ĐẶT VẤN ĐỀNhững năm gần đây, xã hội chúng ta quan tâm, lo ngại nhiều đến cácvấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần học sinh như: stress, lo âu, ám ảnh,trầm cảm, hiện tượng tự sát cá nhâ
Trang 1ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-PHAN THỊ MAI HƯƠNG
TỶ LỆ RỐI LOẠN TRẦM CẢM QUA SÀNG LỌC BẰNG THANG ĐO CES-D VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, sốliệu thu thập được trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trongbất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Phan Thị Mai Hương
Trang 3CHƯƠNG Đề mục Số trang
Đặt vấn đềCâu hỏi nghiên cứuMục tiêu nghiên cứu
131.Mục tiêu tổng quát
2 Mục tiêu chuyên biệt
33
1.1 Một số khái niệm1.2 Tổng quan về trầm cảm1.2.1 Dịch tể học bệnh trầm cảm1.2.2 Tình hình trầm cảm ở trẻ em1.2.3 Nguyên nhân trầm cảm1.3 Những thang đo chẩn đoán trầm cảm1.4 Một số đề tài trầm cảm hiện nay1.5 Tổng quan về thành phố Tân An – Long An
677910141926
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu2.2 Đối tượng nghiên cứu
2 3 Cở mẫu
2 4 Kỹ thuật chọn mẫu2.5 Kiểm soát sai lệch2.6 Phương pháp thu thập dữ kiện2.7 Xử lý và phân tích dự kiện2.8 Vấn đề y đức
2828283930313839
Trang 43.3 Các yếu tố liên quan đến trầm cảm3.4 Phân tích hồi qui đa biến hiệu chỉnh các yếu tốliên quan đến trầm cảm
4856
Bàn luận
1 Đặc điểm chung của mẫu
2 Tỷ lệ trầm cảm theo thang đo CES_D
3 Yếu tố dân số xã hội với trầm cảm
4 Yếu tố gia đình với trầm cảm
5 Yếu tố áp lực học tập với trầm cảm
6 Yếu tố cá nhân với trầm cảm
58585960616263
Trang 5Bảng 2.1: Độ tin cậy của thang đo CES-D 37
Bảng 3.2: Mô tả đặc điểm dân số xã hội của đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.3: Mô tả yếu tố gia đình của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.4: Mô tả yếu tố học tập của đối tượng nghiên cứu 43
Bảng 3.5: Mô tả yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu 44
Bảng 3.6: Tỷ lệ trầm cảm theo thang đo CES-D 45
Bảng 3.7: Tần số theo các mức độ của thang đo trầm cảm CES-D 46
Bảng 3.8: Tỷ lệ có dấu hiệu/ hành vi theo thang đo trầm cảm CES-D 47
Bảng 3.9: Yếu tố dân số xã hội với trầm cảm 48
Bảng 3.10: Yếu tố gia đình với trầm cảm 50
Bảng 3.11: Yếu tố học tập với trầm cảm 52
Bảng 3.12: Yếu tố cá nhân với trầm cảm 54
Bảng 3.13: Các mối liên quan đến trầm cảm (phân tích hồi qui đa biến) 56
Trang 6- DSM IV : Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder IV (Cẩmnang chẩn đoán và thống kê các bệnh tâm thần lần thứ 4 của hiệp hội tâm thầnMỹ).
- ICD 10 : International Statistical Classification of Diseases and RelatedHealth Problems (Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10)
- SAVY : Survey Assessment of Vietnamese Youth (Điều tra quốc gia về
vị thành niên và thanh niên Việt Nam)
- BDI : Beck Depression Inventory (Thang Đánh giá trầm cảm Beck)
- CES-D : The Centre for Epidemiological Studies- Depression Scale(Thang đánh giá trầm cảm)
- VTN&TN : Vị thành niên và thanh niên
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, xã hội chúng ta quan tâm, lo ngại nhiều đến cácvấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần học sinh như: stress, lo âu, ám ảnh,trầm cảm, hiện tượng tự sát cá nhân và tập thể của học sinh, vấn đề “hysteriatập thể” trong trường học, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể họcsinh… Ở nhà trường, chương trình học quá tải, nặng về nhồi nhét kiến thức,một số giáo viên không gương mẫu, thiếu công bằng, thiếu cảm thông và nâng
đỡ tâm lý cũng khiến học sinh chóng mệt mỏi, mất hứng thú học tập dẫn đếnchán học, bỏ trường lớp
Học sinh ngày nay tuy được hưởng điều kiện vật chất tốt hơn nhưng lạiphải chịu sức ép lớn hơn từ chuyện học hành, thi cử, bị cô giáo, cha mẹ lamắng, bắt học hành quá sức, đôi khi bị phân biệt đối xử, thậm chí định kiến bấtbình đẳng về giới cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần Đặc biệt có em bị
vu khống, lạm dụng tình dục khiến trẻ bị rối loạn về tâm lý Những báo động
về lo âu căng thẳng thần kinh, khủng hoảng tâm lý, trầm cảm,những vấn đề vềsức khỏe tinh thần ở học sinh đang có xu hướng tăng mạnh gây lo ngại và thực
sự trở thành vấn đề bức xúc của xã hội, là chủ đề bàn luận trong một vài cuộchội thảo ở Việt Nam
Rối loạn trầm cảm (depression disorder) là một rối loạn về cảm xúc, cóđặc điểm chung là bệnh nhân thấy buồn chán, mất sự hứng thú, cảm thấy tộilỗi hoặc giảm giá trị bản thân, khó ngủ hoặc sự ngon miệng, khả năng làm việckém và khó tập trung Trầm cảm có thể trở thành mãn tính hoặc tái phát và làmgiảm khả năng của cá nhân trong thích ứng với cuộc sống, trong trường hợpnặng nhất, trầm cảm có thể dẫn tới tự sát Hầu hết các ca bệnh trầm cảm có thểđiều trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý [17], [19].Trong cơ cấu bệnh lý tâm
Trang 8thần, rối loạn trầm cảm là bệnh lý đứng thứ 2 về tính thường gặp tại các trungtâm chăm sóc sức khỏe tâm thần [12].
Hàng năm khoảng 5% dân số thế giới rơi vào tình trạng trầm cảm Theonhiều nghiên cứu khác nhau cho kết quả, nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm trongsuốt cuộc đời của nam giới là 15% và nữ là 24% [23], tần suất mắc bệnh cao ởdân số đang tuổi lao động Hội chứng trầm cảm cũng góp phần lớn trong cácbệnh không gây tử vong, chiếm gần 12% của tổng số năm sống của con ngườivới khuyết tật Trầm cảm gây ra nhiều tổn hại cho cá nhân, gia đình và xã hội
và thường là bạn đồng hành của lạm dụng rượu và ma tuý Theo Tổ chức y tếthế giới, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng đứng thứ 7trong 10 vấn đề sức khỏe toàn cầu do cả hai lý do: tỷ lệ mắc tương đối caotrong cuộc đời và hậu quả khuyết tật nặng nề mà nó gây ra Dự báo trầm cảm
sẽ trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu gây chết người và làm mấtkhả năng duy trì cuộc sống bình thường vào năm 2020 [30] Do tính phổ biến
và hậu quả nghiêm trọng của nó, trầm cảm đã trở thành một vấn đề lớn đối vớisức khỏe cộng đồng Ở Việt Nam, dịch tễ trầm cảm đã được nhiều tác giảnghiên cứu như Trần Viết Nghị, Trần Văn Cường, Nguyễn Văn Siêm, TrầnHữu Bình, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Nguyễn Thị Kim Hạnh,tuy nhiên cho đến nay các nghiên cứu mới triển khai ở các tỉnh đồng bằng vàthành phố lớn [1], [2], [4], [5], [10], [14] Theo nghiên cứu của Trung tâmtruyền thông giáo dục sức khỏe Thành Phố Hồ Chí Minh về tỷ lệ rối loạn trầmcảm học sinh trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh thì tỷ lệ rối loạntrầm cảm ở học sinh là 21% (trong đó 27% ở nữ và 12% ở nam)
Nếu cha mẹ, thầy cô không quan tâm đến những thay đổi của các em thì
sẽ dễ đi đến những biểu hiện, thái độ cực đoan và những điều đáng tiếc cũng
có thể xảy ra Tại thành phố Tân An chưa có số liệu thống kê cụ thể về vấn đềtrầm cảm của học sinh cũng như những nghiên cứu trầm cảm học đường nên
Trang 9chúng tôi mong muốn làm đề tài này nhằm cập nhật thêm thông tin và kiếnthức về vấn đề trầm cảm, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông để
có cái nhìn chính xác hơn về các vấn đề trầm cảm Đó cũng là cơ sở để các phụhuynh, thầy cô có thể đưa ra các biện pháp phòng chống các vấn đề trầm cảmmột cách có hiệu quả hơn cũng như có kế hoạch chăm sóc con em, học sinhphù hợp hơn
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm qua sàng lọc bằng thang đo CES-D của học sinhtrung học phổ thông tại thành phố Tân An, Long An năm 2015 là bao nhiêu?
