Vì vậy, việcthực hiện đề tài nghiên cứu: “Tỉ lệ thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ởphụ nữ từ 40-59 tuổi tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh năm 2017” là cầnthiết, từ đó có thể phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN LÊ THANH TRÚC
TỈ LỆ THỪA CÂN BÉO PHÌ
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở PHỤ NỮ
TỪ 40-59 TUỔI TẠI HUYỆN CÀNG LONG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu
và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, vănbản, tài liệu đã được Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường đại họckhác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không
có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừanhận
Học viên
Nguyễn Lê Thanh Trúc
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 5
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Định nghĩa thừa cân, béo phì 5
1.2 Đặc điểm phụ nữ tuổi trung niên 5
1.3 Nguyên nhân của thừa cân béo phì 6
1.3.1 Khẩu phần ăn và tập quán dinh dưỡng 6
1.3.2 Hoạt động thể lực kém 9
1.3.3 Yếu tố di truyền 10
1.3.4 Yếu tố kinh tế - xã hội 10
1.3.5 Một số nguyên nhân khác 11
1.4 Phân loại và phương pháp đánh giá TC/BP 12
1.4.1 Phân loại TC/BP 12
1.4.2 Phương pháp đánh giá TC/BP 12
1.5 Hậu quả của thừa cân béo phì 16
1.5.1 Bệnh tim mạch 16
1.5.2 Bệnh đái tháo đường 17
1.5.3 Bệnh sỏi mật 17
1.5.4 Rối loạn chức năng phổi 17
1.5.5 Rối loạn nội tiết 18
1.5.6 Kinh tế- xã hội 18
1.6 Xử trí thừa cân béo phì 18
1.6.1 Phương pháp thay đổi chế độ ăn 18
1.6.2 Vai trò hoạt động thể lực trong giảm cân 20
Trang 41.7 Dự phòng thừa cân và béo phì 20
1.8 Một số nghiên cứu về thừa cân, béo phì ở phụ nữ 22
1.8.1 Các nghiên cứu nước ngoài 22
1.8.2 Các nghiên cứu trong nước 25
1.9 Thông tin về địa điểm nghiên cứu 28
Chương 2 29
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 29
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu 29
2.2.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu 30
2.2.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 31
2.3 Biến số nghiên cứu 32
2.3.1 Biến số về nhân khẩu học và kinh tế xã hội 32
2.3.2 Biến số về tình trạng sức khỏe 33
2.3.3 Biến số về thói quen ăn uống 34
2.3.4 Biến số về vận động thể lực: 36
2.4 Sai số và cách khắc phục 38
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 38
Chương 3 39
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Phân bố đặc điểm của mẫu nghiên cứu 39
3.2 Mối liên quan giữa TC/BP theo các đặc tính mẫu nghiên cứu 47
3.3 Mối liên quan giữa tình trạng TC/BP với các yếu tố hành vi liên quan 51
Chương 4 56
Trang 54.1 Đặc tính của mẫu nghiên cứu: 56
4.2 Đặc điểm về tình trạng sức khỏe của đối tượng 58
4.3 Đặc điểm về thói quen ăn uống và vận động thể lực của đối tượng 61
4.4 Mối liên quan giữa thừa cân, béo phì với các đặc tính dân số và các yếu tố hành vi 63
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của đề tài 69
4.6 Khả năng khái quát hóa và tính ứng dụng 70
KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 BỘ CÂU HỎI
PHỤ LỤC 2 THÁP DINH DƯỠNG HỢP LÝ VÀ HÌNH ẢNH MINH HỌA PHỤ LỤC 3 DANH SÁCH PHỤ NỮ CỘNG DỒN
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
IDI International Diabetes Institute Viện nghiên cứu
đái tháođường quốc tế
PPS Propability Proportionate to size Chọn mẫu có xác suất tỉ lệvới độ lớn của cụm
SSBs Sugar-sweetened beverages Đồ uống có đường
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
WPRO Western Pacific Region Organization Văn phòng WHO khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các yếu tố kinh tế-xã hội liên quan đến thừa cân, béo phì
11
Bảng 1.2 Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo WHO và WPRO 14
Bảng 1.3 Nguy cơ bệnh tật với BMI ở các ngưỡng khác nhau 15
Bảng 1.4 Độ mạnh của bằng chứng về các yếu tốnguy cơ liên quan đến béophì 21
Bảng 3.5 Đặc điểm dân số của đối tượng nghiên cứu (n=531) 39
Bảng 3.6 Đặc điểm về tình trạng sức khỏe của đối tượng (n=531) 41
Bảng 3.7 Phân bố chỉ số nhân trắc của đối tượng (n=531) 42
Bảng 3.8 Đặc điểm về thói quen ăn uống của đối tượng (n=531) 44
Bảng 3.9 Đặc điểm về vận động thể lực của đối tượng (n=531) 46
Bảng 3.10 Mối liên quan tình trạng thừa cân, béo phì với đặc tính mẫu nghiên cứu (n=531) 47
Bảng 3.11 Mối liên quan tình trạng thừa cân, béo phì với tình trạng sức khỏe của đối tượng (n=531) 50
