1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và các yếu tố liên quan ở bà mẹ có con từ 6 12 tháng tuổi tại huyện cờ đỏ, thành phố cần thơ năm 2017

97 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nghiên cứu cho thấy,tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đạt90% sẽ phòng ngừa từ 13-15%tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình [60], việc trẻ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG

TỶ LỆ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN

TRONG 6 THÁNG ĐẦU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG

TỶ LỆ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN TRONG 6 THÁNG ĐẦU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở BÀ MẸ CÓ CON TỪ 6-12 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu

và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, vănbản, tài liệu đã được Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường đại họckhác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không

có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừanhận

Trang 4

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Khái niệm và lợi ích củanuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu 5

1.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 13

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu 18

1.4 Thái độ của bà mẹ trong việc thực hành nuôi dưỡng trẻ 20

1.5 Đặc điểm nơi nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU … 24

2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2 Dân số nghiên cứu 24

2.3 Cỡ mẫu 24

2.4 Kỹ thuật chọn mẫu 24

2.5 Tiêu chí chọn mẫu 25

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.7 Công cụ thu thập số liệu 25

2.8 Tổ chức thu thập dữ kiện 25

2.9 Kiểm soát sai lệch 26

2.10 Liệt kê và định nghĩa biến số 27

2.11 Xử lý và phân tích dữ kiện 37

2.12 Y đức trong nghiên cứu 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 39

3.1 Đặc tính mẫu của đối tượng nghiên cứu 39

3.2 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 43

3.3 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 47

3.4 Thái độ trong việc lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ 51

Trang 5

3.5 Mối liên quan giữa NCBSM hoàn toàn với đặc tính nền, kiến thức

NCBSM hoàn toàn và thái độ của bà mẹ 53

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 59

4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 59

4.2 Kiến thức về NCBSM hoàn toàn 63

4.3 Thái độ về việc lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ 66

4.4 Thực hành NCBSM hoàn toàn 67

4.5 Tình hình tiếp cận thông tin về NCBSM hoàn toàn 71

4.6 Mối liên quan giữa đặc tính nền, các yếu tố liên quan với thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu 72

4.7 Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 75

4.8 Tính mới và tính ứng dụng của đề tài 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 BỘ CÂU HỎI PHỤ LỤC 2 DANH SÁCH CỘNG DỒN PHỤ LỤC 3 DANH SÁCH CÁC BÀ MẸ THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

A&T Alive& Thrive

IIFAS Iowa Infant Feeding Atitude

Scale

Thang đo thái độ lựa chọnphương pháp nuôi dưỡng trẻ

PR Prevalence ratio Tỷ số tỉ lệ hiện mắc

UNICEF United Nations International

Children’s Emergeney Fund Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc

WHO World Health Organization Tổ Chức Y Tế Thế Giới

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc tính và tầm quan trọng của sữa non 10

Bảng 1.2 Đặc điểm của sữa mẹ, sữa bò tươi và sữa đặc có đường 11

Bảng 3.3 Đặc tính mẫu của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.4 Đặc điểm về quá trình mang thai, sinh con và đặc tính của trẻ 41

Bảng 3.5 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ 43

Bảng 3.6 Tình hình thực hành cho bé bú đúng 43

Bảng 3.7 Tình hình thực hành NCBM hoàn toàn trong tuần đầu sau sinh 44

Bảng 3.8 Tình hình thực hành cho bé ăn bổ sung trong 6 tháng đầu 45

Bảng 3.9 Tình hình thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu 46

Bảng 3.10 Kiến thức của bà mẹ về định nghĩa NCBSM hoàn toàn 47

Bảng 3.11 Kiến thức của bà mẹ về bú sớm sau sinh 47

Bảng 3.12 Kiến thức của bà mẹ về lợi ích của việc bú sớm sau sinh 48

Bảng 3.13 Kiến thức của bà mẹ về thời gian NCBSM hoàn toàn 48

Bảng 3.14 Kiến thức của mẹ về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu 49

Bảng 3.15 Nguồn thông tin và thông tin về NCBSM hoàn toàn 50

Bảng 3.16 Thái độ của bà mẹ trong lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ 51 Bảng 3.17 Thái độ trong lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ chung 52

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa NCBSM hoàn toàn với đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu 53

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa NCBSM hoàn toàn với kiến thức NCBSM hoàn toàn 56

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa NCBSM hoàn toàn với thái độ lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ 56

Bảng 3.21 Các yếu tố liên quan đến tình hình NCBSM hoàn toàn bằng mô hình hồi quy đa biến tổng quát 57

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ1.1 Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu trên thế giới 14Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn và bú sớm sau sinh ở các quốc gia Asean

… ………… ……… ….15Biểu đồ 3.3 Tình hình thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu chung

……… 41Biểu đồ3.4 Kiến thức chung của bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

… ……… 44

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cơ chế phản xạ tiết sữa (Phản xạ Prolactin)………… ………….12Hình 1.2 Cơ chế phản xạ phun sữa (Phản xạ Oxytoxin)……… 12

Trang 10

kỷ mà Chính phủ Việt Nam đã ký cam kết thực hiện [37] [36] Theo Tổ chức

Y tế thế giới, nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là một phương pháp can thiệphiệu quả nhằm giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, bảo vệ trẻ khỏi các bệnh lây nhiễm,cung cấp nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho trẻ và tiết kiệm kinh tế gia đình [5][91] Nhiều nghiên cứu cho thấy,tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn đạt90% sẽ phòng ngừa từ 13-15%tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở những quốc gia

có thu nhập thấp và trung bình [60], việc trẻ không được bú sữa mẹ hoàn toàntrong sáu tháng đầu dẫn đến hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giớimỗi năm Cho con bú sữa mẹ trong ngày đầu tiên giảm được 16% tử vong sơsinh và tỷ lệ này tăng lên 22% nếu trẻ được bú mẹ trong vòng 24 giờ đầu sausinh [50]

Sáu tháng đầu là thời gian rất quan trọng để trẻ thích nghi dần với cuộcsống ngoài bụng mẹ, đây là giai đoạn mà nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sữa

mẹ là thức ăn lý tưởng nhất cho trẻ Mặc dù hiện nay Bộ y tế khuyến cáo các

bà mẹ cần nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu và quyếtđịnh phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 vàtầm nhìn đến năm 2030 đã ghi rõ chỉ tiêu: tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6tháng đầu đạt 27% vào năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020 [4], nhưng trênthực tế tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ở nước ta rất thấp và hơnthế nữa lại giảm theo từng năm Tỷ lệ này được ước tính là 17% theo báo cáocủa Tổng cục thống kê năm 2011 [17], 11% theo báo cáo năm 2012 [34] vàchỉ còn 8% năm 2013 [35]

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn không đơn giản là hành vi sức khỏe màcòn chịu nhiều tác động của yếu tố văn hóa- xã hội của từng địa phương, một

Trang 11

trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng chính là những chuẩn mực cho trẻ

ăn dặm sớm, uống thêm các loại dung dịch khác ngoài sữa mẹ như sữa bột,nước, nước trái cây [1]…Sự khác biệt này càng được thể hiện rõ ở hai vùngnông thôn và thành thị, trong khi những bà mẹ sống tại thành thị có xu hướngcho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh nhiều hơn những bà mẹ sốngtại vùng nông thôn, thì khoảng thời gian trẻ được bú mẹ hoàn toàn hoàn toàn

ở nông thôn lại kéo dài hơn so với thành thị (trung bình cho trẻ trai là 97 và

81 ngày, cho trẻ gái là 102 và 91 ngày) [80] Tại Thành phố Cần Thơ đã cónghiên cứu về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại quận nội thành vào năm

2014, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ cho thấy được tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ

là 77,7% [14] nhưng chưa khảo sát tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu, bên cạnh đó, những khảo sát cho thấy được tỷ lệ nuôi conbằng sữa mẹ hoàn toàn của toàn thành phố dao động từ 0% năm 2012 đến 8%năm 2013, tuy nhiên đa phần những khảo sát này lại được lồng ghép trong cáckhảo sát chung về tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi chứ chưa tậptrung nhiều về hành vi nuôi con bằng sữa mẹ và những yếu tố liên quan trong

6 tháng đầu tại những vùng kinh tế cụ thể, do đó việc tiến hành nghiên cứu vềtình hình nuôi con bằng sữa mẹ nhằm khảo sát tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn và những yếu tố liên quan tại huyện ngoại thành tại Thành phố CầnThơ là điều cần thiết

Huyện Cờ Đỏ, là huyện ngoại thành phía Tây của Thành phố Cần Thơ,

cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện còn nhiều hạn chế, là vùng sản xuất nôngnghiệp trọng điểm với diện tích đất sản xuất chiếm 77,3% diện tích tự nhiên

và có tỷ lệ người dân tộc Khmer khá cao trên toàn thành phố (7,06%) [2] Với

sự khác biệt về điều kiện kinh tế, cơ sở hạ tầng, văn hóa- xã hội so với nhữngquận nội thành và đến nay chưa có số liệu cụ thể nào cho thấy tỷ lệ nuôi conbằng sữa mẹ hoàn toàn trên toàn địa bàn huyện,chính vì thế chúng tôi thựchiện nghiên cứu này nhằm khảo sát tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn vànhững yếu tố liên quan đến tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6

Trang 12

tháng đầu tại huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ, từ đó có những can thiệphiệu quả để góp phần đạt chỉ tiêu về chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giaiđoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Câu hỏi nghiên cứu:

Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là bao nhiêu và những yếu tố nàoliên quan đến tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ởnhững bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tại huyện Cờ Đỏ, Thành Phố Cần Thơnăm 2017?