Có mối liên quan giữa tỷ lệ rối loạn trầm cảm với các yếu tố: dân số(tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo), tình trạng gia đình, lĩnh vực học tập, vấn đề liênquan đến bản thân hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu tổng quát:
Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm qua sàng lọc bằng thang đo CES-D vàcác yếu tố liên quan ở học sinh trung học phổ thông tại thành phố Tân An, tỉnhLong An năm 2015
2 Mục tiêu chuyên biệt:
Trang 10- Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm qua sàng lọc bằng thang đo CES-D ởhọc sinh trung học phổ thông tại thành phố Tân An, tỉnh Long An năm 2015
- Xác định mối liên quan giữa tỷ lệ rối loạn trầm cảm với các yếu tố: dân
số (tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo), tình trạng gia đình, lĩnh vực học tập, vấn đềliên quan đến bản thân
Trang 11SƠ ĐỒ BIẾN SỐ
Rối loạn trầm cảm
Yếu tố học tập:
- Khả năng học tập
- Yếu tố thúc đẩy học tập
Trang 12CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN Y VĂN
1.1.Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về trẻ em:
Theo công ước về quyền trẻ em của liên hiệp quốc “ trẻ em có nghĩa làmọi người dưới 18 tuổi, trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổitrưởng thành có thể quy định sớm hơn” Tại Việt Nam luật pháp quy định tuổitrưởng thành là 18 nên cũng phù hợp với quy định của quốc tế [38]
1.1.2 Khái niệm về sức khỏe
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO-1946) định nghĩa sức khỏe là trạng tháihoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ đơnthuần là không có bệnh, thương tật [39]
1.1.3 Khái niệm về sức khỏe tâm thần
Theo từ điển tâm lý học, sức khỏe tâm thần “là một trạng thái thoải mái,
dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần, một trạngthái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường”[30]
1.1.4 Khái niệm về vấn đề sức khỏe tinh thần
Tổ chức y tế thế giới cho rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm rấtnhiều các vấn đề khác nhau từ nhẹ đến nặng với nhiều triệu chứng phong phú.Tuy nhiên một cách khái quát triệu chứng này là sự kết hợp của những suynghĩ, cảm xúc, hành vi lệch lạc và mối quan hệ với người khác lệch lạc ví dụnhư lo âu, trầm cảm, stress đến chậm phát triển và những rối loạn liên quanđến việc lạm dụng chất gây nghiện [12] Rối loạn tâm thần là thuật ngữ dùng
Trang 13để chỉ những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi lệch lạc ở mỗi cá nhân và những biểuhiện này ảnh hưởng đến chức năng cuộc sống hiện tại của các nhân đó Mộtngười có thể có vấn đề sức khoẻ tâm thần nhưng chưa chắc đã bị rối loạn tâmthần nếu như vấn đề đó không ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, công việc,
và làm việc hằng ngày Trong tình huống xấu nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự
tử Gần 1 triệu sinh mạng mất đi hằng năm do tự tử, nghĩa là trung bình có
3000 người tự tử mỗi ngày Cứ một người tự tử thành công thì có hơn 20người khác đang cố gắng kết thúc cuộc sống của mình Cứ 10 người thì có 1người mắc phải trầm cảm và gần như cứ 5 người mắc trầm cảm thì 1 trong số
đó mắc phải rối loạn này trong suốt đời của họ (tỉ lệ lưu hành trong 1 năm là10% và tỉ lệ lưu hành suốt đời là 17%) (Kessler và cộng sự, 1994) Tới năm
2020, trầm cảm sẽ đứng thứ 2 trong danh sách nguyên nhân gây ra bệnh tật(WHO, 2801) [7] Khoảng 18.800.000 người Mỹ trưởng thành, chiếm khoảng9,5% độ tuổi dân số Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên, bị rối loạn trầm cảm trong mộtnăm, trong đó tỷ lệ gặp ở phụ nữ cao gấp gần 2 lần nam giới (12% so với6,6%)[3]
Trang 14Có rất nhiều biến thể của chứng trầm cảm mà một người có thể mắcphải, nhưng nhìn chung, có thể phân loại dựa trên tiền sử bệnh đã trải qua haychưa trải qua các giai đoạn vui buồn thất thường (manic episode) Một giaiđoạn trầm cảm bao gồm các triệu chứng như tâm trạng u uất, mất hứng thú vàniềm vui thích, thường xuyên cảm thấy mệt mỏi Tùy trên số lượng và mứcđộnghiêm trọng của các triệu chứng, một giai đoạn trầm cảm có thể được phânloại là nhẹ, trung bình hoặc nghiêm trọng Một cá nhân mắc phải trầm cảm nhẹ
sẽ gặp một số khó khăn trong việc duy trì thói quen hằng ngày và một số vấn
đề trong giao tiếp xã hội, nhưng sẽ không mất hoàn toàn khả năng làm việc.Mặt khác, với tình trạng trầm cảm nghiêm trọng, người bệnh gần như sẽ khó
có thể tiếp tục các hoạt động xã hội, công việc, hoặc các hoạt động sinh hoạttrong gia đình, ngoại trừ một thiểu số ngoại lệ nào đó Rối loạn cảm xúc lưỡngcực (bipolar affective disorder) bao gồm các biểu hiện của cả tình trạng hưngphấn lẫn tình trạng trầm cảm u uất xen giữa các giai đoạn tâm trạng và tâmthần bình thường Các giai đoạn hưng phấn biểu hiện ở tâm trạng hưng phấntột độ và năng lượng tràn đầy, khiến người bệnh hoạt động một cách thái quá,nói rất nhiều và giảm nhu cầu về giấc ngủ
Hiện nay, đối tượng mắc phải trầm cảm đa dạng một cách đáng kể trongkhắp dân số thế giới Tỷ lệ mắc phải trầm cảm suốt đời xấp xỉ 3% ở Nhật chođến 16% ở Mỹ, còn với hầu hết các nước thì dao động trong khoảng 8%-12%.[7] Việc thiếu các tiêu chuẩn chẩn đoán gây khó khăn cho việc so sánh tỷ lệmắc phải trầm cảm ở giữa các quốc gia khác nhau Ngoài ra các yếu tố khácbiệt về văn hóa, khác biệt về rủi ro cũng ảnh hưởng tới sự biểu hiện ra bênngoài của rối loạn này Chúng ta biết rằng các triệu chứng trầm cảm có thểđược xác định cụ thể trong tất cả các nền văn hóa Trên thế giới, có nhiều yếu
tố rủi ro cụ thể khiến cho một số người dễ mắc phải trầm cảm hơn nhữngngười khác Trầm cảm xuất hiện ở phụ nữ nhiều gấp 2 đến 3 lần so với đàn
Trang 15ông, mặc dù một số nghiên cứu, đặc biệt là những nghiên cứu ở Châu Phi thìkhông thể hiện điều này [17]
1.2.2.Tình hình trầm cảm ở trẻ em:
Việc chẩn đoán trầm cảm ở trẻ em có nhiều điểm khác biệt so với ngườilớn Rối loạn trầm cảm là một trạng thái rối loạn cảm xúc có những đặc điểmsau: Một nỗi buồn sinh thể (đau khổ tâm thần vô biên); Ức chế tư duy và hoạtđộng (chậm chạp, mất ý chí); Rối loạn giấc ngủ và các chức năng sinh học
Hội chứng trầm cảm được đặc trưng bằng 5 chỉ số là: Giảm khí sắc – Sựđánh giá âm tính và thái độ bi quan đối với tương lai – Biểu hiện tính thụ động
và giảm hoạt tính – Mất hứng thú và xu hướng tự hủy hoại – Những rối loạnthần kinh thực vật và một số biểu hiện sinh học ( sút cân, giảm dục năng ).Trong bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 - ICD 10, rối loạn trầm cảmđược xác định là giai đoạn của rối loạn khí sắc Trong giai đoạn trầm cảm,bệnh nhân thường có 3 triệu chứng chủ yếu: Khí sắc trầm – Mất mọi quan tâm,thích thú – Giảm năng lượng dẫn đến sự tăng mệt mỏi và giảm hoạt động.Những triệu chứng phổ biến khác:
- Giảm sự tập trung và sự chú ý;
- Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin;
- Có những mặc cảm tội lỗi và không xứng đáng;
- Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan;
- Có ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát;
- Rối loạn giấc ngủ, lúc nào cũng thấy mệt mỏi (dù ngủ đầy đủ cũngvậy);
- Ăn mất ngon;
- Ngày càng xa lánh bạn bè, tránh cả những người thân thiết nhất;
- Chẳng buồn quan tâm đến chuyện ăn mặc, trang điểm của mình;
- Biếng học, học sa sút nhiều;
Trang 16- Nhức đầu thường xuyên, mất ngủ, đau bụng,.mà không có nguyênnhân thực thể nào ( thí dụ không do cảm cúm, viêm xoang, đau bao tử ,);
- Thấy vô vọng, ngày này qua ngày khác,.Không có gì thay đổi, không
có niềm tin ở tương lai;
- Từ chối tham gia bất cứ hoạt động nào mà người khác gợi ý;
- Thường xuyên ước muốn mình là người khác
- Rối loạn dinh dưỡng, xuống cân hoặc lên cân đột ngột;
- Dễ nổi giận vì những chuyện lặt vặt không đâu;
- Không quyết định được bất cứ điều gì, lúc nào cũng do dự
1.2.3.Nguyên nhân trầm cảm:
Giả thuyết thứ nhất: Trầm cảm do nguyên nhân tâm lý – xã hội gây ra
Từ một stress hay một sự nhận thức sai lệch về sự vật, hiện tượng cũng nhưnhững người có nét tính cách thụ động, lệ thuộc, chịu nhiều áp lực trong cuộcsống, sẽ đẩy chủ thể đến rối loạn nội tiết tố, mất sự quan tâm, hứng thú, giảmnăng lượng hoạt động, cơ thể mệt mỏi từ đó đẩy chủ thể đến trầm cảm
Giả thuyết thứ hai: Hệ sinh hóa thay đổi do thiếu sự cân bằng các chấthóa học, ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh trực tiếp là xi náp, trươnglực cơ giảm, chủ thể mất năng lực hoạt động, Khi đó chủ thể rơi vào trạng tháitrầm cảm, làm cho những đáp ứng thích nghi xã hội giảm, rối loạn đời sốngtâm lý
Giả thuyết thứ ba: Trầm cảm gắn liền với rối loạn nhân cách, rối loạn lo
âu, những đáp ứng thích nghi xã hội của cá nhân kém Khi chủ thể có kỹ năng
xã hội nghèo nàn, không đáp ứng đủ các chuẩn mực xã hội, từ đó dẫn đến chủthể có tính cách hướng nội.Tất cả những điều trên làm cho chủ thể khởi phátrối loạn trầm cảm
Trong thực tế, có nhiều loại trầm cảm nhưng thường hướng vào hai loại
cơ bản: Trầm cảm phản ứng (trầm cảm tâm căn) và trầm cảm nội sinh, nguyên
Trang 17phát Ở tuổi mới lớn, loại phản ứng là chủ yếu Một sự mất mát lớn trong đời,thất tình, tình bạn tan vỡ, đi xa, thi rớt, bỏ học, không đạt kỳ vọng của bản thân
và gia đình, đều có thể dẫn đến trầm cảm Có thể chỉ là một giai đoạn nhưngđôi khi cũng kéo dài tùy theo ý chí và sự nỗ lực của bản thân
Trong mọi trường hợp không nên coi thường trầm cảm ở trẻ em Rượu
và các loại thuốc an thần cũng là nguyên nhân gây nên trầm cảm Buồn cháncấp tính vài tuần, vài tháng thì có thể chấp nhận được nhưng nếu kéo dài hơncần phải có trị liệu bởi bác sĩ chuyên môn và nhà trị liệu tâm lý Trầm cảmkinh niên là trầm cảm nặng, thường liên quan đến cảm giác mình bất lực,không làm nên trò trống gì, thua sút bạn bè, người khác Buồn chán thì ai cũng
có nhưng người trầm cảm thì cực đoan hơn, trầm trọng hơn, kéo dài hơn và cónhững suy nghĩ, hành vi đáng lo ngại Tự ghét bỏ mình, coi mình là có tội, thấymình, vô vọng bó tay và ráng đè nén các cảm xúc này không cho mọi người,
từ đó dẫn đến khởi phát trầm cảm Thà là cứ la hét, khóc lóc, chửi bới ầm ĩ lên,thà là đấm vào bao cát, vào gối, thì còn dễ chịu hơn và sau đó sẽ dịu xuốnghơn là phải chịu đựng những trạng thái này kéo dài Trầm cảm có liên quanđến nguy cơ tự sát Nguy cơ này hiện diện suốt quá trình bệnh lý Do vậy, các
em rất cần được giám sát chặt chẽ trong suốt qúa trình trị liệu Việc gia đình,bạn bè hay những người xung quanh có hiểu biết về các biểu hiện của trần cảmrất quan trọng trong việc phát hiện sớm và có biện pháp ngăn ngừa các hậu quảđáng tiếc
Sự quan tâm của gia đình và cộng đồng xung quanh như bạn bè, thầy côđến trẻ rất hữu ích giúp sớm phát hiện các biểu hiện trầm cảm mới khởi phát.Quá trình hình thành cơn trầm cảm thông thường tiến triển âm ỉ, đôi khi độtngột; có thể sau một sang chấn tâm thần hoặc cơ thể (bệnh tật, thi rớt, bạn bè
xa lánh, tang tóc ) hoặc cũng có thể do dùng thuốc có tác dụng phụ gây trầmcảm
Trang 18Ở giai đoạn khởi phát sự xuất hiện thường từ từ với dấu hiệu đầu tiên làmất ngủ, đau đầu, mệt mỏi Sau vài tuần, vài tháng xuất hiện cảm giác bị mấtkhả năng làm việc, mất giá trị bản thân, do dự, không thiết gì tới công việc vàngười thân Người bệnh nghiền ngẫm lo âu về sức khỏe và tương lai, có thểxuất hiện ý tưởng và hành vi tự sát.
Kế tiếp là giai đoạn toàn phát với các biểu hiện: nét mặt bất động, biểu
lộ sự đau khổ, dấu hiệu “Omega trầm cảm” Đối tượng không quan tâm đếnhình thức bên ngoài của mình nữa.Đối tượng hầu như bất động, ngồi nguyênmột chỗ thậm chí trong nhiều giờ Chẳng thiết trò chuyện với ai Nặng hơn nữa
là không nói Có thể có trạng thái lo âu kèm theo cơn kích động Cần chú ý đếnloại trầm cảm che giấu: Đối tượng cố gắng che giấu các rối loạn (như tươi cườigiả tạo) Trường hợp này, nguy cơ tự sát cao, do những người chung quanhmất cảnh giác, chủ quan không theo dõi
Vấn đề chẩn đoán trầm cảm ở lứa tuổi thanh thiếu niên gặp nhiều khókhăn vì nó không rõ ràng như người lớn Hơn nữa, ngay từ bé, trẻ em có thểtrải nghiệm buồn rầu, có mặc cảm tội lỗi, bị ức chế vận động hay ức chế tâm
lý, thanh thiếu niên trầm cảm cũng xuất hiện các triệu chứng như khí sắc trầm,mất sự hứng thú, dễ mệt mỏi, có vấn đề trong việc tập trung chú ý, có ý tưởng
tự sát, xuất hiện mặc cảm tội lỗi, thường mất ngủ hoặc trái lại ngủ rất nhiều,mất cảm giác ngon miệng và sút cân Trầm cảm ở thanh thiếu niên cũng cótính chất tái diễn, thậm chí vẫn có những triệu chứng trầm cảm ở 4–8 năm sau
đó Trầm cảm ở thanh thiếu niên còn đi kèm với một số rối nhiễu tâm lý khác:rối nhiễu lo âu, có triệu chứng lo âu, rối nhiễu ứng xử, rối nhiễu chú ý và rốinhiễu ăn uống Điều này nói lên tính phức tạp của việc chẩn đoán trầm cảm ởthanh thiếu niên Nhiều nghiên cứu trầm cảm ở thanh thiếu niên đã tập trungvào gia đình và các mối quan hệ gia đình: Mối quan hệ không tốt của cha mẹchúng đối với chúng; sự thiếu quan tâm của các thành viên trong gia đình đối
Trang 19với chúng; mâu thuẫn giữa cha mẹ trong gia đình; cha mẹ ly hôn, ít nhiều lànguyên nhân dẫn đến việc trầm cảm ở trẻ.