Bảng 3.12 Mối liên quan tình trạng thừa cân, béo phì với thói quen ăn uống của đối tượng (n=531) 51
Bảng 3.13 Mối liên quan tình trạng thừa cân, béo phì với vận động thể lực của đối tượng (n=531) 53
Bảng 3.14 Mối liên quan tình trạng thừa cân, béo phì với các yếu tố bằng mô hình hồi qui đa biến (n=531) 54
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng cân bằng năng lượng cơ thể
và sự tăng cân 7
Hình 1.2 Các biến chứng của béo phì 16
Biểu đồ 3.1 So sánh phân loại BMI theo tiêu chuẩn WPRO và WHO 43
Biểu đồ 3.2 Phân bố chỉ số WHR của đối tượng nghiên cứu 43
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân, béo phì (TC/BP) đang gia tăng rất nhanh, là cảnh báo sức khoẻcho toàn cầu Vấn đề này xảy ra không chỉ ở các nước phát triển mà còn là
“gánh nặng kép” cho các nước đang phát triển Theo báo cáo của Tổ chức Y
tế Thế giới (WHO), TC/BP trên thế giới đã tăng hơn gấp đôi so với năm
1980 Năm 2014 có 39% người trưởng thành bị thừa cân và 13% là béo phì[79] WHO kêu gọi các quốc gia có hành động phòng chống góp phần giảmgánh nặng y tế Những chương trình cộng đồng định hướng cho việc dựphòng TC/BP tạo ra một môi trường thuận lợi cho những thói quen dinhdưỡng có lợi và sự hoạt động thể lực nhiều hơn cho cả cộng đồng [73]
Theo điều tra của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2010, tỉ lệ phụ nữtuổi trung niên (từ 40-59 tuổi) chiếm số lượng khá lớn là 24,9% trong cơ cấudân số [13] Phụ nữ đến giai đoạn tuổi trung niên, sự thay đổi yếu tố sinh học
và hóc môn ảnh hưởng đến việc phân bố chất béo có thể làm tăng nguy cơhoặc làm trầm trọng thêm những ảnh hưởng tiêu cực của bệnh béo phì đối vớisức khoẻ[38] Nghiên cứu trên đối tượng người trưởng thành cho thấy tỷ lệthừa cân béo phì ở phụ nữ cao hơn nam giới, thành thị cao hơn nông thôn vàtăng dần theo tuổi đặc biệt ở nhóm tuổi trung niên[10], [31], [46], [63] Phụ
nữ thừa cân, béo phì dễ bị đái tháo đường (ĐTĐ), tăng nguy cơ bị bệnh timmạch, bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú sau mãn kinh và ung thư nội mạc
tử cung Tình trạng béo bụng hay béo trung tâm ở phụ nữ còn liên quan mạnhđến hội chứng chuyển hoá và hội chứng buồng trứng đa nang[36],[40].Nghiên cứu tại Brazil và Iran cho thấy tỉ lệ thừa cân béo phì ở phụ nữ tuổitrung niên (40-60 tuổi) là 66,0% và 80,8%[39], [57] Một số nghiên cứu kháccho thấy TC/BP ở phụ nữ còn có liên quan đến việc tiêu thụ năng lượng, tìnhtrạng hoạt động thể chất, kinh tế xã hội, trình độ học vấn và thu nhập[30],[36], [44], [57]
Trang 10Việt Nam với quá trình đô thị hóa làm cho bữa ăn người dân phong phú
và đa dạng hơn, chứa nhiều thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, tăng tiêuthụ các nguồn tinh bột chế, giảm tiêu thụ chất xơ, đồng thời giảm các hoạtđộng thể lực, tăng thời gian hoạt động tĩnh tại dẫn đến tăng nguy cơ về TC/BP
và các bệnh mạn tính không lây khác [9] Chính vì thế tỷ lệ thừa cân béo phì ởphụ nữ trung niên đang ngày càng gia tăng, năm 1999 tỷ lệ TC/BP phụ nữtrung niên sống ở thành thị là 18,0% tăng lên 49,5% (nhóm 40-49 tuổi) và55,5% (nhóm tuổi 50-59 tuổi) vào năm 2004 Bên cạnh đó, với sự phát triểnmạnh mẽ về kinh tế-xã hội thì tỉ lệ này đang có xu hướng gia tăng tại cácvùng nông thôn[10], [63], [65]
Huyện Càng Long là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa- xã hội của tỉnhTrà Vinh với các tỉnh trong khu vực, nên sẽ có những đặc trưng của một vùngvừa mang tính chất nông thôn vừa mang tính chất đô thị, vì vậy lối sống vàchế độ ăn uống có thể đã thay đổi đáng kể trong những năm gần đây Bêncạnh đó, nơi đây có nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống với nét đặctrưng riêng về văn hóa, đời sống kinh tế- xã hội và nghề nghiệp có thể ảnhhưởng phần nào đến tình trạng TC/BP của của phụ nữ[16], [17] Vì vậy, việcthực hiện đề tài nghiên cứu: “Tỉ lệ thừa cân, béo phì và các yếu tố liên quan ởphụ nữ từ 40-59 tuổi tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh năm 2017” là cầnthiết, từ đó có thể phát hiện, điều trị kịp thời, tư vấn và dự phòng hiệu quảnhằm giảm các bệnh lý liên quan đến thừa cân, béo phì
Trang 11Câu hỏi nghiên cứu
- Tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ từ 40-59 tuổi tại huyện Càng Long,tỉnh Trà Vinh năm 2017 là bao nhiêu?
- Yếu tố nào liên quan đến tình trạng thừa cân, béo phì ở phụ nữ 40-59tuổi tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh năm 2017?