Mục tiêu tổng quát:

Xác định tỷ lệ bà mẹ có thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàntoàn và những yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàntoàn trong 6 tháng đầu của những bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tại huyện

Cờ Đỏ, Thành Phố Cần Thơ năm 2017

Mục tiêu cụ thể:

1 Xác định tỷ lệ thực hành đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu (thực hành NCBSM, thực hành cho bé bú đúng,NCBSM trong tuần đầu, ăn bổ sung trong 6 tháng đầu) tại huyện Cờ

Đỏ, Thành Phố Cần Thơ năm 2017

2 Xác định tỷ lệ kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn,thái độ trong việc lựa chọn phương pháp nuôi dưỡng trẻ trong 6tháng đầu tại huyện Cờ Đỏ, Thành Phố Cần Thơ năm 2017

3 Xác định mối liên quan giữa tỷ lệ thực hành nuôi con bằng sữa mẹhoàn toàn với các yếu tố đặc tính nền, kiến thức đúng về nuôi conbằng sữa mẹ hoàn toàn và thái độ trong việc lựa chọn phương phápnuôi dưỡng trẻ

Trang 13

DÀN Ý NGHIÊN CỨU

Thực hành NCBSM hoàn toàn

- NCBSM trong 6 tháng đầu

- Thực hành cho bé bú đúng

- NCBSM hoàn toàn trong tuần đầu

- Ăn bổ sung trong 6 tháng đầu

Những nguồn thông tin

- Kinh nghiệm từ xung quanh,làng xóm

- Internet, báo, đài,…

- Kiểu gia đình

Thái độ

Thái độ trong lựa chọnphương pháp nuôi dưỡngtrẻ

Kiến thức về NCBSM hoàn toàn

- Lợi ích của bú sớm sau sinh

- Thời gian bú sớm sau sinh

- Thời gian NCBSM hoàn toàn

- Khái niệm về NCBSM hoàn toàn

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) hoàn toàn trong 6 tháng đầu

1.1.1 Một số khái niệm về NCBSM hoàn toàn

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: là nuôi con bằng sữa mẹ, không chotrẻ dùng thêm bất cứ một đồ ăn hoặc thức uống khác ngoài sữa mẹ (trừ thuốc

và vitamin hoặc những giọt nước khoáng, sữa mẹ đã được vắt ra) [90]

Sữa non: Có từ tháng thứ tư của bào thai và tiếp tục 6 ngày sau sinh,sữa non màu vàng nhạt, đặc, nhiều protein, ít lactose và chất béo, so với sữavĩnh viễn Sữa non phải là thức ăn đầu tiên của trẻ sơ sinh, bởi vì các thànhphần phù hợp với nhu cầu ban đầu của trẻ [7]

Bú sớm sau sinh:Theo khuyến cáo của UNICEF cho trẻ bú 30 phút đến

1 giờ ngay sau khi sinh sẽ đảm bảo cho trẻ phát triển tốt về thể chất lẫn tinhthần, hạn chế được những bệnh nguy hiểm như suy dinh dưỡng, các bệnh vềđường tiêu hóa và hô hấp cho trẻ [3]

Sữa công thức (sữa bột): được chế biến từ nhiều sản phẩm khác nhau,bao gồm: sữa động vật, đậu nành và dầu thực vật Mặc dù các loại sữa này đãđược điều chỉnh, chế biến để cho giống sữa mẹ, nhưng vẫn còn thấp hơnnhiều so với nhu cầu của trẻ nhỏ [62]

Thức ăn bổ sung (thức ăn dặm): được WHO định nghĩa là những thựcphẩm hoặc chất lỏng khác với sữa mẹ Điều này có nghĩa là sữa công thứccũng được xem như là một trong những loại thức ăn bổ sung, tuy nhiên, hiệnnay vì nhiều trẻ nhận được chất thay thế này từ những tuần đầu đời, một sốtác giả khác đã gợi ý rằng thuật ngữ thức ăn bổ sung bổ sung nên được ápdụng cho thực phẩm và chất lỏng khác với sữa mẹ hoặc sữa bột cho trẻ sơsinh [62]

Trang 15

1.1.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

1.1.2.1 Thành phần và các chất dinh dưỡng trong sữa mẹ

Sữa mẹ là nguồn thức ăn lý tưởng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [89] Sữa

mẹ cung cấp những chất dinh dưỡng tốt nhất, bảo vệ miễn dịch và điều hoà sựphát triển, sự phát triển và sự trao đổi chất cho cơ thể [51] IgA là kháng thểvượt trội trong sữa mẹ, kháng thể này được tiết ra để tạo nên sự bảo vệ miễndịch cho đường tiêu hóa bằng cách ức chế sự xâm nhập vào đường tiêu hóacủa các mầm bệnh [42]

Lợi khuẩn ở ruột có được từ bú mẹ sẽ bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi vi khuẩngây bệnh và cũng góp phần giảm tỷ lệ đái tháo đường, hen suyễn và béo phì ởtrẻ em [58] Những vi khuẩn có lợi của đường tiêu hóa có trong sữa mẹ sẽcung cấp những chất bảo vệ hệ miễn dịch và các chất dinh dưỡng bằng việctổng hợp những vi chất dinh dưỡng thiết yếu như vitamin B12, B6, folate vàvitamin K [61] Lactoferrin có trong sữa mẹ giúp hấp thụ sắt, cung cấp mộtlượng đáng kể các axit amin tiêu hóa và cung cấp sự bảo vệ miễn dịch bằngcách thúc đẩy sự tăng trưởng biểu mô hạn chế sự tiếp cận của vi khuẩn đốivới sắt [43] [72]

Sữa mẹ còn có chứa hormon, neuropeptide và các yếu tố tăng trưởng cóthể ảnh hưởng đến sự tăng trưởng, phát triển và tự điều chỉnh việc hấp thụthức ăn, góp phần làm nên sự khác biệt giữa trẻ bú mẹ và trẻ bú sữa bột [77].Leptin ức chế sự thèm ăn, và leptin huyết thanh ở trẻ sơ sinh có mối tươngquan dương tính với nồng độ huyết thanh của mẹ Ghrelin có tác dụng kíchthích sự thèm ăn được tìm thấy trong sữa mẹ có nồng độ cao trong foremilk(sữa đầu cữ- khi trẻ ngậm núm vú và bú những giọt đầu tiên ở mỗi lần bú)hơn trong hindmilk (sữa cuối cữ hay còn gọi là sữa sau- xuất hiện khi trẻ sắp

bú no, sữa này thường béo hơn và nhiều dinh dưỡng hơn sữa đầu) [63] Sựkhác biệt nồng độ này cũng có thể góp phần vào sự tự điều chỉnh tốt hơnlượng sữa trẻ bú mẹ so với bú sữa công thức, do đó đây là một lời giải thíchhợp lý cho hiệu ứng hành vi rỗng chai được quan sát thấy ở trẻ bú bình [68]