Trầm cảm thường xảy ra ở nữ giới nhiều gấp hai lần so với nam giới.Tuy nhiên sự khác biệt về giới này không xuất hiện ở trẻ trong độ tuổi tiềnthanh thiếu niên mà mãi đến giữa tuổi thanh thiếu niên thì sự khác biệt này vềgiới mới có ý nghĩa Ở lứa tuổi phổ thông trung học, các em nữ thường có mức
độ trầm cảm cao hơn so với các em nam [21]
Trong vòng 50 năm trở lại đây rối loạn trầm cảm tăng lên một cáchnhanh chóng và đồng thời lứa tuổi khởi phát lại giảm xuống Lời giải thích khả
dĩ cho hiện tượng này nằm ở những biến đổi xã hội đã xảy ra trong thời gianqua Thanh thiếu niên ngày nay nhiều trường hợp phải đối mặt với nhữngthách thức của cuộc sống thường thiếu những phương thức phòng vệ như cácmối quan hệ chặt chẽ trong đại gia đình, cộng đồng, những tập quán và giá trịtruyền thống,.vốn là những thành phần quan trọng của xã hội trong quá khứ.Những nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng hơn 20% thiếu niên Mỹ có nhữngtriệu chứng trầm cảm Đồng thời có sự gia tăng đáng kể những biểu hiện trầmcảm ở lứa tuổi 10–11, 14–15 Một nghiên cứu so sánh đối với tập hợp ngẫunhiên trẻ em (8 – 12 tuổi) và thiếu niên đã cho thấy, nhìn chung số lượngnhững biểu hiện trầm cảm sẽ tăng lên cùng với độ tuổi và chúng thường gặphơn ở thiếu niên so với trẻ em hay trong giai đoạn trước tuổi dậy thì Cácnghiên cứu chỉ ra rằng, sự mệt mỏi, yếu thần kinh và tính nhạy cảm tăng cùngvới lứa tuổi, trong khi tiếng khóc là phản ứng đặc trưng hơn đối với trẻ em bé.Chỉ một số ít trong số những trẻ em được nghiên cứu có thể liệt vào số nhữngngười với triệu chứng trầm cảm được biểu hiện.[11]
Hiện nay, ở phương Tây có 5 xu hướng nghiên cứu các rối loạn trầmcảm ở trẻ em Xu hướng thứ nhất được dựa trên học thuyết phân tâm về sựphát triển nhân cách và phủ nhận sự tồn tại của hội chứng lâm sàng điển hình
Trang 20của những rối loạn tâm trạng liên quan đến việc chưa trưởng thành của cái “siêu thức ” ở thiếu niên Xu hướng thứ hai, hiểu trầm cảm ở thiếu niên và trẻ
em như một hình thức lâm sàng của những rối loạn tâm lý nhưng không đồngtình với kiến giải có tính chất lâm sàng của những đặc tính quan trọng của nó
Xu hướng thứ ba, có liên quan đến tên tuổi của U Veinberg và những đồngnghiệp của ông, những người đã mô tả hội chứng trầm cảm ở trẻ em như sựphối hợp của một số triệu chứng trầm cảm ở người lớn, trong tổ hợp với nhữngtriệu chứng có tính chất đặc thù, đặc trưng của đứa trẻ trong tiến trình pháttriển của nó Xu hướng thứ tư có ảnh hưởng hơn cả, đã thừa nhận sự giốngnhau cơ bản của rối loạn trầm cảm trẻ em và người lớn Quan điểm này đãbuộc những nhà nghiên cứu, khi xác định những rối loạn trầm cảm trong suốt
cả cuộc đời của một cá thể, sử dụng bộ tiêu chuẩn thông thường, kiểu III-R Xu hướng thứ năm, quan điểm thường đồng nhất với tâm bệnh học pháttriển, những đặc tính lứa tuổi của triệu chứng học trầm cảm đã được xem xét
DSM-và những dấu hiệu biểu hiện quan trọng của nó trong quá trình phát triển đãđược xác định.[13]
1.3.Những thang đo chẩn đoán trầm cảm:
Để phát hiện những rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thiếu niên, phần lớncác nhà nghiên cứu Mỹ thường sử dụng sự mô tả những rối loạn trầm cảmđược giới thiệu trong bảng hướng dẫn “ Hệ thống các tiêu chuẩn chẩn đoán ”
Ở Tây Âu người ta sử dụng bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD–10 )
và những phương pháp được dựa trên những bảng tự đánh giá của người bệnhnhư trắc nghiệm về trầm cảm dành cho trẻ em và thang trầm cảm tự đánh giá.Chính những trắc nghiệm này đã được chấp nhận vì độ tin cậy và hiệu suất cao
để phát hiện mức độ của triệu chứng trầm cảm nói chung ở trẻ Ở Mỹ, việcphát hiện trầm cảm thường dựa vào trắc nghiệm trầm cảm của A Beck (BDI)
và thang đo trầm cảm trẻ em Nhìn chung qua nghiên cứu số lượng những biểu
Trang 21hiện trầm cảm sẽ tăng lên cùng với độ tuổi và chúng thường gặp hơn ở thiếuniên so với ở trẻ em hay trong giai đoạn trước tuổi dậy thì.
Đa số điều trị trầm cảm có thể điều trị ngoại trú, trừ những trường hợpđối tượng có hành vi hay ý tưởng tự sát hoặc không chịu ăn uống hoặc lâm vàotrạng thái sững sờ; có hậu quả ảnh hưởng thể chất nặng cần điều trị tích cựchay khi cần cách ly đối tượng khỏi môi trường gây bệnh (gia đình có xung độttâm lý nghiêm trọng hay kéo dài) Ngoài những chỉ định dùng thuốc, vấn đềtâm lý trị liệu đối với rối loạn trầm cảm rất quan trọng Theo định nghĩa củaStrotzka, trị liệu tâm lý được hiểu là một quá trình kế hoạch hóa nhằm mụcđích tác động đến những rối nhiễu tâm trí, những trạng thái đau đớn tâm thần,đòi hỏi một phương pháp trị liệu dưới góc độ tâm lý Trị liệu tâm lý nhằm thayđổi xúc cảm, cảm giác, hành vi những yếu tố làm phát sinh và duy trì trạng tháitâm lý bất ổn của cá nhân Đó là quá trình tương tác giữa nhà trị liệu tâm lý vàđối tượng Các liệu pháp tâm lý bao giờ cũng liên quan tới việc sử dụng một hệthống những biện pháp, những kỹ thuật tác động, điều chỉnh tác động theohướng động thái tâm lý, để đạt được những hiệu quả nào đó lên một chứngbệnh hoặc một rối nhiễu tâm lý Thông qua liệu pháp trong điều trị rối loạntrầm cảm mà làm thay đổi thái độ của chủ thể đối với bản thân, với ngườikhác, thay đổi nhận thức ; giúp họ có khả năng tự tin vào bản thân, loại bỏ mặccảm tự ti; làm thay đổi cảm xúc, tạo lập hành vi thích ứng với nhóm, môitrường sống của chủ thể Điều trị trầm cảm cho trẻ em đặc biệt rất cần sự phốihợp từ phía xã hội, gia đình, nhà trường mới có thể thành công Thườngthường những vấn đề gia đình là nguồn gốc trực tiếp đối với trầm cảm của trẻ
em do vậy mà việc lôi kéo các thành viên trong gia đình đến với việc tác độngtâm lý là việc làm khôn khéo và hiệu quả Trong quá trình trị liệu tâm lý người
ta nghiên cứu những mối quan hệ tương tác của các thành viên trong gia đình,thúc đẩy làm nẩy sinh trầm cảm và tiêu điểm được chuyển từ cá thể đang bị
Trang 22trầm cảm lên gia đình nói chung Để đạt hiệu quả cao hơn thường người ta kếthợp liệu pháp tâm lý gia đình với liệu pháp tâm lý cá nhân [11]
Một số biểu hiện của người trầm cảm cũng có thể có ở người bìnhthường Vì thế có thể nhiều người còn nhầm lẫn giữa trạng thái cảm xúc buồn
bã, chán nản mang tính nhất thời của người bình thường với trạng thái trầmcảm mang tính bệnh lý.Người ta thường dùng các công cụ khác nhau để đánhgiá mức độ trầm cảm của bệnh nhân Phổ biến nhất là dùng các tiêu chuẩnDSM – IV và ICD-10 để chẩn đoán trầm cảm Ngoài ra một số các trắc nghiệmtâm lý như BDI (Beck Depression Inventory) cũng được sử dụng [17]
Tiêu chuẩn DSM – IV: DSM-IV là công cụ Hướng dẫn chẩn đoán vàthống kê bệnh của Hội tâm thần học Hoa kỳ (Diagnostic and Statistical Manual
of Mental Disorder) chỉnh lý lần thứ 4 Theo tiêu chuẩn này, thì trong vòng haituần, hầu như mỗi ngày đều quan sát thấy ở người bệnh tính khí sầu muộnvà/hoặc từ chối những nguồn vui vốn có cộng với ít nhất 4 trong số các triệuchứng sau thì có thể coi người đó đã mắc bệnh trầm cảm: Giảm hoặc lên cân,giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng Mất ngủ hoặc ngủ triền miên Kích độnghoặc trở nên chậm chạp Mệt mỏi hoặc mất sức Cảm giác vô dụng, vô giá trịhoặc tội lỗi không thích đáng Giảm khả năng tập trung, do dự Hay nghĩ đếncái chết, có ý định hoặc hành vi hoặc kế hoạch tự sát
ICD cung cấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn gọn, và các dấuhiệu bệnh làm chuẩn cho công tác nghiên cứu và thực hành ICD-10 là phiênbản thứ 10 của ICD Còn F32 chính là mã của bệnh trầm cảm Trong ICD-10F32, các dấu hiệu của trầm cảm được gắn với các mức độ trầm cảm.Giai đoạntrầm cảm nhẹ: người bị bệnh cảm thấy không được khỏe và tìm sự giúp đỡ củabác sĩ, sinh hoạt bình thường Trầm cảm mức trung bình: những yêu cầu trongcông việc và việc nhà không thể đảm nhiệm nổi Trầm cảm nặng: bệnh nhân
Trang 23cần được điều trị Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác.Những giai đoạn trầm cảm khác.