Trang 12- Công việc tĩnh tại
- Công việc cường độ mạnh
- Công việc cường độ vừa phải
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Định nghĩa thừa cân, béo phì
Thừa cân và béo phì được định nghĩa là sự tích tụ mỡ bất thường hoặcquá mức của cơ thể làm suy yếu sức khỏe [25]
Thừa cân (overweight) là cân nặng vượt quá “cân nặng lý tưởng” hay cânnặng “nên có” so với chiều cao, béo phì (obesity) là lượng mỡ được tích luỹtrong cơ thể không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức có ảnhhưởng xấu đến sức khoẻ [6]
Béo phì là một quá trình tiến triển từ từ Chuyển hóa trong cơ thể đạtđỉnh khi ở độ tuổi 20, sau đó chuyển hóa cơ bản tăng thêm 1% m i năm Điềunày có nghĩa là những người trẻ tuổi với cân nặng bình thường thì cứ 10 nămtrọng lượng sẽ tăng thêm trung bình 3-4kg Tuy nhiên, nguy cơ tăng cân sẽcao hơn ở những người ngay từ nhỏ đã thừa cân Ước tính những người béophì từ lúc nhỏ sau này thường tăng khoảng 1kg/năm[7]
1.2 Đặc điểm phụ nữ tuổi trung niên
Theo cấu trúc tháp tuổi và cơ cấu dân số của Việt Nam, tuổi trung niêncủa phụ nữ bắt đầu từ 40 tuổi và kéo dài đến 59 tuổi [13] Khi người phụ nữđến tuổi trung niên, ngoài việc thay đổi trọng lượng thì cũng có sự thay đổitrong việc phân bố cấu trúc cơ thể, chuyển từ hình dáng béo ở hông và đùi(hình quả lê) đến khu vực vùng bụng (hình quả táo) Sự thay đổi trong hìnhdạng này là rất quan trọng, nó có mối liên quan với nguy cơ cao của bệnh timmạch, bệnh ĐTĐtype 2 và một số bệnh ung thư[38], [67]
Một số nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe phụ nữ cho thấy, nguy cơ thừacân béo phì và các bệnh mãn tính không lây thường xuất hiện ở tuổi trungniên, thay vì là phải duy trì cân nặng phù hợp thì nhiều người phụ nữ có xuhướng béo phì ở nhóm tuổi này Điều đó có thể mang lại một số loại bệnh tật
và đôi khi có thể trở thành đe dọa tính mạng[4], [57]
Trang 14Hầu hết phụ nữ tăng cân khi có tuổi và cân nặng dư thừa là không thểtránh khỏi, nhiều phụ nữ tăng cân xung quanh thời kỳ mãn kinh Những thayđổi nội tiết tố của thời kỳ mãn kinh có nhiều khả năng để đạt được trọnglượng bụng hơn so với xung quanh hông và đùi Mặt khác, thay đổi nội tiết tốmột mình không nhất thiết gây tăng cân lúc mãn kinh Thay vào đó, việc tăngcân thường liên quan đến sự lão hóa, cũng như lối sống và các yếu tố ditruyền Tăng cân vào giai đoạn mãn kinh có thể có tác động nghiêm trọng chosức khỏe phụ nữ, trọng lượng quá mức làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch,ĐTĐ type 2, vấn đề hô hấp và các loại ung thư khác nhau, bao gồm vú, đạitrực tràng và ung thư nội mạc tử cung[51].
Y khoa cũng ngày càng quản lý các vấn đề sức khỏe phụ nữ liên quanđến chứng béo phì như rối loạn kinh nguyệt, hội chứng buồng trứng đa nang.Ung thư nội mạc tử cung là một trong những bệnh ung thư đầu tiên có liênquan đến chứng béo phì và nguy cơ tăng tuyến tính với chỉ số khối cơ thể tănglên (BMI) Sự gia tăng này cũng tương tự trong nguy cơ ung thư vú sau mãnkinh kết hợp với BMI cũng được chấp nhận rộng rãi[33]
Một số nghiên cứu tại Mỹ trên đối tượng phụ nữ trung niên cho thấy, béophì là yếu tố nguy cơ mạnh mẽ dự đoán khả năng sống sót thấp hơn ở phụ nữlớn tuổi và làm tăng nguy cơ của bệnh tiểu đường, bệnh động mạch vành, đaulưng, khớp và ung thư ở phụ nữ[44], [55]
1.3 Nguyên nhân của thừa cân béo phì
1.3.1 Khẩu phần ăn và tập quán dinh dƣỡng
Năng lượng trong cơ thể là hiệu số của năng lượng ăn vào và năng lượngtiêu hao, chỉ khi cân bằng năng lượng dương tính xảy ra trong một thời giankhá dài thì mới có thể phát triển thành béo phì Chế độ ăn giàu chất béo hoặc
có đậm độ năng lượng cao liên quan chặt chẽ với sự gia tăng tỉ lệ béo phì Cácthức ăn giàu chất béo, đường thường ngon miệng nên dẫn đến ăn quá mức màkhông biết Khi kinh tế tăng nhanh thường kéo theo lipid trong khẩu phần ăn
Trang 15Sự tiêu hao năng lượng là yếu tố thứ hai của sự cân bằng năng lượng,gồm 3 thành phần chính:
Năng lượng dành cho chuyển hóa cơ bảnNăng lượng dành cho tiêu hóa thức ăn (sinh nhiệt)Năng lượng dành cho hoạt động thể lực
Tùy theo tình chất thường xuyên và mức độ hoạt động thể lực của từngngười và các thành phần cơ bản của sự tiêu hao năng lượng có sự thay đổikhác nhau[14], [52]
Thừa cân và béo phì kết quả của sự mất cân bằng năng lượng Điều nàyliên quan đến việc ăn quá nhiều calo và không vận động thể lực đầy đủ Yếu
tố hành vi và môi trường đóng một vai trò quan trọng đưa tới thừa cân và béophì Đây là những khía cạnh lớn nhất có thể tác động để phòng ngừa và điềutrị[25]
Bên cạnh đó, rau xanh và trái cây có giá trị đặc biệt trong dinh dưỡngngười, lượng protein và lipid thấp hơn nhiều so với các loại thực phẩm cónguồn gốc từ động vật Theo khuyến cáo của WHO và Viện dinh dưỡng Quốc
Cân bằng năng lượng
Chất béo Glucid
Protein
Hoạt động thể lực Tiêu hóa thức ăn Chuyển hóa cơ bản
Cân nặng ổn định
Dự trữ mỡ
Hình 1.1 Những yếu tố ảnh hưởng cân bằng năng lượng cơ thể và sự tăng cân [9]
Trang 16gia nếu tiêu thụ từ 5 đơn vị trái cây và rau quả m i ngày (tương đương 400g)thì có thể giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, ĐTĐ và ung thư[15],[79] Trong khẩu phần thường xuyên có rau xanh và trái cây còn cung cấpmột hàm lượng nước và chất xơ cao, do đó tạo cảm giác no giúp hạn chế việctiêu thụ quá nhiều chất sinh năng lượng Chất xơ còn hấp thụ những chất cóhại trong ống tiêu hóa ví dụ như cholesterol, các chất gây oxy hóa và chất gâyung thư [9, 59] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Daniela và cộng sự thìviệc tăng lượng trái cây, rau và lượng chất xơ trong khẩu phần giúp phòngngừa và kiểm soát tình trạng thừa cân, béo phì ở độ tuổi trung niên [32] Tácgiả K He và cộng sự tiến hành theo dõi trong thời gian 12 năm trên 74.063phụ nữ cũng cho thấy việc tăng lượng trái cây và rau cải có liên quan đếnnguy cơ béo phì đáng kể đối với những phụ nữ trung niên khỏe mạnh Nghiêncứu đóng góp vào sự gia tăng bằng chứng rằng lượng trái cây và rau quả cóliên quan nghịch với trọng lượng cơ thể[41].