Trang 16

Ngoài những kháng thể, hormon thì sữa mẹ có chứa 3%- 5% chất béo;0,8%- 0,9% protein; 6,9%- 7,2% carbohydrate dưới dạng đường sữa và 0,2%chất khoáng Năng lượng trong 100ml sữa mẹ là 60-75 kcal [59] Nồng độthành phần các chất trong sữa mẹ, đặc biệt là chất béo có sự thay đổi khácnhau trong ngày phụ thuộc vào thói quen ăn uống, mô hình và tần suất chocon bú của các bà mẹ ở những xã hội khác nhau, để thu thập được đầy đủ cácchất có trong sữa mẹ ở các nhóm bà mẹ, đặc biệt là những người có hành vicho con bú khác nhau thì nên thu thập mẫu sữa trong suốt 24 giờ để cóđượcnồng độ trung bình chính xác [75] Trong 100ml sữa mẹ có tương đương 0,9-1,2 gram protein; 3,3- 3,6 gram chất béo và 6,7- 7,8 gram lactose [41] Khi sosánh thành phần của sữa non và sữa trưởng thành, cho thấy rằng hàm lượngprotein ở sữa non cao hơn rõ rệt tuy nhiên hàm lượng carbohydrate trong sữanon thấp hơn so với sữa trưởng thành Hàm lượng chất béo không thay đổiliên tục trong suốt khoảng thời gian tiết sữa Chủng tộc, độ tuổi hoặc chế độ

ăn uống không ảnh hưởng nhiều đến thành phần sữa và không có sự khác biệt

về thành phần sữa từ hai vú trừ trường hợp bà mẹ bi mắc bệnh [59]

1.1.2.2 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với sự phát triển của bé

a Tác dụng ngắn hạn

Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sữa mẹ có những tác dụng ngắnhạn hay còn gọi là lợi ích tức thì đối với trẻ nhỏ đó là giảm tỷ lệ tàn tật và tửvong do những bệnh nhiễm trùng mang lại và những lợi ích này được ghinhận ở những quốc gia có thu nhập thấp, thu nhập trung bình và ở cả nhữngquốc gia có thu nhập cao Một nghiên cứu hệ thống của Tổ chức Y tế thế giới(WHO) do Bernardo L Horta và cộng sự thực hiện thực hiện nhằm phân tíchlợi ích của việc NCBSM đặc biệt là những lợi ích ngắn hạn tức thì mà hành viNCBSM mang lại đối với sức khỏe của trẻ sơ sinh ở những bệnh nhiễm trùngnhư tiêu chảy và nhiễm trùng đường hô hấp [56]

- NCBSM là yếu tố bảo vệ trẻ không bị mắc bệnh tiêu chảy, ngoài raNCBSM còn có lợi ích làm giảm tình trạng nguy hiểm của bệnh tiêu chảy,

Trang 17

cụ thể là ở những trẻ bú mẹ thì nguy cơ nhập viện vì tiêu chảy sẽ giảm 72%

và nguy cơ tử vong giảm 75% so với những trẻ không được bú mẹ [56]

- Sữa mẹ cũng có tác động bảo vệ đối với bệnh nhiễm trùng đường hôhấp, NCBSM cũng làm giảm nguy cơ nhập viện với RR= 0,43; KTC 95%(0,33- 0,55) và nguy cơ tử vong với RR= 0,30; KTC 95% (0,16- 0,56) [56].Một nghiên cứu đoàn hệ khác được thực hiện trên 7893 bà mẹ của nhữngtrẻ sơ sinh từ tháng 4/2002 đến tháng 1/2006 của tại thành phố Rotterdam,Netherlands cũng theo dõi về việc bú mẹ kéo dài và bú mẹ hoàn toàn có làmgiảm nguy cơ bệnh nhiễm trùng ở trẻ nhỏ hay không, cho thấy rằng trẻ bú mẹhoàn toàn đến tháng thứ 6 có khuynh hướng bảo vệ trẻ tránh mắc phải nhữngbệnh về đường tiêu hóa và hô hấp tốt hơn những trẻ bú mẹ hoàn toàn đếntháng thứ 4 [48] Nghiên cứu khác về mối liên quan giữa nuôi con bằng sữa

mẹ đến hệ tim mạch của trẻ trong những năm tháng thời thơ ấu do Annemieke

MV Evelein và các cộng sự thưc hiện trên 306 trẻ 5 tuổi tại Netherlandschothấy rằng khoảng thời gian bú mẹ hoàn toàn sau sinh có mối liên quan đến độdày, sự co dãn và đàn hồi của thành động mạch cảnh vào năm 5 tuổi, cụ thể lànhững trẻ được bú mẹ hoàn toàn từ 3 đến 6 tháng tuổi có độ dày thành độngmạch cảnh là 21,1µm dày hơn nhiều so với những trẻ sử dụng những thức ănkhác với p= 0,01; KTC 95% (5,0- 37,2µm) [49]

Một nghiên cứu phân tích hệ thống thực hiện vào năm 2015 cho thấy sữa

mẹ là yếu tố bảo vệ cho bệnh suyễn từ 5-18 năm Có bằng chứng yếu hơn vềtác dụng bảo vệ khỏi bệnh chàm ≤ 2 năm và viêm mũi dị ứng ≤ 5 năm [64]

b Tác dụng dài hạnSữa mẹ có tác dụng làm giảm tình trạng béo phì ở trẻ em, cụ thể lànhững trẻ được bú mẹ kéo dài đến trên 7 tháng thì ít có xu hướng bị béo phìhơn trong những năm tháng tuổi thơ với OR= 0,78 và KTC 95% (0,74-0,81)[92] NCBSM có mối lên quan đến thành tích học tập cũng như là mức độthông minh của đứa trẻ, nghiên cứu này cho thấy rằng việc thể hiện ở bài thikiểm tra sự thông minh thì những đứa trẻ có bú mẹ thể hiện tốt hơn nhưng

Trang 18

đứa trẻ không được bú mẹ 4,9 lần với KTC 95% (2,97- 6,92) Ngoài ra thìvẫn còn đang nghi ngờ về lợi ích của sữa mẹ trên bệnh cao huyết áp và đáitháo đường, nhưng vẫn còn cần nhiều bằng chứng hơn để khẳng định điều này[55].

1.1.2.3 Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ đối với sức khỏe của mẹ

Phân tích tổng hợp cho thấy rằng những người phụ nữ đã từng cho con

bú và cho con bú trong khoảng thời gian kéo dài có nguy cơ ung thư vú, ungthư buồng trứng và kể cả đái tháo đường type 2 thấp hơn Những bà mẹ cho

bé bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu góp phần kéo dài khoảng thời gian vôkinh sau sinh, có tác dụng ngừa thai Thời gian bú mẹ càng ngắn có khả nănggia tăng nguy cơ trâm cảm sau sinh, tuy nhiên vẫn chưa tìm ra được bằngchứng cho thấy rằng nuôi con bằng sữa mẹ có mối liên quan giảm cân sausinh ở các bà mẹ [46]

1.1.3 Sự khác nhau giữa các loại sữa [33]

1.1.3.1 Đặc điểm của các loại sữa mẹ

- Sữa non: Là loại sữa mẹ đặc biệt, được tiết ra trong 3 ngày đầu sau đẻ,

sữa non sánh đặc, có màu vàng nhạt hoặc trong Sữa non chứa nhiều đạmhơn sữa trưởng thành Sữa non đã có sẵn trong vú mẹ ngay khi trẻ sinh ra,sau khoảng 3- 4 ngày sữa non sẽ chuyển thành sữa trưởng thành Trẻ được

bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là rất quan trọng, đặc biệt trongvòng 1 giờ đầu sau sinh, không nên cho trẻ bất cứ thức ăn, nước uống nàotrước khi trẻ bắt đầu bú mẹ Hiện tượng lượng sữa xuống nhiều hơn, làm 2bầu vú bà mẹ đầy, căng cứng được gọi là “sự xuống sữa”

- Sữa đầu bữa: Là sữa được tiết ra đầu bữa bú của trẻ, sữa đầu bữa có

màu hơi xanh, số lượng nhiều và cung cấp nhiều đạm, đường, nước và cácchất dinh dưỡng khác, trẻ dưới 6 tháng tuổi chỉ cần bú mẹ là đủ, không cầnuống thêm nước, ngay cả khi thời tiết nóng, nếu cho trẻ uống nước thì trẻ sẽ

có nguy cơ giảm bú mẹ

Trang 19

- Sữa cuối bữa: Là sữa được tiết ra cuối bữa bú của trẻ, sữa cuối bữa có

màu trắng vì chứa nhiều chất béo hơn sữa đầu bữa, chất béo cung cấp nhiềunăng lượng cho trẻ giúp trẻ lớn nhanh hơn, vì vậy điều quan trọng là cần đểtrẻ bú đến hết sữa cuối, không để trẻ nhả vú sớm hay mẹ chuyển bên sớm quá

- Đáp ứng nhu cầu năng lượng từ sữa mẹ: Trong 6 tháng đầu sau đẻ, bú

mẹ hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng và nước cho trẻ Từ 6 thángtuổi, sữa mẹ không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ, cụ thể: từ 6-