Trong lĩnh vực lâm sàng tâm thần học trên thế giới, các trắc nghiệm tâm
lý được sử dụng để đánh giá nhóm các triệu chứng về cảm xúc như thang đánhgiá trầm cảm Beck (Beck Depression Inventory) năm 1961, thang đánh giátrầm cảm của Hamilton (HDRS – Hamilton Depression Rating Scale), doM.Hamilton giới thiệu 1960 Thang đánh giá lo âu Zung (Zung Self-ratedAnxiety Scale) năm 1971, Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – stress DASS(Depression-Anxiety-Stress Scale) năm 1995; Thang GDS được xây dựng đểnhận diện các triệu chứng trầm cảm ở bệnh nhân là người già (Brink TL.,1982; Yesavage JA., 1983) Thang đo trí tuệ Weschler dành cho người lớn(Weschler Adult Intelligence Scale – WAIS) năm 1955, Trắc nghiệm trí nhớWeschler (Weschler Memory Scale) năm 1945, Trắc nghiệm khuôn hình tiếpdiễn Raven năm 1936; và đánh giá về nhân cách như Thang đánh giá đa diệnnhân cách Minnesota – MMPI (Minnesota Multiphasic Personality Inventory)năm 1943, Bảng Nghiệm kê nhân cách Eysenck (Eysenck PersonalityInventory – EPI) năm 1947 Ở Việt Nam, việc sử dụng các trắc nghiệm tâm lývào những mục đích thực tiễn còn khá mới mẻ, nhưng bước đầu cũng đã được
áp dụng trong ngành y tế với mục đích hỗ trợ chẩn đoán bệnh đặc biệt trongchuyên khoa tâm thần Những kết quả thu nhận được đã góp phần hỗ trợ chẩnđoán lâm sàng các rối loạn trầm cảm và đánh giá tiến triển trong điều trị, giúpcho các thầy thuốc chuyên khoa có thêm thông tin để kết luận bệnh, trạng tháibệnh và từ đó chọn lựa các giải pháp điều trị phù hợp Nhìn chung, chúng tamới đang ở giai đoạn sử dụng và thích nghi hoá các trắc nghiệm nước ngoài,việc nghiên cứu lí luận và xây dựng các trắc nghiệm riêng thuần túy của nước
ta mới đang ở mức độ manh nha
Trang 24Trong các khảo sát cộng đồng, các nghiệm pháp phát hiện trầm cảmthường sử dụng bảng trắc nghiệm tự trả lời chủ yếu để phát hiện bệnh Thườngdùng nhất hiện tại là thang đo đánh giá trầm cảm: BDI và DASS.BDI (BeckDepression Inventory) là bảng kiểm đo trầm cảm của Aaron T Beck Bảngkiểm gồm 21 mệnh đề với nội dung là các biểu hiện, triệu chứng đặc thù củatình trạng trầm cảm Với thiết kế đa phương án lựa chọn cho nghiệm thể, bảngkiểm có thể đo mức độ trầm cảm ở trẻ vị thành niên và người lớn Còn DASS(Depression Anxiety Stress scale) là thang đo 3 trạng thái cảm xúc âm tính liênquan đến nhau: trầm cảm, lo âu và căng thẳng Trong thang đo trầm cảm BDI,Beck mô tả các triệu chứng về sự ức chế toàn diện các mặt hoạt động tâm thần:cảm xúc, tư duy, hoạt động, v.v gồm các mục từ 1 đến 15 Các mục này phảnánh những nhận xét tiêu cực về bản thân, về thế giới bên ngoài và về tương lai.Các mục từ 16 đến 21 có liên quan tới các triệu chứng cơ thể: tình trạng ứcchế, chậm chạp, mệt mỏi, khó tập trung, rối loạn giấc ngủ.Như vậy, Beck đãdựng lên một “Tình trạng” với các triệu chứng trầm cảm có được từ các bệnhnhân Cũng giống như thang đánh giá Hamilton, thang đánh giá trầm cảm củaBeck xuất phát trên cơ sở thực tế lâm sàng khi tiếp cận nghiên cứu bệnh nhân.Những thang đánh giá này được coi là các bản câu hỏi tự đánh giá, bản phỏngvấn hàm súc có ý nghĩa trong một thời lượng nhất định khi tiếp xúc với bệnhnhân.Thang Beck là thang tự đánh giá Đối tượng điền vào một bản câu hỏi,bằng cách khoanh tròn những con số tương ứng với câu trả lời có sẵn do mình
tự lựa chọn Đối tượng có thể khoanh tròn nhiều con số nếu có nhiều câu trảlời có sẵn thích hợp với mình.Mỗi đề được cấu tạo nên bởi từ 4 đến 6 câu trảlời tương ứng với từ 4 đến 6 mức cường độ triệu chứng nặng hơn dần: từ mức
0 đến mức 3.Tuy nhiên, các thang đánh giá trên chỉ đánh giá cường độ, mức độ
và sự nhận thức về trầm cảm ở những người bệnh có chẩn đoán rối loạn tâmthần Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng thang đánh giá trầm cảm CES-D (The
Trang 25Centre for Epidemiological Studies- Depression Scale), ra đời năm 1977 Ưuđiểm của thang đánh giá này là sử dụng được ở cộng đồng để phân biệt cáctrường hợp trầm cảm cần có can thiệp tiếp Thang đo này đã được đánh giá vềtính giá trị và độ tin cây đối với đối tượng vị thành niên ở Việt Nam.Các câuhỏi trong thang đo ngắn gọn và dễ sử dụng Thang đánh giá gồm 20 câu Mỗi
câu hỏi được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3 theo các mức độ như sau: 0
điểm: Không bao giờ hoặc hiếm khi < 1 ngày; 1 điểm: Đôi khi hoặc từ 1-2 ngày; 2 điểm: Thỉnh thoảng, đôi khi hoặc trung bình từ 3-4 ngày; 3 điểm: Rất hay xảy ra hoặc hầu hết thời gian trong hoặc hơn 7 ngày CES-D được thiết kế
bao gồm các triệu chứng chính của bệnh trầm cảm được xác định với sự nhấnmạnh vào các phần tình cảm : trầm cảm tâm trạng, cảm giác tội lỗi và vô dụng,cảm giác bất lực và tuyệt vọng, chậm phát triển tâm thần, mất cảm giác ngonmiệng và rối loạn giấc ngủ Hai mươi câu hỏi về cảm xúc thanh thiếu niênhoặc hành vi liên quan đến triệu chứng trầm cảm CES-D được sử dụng rộngrãi trong nhiều nghiên cứu ở cộng đồng.Theo đánh giá chuẩn của quốc tế thìđiểm 16 là mốc (cut-off point) để phân loại giữa có và không có trầm cảm.Theo một số nghiên cứu khác thì điểm mốc (cut-off point) là 22 điểm, với ≤ 22điểm coi là không có trầm cảm và trên > 22 điểm có trầm cảm [26]
1.4 Một số đề tài nghiên cứu trầm cảm hiện nay:
Theo con số thống kê của nhiều nước, rối loạn trầm cảm chiếm tỷ lệ 4% dân số Ở Australia, một số công trình nghiên cứu cho thấy trầm cảmchiếm tới 20- 30% dân số, trong đó 3-4% là trầm cảm vừa và nặng Ở TrungQuốc, nghiên cứu tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu, tỷ lệ rối loạntrầm cảm gặp 4,8- 8,6% Ở Mỹ khoảng 5- 6%, ở nước ta khoảng 3- 6% Nhìnchung khoảng 15-40% người lớn trong cuộc đời mình đã có một thời kỳ trầmcảm rõ rệt [32]
Trang 263-Điều tra mang tên "Khảo sát hành vi có hại cho sức khoẻ và các yếu tốnguy cơ/yếu tố bảo vệ ở học sinh trung học phổ thông nội thành TP HCM"được thực hiện bởi các chuyên gia ở Trung tâm Truyền thông Giáo dục sứckhỏe TP HCM và Đại học y khoa Phạm ngọc Thạch Các tác giả nhận thấy, cóđến 21% số học sinh được khảo sát từng bỏ học, 19% uống rượu, 16% hútthuốc lá, 11% đua xe Tỷ lệ gây rối trật tự nơi công cộng, đánh nhau có vũ khíhoặc từng có quan hệ tình dục là 6%.Theo nhóm nghiên cứu, để khắc phục tìnhtrạng trên, cần có một chiến lược tổng hợp với sự tác động cùng lúc của giađình, nhà trường, xã hội nhằm can thiệp sớm trước khi những hành vi có hạixảy ra[33].