Ngoài ra, các loại đồ uống ngọt có đường hay đồ uống có đường Sweetened Beverages-SSBs) là những nguồn bổ sung đường chủ yếu trongchế độ ăn uống hằng ngày ví dụ như các loại nước có gas, nước trái cây, nướcuống dùng trong thể thao, thức uống tăng lực, nước ngọt đóng chai, cà phê vàtrà có thêm đường… Nếu thường xuyên sử dụng đồ uống có đường có đườngthì có thể dẫn đến tình trạng thừa cân/béo phì, ĐTĐtype 2, bệnh tim mạch,bệnh thận, sâu răng, một loại viêm khớp… Hạn chế lượng SSBs có thể giúp
(Sugar-cá nhân duy trì cân nặng khỏe mạnh và có chế độ ăn uống lành mạnh[27],[70]
Theo tác giả Vasanti và cộng sự, tình trạng tiêu thụ quá nhiều các loại đồuống có đường đóng góp đáng kể vào sự tăng cân và có thể làm tăng nguy cơĐTĐtype 2 và bệnh tim mạch Với sự gia tăng tỉ lệ bệnh tật, giảm chất lượngcuộc sống và chi phí chăm sóc sức khoẻ, các n lực phòng chống béo phì quy
mô lớn hiện nay là một ưu tiên của nhiều quốc gia trên thế giới Khuyến nghị
Trang 17được đưa ra là lượng SSBs nên hạn chế vì có ít giá trị dinh dưỡng và nên sửdụng các chất thay thế lành mạnh như nước [71].
1.3.2 Hoạt động thể lực kém
Ít lao động kể cả lao động chân tay và lao động trí óc, lối sống tĩnh tại,thời gian xem tivi nhiều, đọc báo, làm việc bằng máy tính,…làm tăng nguy cơbéo phì.Ở người trường thành thích tĩnh tại, năng lượng dành cho chuyển hóa
cơ bản vào khoảng 60%, sinh nhiệt vào khoảng 10%, hoạt động thể lựckhoảng 30% Ở người lao động nặng, năng lượng dành cho hoạt động thể lựcvào khoảng 50%, sinh nhiệt là 10%, chuyển hóa cơ bản là 40% Nếu kết hợpgiữa giảm năng lượng của khẩu phần và tăng hoạt động thể lực sẽ dẫn đếngiảm cân nhiều hơn so với việc chỉ áp dụng đơn lẻ một trong hai phươngpháp[9]
Một số nghiên cứu cũng cho thấy, hoạt động thể lực có liên quan đếnthừa cân, béo phì, nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch, ung thư và cũng nhấnmạnh tầm quan trọng của hoạt động thể chất cho tất cả mọi người trên tất cảcác nhóm chỉ số khối cơ thể, nguy cơ liên quan đến việc không hoạt độngngay cả trong số những người có cân nặng bình thường Những người TC/BPhoạt động thể lực thấp có nguy cơ tim mạch cao hơn 1,33 và 1,35 lần so vớinhững người bình thường có hoạt động thể chất cao[30], [53] Ngoài ra,những phụ nữ có chỉ số BMI ≥ 30 nếu không hoạt động thể lực sẽ làm tăngnguy cơ về các bệnh tim mạch từ 1,56-2,0 lần so với nhóm có hoạt động[35].Trong nghiên cứu khảo sát 88.393 phụ nữ, từ 34-59 tuổi tại Mỹ của tácgiả Tricia Y Li cho thấy hoạt động thể lực là yếu tố quyết định có liên quanđến giảm đáng kể nguy cơ tử vong và bệnh tim mạch Những phụ nữ có BMIbình thường nhưng hoạt động ít hơn 1giờ/tuần có nguy cơ bị bệnh tim mạch
là 1,48 lần (KTC 95% 1,24-1,77) so với nhóm hoạt động ≥3,5 giờ/tuần Nguy
cơ này còn cao hơn rất nhiều ở nhóm có tình trạng thừa cân và béo phì Bêncạnh đó, kết quả phân tích còn cho thấy chỉ số WHR là yếu tố dự báo đáng kể
về bệnh tim mạch và nguy cơ này cao nhất khi phụ nữ có mức độ hoạt động
Trang 18thể chất thấp và có tình trạng béo trung tâm (RR=3,03, KTC 95%, 4,18)[68].