12 tháng tuổi sữa mẹ cung cấp 70% nhu cầu năng lượng và từ 1-2 tuổi sữa

mẹ cung cấp 30-40% nhu cầu năng lượng Vì vậy, tất cả trẻ từ 6 tháng tuổingoài sữa mẹ đều cần được ăn bổ sung Tuy nhiên, sữa mẹ vẫn là một nguồnnăng lượng quan trọng và cung cấp các chất dinh dưỡng có chất lượng caocho trẻ trên 6 tháng tuổi nên cần duy trì tới khi có thức ăn thay thế đầy đủsữa mẹ

Bảng 1.1 Đặc tính và tầm quan trọng của sữa non

- Giàu kháng thể - Giúp phòng chống dị ứng và nhiễm khuẩn

- Nhiều tế bào bạch cầu - Giúp phòng chống nhiễm khuẩn

- Có tác dụng xổ nhẹ - Đào thải phân su

- Giảm mức độ vàng da

- Nhiều yếu tố tăngtrưởng giúp cho đườngruột của trẻ hoàn thiệnsau sinh

- Giúp cho ruột trưởng thành

- Phòng chống dị ứng, không dung nạpthức ăn khác

- Giàu vitamin A - Giảm mức độ nặng khi nhiễm khuẩn

Trang 20

1.1.3.2 So sánh sữa mẹ với một số loại sữa khác:

Bảng 1.2 Đặc điểm của sữa mẹ, sữa bò tươi và sữa đặc có đường

Nhiễm vi

Kháng thể Có Không có hoặc ít có Không có

Yếu tố phát

Có nhưng rất ít phùhợp

Dễ tiêu hóa

Quá nhiềuKhó tiêu hóa Một phần quá ít

Chất béo

Đủ axit béocần thiết

Có men lipaza

Không đủ các axitbéo cần thiếtKhông có men lipaza

Không đủ các axit béocần thiết

Không có men lipaza

Sắt Số lượng ít,

Hấp thu tốt

Số lượng ít, hấp thukhông tốt

Cho thêm, hấp thukhông tốt

Vitamin Số lượng ít,

Hấp thu tốt

Có thể đủ vitaminA& C nhưng hấp thukém

Cho thêm

1.1.4 Thực hành bú đúng cách

Phản xạ tiết sữa (phản xạ Prolactin): Khi trẻ mút vú sẽ kích thích bài

tiết Prolactin đi vào máu đến vú và làm cho vú sản xuất sữa Phần lớnProlactin ở trong máu khoảng 30 phút sau bữa bú, chính vì thế nó giúp cho vútạo sữa cho bữa bú tiếp theo Điều này cho thấy rằng nếu trẻ bú nhiều thì vú

mẹ sẽ tạo nhiều sữa Prolactin được sản xuất nhiều vào ban đêm và điều nàyrất có ích để duy trì sự tạo sữa

Trang 21

Hình 1.1 Cơ chế phản xạ tiết sữa (phản xạ Prolactin) Phản xạ phun sữa (Phản xạ Oxytoxin): Khi trẻ mút vú sẽ kích thích bài

tiết oxytoxin, chất này đi vào máu đến vú và làm cho các tế bào cơ xungquanh nang sữa co lại đẩy sữa ra ngoài Nếu phản xạ Oxytoxin không làmviệc tốt thì trẻ sẽ gặp khó khăn trong việc nhận sữa, mặc dù vú vẫn sản xuấtsữa nhưng lại không tống sữa ra được Phản xạ Oxytoxin dễ dàng bị ảnhhưởng bởi ý nghĩ của bà mẹ, khi bà mẹ có những thái độ tích cực như hài lòngvới con mình, gần gũi, yêu thương con, luôn tin tưởng vào việc nuôi con bằngsữa mẹ thì sẽ hỗ trợ tốt cho phản xạ Oxytoxin

Hình 1.2 Cơ chế phản xạ phun sữa (Phản xạ Oxytoxin)

Trang 22

Ức chế tiết sữa: Trong sữa mẹ có một yếu tố phụ được gọi là chất ức

chế tạo sữa, khi một lượng sữa lớn đọng trong vú, chất ức chế sẽ tiết ra làmcho vú ngừng tạo sữa Vì vậy muốn vú tạo nhiều sữa thì phải tạo cho vú luônrỗng bằng cách cho trẻ bú thường xuyên hoặc vắt sữa ra

1.1.5 Khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới về NCBSM hoàn toàn [88]

NCBSM là phương pháp cung cấp thức ăn lý tưởng cho sự tăng trưởng

và phát triển lành mạnh của trẻ sơ sinh, đây cũng là một hoạt động không thểtách rời trong quá trình sinh sản và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khoẻcủa bà mẹ Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng, bú mẹ hoàn toàn trong 6tháng đầu là phương pháp nuôi nuôi dưỡng tốt nhất cho trẻ sơ sinh, sau đó trẻ

sơ sinh cần được cung cấp thêm các loại thực ăn bổ sung và tiếp tục được búsữa mẹ từ 2 tuổi trở lên

Để giúp các bà mẹ thiết lập và duy trì việc cho NCBSM hoàn toàntrong 6 tháng đầu đời, WHO và UNICEF đưa ra khuyến cáo rằng:

- Bắt đầu cho bú sữa mẹ trong giờ đầu tiên của cuộc đời

- Bú mẹ hoàn toàn : đó là trẻ sơ sinh chỉ nhận được sữa mẹ mà không cóbất kỳ thức ăn hoặc thức uống bổ sung, thậm chí không nước lọc

- Nuôi con bằng sữa mẹ theo nhu cầu- thường là khi trẻ muốn, cả ngàylẫn đêm và không ép trẻ

- Không sử dụng bình sữa hoặc núm vú giả

1.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

1.2.1 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trên thế giớiNCBSM có vai trò quan trọng trong việc cải thiện cuộc sống sức khỏecũng như sự phát triển của trẻ em đặc biệt ở những quốc gia có thu nhập thấp

và trung bình,phân tích tổng hợp trong nghiên cứu này cho thấy sữa mẹ cókhả năng bảo vệ chống lại nhiễm trùng ở trẻ em, tăng trí thông minh và giảmthừa cân và tiểu đường Đối với phụ nữ sau sinh, cho con bú sữa mẹ bảo vệchống ung thư vú và nó cũng có thể bảo vệ chống lại ung thư buồng trứng vàbệnh đái tháo đường type 2 Việc tăng tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn có thể

Trang 23

ngăn ngừa 823.000 ca tử vong hàng năm ở trẻ em dưới 5 tuổi và 20.000 ngườichết hàng năm do ung thư vú Các phát hiện dịch tễ trong những thập kỷ gần

đã cho thấy được lợi ích của việc cho con bú sữa mẹ cho trẻ em và bà mẹ ở cảnhững quốc gia có thu nhập cao và thấp [86]

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu trên thế giới [54]

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm khảo sát tỷ lệNCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tại Kenya, một địa phương có 68% trẻdưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn tại thời điểm nghiên cứu, 87% trẻđược bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, 96% trẻ được bú trong vòng 3ngày đầu sau sinh, 16% trẻ nhận thêm chất lỏng khác trong vòng 3 ngày đầusau sinh như nước uống, đường, nước muối, sữa bột, trong đó nước muối làphổ biến nhất Có 34% bà mẹ tin rằng bú mẹ hoàn toàn khiến trẻ nhanh đói và20% cho rằng trẻ sẽ nhẹ cân hơn so với trẻ không bú mẹ hoàn toàn Đây cóthể là một trong những yếu tố liên quan đáng kể đến quyết định ngừng chocon bú của các bà mẹ Kenya [52]

Ở Ấn Độ, chỉ có 27% bà mẹ NCBSM hoàn toàn, kiến thức của bà mẹrất tốt có 85,2% biết về NCBSM, phần lớn nói rằng sữa mẹ là thức ăn lýtưởng cho trẻ sơ sinh (89,3%), dễ tiêu hóa (83,6%) và giúp trẻ khỏe mạnh hơnsữa bột (82,3%) Mặc dù có kiến thức đúng khá cao nhưng tỷ lệ thực hành lại

Trang 24

thấp, do phần lớn trẻ được cho ăn bổ sung sớm từ 4-6 tháng, với lý do được

họ đưa ra là chỉ bú sữa mẹ là không đủ cho đứa trẻ đang cần phát triển [87].Chính những quan niệm sai lầm như vậy đã ảnh hưởng đến thực hành, do vậyviệc truyền thông nâng cao kiến thức cho người dân nhằm xóa bỏ những quanniệm không đúng là rất cần thiết để cải thiện tỷ lệ thực hành NCBSM hoàntoàn