Tại hội thảo Tâm lý học đường lần thứ 4 do Liên hiệp phát triển tâm lýhọc đường quốc tế (CASP-I) và trường ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà nội) tổchức ngày 14 và 15-8-2014 tại Hà Nội cho thấy tại Việt Nam số lượng trẻ emtrong độ tuổi học sinh mắc rối loạn lo âu và trầm cảm có xu hướng tăng lêntrong những năm gần đây Theo một cuộc khảo sát ở 1.727 học sinh THCS tại
Hà Nội, có 25,76% tổng số học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần Một cuộckhảo sát khác khác cho thấy có 20,65% học sinh lớp 1 có lo âu học đường ởmức độ vừa, trong đó tình huống kiểm tra kiến thức ở lớp học là nguyên nhânlớn nhất.Nhóm khảo sát của Th.S Phạm Văn Tư - Khoa Công tác xã hội,trường ĐH Sư phạm Hà Nội - đã đưa đưa ra những câu hỏi về thực trạng hành
vi gây hấn của học sinh THCS Trong 280 học sinh của trường THCS TrungChính (huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), đối tượng được chọn làm mẫu khảosát, đã có 38,2% trả lời “có” đối với câu hỏi trên Có 34,4% học sinh được hỏicũng đã đưa câu trả lời đã từng cố ý đánh người với những mức độ khác nhau
vì mâu thuẫn, xung đột không kiềm chế được cảm xúc, cơn tức giận Hay thậmchí, các em đưa ra dẫn chứng cho hành vi gây hấn của học sinh với các lý dođơn giản là thấy “ngứa mắt”, muốn “dằn mặt” cho bớt tính kiêu căng, hoặc “vì
Trang 27nó dám liếc mắt đưa tình với người yêu mình” và rồi quyết định “phải cho nómột bài học”…53% học sinh thường xuyên cho rằng khó có thể bỏ qua hoặcquên đi lời nói, hành vi của người khác đã làm mình bị tổn thương 47%thường xuyên không giữ được bình tĩnh trước sự khiêu khích của người khác.Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa kỹ năng quản lý thời gian và stresstrong học tập của học sinh lớp 12, do một nhóm giảng viên khoa Tâm lý - Giáodục, trường ĐH Sư phạm - ĐH Huế thực hiện, kết quả cho thấy hầu hết họcsinh lớp 12 của trường THPT chuyên Quốc học Huế đều trải nghiệm stresstrong học tập ở mức độ tương đối cao Gần 100 các em cho rằng phải “rấtthường xuyên” học tập và làm việc trong cả ngày nghỉ Gần 20% cho biết các
em “rất thường xuyên” học tập và làm việc mà quên cả ăn, không tập thể dục
và không có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn Đặc biệt, hơn 53% tiết lộ rằng các
em chỉ toàn nói chuyện về công việc, việc học tập trong các cuộc họp mặt, tềtựu với người thân và bạn bè….Theo đánh giá của các chuyên gia, tỉ lệ họcsinh có các vấn đề về cảm xúc ngày càng gia tăng và là loại rối nhiễu chiếm tỉ
lệ cao nhất trong các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở học sinh phổ thông.[34]
Khảo sát về áp lực học tập trong 270 học sinh thuộc ba trường: THPTchuyên Lê Hồng Phong, THPT Lý Thường Kiệt, THPT Trương Vĩnh Ký,nhóm tác giả do Phạm Thị Tâm (khoa công tác xã hội, Trường ĐH Khoa học
xã hội và nhân văn - ĐH Quốc gia TP.HCM) báo cáo “Đánh giá tác động của
áp lực học tập đến Sức khỏe tâm thần của học sinh THPT TP.HCM hiện nay”cũng cho những con số đáng lo Theo đó, có đến 51,1% học sinh trường THPTchuyên Lê Hồng Phong, 47,8% học sinh trường THPT Trương Vĩnh Ký và46,7% học sinh trường THPT Lý Thường Kiệt đánh giá chương trình học khánặng so với khả năng học sinh Không chỉ vậy, tâm lý lo sợ không hoàn thànhbài vở mới là nỗi ám ảnh với các học sinh lứa tuổi THPT, nhất là các em lớp12.Cũng theo khảo sát nói trên, có gần 60% học sinh THPT phải làm 6-10 bài
Trang 28tập về nhà/ngày, 67% phải làm trên 10 bài tập về nhà/ngày và con số lớn nhấtvẫn rơi vào học sinh khối 12 Chính vì vậy, quỹ thời gian dành cho học tập củahọc sinh THPT chiếm hết 1/3 thời gian sinh hoạt hằng ngày Ngoài học chínhkhóa, số học sinh học thêm 1-2 buổi ở trường chiếm đến 43,53% và học 3-4buổi là 46,09% Từ đó, học sinh cảm thấy căng thẳng trong việc học, trong đó
có 89,2% cảm thấy căng thẳng vì thời gian dành cho việc học quá nhiều, mức
độ rất căng thẳng chiếm đến 49,2% Mức căng thẳng đó đã khiến 63,8% họcsinh giỏi, 76,3% học sinh khá, 52,2% học sinh trung bình trong khảo sát nàythấy buồn ngủ Và 13,6% học sinh khá thấy ăn không ngon, 17,6% chỉ muốnuống nước hoặc sữa và gần 20% thường xuyên bỏ bữa Các em cũng bày tỏđang đối mặt với một kỳ thi quan trọng, sợ làm bài không tốt, sợ gia đình sẽthất vọng và khi nghĩ đến những điều đó thì các em chỉ muốn, “nổ tung”.[35]
Dự án “Chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh trường học tại Hà Nội” là
dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm thần ban ngày MaiHương với trường Đại học Melbourne (Australia, cho thấy thực tế những nămgần đây, rất nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần đang nổi lên nhưstress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, tự sát trong học sinh trường học, vấn đề
“hysterya tập thể”, các biểu hiện suy nhược và rối loạn dạng cơ thể, Trẻ em vôtình bị đẩy vào những tình huống buộc phải tự lập cũng như phải đối mặt vớiquá nhiều tác động có hại do mặt trái của nền kinh tế thị trường, trong khi các
em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết về tâm lý Trong nhà trườngluôn luôn có một tỉ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm lý tâm thần Theo đó15,94% em có rối nhiễu về tâm lý trong tổng số học sinh các cấp học, lạmdụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng, với số thanh thiếu niên Trong
số các ca tự sát, 10% ở độ tuổi 10 – 17 [10]
Trang 29Nghiên cứu của Trần Thị Huyền [6] cho biết, trên 20% học sinh trunghọc phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh bị rối loạn trầm cảm, tương tự vớikết quả này theo một điều tra của bệnh viện Nhi Trung ương tại một số trườnghọc ở Hà Nội có khoảng 20% học sinh có biểu hiện trầm cảm.Kết quả nghiêncứu về sức khỏe tâm thần với 6.189 học sinh ở các trường trung học, Đại học ở
Hà Nội, Hải Dương, Thành Phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ do Giáo sư MichaelDunne, Đại học Công nghệ Queensland (Australia) cho thấy cứ 7 thanh niênViệt Nam có 1 người trầm cảm (khoảng 14%)
Nghiên cứu 21.960 thanh thiếu niên Hà Nội phát hiện 3,7% em có rốiloạn hành vi Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố HàNội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam chothấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sởtrong độ tuổi 10 - 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần chung
là 19,46 % Tỷ lệ này không có gì khác biệtđối với nam, nữ, tiểu học, trunghọc cơ sở, nội thành, ngoại thành [8]
