưới những tán cây cũng như thưởng thức những món ăn hấp dẫn như mọc, canh ột, thịt gà nướng, cá mát

Trang 30

Hình 1.4: Bà con bản Xiềng (xã Môn Sơn) và Khe Rạn (xã Bồng Khê) tích

cực xây dựng NTM và làm du lịch cộng đồng

Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp sạch và phát triển du lịch sinh thái, nghề dịch vụ, thủ công mỹ nghệ là một trong những thế mạnh của Con Cuông Với sự quan tâm thường xuyên, chỉ đạo quyết liệt, kiểm tra đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, xây dựng các tổ tự quản dân cư hiệu quả, tuyên truyền tốt cho người dân vai trò làm chủ NTM, những kết quả bước đầu trong xây dựng NTM ở Con Cuông là bước đột phá, điểm sáng ở một huyện vùng cao Nghệ

Trang 31

chưa đạt yêu cầu đã xả ra môi trường Đây là nguyên nhân góp phần làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe của người dân

Việc xây dựng trạm xử lý nước thải sinh hoạt và cải tạo cảnh quan môi trường tại phường Bách Quang, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên với diện tích hơn 5.000 m2 là một mô hình có thể nhân rộng Trạm hoạt động chủ yếu theo nguyên tắc tự chảy, nước thải từ hệ thống thu gom qua hố ga tự chảy vào hệ thống xử lý Chức năng của hố ga này là tách nước mưa và nước thải Trong điều kiện thời tiết bình thường, nước thải sẽ qua hố ga đi vào hệ thống xử lý Khi trời mưa, lượng nước vượt quá sức tải của hố ga, lúc đó áp lực của bề mặt nước, nước thải đã được pha loãng bởi nước mưa sẽ tự tràn ra bãi lọc trồng cây ven suối, hỗn hợp nước thải và nước mưa còn lại sẽ đi vào hệ thống xử lý Nước thải qua song chắn rác và bể lắng cát, tại đây rác thải được loại bỏ, các phần tử cát có đường kính lớn hơn 0,2 mm sẽ được giữ lại để tránh gây cản trở cho quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ tại các công trình xử lý tiếp theo Sau đótiếp tục đi vào bể kỵ khí, theo nguyên tắc lắng và phân hủy sinh học kỵ khí nước thải đi theo đường dích dắc nhờ các ống PVC hướng dòng đặt trong bể, hướng dòng nước chuyển động lên và xuống

Khi nước thải chuyển động từ dưới lên trên, sẽ đi xuyên qua lớp bùn đáy

bể Các vi khuẩn kỵ khí có rất nhiều trong lớp bùn cặn đáy bể, sẽ hấp thụ, phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải, đồng thời cặn cũng được giữ lại và phân hủy Nước thải đầu ra của bệ lọc kỵ khí tiếp tục được bơm lên bể phân phối một, tại đây cặn lơ lửng lắng lại, nước được tiếp xúc với không khí, tăng cường ôxy Sau đó nước thải được tự chảy sang bể phân phối hai, bể này đóng vai trò điều hòa và phân phối nước xuống máng tràn bậc thang và được xáo trộn ở đây nhằm tiếp tục tăng cường ôxy trước khi được thu vào hệ thống ống phân phối nước vào bãi lọc ngầm trồng cây Các loại cây trồng trong bãi lọc được sử dụng ở đây là cây sậy và cây dong riềng Sau khi nước thải xử lý tại bãi lọc ngầm được dẫn qua hệ thống ao sinh thái trước khi ra nguồn tiếp nhận

Trang 32

Tại các ao sinh thái thả bèo có tác dụng xử lý bổ sung cho các công trình xử lý sinh học phía trước và điều hòa nước thải làm tăng cường hiệu quả, tính ổn định, an toàn cho hệ thống xử lý trước khi xả thải ra ngoài môi trường xung quanh