Ở Nepal, tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ là 91%, trong đó trẻ được bú mẹhoàn toàn trong 6 tháng là 9%, dù tỷ lệ trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sausinh là 57% Theo các bà mẹ, lý do chính họ cho trẻ ăn dặm sớm là do thiếusữa Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiếnthức về NCBSM hoàn toàn với tỷ lệ thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6tháng đầu Ngoài ra có gần 75%bà mẹ cho biết họ không nhận được bất cứthông tin nào về NCBSM trong những lần đến khám thai [84]

Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn và bú sớm sau sinh ở các quốc gia Asean

NCBSM hoàn toàn không phổ biến ở các nước thành viên Asean, mặc

dù tại Campuchia tỷ lệ NCBSM hoàn toàn khá cao đạt 65% NCBSM hoàntoàn ở các nước khác thấp hơn nhiều, tỷ lệ ghi nhận được chỉ 12% ở Thái Lanvào năm 2012 và 15% vào năm 2006 tại Malaysia Mặt khác, qua biểu đồ ta

Trang 25

có thể thấy được việc bắt đầu cho bú sữa mẹ sớm đã tăng lên đáng kể ở nhiềuquốc gia, như Brunei, Myanmar và Campuchia [39].

1.2.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn tại Việt NamTại Việt Nam, hơn ba phần tư bà mẹ biết trẻ cần được cho bú ngaytrong 1 giờ đầu sau sinh; 74,4% biết cần cho trẻ bú sữa non và 52,2% biết cầncho trẻ bú đến 24 tháng tuổi Trong khi 52,2% bà mẹ biết là rất tốt nếu cho trẻdưới 6 tháng tuổi chỉ bú mẹ nhưng tỷ lệ NCBSM hoàn toàn là thấp thậm chí

có những địa phương tỷ lệ này chưa tới 1% [1]

Theo điều tra ban đầu tại 11 tỉnh về thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh

và trẻ nhỏ, phần lớn bà mẹ (97%) cho con bú nhưng chỉ có 55% trong số họcho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh Bú sớm 1 giờ đầu sau sinhtheo báo cáo là 50,5% Theo kết quả điều tra dinh dưỡng quốc gia năm 2009thì tỷ lệ trẻ dưới 4 tháng bú mẹ hoàn toàn thấp hơn mục tiêu quốc gia năm

2001 – 2010 Tỷ lệ này giảm từ 31,1% năm 1998 xuống 29,3% năm 2009 Tỷ

lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ cũng đã suy giảm nhanh chóng, từ năm34% năm 1998 xuống còn 19,6% năm 2010 NCBSM hoàn toàn và NCBSM

là chủ yếu đều giảm dần trong 6 tháng đầu; tỷ lệ NCBSM hoàn toàn là 41,1%

ở trẻ 1 tháng tuổi giảm xuống còn 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi [1] Một nghiên cứuphân tích những dữ liệu có sẵn tại Việt Nam với mục đích tìm ra những ràocản trong việc thực hành dinh dưỡng đúng cho trẻ suy dinh dưỡng và trẻ nhỏcho kết quả tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng chỉ là 8– 17% [71]

Kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Tuyên nghiên cứu trên 160 bà mẹ cócon dưới 24 tháng tuổi tại xã Kong Yang, huyện Kong Chro, tỉnh Gia Lai

2016 cho thấy có 4% bà mẹ có thực hành đúng về NCBSM hoàn toàn; 18%

bà mẹ có kiến thức đúng về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu, trong đó có46% bà mẹ có kiến thức đúng về cho con bú sớm trong vòng 1 giờ đầu và51% bà mẹ trả lời đúng là 6 tháng đầu [22] Nghiên cứu cho thấy được kiếnthức cũng như thực hành của bà mẹ về NCBSM hoàn toàn, tuy nhiên cỡ mẫu

Trang 26

nghiên cứu nhỏ làm giảm độ tin cậy của số liệu, để tìm chính xác hơn các mốiliên quan và tăng tính tin cậy của kết quả thì cần cỡ mẫu nhiều hơn.

Theo nghiên cứu của Lê Lan Hương nghiên cứu trên 333 bà mẹ có condưới 24 tháng tuổi tại Dĩ An, Bình Dương về kiến thức, thái độ, hành viNCBSM năm 2011, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành đúng là rất thấp chỉchiếm 27% và 33% [11] Một nghiên cứu khác thực hiện trên 230 bà mẹ cócon dưới 24 tháng tuổi tại trạm y tế phường Bình Trưng Tây quận 2,TP.HCM, năm 2011 về kiến thức và thực hành về NCBSM hoàn toàn chothấy tỷ lệ kiến thức đúng về NCBSM hoàn toàn về sữa non và bú sớm sausinh chiếm 55,7%, kiến thức đúng về thời gian cho bé bú mẹ hoàn toàn trong

6 tháng đầu là 34,3% và về lợi ích của sữa mẹ chiếm 47,8% Tỷ lệ bà mẹ cho

bé bú mẹ hoàn toàn chỉ chiếm 14,6% [8] Nghiên cứu được thực hiện bằngphương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn cần có một khung mẫu chính xác,việc lựa chọn bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi để phỏng vấn về tình hìnhNCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể gây ra sai lệch nhớ lại vì khoảngthời gian tương đối dài, rút ngắn tuổi của bé sẽ làm giảm đi sai số nhớ lại làmtăng tính tin cậy của kết quả

Tác giả Tôn Thị Anh Tú nghiên cứu kiến thức- thái độ- thực hành vềnuôi NCBSM của các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng

I từ 1/12/2009 đến 30/4/2010, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức chung đúng vềNCBSM chiếm 43,34% Có 48,04% có kiến thức đúng về “Bú mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu” Trong đó 98,17% đã từng hoặc đang NCBSM, chỉ có45,74% không cho con uống gì khác trước lần bú mẹ đầu tiên, 44,68% cho béuống sữa khác, tỷ lệ trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là 18,02%, phầnlớn cho trẻ bú mẹ và bình 45,43% [29] Theo nghiên cứu của Đinh Thị HảiYến khảo sát trên 420 bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tại huyện Củ Chi chothấy có 98% bà mẹ NCBSM chỉ có 4% bà mẹ NCBSM hoàn toàn, chỉ có 2%

bà mẹ không cho bé bú với lý do chính là không có sữa và trẻ không chịu búhoặc không thích bú Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về khái niệm bú sớm sau

Trang 27

sinh là 46% và tỷ lệ hiểu đúng về khái niệm NCBSM hoàn toàn chỉ có 21%[38].

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội, khi hành vi con bú là mộtthách thức thì NCBSM hoàn toàn là một thách thức lớn hơn vì bà mẹ phải duytrì hành vi này ít nhất trong 6 tháng đầu mà không cho trẻ uống thêm bất cứthứ gì khác ngoài sữa mẹ Những yếu tố ảnh hưởng đến khoảng thời gian chocon bú được tìm thấy là:

 Nhóm yếu tố thuộc về nhân khẩu học ảnh hưởng đến thời gian chocon bú là tuổi, tình trạng hôn nhân, giáo dục, kinh tế, xã hội

 Những yếu tố về sinh học bao gồm: mẹ thiếu sữa, những vấn đề sứckhỏe của trẻ, mẹ bị béo phì những thức thách về mặt thể chất khi cho con bú

và phương pháp sinh con

 Những yếu tố về mặt xã hội là: mẹ đi làm xa, số giờ mẹ làm hằngtuần sự hỗ trợ của gia đình và nhân viên y tế

 Những yếu tố về mặt tâm lý bao gồm: dự định NCBSM, thíchNCBSM và sự tự tin cho con bú [79]

Ngoài ra còn có những nghiên cứu cho thấy được những yếu tố ảnhhưởng đến việcNCBSM hoàn toàn:

Nghiên cứu tại Trung Quốc khảo sát trên 2354 trẻ em dưới 24 thángtuổi ở 26 quận nông thôn nghèo thuộc 12 tỉnh miền Tây và miền Trung TrungQuốc cho thấy những bà mẹ khám thai từ 5 lần trở lên sẽ có tỷ lệ thực hànhcho con bú sớm cao gấp 3,48 lần so với những ba mẹ khám thai dưới 5 lần,với p <0,001 và ngoài ra thực hành cho bé bú sớm sau sinh bị ảnh hưởng bởiphương pháp sinh mổ của bà mẹ với OR= 0,53; p<0,001 hoặc nơi sinh bé(OR= 0,6; p = 0,014) Trong nghiên cứu này cũng tìm ra rằng, tỷ lệ bú mẹhoàn toàn ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi có mối liên quan có ý nghĩa thống kê vớinơi sinh bé (OR= 2,22; p<0,05) NCBSM không liên quan đến tuổi của mẹhoặc trình độ học vấn, dân tộc hoặc tài sản của gia đình [53] Đây là một

Trang 28

nghiên cứu cắt ngang chưa cho thấy được mối quan hệ nhân quả, thêm vào đóđịa điểm nghiên cứu là vùng nông thôn nghèo, có tỷ lệ dân tộc thiểu số khácao, do đó những kế quả thu được khó đại diện được cho dân số Trung Quốc.