Những khó khăn về ứng xử của học sinh trong nghiên cứu của Bệnhviện tâm thần ban ngày Mai Hương chiếm 9,23% Lứa tuổi 10 - 11 có tỷ lệ 42 -46% gặp khó khăn về ứng xử Đặc biệt có sự chênh lệch rất lớn về khó khăntrong ứng xử giữa học sinh nam (84.60%) và học sinh nữ (15,40%), trong lĩnhvực tâm lý trẻ em, những phân biệt đối xử của ông bà, cha mẹ thậm chí địnhkiến bất bình đẳng về giới cũng có tác động đến ứng xử của trẻ Theo khảo sátcủa dự án, quận Hai Bà Trưng có tỷ lệ học sinh gặp khó khăn về ứng xử caonhất với 44,2%, so với các quận còn lại là Hoàng Mai (28,8%), Từ Liêm(26,9%) Điều này cho thấy ảnh hưởng của điều kiện sống, môi trường sốngtác động đến hành vi ứng xử của các em Các vấn đề liên quan đến phát triểntrí tuệ, rối loạn nhân cách hành vi như rối loạn cảm xúc, rối loạn tăng động, rối
Trang 30loạn ứng xử, xung động bạo lực, nghiện rượu và ma túy, rối loạn ăn uống dẫntới béo phì, đều là các rối loạn báo hiệu sức khỏe tâm thần gặp trục trặc.Những rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm làm giảm sút đáng kể sự pháttriển và khả năng học của học sinh Các rối loạn hành vi phá vỡ nghiêm trọng
sự phát triển về mặt xã hội và có thể dẫn tới mắc các chứng bệnh tâm thần vềlâu dài Can thiệp sớm, với trọng tâm là giải quyết các xung đột gia đình vànhững rắc rối trong quan hệ của bố mẹ trẻ, giúp ngăn ngừa hữu hiệu những hậuquả có hại về sau Trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 50% dân số Việt Nam.Tuy nhiên,hiểu biết của người dân về vấn đề chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho đối tượngnày còn nghèo nàn.Thậm chí, trong ngành y tế chỉ một số lượng nhỏ nhân viênlàm việc trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần trẻ em Chính họ cũngthiếu kĩ năng cần thiết để chăm sóc bệnh nhân.[36]
Tại hội thảo “Sức khỏe tâm thần, bằng chứng từ các nghiên cứu ở cộngđồng người Việt Nam” tổ chức tại ĐH Y dược Huế ngày 9-10/01/2015 vừaqua, nhóm nghiên cứu của Michael P Dunne (Viện Nghiên cứu sức khỏe cộngđồng ĐH Y Dược Huế, Trường Y tế công cộng và Công tác xã hội, ĐH Côngnghệ Queensland) và Phạm Thị Thu Ba (Vụ Công tác học sinh, sinh viên, BộGD-ĐT) đã trình bày tham luận "Học sinh THPT Việt Nam, học bao nhiêu làquá nhiều?" thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học, HS và phụ huynh.“Họcthêm (còn được biết là học kèm/học gia sư và học thêm tại các trung tâm) làmột hình thức học tập bổ trợ phổ biến trong HS Việt Nam và các nước ĐôngNam Á Hiệu quả của việc học thêm và ảnh hưởng của việc học thêm quánhiều là vấn đề được xã hội quan tâm và cũng là vấn đề gây tranh cãi tại cácquốc gia châu Á” - Michael P.Dunne cho biết.Theo đó, trong 2 năm, nhóm đãphỏng vấn sâu và điều tra bằng bộ câu hỏi, nghiên cứu chú trọng vào các đặcđiểm của gánh nặng học thêm, những mối liên quan giữa học thêm và áp lựchọc tập, triệu chứng trầm cảm và lo lắng trên 1.600 HS cấp 3 ở 3 tỉnh thành là
Trang 31Hà Nội, Thừa Thiên - Huế và Cần Thơ.Kết quả đã chỉ ra, 94% HS Việt Namtrả lời có học thêm, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ HS học thêm ở hầu hết các nướcĐông Nam Á HS ở thành thị, có cha mẹ có trình độ học vấn cao thì học thêmnhiều hơn, đặc biệt là học kèm gia sư Học thêm là một yếu tố quan trọng gópphần nâng cao thành tích học tập của HS (trong nghiên cứu đo bằng điểmtrung bình môn học do HS tự báo cáo là Toán, Ngữ Văn và Ngoại ngữ) Nhưngđiểm hạn chế của hiệu quả học thêm là: Điểm trung bình môn học cao hơn khi
HS học thêm đến 2 giờ/ngày - nếu trên 2 giờ/ngày thì điểm sẽ không có caohơn đáng kể Một kết quả rất thú vị là HS học thêm trung bình 2-3 giờ/ngày cósức khỏe tâm thần tốt nhất (có triệu chứng trầm cảm và lo lắng ít nhất) HSkhông học thêm hoặc học thêm nhiều hơn 3 giờ/ngày có sức khỏe tâm thầnkém hơn như có nhiều triệu chứng trầm cảm, lo lắng.Tự học là cách học bổ trợsau giờ học chính khóa hữu hiệu nhất so với đi học thêm HS trường THPTchuyên Quốc Học Huế có tỷ lệ đỗ ĐH, CĐ cao nhất tỉnh Thừa Thiên - Huế do
có nhiều phương pháp học bổ trợ đa dạng (ngoài việc học thêm) sau giờ họcchính khóa như: học nhóm, tự học, học bồi dưỡng nâng cao, sinh hoạt ngoạikhóa, “Rất nhiều HS thực hành cả 3 hình thức học tập bổ trợ sau giờ học chínhkhóa (tự học tại nhà, đi học thêm và học kèm gia sư) Đây là nghiên cứu đầutiên phát hiện ra rằng với HS mà việc học bổ trợ sau giờ học chính khóa chủyếu là đi học thêm thì không có điểm trung bình môn học cao hơn mà lại cósức khỏe tâm thần kém hơn đáng kể Hơn nữa, HS có sức khỏe tâm thần kémnhất là những HS vừa đi học thêm và học kèm gia sư” - Michael P.Dunnne lưu
ý nhấn mạnh Điểm cuối là các kết quả của cuộc nghiên cứu này cho thấy rằng:Cân bằng giữa tự học ở nhà và đi học thêm/học kèm gia sư là quan trọng HS
mà thời gian học bổ trợ sau giờ học chính khóa chủ yếu là đi học thêm (hơn2/3 tổng thời gian học bổ trợ) có nhiều vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn HSchủ yếu là tự học - hoặc cân bằng thời gian tự học và đi học thêm/học kèm gia
Trang 32sư Ngoài ra, một phát hiện quan trọng khác nữa là nhóm HS không hoặc học
bổ trợ ít và có điểm trung bình môn học thấp thì có vấn đề về tâm lý như trầmcảm và lo lắng Do vậy, việc tư vấn và hỗ trợ những HS này là cầnthiết.Michael P Dunne cho rằng kết quả nghiên cứu có thể là thông tin thamkhảo hữu hiệu cho HS cấp 3 và phụ huynh Từ đó làm cơ sở cho câu hỏi “Phụhuynh sẽ quyết định như thế nào về việc học thêm cho con em để có hiệu quảcao nhất?” [37]
1.5 Tổng quan về thành phố Tân An,tỉnh Long An
Long An là một tỉnh cửa ngõ đồng bằng sông Cửu Long, địa bàn giápvới Thành phố Hồ Chí Minh và giáp với biên giới Cambodia nên tiến trình đôthi hóa và hiện đại hóa đang phát triển rất nhanh [36] Thành phố Tân An có 9phường và 5 xã với tổng diện tích tự nhiên là 8.192,64 ha, dân số theo số liệuđiều tra 1/4/1999 là 113.850 người Trong đó phường 1 là trung tâm kinh tế,chính trị văn hóa của Thành phố, các phường - xã còn lại: phường 2, phường 3,phường 4, phường 5, phường 6, phường 7, phường Tân Khánh, phường KhánhHậu và xã Lợi Bình Nhơn, xã Hướng Thọ Phú, xã Nhơn Thạnh Trung, xã BìnhTâm, xã An Vĩnh Ngãi
Thành phố Tân An nằm về phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh, cáchtrung tâm thành phố 47 km và có ranh giới với các đơn vị hành chính như sau:Phía Bắc giáp huyện Thủ Thừa; Phía Đông giáp huyện Tân Trụ và huyện ChâuThành; Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Tiền Giang
Thành phố Tân An là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế, khoa học kỹthuật của tỉnh Long An Thành phố vừa nằm trên tia phát triển của Địa bànkinh tế trọng điểm phía Nam, vừa là cửa ngỏ kinh tế của các tỉnh đồng bằngSông Cửu Long, có trục giao thông chính thủy bộ chạy qua trung tâm là Quốc
lộ I A, Quốc lộ 62 và sông Vàm cỏ Tây
Trang 33Với vị trí địa lý như trên tạo cho thành phố Tân An có lợi thế so sánhtương đối về địa lý kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnhLong An nói chung và thành phố Tân An nói riêng.