1,96-1.3.3 Yếu tố di truyền
Đáp ứng sinh nhiệt kém có thể do yếu tố di truyền và có vai trò nhất địnhđối với thừa cân, béo phì Người bị béo phì thường hay có cha mẹ béo phì, tuyvậy nhìn trên đa số cộng đồng yếu tố này không lớn[50] Theo Mayer (1995),nếu cả bố lẫn mẹ đều bị béo phì thì có 80% con họ sẽ bị béo phì Nếu mộttrong hai người thì 40% con họ sẽ có béo phì Ngược lại, nếu cả bố và mẹ đềubình thường thì khả năng có con bị béo phì chiếm 7%[9]
Có đến 20 gen có quan hệ đến tính nhạy cảm với béo phì ở các cá thểkhác nhau trong đó gen Ob với sản phẩm là leptin được chú ý nhất Hiện nay,vai trò của leptin đối với béo phì ở người còn chưa chắc chắn Các gen này cóbiểu hiện khác nhau tùy theo tuổi và giới Khi có môi trường thuận lợi chobéo phì bao gồm chế độ ăn dư thừa và ít nhu cầu hoạt động thể lực, các gennày có thể làm tăng tính mẫn cảm với béo phì [8]
Khoa học cho thấy rằng di truyền đóng một vai trò quan trọng trong bệnhbéo phì Gen có thể trực tiếp gây ra bệnh béo phì gặp ở các rối loạn như hộichứng Bardet Biedl và hội chứng Prader-Willi Tuy nhiên gen không phải lúcnào cũng là yếu tố dự đoán sức khỏe trong tương lai Gen và hành vi, cả hai
có thể là yếu tố cần thiết làm cho một người thừa cân Bình thường trong một
số trường hợp, nhiều gen có thể làm tăng tính nhạy cảm của người béo phì vàđòi hỏi các yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như nguồn cung cấp thực phẩm dồidào hoặc ít hoạt động thể lực[8], [25]
1.3.4 Yếu tố kinh tế - xã hội
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ béo phì ở tầng lớp nghèo thường thấp(thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phương tiện đi lại khó khăn) và béo phì như
là một đặc điểm của giàu có (béo tốt) Ở các nước phát triển khi thiếu ănkhông còn phổ biến nữa thì béo phì thường cao ở tầng lớp nghèo, ít học so với
Trang 19hướng ăn nhiều hơn so với nhu cầu Một chế độ ăn từ đậm độ dinh dưỡng caochuyển sang đậm độ năng lượng cao phối hợp với giảm hoạt động thể lực sẽdẫn tới thừa cân béo phì[8], [9], [58].
Bảng 1.1 Các yếu tố nguy cơ về kinh tế - xã hội liên quan đến TC/BP của phụ nữ ở các nước khác nhau
khảo
Úc Hút thuốc lá, vận động ít, tần suất xem
tivi, học vấn thấp, nơi sinh, thu nhập thấp
Thái Lan Nông thôn, hút thuốc lá, tình trạng hôn
nhân
[20]
Trung Quốc Tình trạng hôn nhân, học vấn, nghề
nghiệp ít vận động, năng lượng ăn vàocao, vận động thể lực không thườngxuyên, thành phần kinh tế xã hội cao
[36]
Thay đổi trong mô hình hoạt động thể chất và chế độ ăn uống thường làkết quả của thay đổi môi trường và xã hội liên quan với sự phát triển và thiếucác chính sách h trợ trong các lĩnh vực như y tế, nông nghiệp, giao thông, quyhoạch đô thị, môi trường, thực phẩm chế biến, phân phối, tiếp thị và giáo dục[37]
1.3.5 Một số nguyên nhân khác
Một số bệnh có thể dẫn đến bệnh béo phì hoặc tăng cân như hội chứngCushing, hội chứng buồng trứng đa nang Các loại thuốc như steroid, một sốthuốc chống trầm cảm, thuốc ngừa thai, thuốc chứa hormone, thuốc tiểu
Trang 20đường, thuốc chống suy nhược và thuốc áp huyết cao Đây là nguyên nhângây ra sự thay đổi về cân nặng Sử dụng những loại thuốc này sẽ khiến cânnặng của cơ thể có xu hướng đi lên Bác sĩ đóng vai trò quan trọng h trợbệnh nhân có kiến thức về bệnh tật, thuốc hoặc các yếu tố tâm lý góp phầntăng cân hoặc giảm cân [25].
1.4 Phân loại và phương pháp đánh giá TC/BP
1.4.1 Phân loại TC/BP
Béo phì dạng nữ (gynoid obesity) hay còn gọi là béo phần dưới, béongoại vi và béo dạng quả lê (pear – shaped) đặc trưng bởi sự tích lũy mỡ ởmông và đùi
Béo phì h n hợp: trường hợp này mô mỡ phân bố khá đồng đều Cáctrường hợp béo phì nặng và rất nặng thường là béo phì h n hợp
Ngoài ra, béo phì còn có nguyên nhân do nội tiết hoặc do khiếm khuyết
di truyền[11]
Việc phân loại được phân loại của béo phì thừa cân và có giá trị cho một
số lý do Đặc biệt, nó cho phép:
- So sánh có ý nghĩa của tình trạng cân nặng trong và giữa dân số;
- Xác định các cá nhân và các nhóm có nguy cơ cao tỷ lệ mắc bệnh và tửvong;
- Xác định các ưu tiên cho việc can thiệp vào cá nhân và các cấp cộngđồng;
- Một cơ sở vững chắc cho việc đánh giá các can thiệp
Trang 21chiều cao và trọng lượng, nó không tốn kém và dễ dàng để sử dụng cho cácbác sĩ lâm sàng và cho công chúng Việc sử dụng chỉ số BMI cho phép mọingười so sánh tình trạng trọng lượng riêng của họ với dân số nói chung [23].Chỉ số khối cơ thể (BMI) là một chỉ số đơn giản được sử dụng để phânloại thừa cân và béo phì ở người lớn Nó được định nghĩa là trọng lượng củamột người tính bằng kilogam chia cho bình phương chiều cao tính bằng métvuông (kg /m2) [75].