Sự sẵn có của các loại sữa công thức trên thị trường cùng với việcquảng cáo của các công ty sữa cũng là một nhân tố quan trọng Nhiều nghiêncứu đã chỉ ra tác động của ngành công nghiệp sữa lên NCBSM Trong mộtnghiên cứu cắt ngang tại Mỹ trên 3895 bà mẹ về việc nhận được quà haythông tin quảng cáo tại bệnh viện cho kết quả quảng cáo sữa tại bệnh viện làyếu tố ảnh hưởng đến NCBSM Những bà mẹ nhận được quảng cáo này cókhoảng thời gian NCBSM ít hơn 10 tuần so với bà mẹ không nhận đượcquảng cáo [76]

Nghiên cứu trên 5615 bà mẹ người Canada có con từ 5-14 tháng tuổicho thấy những bà mẹ chọn sinh con ở nhà có tỷ lệ NCBSM hoàn toàn caogấp 5,3 lần những bà mẹ khác [40] Dữ liệu của nghiên cứu có thể đại diệncho dân số chung Canada, tuy nhiên sai số nhớ lại có thể được cải thiện khirút ngắn tháng tuổi của những đứa trẻ có bà mẹ tham gia nghiên cứu Trongmột nghiên cứu khác thực hiện trên 402 bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi tạivùng Kigoma thuộc Tây Tazania lại cho thấy rằng, những bà me sinh con tại

cơ sở y tế có tỷ số số chênh NCBSM hoàn toàn cao gấp 3 lần những bà mẹsinh con tại nới khác [73] Sự tương đồng về đặc tính nền của bà mẹ trongnghiên cứu giúp cho kết quả mang tính đại diện cho dân số Kigoma, tuy nhiêngiống với những nghiên cứu khác là sai số nhớ lại có thể xảy ra, thêm vào đósai lệch khi trả lời quá lên những câu hỏi về kiến thức sẽ kiến cho kết quả bịảnh hưởng, do đó một nghiên cứu đoàn hệ được tiến hành từ lúc trẻ mới sinh

là điều cần thiết thực hiện để tìm ra kết quả chính xác

Một nghiên cứu khác về tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại

1267 bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi tại những trung tâm chăm sóc sức khỏethuộc vùng Đông Bắc Iran cho thấy những yếu tố như trình độ học vấn của bà

mẹ, kiến thức về sữa mẹ và những lời đề nghị cho bé bú thêm sữa bột có ảnh

Trang 29

hưởng đến tỷ lệ NCBSM hoàn toàn với p< 0,05 [85] Nghiên cứu được tiếnhành trên quy mô rộng bằng phương pháp chọn mẫu cụm, kết quả có thể đạidiện cho dân số Iran, tuy nhiên sai số nhớ lại cũng có thể xảy ra làm ảnhhưởng đến kết quả nghiên cứu.

1.4 Thái độ của bà mẹ trong việc thực hành nuôi dưỡng trẻ

1.4.1 Sơ lược về thang đo Iowa Feeding Attitude Scale (IIFAS)Theo nghiên cứu của Losch, Dungy, Russell và Dusdieker (1995) đãchỉ ra rằng ý định của một người liên quan chặt chẽ đến hành vi thực tế của họ

và điều này có thể áp dụng trong việc thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh, Losch

và cộng sự cho rằng thái độ là một yếu tố tiên đoán tốt về phương pháp bà mẹchọn để nuôi dưỡng trẻ sơ sinh hơn là yếu tố nhân khẩu học vì thái độ là yếu

tố mà những chuyên gia chăm sóc sức khỏe có thể tác động được [65] Thang

đo Iowa Feeding Attitude Scale (IIFAS) được phát triển bởi De La Mora,Rusell, Dungy, Losch và Dusdieker (1999) [70] và được dùng để đo lườngthái độ của bà mẹ trong các phương pháp nuôi dưỡng trẻ, IIFAS bao gồmnhững nhận định của bà mẹ nhằm tìm ra thái độ hướng đến NCBSM hoặc búsữa bột Những bà mẹ trong nghiên cứu sẽ đánh giá xem họ đồng ý hay khôngđồng ý với những nhận định trong thang đo IIFAS bao gồm 17 câu với 5điểm mức độ khác nhau, từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toànđồng ý) Khoảng 50%các câu trong thang đo được diễn đạt hướng tới việc búsữa mẹ và phần còn lại hướng đến bú sữa công thức [70]

IIFAS đã được báo cáo đầy đủ về độ nhạy và đặc hiệu trong việc đolường thái độ thái độ của bà mẹ trong việc nuôi dưỡng trẻ tại nhiều quốc gia

và quần thể khác nhau bao gồm phụ nữ có thai, phụ nữ sau sinh, bà mẹ chocon bú bình, bà mẹ cho con bú sữa mẹ, phụ nữ mang thai có thu nhập thấp vànhững chuyên gia sức khỏe Lợi thế của công cụ tự báo cáo này là sự đơn giản

và dễ sử dụng của nó [57] Tại Tây Ban Nha, nghiên cứu đánh giá độ nhạy và

độ đặc hiệu của thang đo IIFAS vào năm 2016 trên 1354 phụ nữ có thai, chothấy IIFAS là một công cụ có tính giá trị và tính tin cậy trong việc đo lường

Trang 30

thái độ của bà mẹ khi cho con bú mẹ, với chỉ số cronbach alpha là 0,792 saukhi đã rút ngắn thang đo chỉ còn lại 9 nhận định [82] Một đánh giá khác vềthang đo trên 793 phụ nữ mang thai tại Canada vào năm 2014 cho thấy tínhnhất quán của những nhận định trong thang đo rất mạnh và chỉ số cronbachalpha >0,80 cho toàn bộ các câu hỏi [81], công cụ này có thể được sử dụng đểxác định các bà mẹ có xu hướng ít cho con bú sữa mẹ và từ đó sẽ có nhữngchiến lược nâng cao sức khỏe cho những đối tượng này Nghiên cứu khácđánh giá thang đo này tiến hành tại Singapore cho thấy thang đo IIFAS là mộtcông cụ đo lường tâm lý mà những nhà chăm sóc sức khỏe có thể sử dụng đểhiểu được thái độ và kiến thức nuôi dưỡng trẻ nhỏ tại những nhóm dân tộckhác nhau, từ đó có thể đưa ra những biện pháp can thiệp hiệu quả [69].Nghiên cứu thực hiện trên 30 mẫu nhằm đánh giá mức độ phù hợp của thang

đo trên đối tượng nghiên cứu là bà mẹ có con từ 6- 12 tháng tuổi tại huyện Cờ

Đỏ, Thành phố Cần Thơ cho thấy chỉ số cronbach alpha= 0,76

1.4.2 Những nghiên cứu về thái độ trong việc lựa chọn phương pháp nuôidưỡng trẻ ảnh hưởng đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ

Có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng điểm số IIFAS càng cao thì bà mẹcàng có thái độ tích cực cho trong việc nuôi con bằng sữa mẹ Nghiên cứutrên 200 bà mẹ người Trung Quốc sống tại đảo Perth của Úc và 1620 bà mẹsống tại Chengdu năm 2013 cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kêgiữa điểm số IIFAS với việc cho con bú sớm sau sinh và khoảng thời gian chocon bú mẹ hoàn toàn với OR= 3,85; KTC 95% (2,49-5,96); p< 0,001 vàOR=2,52; KTC 95% (1,87- 3,40); p<0,001 [47] Một nghiên cứu thực hiện tạiTây Úc năm 2015 nhằm tìm kiếm sự ảnh hưởng của thái độ bà mẹ khi chocon bú lên khoảng thời gian chocon bú mẹ trên 427 bà mẹ có con dưới 12tháng cho thấy, những đối tượng có điểm số IIFAS > 65 (thái độ tích cực chocon bú mẹ) sẽ có tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu và cho con búđến 12 tháng tuổi cao gấp 2 lần so với những đối tượng có điểm số IIFASthấp hơn Thời gian trung bình trẻ bú mẹ hoàn toàn ở những bà mẹ có điểm