Trên địa bàn thành phố có rất nhiều trường học các cấp phân bố theotừng địa phương Có tất cả 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thànhphố bao gồm trường Trung học phổ thông Tân An là trường nằm trên điạ bànphường 3, là nơi tập trung học sinh của các phường 1,2,3,5, và các xã Bìnhtâm, An Vĩnh Ngãi, Hướng Thọ Phú Trường Trung học phổ thông Lê QuýĐôn nằm trên địa bàn phường 4 là nơi tập trung học sinh từ các phường 4, 6,7,Tân Khánh, Khánh Hậu… Trường Trung học phổ thông Chuyên Long An nằmtrên địa bàn phường 4 là nơi tập trung các học sinh giỏi từ 15 huyện thị trên địabàn tỉnh về học tập[36] Có rất nhiều các nghiên cứu về trầm cảm nhưng đaphần là các nghiên cứu về những bệnh nhân tại bệnh viện, một số nghiên cứunhưng chỉ ở qui mô nhỏ nên không công bố rộng rãi nên số liệu về bệnh trầmcảm ở đối tượng học sinh cũng hạn chế Vì những lý do trên, cũng vì hiện naychưa có nghiên cứu thống kê nào cho thấy tình hình trầm cảm ở lứa tuổi họcđường tại tỉnh nên chúng tôi chọn đề tài “ Tỷ lệ rối loạn trầm cảm của học sinhtrung học phổ thông tại thành phố Tân An, Long An năm 2015” Thông quanghiên cứu hy vọng sẽ phát hiện sớm cũng như khuyến cáo những biện phápcan thiệp nhằm giúp đỡ cho các em duy trì cuộc sống tươi trẻ, giữ vững thăngbằng trong cuộc sống, phòng ngừa được những rối loạn tâm thần sớm nhất chohọc sinh, là nguồn tài nguyên vô giá của xã hội
Trang 34CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thiết kế cắt ngang mô tả
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.1 Dân số muc tiêu:
Tất cả học sinh trung học phổ thông đang học tại thành phố Tân An
2.2 Dân số chọn mẫu:
Tất cả học sinh thuộc 3 trường trung học phổ thông: THPT chuyên Long
An, THPT Tân An và THPT Lê Quý Đôn đang học tại thành phố Tân An
Trang 35Bước 2: Bốc thăm ngẫu nhiên thứ tự các trường, sau đó đánh số thứ tựdanh sách học sinh từ 1 đến 3.387 học sinh Lấy tổng số học sinh 3 trường chiacho cỡ mẫu cần thu thập ra được hệ số k = 12 Bốc thăm ngẫu nhiên số từ 1đến 12 (được số 6), chạy danh sách học sinh bắt đầu từ số 6 với khoảng cách
12 học sinh lấy 1 học sinh cho đến khi lấy đủ danh sách 280 học sinh
Bước 3: Cuối cùng chọn tất cả học sinh có số thứ tự được chọn tham giavào nghiên cứu
2.4.1 Tiêu chí chọn mẫu:
- Tiêu chí đƣa vào
Học sinh trung học phổ thông đang học tại thành phố Tân An,
Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chí loại ra
- Những học sinh nghỉ học trong thời gian tiến hành nghiên cứu
Trang 36- Sau 3 lần liên hệ không gặp được
2.5 Kiểm soát sai lệch:
2.5.1 Sai lệch chọn lựa:
Vận động để học sinh tham gia và trả lời hoàn thiện bộ câu hỏi Tăng số
cở mẫu lên 10% để hạn chế sai lệch Cố gắng liên hệ đối với học sinh vắng,nếu 3 lần vẫn không gặp thì loại khỏi danh sách
Thu thập dữ liệu thông qua danh sách theo phương pháp chọn mẫu vàchọn đúng đối tượng cần điều tra theo nguyên tắc chọn đối tượng vào nghiêncứu Những trường hợp học sinh nghỉ học rơi vào ngày điều tra của trường đó,
sẽ được lập danh sách chung để phỏng vấn ngày kế tiếp
2.5.2 Sai lệch thông tin:
Để có kết quả đúng với bản chất thật của nghiên cứu như: trung thực,khách quan, cần kiểm soát những thông tin sai lệch có khả năng xảy ra sauđây:
Đối với người giám sát:
Là người đã từng hoạt động công tác cộng đồng, có kinh nghiệm giao tiếp,hướng dẫn, tư vấn hoàn thành tốt bộ câu hỏi tự điền một cách khách quan,trung thực, đầy đủ
Trang 37Trước khi thực hiện, cán bộ phụ trách giám sát phải được tập huấn kỹnăng, tiếp xúc hướng dẫn cho đầy đủ, khách quan không áp đặt; vì bộ câu hỏi
tự điền có một số câu mang tính nhạy cảm Gỉai đáp thắc mắc kịp thời kháchquan
Tiến hành điều tra thử 25 mẫu, thông qua đó để điều chỉnh BCHTĐ,khắc phục những sai sót tối thiểu trong thu thập thông tin
Đối với nhà trường:
Không cử nhân viên hay bất cứ ai đến nơi các em, để trả lời hay hướngdẫn các em về bộ câu hỏi tự điền
Hổ trợ cho 1 phòng riêng để các em học sinh tập trung lại triển khai đồngloạt trong giờ giải lao
Nhà trường hổ trợ công việc lập danh sách học sinh theo qui định củanghiên cứu (tiêu chí loại ra, tiêu chí chọn vào)
Đối với học sinh:
Học sinh trước khi nhận bộ câu hỏi sẽ được hướng dẫn về cách trả lời và
để đảm bảo tính chính xác của thông tin, ngoài ra tính nghiêm túc của cuộckhảo sát cũng được thực hiện nghiêm chỉnh Các học sinh ngồi gần nhauđược yêu cầu không nhìn bộ câu hỏi của người bên cạnh.Đồng thời, bộ câuhỏi được ẩn danh để đảm bảo tính bí mật và tính chính xác của việc cung cấpthông tin
2.6 Phương pháp thu thập dữ kiện
2.6.1 Liệt kê và định nghĩa biến số
2.6.1.1Biến số nền: Biến số về dân số xã hội
* Lớp: là biến số thứ tự, có 3 giá trị
▪Lớp 10
Trang 38▪ Lớp 11
▪ Lớp 12
* Giới tính: là biến số danh định, với 2 giá trị là nam và nữ.
* Dân tộc: là biến số danh định, với 3 giá trị gồm:
Khác ( ở trại nuôi dưỡng, cô nhi viện … ).
* Nghề nghiệp mẹ của học sinh (người mà bạn đang sống chung ) : là biến
số chỉ danh, với 6 giá trị bao gồm:
Nhân viên công sở: là một cá nhân làm trong văn phòng/ hoặc tổ chức
hoặc cơ quan nhà nước và được trả lương từ ngân sách nhà nước
Trang 39 Tự làm chủ: là người làm công việc của gia đình, làm ruộng cho gia
đình, tự sản xuất hàng hóa để bán và có thu nhập thông qua việc cungcấp dịch vụ cho những đối tượng hoặc các công ty khác nhau
Nghỉ hưu: là người đã từng làm việc có lương nhưng do tuổi tác cao nên
không còn đi làm nữa
Làm bán thời gian: là người làm công việc không liên tục và không có
thu nhập ổn định
▪ Thất nghiệp: là người không thể làm việc vì tình trạng sức khỏe không
bảo đảm
Nội trợ: là người dành phần lớn thời gian để làm các công việc nội trợ
trong nhà mà không được trả công
* Nghề nghiệp cha của học sinh (người mà bạn đang sống chung ): là biến
số chỉ danh, với 6 giá trị bao gồm:
Nhân viên công sở: là một cá nhân làm trong văn phòng/ hoặc tổ chức
hoặc cơ quan nhà nước và được trả lương từ ngân sách nhà nước
Tự làm chủ: là người làm công việc của gia đình, làm ruộng cho gia
đình, tự sản xuất hàng hóa để bán và có thu nhập thông qua việc cungcấp dịch vụ cho những đối tượng hoặc các công ty khác nhau
Nghỉ hưu: là người đã từng làm việc có lương nhưng do tuổi tác cao nên
không còn đi làm nữa
Làm bán thời gian: là người làm công việc không liên tục và không có
thu nhập ổn định
▪ Thất nghiệp: là người không thể làm việc vì tình trạng sức khỏe không
bảo đảm
Nội trợ: là người dành phần lớn thời gian để làm các công việc nội trợ
trong nhà mà không được trả công
Trang 40*Tình trạng gia đình: là biến số nhị giá, với 2 giá trị:
▪ Có sổ hộ nghèo
▪ Không có sổ hộ nghèo
* Thứ tự của học sinh trong gia đình : là biến số thứ tự, với 2 giá trị gồm:
Không có anh /chị em
Có ≥ 1 người
*Hiện tại đang sống với ai: là biến số chỉ danh gồm có 6 giá trị
Cha mẹ, anh chị em: là tình trạng ở cùng bố mẹ và anh chị em
Cha: là tình trạng ở với cha mà không có mẹ
Mẹ: Là tình trạng ở với mẹ mà không có cha
Một mình: là tình trạng sống không cùng với gia đình, bạn bè, ngườithân
Ông bà, cô dì chú bác: là tình trạng ở nhà bất cứ người thân nào màkhông có sự hiện diện của cha mẹ
Khác: là tình trạng ở cùng bạn bè, ký túc xá mà không có sự hiện diệncủa bất cứ thành viên khác trong gia đình
* Loại hình giải trí yêu thích thời gian nhàn rỗi (1 lựa chọn): là biến số chỉ
danh, gồm 7 giá trị: Xem phim, Nghe nhạc, Chơi thể thao, Mua sắm, Tán gẫubạn bè, Truy cập Internet, Khác
*Tham gia quyết định các vấn đề có liên quan của cuộc sống gia đình: là
biến số danh định, gồm 3 giá trị:
- Mọi chuyện đều được tham gia góp ý kiến,
- Chỉ những chuyện liên quan đến bản thân,