Tháng 2 năm 2000, cơ quan khu vực Thái Bình Dương của WHO(WPRO) và Hội nghiên cứu béo phì quốc tế đã phối hợp với Viện nghiên cứubệnh Đái tháo đường quốc tế (IDI), Trung tâm hợp tác Dịch tễ học đái tháođường và các bệnh không lây của WHO đã đưa ra khuyến nghị về chỉ tiêuphân loại béo phì cho cộng đồng các nước châu Á (IDI và WPRO, 2000) [9]
Dựa trên số liệu hiện có tại châu Á, các chuyên gia WHO nhận thấytrên người châu Á nhìn chung có tỉ lệ mỡ trong cơ thể cao hơn so với người
da trắng trong cùng tuổi, giới và BMI Các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch
và tiểu đường xuất hiện ở ngưỡng BMI dưới 25 kg/m2 Do vậy điểm cắt đoạncủa WHO không đáp ứng được yêu cầu đánh giá nguy cơ trên đối tượng thừacân, béo phì ở người châu Á Tuy nhiên, với số liệu hiện tại vẫn chưa đủ khảnăng để chọn điểm cắt đoạn rõ ràng ở châu Á
Vì vậy để đảm bảo tính so sánh được giữa các quốc gia, WHO khuyếncáo tiếp tục sử dụng điểm cắt đoạn chỉ số BMI theo WHO năm 1998 để đánhgiá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành [82]
Viện dinh dưỡng Quốc gia cũng thống nhất về phương pháp đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học ở người trưởng thành Việt Nam theongưỡng của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2011[6]
Trang 22Bảng 1.2 Phân loại tình trạng dinh dƣỡng theo WHO và WPRO
BMI (kg/m 2 )
IDI và WPRO, 2000 BMI (kg/m 2 )
≥ 40,0
≥ 23,023,0 – 24,925,0 – 29,9
≥ 30,0
Những năm gần đây, nguy cơ quan trọng của béo bụng đã được xác định.Béo bụng (béo trung tâm) là lượng mỡ tập trung ở mạc nối lớn và mạc treo,quanh các tạng trong ổ bụng và các quai ruột, mô mỡ này giải phóng ra cácacid béo tự do vào thẳng hệ tĩnh mạch mạc treo, do đó chỉ một lượng nhỏcũng có ảnh hưởng lớn tới quá trình chuyển hóa Một số nghiên cứu cho thấytình trạng béo phì ở bụng làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2,hội chứng chuyển hóa và bệnh tim mạch[19], [40]
Lượng mỡ bụng có thể được đánh giá thông qua số đo chu vi vòng eo.Trong một vài năm tới, BMI sẽ chỉ được sử dụng để phân loại các cá thể vàocác nhóm trong quần thể, còn chu vi vòng eo là chỉ số nhạy hơn (đánh giálượng mỡ tích tụ có thể dẫn đến các nguy cơ không tốt cho sức khỏe như hộichứng chuyển hóa) sẽ được sử dụng nhiều hơn Nguy cơ tăng lên khi vòng eo
≥ 80 cm đối với nữ[6], [14]
Tỷ số vòng eo/vòng mông cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố mỡ Do
đó chỉ số này được sử dụng để đánh giá tình trạng béo phì Khi chỉ số vòngeo/vòng mông vượt quá 0,8 ở nữ thì được coi là béo trung tâm Người ta cònnhận thấy số đo vòng eo thường không liên quan đến chiều cao, có liên quan
Trang 23chặt chẽ đến BMI và tỷ số vòng eo/vòng mông, vì thế được coi là chỉ tiêu đơngiản để đánh giá mỡ bụng và mỡ toàn bộ cơ thể[14].
Bảng 1.3 Nguy cơ bệnh tật với BMI ở các ngƣỡng khác nhau
Thấp (nhưng tăng nguy cơnhững vấn đề khác liênquan đến suy dinh dưỡng)
là định lượng
Để khắc phục hạn chế trên, thì phương pháp nhớ lại 24 giờ qua giúp đốitượng kể lại tỉ mỉ những gì đã ăn vào ngày hôm trước hoặc 24 giờ trước khiphỏng vấn Đây là một phương pháp thông dụng, có thể áp dụng trên cả đốitượng có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ Phương pháp này có nhượcđiểm là phụ thuộc nhiều vào trí nhớ, thái độ cộng tác của đối tượng và cách
Trang 24gợi ý của điều tra viên, hiện tượng trung bình hóa khẩu phần có thể xảy ra.Bên cạnh đó, điều tra viên cần được huấn luyện kỹ và cần có những dụng cụ
h trợ, đo lường để dễ dàng cho việc quy đổi các loại thực phẩm [9]
1.5 Hậu quả của thừa cân béo phì
Béo phì là một vấn đề y tế công cộng đã trở thành đại dịch trên toàn thếgiới Y văn cho thấy rằng thừa cân và béo phì là nguyên nhân chính của bệnh
đi kèm, bao gồm cả bệnh ĐTĐ type 2, bệnh tim mạch, ung thư và các vấn đềsức khỏe khác, có thể dẫn đến bệnh tật và tử vong nhiều hơn nữa Các chi phíchăm sóc sức khỏe có liên quan cũng là đáng kể[60]
Hình 1.2 Các biến chứng của béo phì [7]
1.5.1 Bệnh tim mạch
Bệnh tim mạch bao gồm bệnh mạch vành, đột quỵ và các bệnh mạchngoại vi Béo phì là một yếu tố nguy cơ độc lập với bệnh mạch vành, là yếu tốbáo trước quan trọng bệnh này, chỉ đứng sau tuổi và rối loạn chuyển hóa lipid.Nguy cơ này cao hơn khi tuổi còn trẻ mà béo bụng[19], [34]
Hơn thế nữa, tử vong do bệnh mạch vành đã tăng lên khi thừa cân, dù chỉ10% so với trung bình Cả huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng khi BMItăng, những người béo có nguy cơ cao huyết áp hơn người bình thường, nguy
Trang 25giữa tỉ số vòng eo/vòng mông với đột quỵ chặt chẽ hơn với BMI và các kíchthước nhân trắc khác Người ta cũng nhận thấy một tiền sử béo phì kéo dài cónguy cơ bị đột quỵ cao hơn là béo ở tuổi trung niên[8], [9].