Công trình đáp ứng mục tiêu xử lý nước thải sinh hoạt bằng công nghệ thân thiện với môi trường, tiết kiệm chi phí Được thiết kế hài hòa với thiên nhiên và sinh thái; sử dụng nhiều loại thực vật để xử lý nước thải; hệ thống cây xanh, tiểu cảnh được bố trí xen kẽ, trạm xử lý đã tạo ra một khu công viên sinh thái nhỏ, vừa có tác dụng cải tạo cảnh quan môi trường khu vực, vừa là địa điểm vui chơi giải trí cho người dân phường Bách Quang

Hình 1.5: Khuôn viên xanh được xây dựng tại Trạm xử lý nước thải

phường Bách Quang, TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

1.3.3.5 Mô hình cải tạo kênh mương, ao hồ thành khu vực vui chơi, sinh hoạt động đồng sinh thái ở huyện Đan Phượng, TP Hà Nội

Một trong những ví dụ sinh động về cảnh quan, môi trường phải kể đến,

đó là vùng quê Đan Phượng ngoại thành Hà Nội, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, sự đóng góp của doanh nghiệp và một phần đóng góp của người dân trong xây dựng điện - đường - trường - trạm, người dân Đan Phượng (thông qua các tổ chức đoàn thể) đã hình thành các nhóm, với những nhiệm vụ cụ thể như phụ lão, thanh niên trồng và chăm sóc cây xanh dọc các tuyến đường lớn,

Trang 33

đường mới; phụ nữ chịu trách nhiệm vận động, tổ chức thực hiện, theo dõi việc thực hiện các nội dung của “5 không, 3 sạch”; thiếu niên tổ chức trồng hoa, vẽ bích họa dọc theo các tuyến đường thôn, tạo nên một sự độc đáo, đặc sắc cho

bộ mặt làng quê, làm thay đổi sâu sắc nhận thức của người dân về vẻ đẹp quê hương, khơi gợi tình yêu, sự vun đắp của mỗi người dân cho quê hương mình

Và điều quan trọng hơn hết là nhờ những hoạt động hết sức thiết thực này, mà điều kiện vệ sinh môi trường khu vực nông thôn đã được cải thiện vượt bậc

Hình 1.6 Những con đường bích họa tại làng quê Đan Phượng

Bên cạnh đó là việc cải tạo các hồ, ao trong khu dân cư, trước đây ao tù nước đọng, hôi thối và chứa đầy rác Với ý tưởng tuyệt vời xuất phát từ người dân, với quyết tâm và lòng kiên trì, sự đồng thuận của bà con, các hồ ao đã được kè bờ, không cho thải nước bẩn xuống hồ, tạo cảnh quan, cải thiện chất lượng nước, hình thành các khu vui chơi, khu tập bơi chống đuối nước cho trẻ

em, một hình ảnh đẹp đã dần lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng người dân Đan Phượng và các huyện ngoại thành Hà Nội khác

Trang 34

Hình 1.7 Ao hồ sau khi được cải tạo tại Đan Phượng, Hà Nội

1.3.3.6 Mô hình về nghĩa trang nhân dân tại xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Nghĩa trang được bố trí ở ngoài, phù hợp với quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường; Mặt bằng nghĩa trang đảm bảo đất bố trí cho các khu vực: mai táng, hệ thống thu gom và xử lý nước thải từ khu mộ hung táng, đường đi, nhà quản trang, nhà tiếp linh, sân hành lễ, cây xanh, hàng rào thích hợp và hệ thống biển báo để nhận biết mộ chí Có các khu vực mai táng khác nhau (hung táng, cát táng, hỏa táng), khu vực dành riêng cho trẻ em, tôn giáo

Một số hình ảnh về nghĩa trang nhân dân tại xã Đại Tự, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc

Hình 1.8 Cổng nghĩa trang được xây dựng kiên cố Đường nội bộ được bê

tông hóa và rãnh thoát nước

Trang 35

Hình 1.9 Các ngôi mộ được xây dựng đúng quy cách và sắp đặt theo hàng lối

Hình 1.10 Khu vực hung táng và cát táng được phân khu rõ rệt

1.4 Những bài học thành công từ quá trình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam

Mặc dù còn có nhiều khó khăn nhưng có thể nhận thấy, từ giai đoạn 2016 đến nay, công tác BVMT (mà cụ thể là việc thực hiện Tiêu chí 17 về môi trường

và an toàn thực phẩm trong xây dựng NTM) đã có bước khởi sắc một cách toàn diện

- Sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp Đã đến lúc, hầu hết lãnh đạo các tỉnh, huyện, xã nhận thức được vai trò, ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các nội dung về môi trường Nó không chỉ mang lại bộ mặt nông thôn khang trang, sạch đẹp mà từ đó, chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn không ngừng được nâng cao; sự gắn kết giữa người dân và người dân, giữa người dân và các tổ chức đoàn thể, giữa người dân và chính quyền ngày càng được cải thiện Từ sự ổn định về chất lượng cuộc sống và sự củng cố mối

Trang 36

quan hệ cộng đồng, các nguồn lực đầu tư cho phát triển nông thôn sẽ không ngừng được tăng cường

- Sự vào cuộc và ý thức trách nhiệm với môi trường của cộng đồng dân cư Tại nhiều nơi, ý thức về môi trường của người dân đã có những bước chuyển biến đáng kể Người dân đã không coi việc vệ sinh, cải tạo kênh mương, cống rãnh, ao hồ, việc trồng cây, trồng hoa, cải tạo cảnh quan môi trường là việc “phải làm”, mà tại nhiều nơi, người dân đã coi đây là việc “cần làm” với

sự tự nguyện và tinh thần trách nhiệm cao (điển hình tại các địa phương như Nam Định, Đồng Nai, Hà Tĩnh, Phú Yên, Quảng Trị )

Từ quá trình thực hiện tiêu chí môi trường trong xây dựng NTM, đã có nhiều bài học hay, cách làm tốt trong phân loại rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình (Hà Tĩnh, Nam Định ), thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật (Nam Định, An Giang ), xử lý chất thải chăn nuôi (Gia Lâm ), xử lý nước thải sinh hoạt hộ gia đình, cụm dân cư với chi phí thấp và phương án vận hành đơn giản (Nghi Xuân, Hà Tĩnh; thành phố Sông Công, Thái Nguyên )

Với áp lực từ cộng đồng và nhu cầu tất yếu của thực tiễn công tác BVMT nông thôn, nhiều mô hình công nghệ, biện pháp quản lý trong thu gom và xử

lý chất thải sinh hoạt phát sinh cũng đã được nghiên cứu, ứng dụng, triển khai

và phần nào từng bước giải quyết được những bức xúc từ hậu quả ô nhiễm môi trường do việc chôn lấp chất thải sinh hoạt mang lại

1.5 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên

Theo UBND tỉnh Thái Nguyên (2019), sau 10 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM, với quyết tâm chính trị cao, xác định xây dựng NTM là nhiệm vụ trung tâm bao trùm; bằng nỗ lực, phấn đấu, điều hành quyết liệt và năng động của Đảng bộ, chính quyền các cấp, nhất là phát huy sức sáng tạo, tinh thần cộng đồng của nhân dân, nông thôn Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực Chương trình đã đạt và vượt một số mục tiêu Đề

Trang 37

án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (số xã đạt chuẩn NTM dự ước hết năm 2019: 101 xã, về đích trước 01 năm; số đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM: 03 đơn vị, vượt 01 đơn vị và về đích trước 02 năm) Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 38,63 triệu đồng/người/năm (vượt 2,63 triệu đồng so với mục tiêu trong Đề án) Tỷ

lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020) khu vực nông thôn giảm còn 8,47%; thấp hơn 8,6% so với tỷ lệ hộ nghèo khu vực 14 tỉnh miền núi phía Bắc (17,07%)