Trang 31

IIFAS > 65 là 16 tuần (KTC 95% 13,5- 18,5) so với 5 tuần đối với nhữngngười có điểm <65 (KTC 95% 3,2- 6,8 và p<0,0001) Thời gian trung bìnhtrong việc cho bé bú sữa mẹ đến 12 tháng là gấp đôi ở những bà mẹ có điểmIIFAS> 65 (48 so với 22 tuần, p<0,001) [45] Một nghiên cứu khác nhằm sosánh mối liên quan giữa thái độ của bà mẹ khi cho con bú nơi công cộng vàkhoảng thời gian con được bú mẹ ở 4 quốc gia Châu Âu là Scotland, Sweden,Spain và Italy vào năm 2014 cho thấy những bà mẹ có thái độ tiêu cực đối vớiviệc cho con bú mẹ nơi công cộng là thì bé sẽ ít khả năng được bú mẹ nơicông cộng ORhc=0,05 và KTC 95% (0,02- 0,17), những bà mẹ chưa bao giờcho con bú mẹ nơi công cộng sẽ có xu hướng ngừng nuôi con bằng sữa mẹsớm hơn Nghiên cứu còn chỉ ra rằng những bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toànthì có điểm số IIFAS trung bình cao hơn đáng kể những bà mẹ không cho con

bú (64,4 và 61,1; p= 0,038) [78]

Tại Việt Nam hiện nay, có nghiên cứu áp dụng thang đo IIFAS trongviệc đánh giá mối liên quan giữa thái độ và sự tự tin của bà mẹ khi cho con búvới việc nuôi con bằng sữa mẹ, nghiên cứu được tiến hành trên 110 bà mẹ cócon từ 0-24 tháng tuổi tình nguyện tham gia nghiên cứu tại Thành Phố Hồ ChíMinh Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy điểm sốIIFAS dao động từ 1đến 5 điểm cho mỗi câu trả lời, điểm càng cao sẽ là thái độ càng tích cực của

bà mẹ hướng đến cho con bú mẹ Điểm số trung bình của thang đo IIFAS là3,45±1,56, điều này cho thấy phụ nữ có thái độ ủng hộ việc cho con bú mẹnhiều hơn là cho con bú sữa bột Có 3 nhận định được bà mẹ đồng ý có điểm

số cao nhất trong những câu về khuynh hướng tích cực cho con bú sữa mẹ:

"sữa mẹ là thức ăn lý tưởng cho trẻ sơ sinh", "nuôi con bằng sữa mẹ làm giatăng tình cảm giữa mẹ và con" và "sữa bột dễ tiêu hóa hơn sữa bột" Nghiêncứu này cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm

số trung bình IIFAS ở những bà mẹ trong trong gia đình 2 thế hệ và gia đìnhnhiều hơn 2 thế hệ với điểm số trung bình lần lượt là 3,46±1,58) và

Trang 32

3,45±1,55); p> 0,05 [67] Mối liên quan này chưa được tìm thấy có thể là do

cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ và đối tượng nghiên cứu là những người tình nguyện

1.5 Đặc điểm nơi nghiên cứu

Huyện Cờ Đỏ là huyện vùng ven và nằm về phía tây của Thành phốCần Thơ, thành phố loại I trực thuộc Trung ương và là thành phố trung tâmcủa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Phía Đông giáp huyện Thới Lai, phíaNam giáp huyện Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang), Bắc giáp quận Ô Môn vàquận Thốt Nốt, Tây giáp huyện Vĩnh Thạnh

Với lợi thế có đường giao thông thủy bộ thuận tiện như đường tỉnh lộ

921, 922 nối liền trung tâm huyện với quận Ô Môn và quận Thốt Nốt, Quốc

lộ 91; tuyến giao thông Bốn Tổng – Một Ngàn đi qua trung tâm huyện nốiliền Quốc lộ 80 với thị trấn Một Ngàn, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

là điều kiện thuận lợi cho việc gắn kết giao thương giữa địa phương với địabàn tỉnh Hậu Giang, huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh Kiên Giang Ngoài ra với hệthống sông ngòi chằng chịt, đều khắp, đặc biệt tuyến kinh Đứng và kinh xángThốt Nốt là hai tuyến giao thông đường thủy quan trọng tạo điều kiện hết sứcthuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa và phát triển công nghiệp, tiểu thủcông nghiệp, các loại hình dịch vụ, thương mại, nhất là các loại hình chế biến,tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đa dạng được sản xuất tại địa phương Vì vậysản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp không ngừng được mở rộng và giátrị ngày càng tăng cao, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng nghìnlao động [10]

Trang 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.2 Dân số nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước lượng 1 tỷ lệ:

Khoảng tin cậy: 95 % thì: Z1-œ/2= 1,96Sai số cho phép: d= 0,04

Tỷ lệ NCBSM hoàn toàn tại TP Cần Thơ năm 2014 là 8% [35]: p=0,08

 n=176,7 làm tròn 177 bà mẹPhương pháp chọn mẫu cụm xác suất theo tỷ lệ PPS với hệ số thiết kế k= 2

- Chọn 6 bà mẹ có con từ 6-12 tháng tuổi của từng ấp của huyện Cờ Đỏtheo phương pháp ngẫu nhiên đơn bằng bảng số ngẫu nhiên

Trang 34

2.5 Tiêu chí chọn mẫu

2.5.1 Tiêu chí nhận vào

- Bà mẹ con từ 6-12 tháng tuổi sinh sống tại huyện Cờ Đỏ

- Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

2.5.2 Tiêu chí loại ra

- Bà mẹ sinh sống tại địa phương ít hơn 12 tháng

- Bà mẹ không thể nghe và trả lời các câu hỏi nghiên cứu

- Bà mẹ bị những bệnh mà không thể cho con bú như nhiễm HIV, đangtrong quá trình điều trị ung thư bằng hóa trị hoặc xa trị

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Thu thập dữ kiện bằng phương pháp tới nhà phỏng vấn trực tiếp các bà

mẹ có con từ 6-12 tháng tại 60 cụm được chọn tại huyện Cờ Đỏ

2.7 Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bảng câu hỏi định lượng soạn sẵn cùng bản hướng dẫn trả lờiphỏng vấn Bản câu hỏi soạn sẵn gồm 4 phần gồm 49 câu hỏi

- Phần 1: Đặc tính nền của đối tượng nghiên cứu: 17 câu

- Chọn số ngẫu nhiên R≤ khoảng cách mẫu, số ngẫu nhiên là 13

- Cụm (ấp) được chọn là cụm có dân số cộng dồn lớn hơn hoặc bằng sốdân được xác định bằng công thức 13+ (k x16)

Trang 35

- Chọn ngẫu nhiên 6 bà mẹ của những ấp đã được xác định phía trên theophương pháp ngẫu nhiên đơn.

- Liên hệ với những trạm Y tế của ấp được chọn xác định thời gian tiếnhành nghiên cứu để được hỗ trợ xuống địa phương

- Tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu tại nhà, là các bà

mẹ có con từ 6 đến 12 tháng tuổi bằng bộ câu hỏi

2.9 Kiểm soát sai lệch

2.9.1 Các sai lệch có thể xảy ra

- Sai lệch nhớ lại từ người trả lời

- Sai lệch từ cộng tác viên

- Sai lệch thông tin từ việc đặt câu hỏi

- Sai lệch chọn lựa trong quá trình chọn mẫu

2.9.2 Kiểm soát các sai lệch

a Sai lệch thông tin

Sai lệch từ người trả lời phỏng vấn

- Bộ câu hỏi được thiết kế chi tiết, rõ ràng

- Giải thích bộ câu hỏi và những thắc mắc bằng tiếng Khmer cho những

bà mẹ không rành tiếng Việt

Sai lệch từ điều tra viên

- Bộ câu hỏi rõ ràng, không có thông tin khó hiểu hoặc gây hiểu lầm

- Tập huấn kĩ trước khi tiến hành điều tra

- Tổ chức phỏng vấn thử trước khi điều tra chính thức

Sai lệch từ cộng tác viên

- Trao đổi trước với cộng tác viên về nội dung bộ câu hỏi để có sự chuẩn

bị tốt hơn trong việc phiên dịch tiếng Khmer cho những bà mẹ không rànhtiếng Việt

b Sai lệch chọn lựa: do đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu hay đối tượng

vắng mặt tại buổi điều tra Sai lệch này có thể được khắc phục bằng cách :

- Xác định rõ đối tượng cần khảo sát dựa vào tiêu chí đưa vào và loại ra

Trang 36

- Nếu đối tượng được chọn vẫn từ chối tham gia nghiên cứu thì sẽ chọnngười khác theo bảng số ngẫu nhiên.