có 20% mà thôi[77]
1.5.3 Bệnh sỏi mật
Bệnh sỏi mật hay gặp ở phụ nữ và người già, béo phì trung tâm làm tăngnguy cơ bị sỏi mật ở mọi lứa tuổi và giới gấp 2-4 lần, nguy cơ này cao hơnkhi mỡ tập trung quanh bụng Ở người béo phì, cứ 1kg mỡ thừa làm tăng tổnghợp 20mg cholesterol/ngày làm tăng bài tiết mật, tăng mức bão hòacholesterol trong mật cùng với mức cơ động của túi mật giảm dẫn tới bệnh sỏimật [9]
1.5.4 Rối loạn chức năng phổi
Béo phì mức độ vừa và không có bệnh phổi thì ít có ảnh hưởng đến chứcnăng hô hấp Thế nhưng, cơn ngừng thở lúc ngủ lại có thể xảy ra với nhữngngười béo phì nặng và đây là một vấn đề nghiêm trọng cần được đặt ra.Người ta cho rằng ngừng thở tắc nghẽn lúc ngủ là do lượng mỡ tích tụ quánhiều tại vùng khí phế quản Những đợt ngừng thở do tắc nghẽn này xảy raliên tiếp trong giấc ngủ sẽ dẫn tới biến cố giảm oxy máu và tăng thán khí(CO2) trong máu, có thể gây tử vong[9]
Trang 261.5.5 Rối loạn nội tiết
Rối loạn nội tiết: Đáng kể là nồng độ testosterone trong máu giảm ở đànông béo phì và có ảnh hưởng thực sự đến sinh hoạt tình dục Còn ở nữ giớibéo phì thì thường có kinh sớm, kinh không đều, có những chu kỳ kinh khôngphóng noãn (không có khả năng thụ thai) và mãn kinh sớm Những phụ nữbéo phì mà các khối mỡ tập trung trong các nội tạng thì sản xuất ra nhiều nộitiết tố nam (testosterol), còn mỡ tập trung nhiều ở mông và đùi thì sản xuất ranhiều chất nội tiết tố nữ (estrogen)[52]
Người ta cũng quan sát thấy sự thay đổi hormon ở người béo phì, đặcbiệt đối với người có tích lũy mỡ trong ổ bụng Các hormon bất thường chínhliên quan với tích lũy mỡ trong ổ bụng gồm:
- Kháng insulin và tăng bài tiết insulin
- Tăng nội tiết tố nam tự do liên quan tới hormon giới tích gắn kếtglobulin ở phụ nữ
- Giảm nồng độ progesteron ở phụ nữ
- Giảm nồng độ testosteron ở nam
- Tăng sản xuất cortisol, giảm nồng độ hormon tăng trưởng
1.6 Xử trí thừa cân béo phì
1.6.1 Phương pháp thay đổi chế độ ăn
Giảm năng lượng ăn vào và cải thiện chất lượng chế độ ăn
Khi xây dựng chế độ ăn thấp năng lượng phải luôn chú chế độ ăn nàyphải cung cấp đủ cho cơ thể các chất dinh dưỡng cần thiết như: vitamin, chất
Trang 27khoáng, acid amin để duy trì sức khỏe, loại trừ việc đáp ứng đủ nhu cầu nănglượng của đối tượng.
Tạo được sự thiếu hụt năng lượng: tạo ra sự cân bằng năng lượng âm tínhNăng lượng tiêu hao – năng lượng ăn vào = 500-1000 kcal/ngày
Sự thiếu hụt năng lượng 500-1000 kcal/ngày sẽ dẫn tới giảm 10% trọnglượng cơ thể trong vòng 6 tháng
Giảm năng lượng khẩu phần ăn từng bước một, m i tuần giảm khoảng
300 kcal so với khẩu phần ăn hiện tại cho đến khi đạt năng lượng tương ứngvới mức BMI:
- BMI từ 25-29,9: năng lượng đưa vào là 1500 kcal/ngày
- BMI từ 30-34,9: năng lượng đưa vào là 1200 kcal/ngày
- BMI từ 35-39,9: năng lượng đưa vào là 1000 kcal/ngày
- BMI >= 40: năng lượng đưa vào là 800 kcal/ngày
Thành phần các chất dinh dưỡng nên như sau:
Lipid: giảm nguồn năng lượng từ chất béo, càng thấp càng có hiệu quảgiảm cân, nên ở mức 15% năng lượng Trong đó thấp các acid béo no, nhiềuacid béo không no có một nối đôi và nhiều nối đôi
- Tránh các thực phẩm nhiều chất béo
- Tránh các thực phẩm có nhiều cholesterol
- Tránh các món ăn có đưa thêm chất béo
Protein: có thể từ 15-25% năng lượng khẩu phần Thực tế lâm sàng chothấy chế độ ăn thấp béo, cao protein có hiệu quả giảm cân có ý nghĩa
Glucid: nên sử dụng glucid có nhiều chất xơ
Đậm độ năng lượng của chế độ ăn thấp (năng lượng/trọng lượng thựcphẩm)
Đủ vitamin, muối khoáng
Rau và quả: 400g/ngày, nguồn cung cấp chất xơ, vitamin muối khoáng
Muối: hạn chế muối ăn < 6g/ngày, Nếu có THA thì nên dùng 2-4g/ngày
Trang 28Tạo thói quen ăn uống theo đúng chế độ ăn: 3 bữa/ngày.