Chương trình đã làm thay đổi nhận thức của đa số người dân, lôi cuốn họ tham gia vào xây dựng NTM “Từ phải làm đã chuyển thành khát vọng xây dựng NTM” Từ chỗ số đông còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của nhà nước đã chuyển sang chủ động, tự tin tham gia tích cực vào xây dựng NTM Xây dựng NTM đã trở thành phong trào sôi động, rộng khắp; huy động cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia Hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn; vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể đã được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất Các tổ chức chính trị - xã hội qua tham gia trực tiếp vào Chương trình có điều kiện để củng cố lại hoạt động của

tổ chức mình một cách cụ thể, hiệu quả hơn Niềm tin của người dân vào các chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền được nâng cao Người dân tự thấy được và được thực hiện những hành động cụ thể đóng góp xây dựng quê hương mình

Hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên nguồn lực đầu tư, phát triển mạnh

mẽ góp phần thay đổi diện mạo nông thôn khang trang, sạch, đẹp hơn, đã và đang hỗ trợ tốt cho việc tổ chức sản xuất và sinh hoạt cho người dân ở nông thôn: Đến nay, 100% các xã có đường giao thông kết nối với trung tâm huyện,

hệ thống đường trục xóm, liên xóm, ngõ xóm và đường trục chính nội đồng đều được được đầu tư trải nhựa hoặc bê tông hóa, cứng hóa cơ bản đáp ứng nhu cầu

đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân, qua đó thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa,

Trang 38

nông sản Hệ thống điện lưới điện trung, hạ thế được đầu tư đã phủ kín 100% các xã, xóm trên địa bàn tỉnh, cơ bản đáp ứng yêu cầu điện sinh hoạt của người dân và sản xuất kinh doanh, đã xóa được các xóm bản “trắng điện” chưa được đầu tư điện lưới quốc gia Hệ thống thủy lợi, trường học, nhà văn hóa, trạm y

tế, trụ sở xã, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin truyền thông, công trình cấp nước tập trung, được quan tâm đầu tư mới hoặc cải tạo, nâng cấp, ngày càng đảm bảo chất lượng, phát huy hiệu quả phục vụ nhân dân

Kinh tế tập thể từng bước được củng cố và phát triển, thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm nông sản như: Vùng Chè đặc sản Tân Cương - thành phố Thái Nguyên, Trại Cài - huyện Đồng Hỷ, La Bằng - huyện Đại Từ, Tức Tranh - huyện Phú Lương; vùng lúa đặc sản Nếp Thầu Dầu Phú Bình, nếp Vải Phú Lương, gạo Bao Thai Định Hóa; vùng cây ăn quả Minh Đức, Phúc Thuận, Phúc Tân - thị xã Phổ Yên; Hóa Thượng, Hóa Trung - huyện Đồng Hỷ; La Hiên, Tràng Xá - huyện Võ Nhai; Bàn Đạt, Tân Hòa - huyện Phú Bình; Tiên Hội, Quân Chu - huyện Đại Từ, Trong lĩnh vực chăn nuôi, các mô hình chăn nuôi trang trại theo quy mô công nghiệp, an toàn sinh học ngày càng phát triển Từ những phát triển tích cực trong sản xuất đã góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, giảm tỷ lệ hộ nghèo

Công tác bảo vệ môi trường nông thôn đã được chú trọng, có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước làm thay đổi nhận thức, ý thức, trách nhiệm của người dân Phong trào vệ sinh đường làng, ngõ xóm, xây dựng cảnh quan môi trường xanh - sạch - đẹp - an toàn; phong trào trồng cây xanh, trồng hoa trên các tuyến đường đang phát triển mạnh mẽ ở các địa phương… đã và đang chuyển biến nông thôn trở thành những “miền quê đáng sống” (như thôn Bãi Hội, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa; xóm Bến, xã Đắc Sơn, thị xã Phổ Yên;

Ngày đăng: 12/04/2021, 22:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w