- Tránh bỏ sót đối tượng do vắng mặt tại thời điểm điều tra

2.10 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.10.1 Biến số về đặc tính nền của bà mẹ

Tuổi mẹ: là biến định lượng được tính bằng cách lấy 2017- năm sinh trong

chứng minh nhân dân hay hộ khẩu

Nhóm tuổi: là biến định tính được chia làm 3 giá trị [21]:

- Dưới 25 tuổi

- Từ 25 – 29 tuổi

- Từ 30- 34 tuổi

- Trên 35 tuổi

Nghề nghiệp: là biến danh định, chỉ công việc cố định trong 6 tháng gần đây

hoặc công việc chiếm đa số thời gian hơn trong nhiều công việc Gồm có cácgiá trị:

- Công nhân viên: Những người làm các công việc liên quan đến hànhchính, văn bản, sổ sách bao gồm nhân viên văn phòng, kế toán, thư ký,giúp việc văn thư, làm việc văn phòng tại các ủy ban nhân dân, giáoviên, và trưởng/phó phòng/ban hay cơ quan/đơn vị

- Công nhân bao gồm công nhân của các nhà máy, xí nghiệp, doanhnghiệp tư nhân, công nhân viên nhà nước thuộc ngành kỹ thuật, côngnhân vệ sinh

- Nông dân: là những bà mẹ làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi hay thợcâu, chài lưới, làm vuông tôm (trực tiếp), làm thuê trong nông nghiệp

- Buôn bán: Trực tiếp buôn bán kinh doanh trong tất cả các ngành nghềhợp pháp bao gồm cả bán đồ ăn, đồ uống, quà vặt, buôn bán trên sông,nhân viên bán hàng, tiếp thị, buôn bán nhỏ tại nhà

Trang 37

- Nội trợ: Làm các công việc tại nhà bao gồm giúp việc tại nhà, các đốitượng thất nghiệp hay chỉ ở nhà không làm các công việc tại nhà cũngxếp vào nhóm này.

- Nhân viên y tế: là đối tượng hiện đang công tác trong các cơ sở y tế(kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng)

- Khác: Là các công việc không ổn định hoặc các công việc chuyênngành, đặc thù bao gồm: tài xế, thợ may, bảo vệ, thú y, bộ đội, công an,thợ tự do: sửa xe, sửa điện tử, thợ mộc, thợ điện, thợ hồ - xây dựng –trang trí nội thất, thợ cơ khí, thợ bạc, thợ in lụa, thợ hớt tóc,…

Trình độ học vấn: là biến danh định, là lớp học cao nhất đã hoàn tất của một

người trong hệ thống giáo dục quốc dân mà người đó đã theo học, gồm có 5giá trị [19]:

- Không biết chữ: hoàn toàn không biết đọc, không biết viết

- Cấp 1: từ biết đọc, biết viết đến học xong lớp 5

- Cấp 2: đã học xong từ lớp 6 đến lớp 9

- Cấp 3: đã học xong từ lớp 10 đến lớp 12 (bao gồm đã/đang học các lớptrung cấp nghề và/hoặc các chứng chỉ tương đương trung cấp)

- Trên cấp 3: đã học cao đẳng/đại học/sau đại học

Dân tộc: (tính theo phần khai báo trên chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy

thân có giá trị pháp lý khác) là biến định tính, được chia ra làm 4 giá trị:

Tình trạng kinh tế: biến số danh định, 2 giá trị [20]

- Nghèo: có sổ hộ nghèo, đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

 Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng trở xuống;

Trang 38

 Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụttiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Không nghèo: không có sổ hộ nghèo

Tình trạng hôn nhân: chỉ mối quan hệ của trong gia đình của đối tượng

nghiên cứu, là biến danh định, gồm 5 giá trị:

- Độc thân: là tình trạng cá nhân chưaxác lập quan hệ vợ chồng với nhautheo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn

và đăng ký kết hôndù nằm trong độ tuổi hôn nhân [15]

- Đã kết hôn: là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theoquy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 về điều kiện kết hôn vàđăng ký kết hôn [15]

- Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định cóhiệu lực pháp luật của Tòa án [15]

- Ly thân là những người về danh nghĩa thì họ đang có vợ/có chồng hiệntại họ không sống với nhau như vợ chồng đây chỉ là một thuật ngữ xãhội mà không phải là một thuật ngữ pháp lý Chính vì vậy, dù ly thântrong khoảng thời gian bao lâu thì xét về mặt pháp luật đó vẫn là quan

hệ hôn nhân chính thức được pháp luật thừa nhận [6]

- Góa là những người mà vợ (hoặc chồng) của họ đã bị chết và hiện tạichưa tái kết hôn

Kiểu gia đình: việc tổ chức sống chung các thế hệ trong cùng một gia đình, là

biến định tính gồm 2 giá trị

- Gia đình 2 thế hệ: chỉ bao gồm vợ chồng và con

- Gia đình > 2 thế hệ: là gia đình ngoài 2 vợ chồng và các con còn cóthêm một hay nhiều thế hệ sống cùng sống chung

Hình thức sinh con: phương pháp bà mẹ sinh bé, biến danh định gồm 2 giá trị:

- Sinh thường

- Sinh mổ

Trang 39

Người đỡ chính: là đối tượng thực hiện thao tác chính trong việc giúp bà mẹ

sinh bé, là biến danh định gồm các giá trị sau:

- Bác sĩ

- Nữ hộ sinh

- Bà đỡ

- Khác

Tuổi thai: là số tuần của thai nhi phát triển trong tử cung đến khi bà mẹ sinh

bé, là biến danh định gồm 2 giá trị:

- Đủ tháng khi thai nhi đạt 38-42 tuần

- Thiếu tháng là thai nhi có tuổi thai nhỏ hơn 38 tuần

Cân nặng lúc sinh: cân nặng ghi nhận sau khi vừa sinh trẻ, là biến danh định

gồm có 2 giá trị:

- Sơ sinh nhẹ cân: cân nặng lúc sinh nhỏ hơn 2500 gram

- Sơ sinh đủ cân khi cân nặng lúc sinh ≥ 2500 gram

Bệnh tật lúc sinh: bệnh lý mà trẻ mắc phải khi vừa được sinh ra, là biến danh

con nhỏ của bà mẹ là biến danh định gồm 5 giá trị:

- Không ai cả,chính bản thân quyết định

- Mẹ/mẹ chồng

- Chồng

- Nhân viên y tế

- Bạn bè/hàng xóm

Khám thai: là hoạt động đến cơ sở y tế để kiểm tra, tư vấn và chăm sóc thai kì

của bà mẹ, biến danh định gồm 4 giá trị:

- Không khám thai

Trang 40

- Khám thai từ 1-2 lần

- Từ 3-4 lần trở lên

- Khác

2.10.2 Biến số về thực hành NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu:

Tỷ lệ thực hành NCBSM hoàn toàn được xác định theo 3 yếu tố: biến

số về thực hành cho bé bú đúng, biến số về thực hành NCBSM hoàn toàntrong tuần đầu sau sinh và biến số về thực hành cho bé ăn bổ sung trong 6tháng đầu

2.10.2.1 Biến số về thực hành cho trẻ bú đúng:

TH1: Nuôi con bằng sữa mẹ là thực hành của bà mẹ cho bé bú sữa mẹ trong

khoảng thời gian 6 tháng đầu Biến số nhị giá bao gồm 2 giá trị:

- Có

- Không

 Thực hành đúngvề việc NCBSM trong 6 tháng đầu là khi trả lời “Có”

 Thực hành chưa đúng về NCBSM trong 6 tháng đầu khi trả lời “Không”

TH2: Thời gian cho bé bú sau sinh là thời gian bà mẹ cho con bú sữa mẹ ngay

sau khi sinh Biến số danh định bao gồm 3 giá trị:

- Trong vòng 1 giờ đầu

- Trong vòng 1 ngày đầu

- Từ ngày thứ 2 trở đi

 Thực hành đúng về thời gian cho bé bú sớm sau sinh là khi bà mẹ trả lời

“Trong vòng 1 giờ đầu”

 Thực hành chưa đúng về thời gian cho bé bú sớm sau sinh là khi bà mẹ trảlời “Trong vòng 1 ngày đầu” hoặc “Từ ngày thứ 2 trở đi”

Ngày đăng: 12/04/2021, 22:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w