Nên tránh các thức ăn giàu năng lượng như: đường, mứt, kẹo, bánhngọt,…
Các thức uống không nên dùng: rượu, bia, cà phê,…
1.6.2 Vai trò hoạt động thể lực trong giảm cân
Bao gồm những hoạt động hằng ngày, các công việc liên quan hoạt độngthể lực và luyện tập thể dục thể thao
Luyện tập thể dục thể thao: tùy theo từng người mà có thể lựa chọn hìnhthức luyện tập thích hợp Duy trì chế độ luyện tập thể dục thể thao ít nhất 30phút/ngày với các loại hình như đi bộ, bơi, thể dục nhịp điệu, xe đạp,…[68,78]
Việc kết hợp giảm năng lượng của khẩu phần ăn và tăng hoạt động thểlực dẫn đến giảm cân nhiều hơn là chỉ dùng đơn lẻ 1 trong 2 giải pháp
Giữ lối sống năng động: leo cầu thang thay cho đi thang máy, đi bộ, xeđạp thay cho ô tô, làm một số việc nhà hơn là ngồi xem tivi[9]
1.7 Dự phòng thừa cân và béo phì
Những chiến lược sức khỏe cộng đồng để giải quyết TC/BP nên đặt ramục tiêu ý nghĩa về sức khỏe cộng đồng của TC/BP và các biện pháp ngănngừa TC/BP, cũng như việc hạn chế tiếp cận của cộng đồng với môi trườnggây TC/BP
Hai giải pháp then chốt trong cộng đồng với mục tiêu ngăn ngừa sự giatăng của TC/BP bao gồm:
Nâng cao hoạt động thể lựcCải thiện chất lượng khẩu phần ăn dựa trên các thực phẩm sẵn có ở địaphương
Những chương trình cộng đồng định hướng cho việc dự phòng TC/BPnên tạo một môi trường thuận lợi cho việc cải thiện những thói quen dinhdưỡng thích hợp và tạo ra sự hoạt động thể lực nhiều hơn cho cả cộng đồng
Trang 29Bảng 1.4 Độ mạnh của bằng chứng về các yếu tố nguy cơ liên quan đến béo phì [9]
Độ mạnh
bằng chứng
liên quan
Các yếu tố
Làm giảm nguy cơ Không liên
Thuyết phục
Rèn luyện thể lựcđiều đặn
Chế độ ăn nhiều chấtxơ
Lối sống tĩnh tại ănnhiều thức ăn có đậm
độ năng lượng cao,đậm độ vi chất thấp
Có khả năng
Nhà trường và giađình khuyến khíchtrẻ em chọn thức ănlành mạnh
Nuôi con bằng sữamẹ
Quảng cáo, khuyếnmại thức ăn nhanh,thức ăn có đậm độnăng lượng cao
Ăn uống nhiều bánhkẹo hoặc đồ ngọtMôi trường kinh tế xãhội không thích hợp
Có thể Thức ăn có chỉ số
đường huyết thấp
Mức proteintrong khẩuphần
Suất ăn nhiều
Ăn nhiều thức ănngoài gia đình
Hai giải pháp để đạt những mục tiêu này phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thểcủa quần thể dân cư và đặc biệt là điều kiện kinh tế Như vậy, ở các nướcđang phát triển, mục tiêu chính của can thiệp là khuyến khích nâng cao mứchoạt động thể lực và lối sống năng động Bên cạnh đó, cần hạn chế nhữngthức ăn có đậm độ năng lượng cao, nhiều chất béo, đường ngọt và thay thếdần những thức ăn truyền thống
Trang 30Chính sách phòng chống béo phì và những n lực thay đổi môi trườngnên tập trung vào tạo điều kiện cho các hành vi chính:
Lựa chọn thức ăn lành mạnh (loại ngũ cốc, trái cây và rau quả, chất béolành mạnh và các nguồn protein) và đồ uống
Hạn chế các loại thực phẩm không lành mạnh (ngũ cốc tinh chế và đồngọt, khoai tây, thịt đỏ, thịt chế biến) và đồ uống (đồ uống có đường)
Tăng hoạt động thể chất
Hạn chế "thời gian ngồi" liên tục lúc làm việc cũng như giải trí
Cải thiện giấc ngủ
Giảm căng thẳng
Người ta áp dụng 3 mục tiêu dự phòng sau đây:
Dự phòng cho cộng đồng: dự phòng trực tiếp lên tất cả người dân củacộng đồng Nhằm tuyên truyền dinh dưỡng hợp lí và lối sống năng động
Dự phòng chọn lọc: dự phòng có mục tiêu nhắm đến các cá nhân và cácnhóm có nguy cơ cao bị TC/BP.Tuyên truyền sâu hơn để các đối tượng hiểu
rõ và có thể tự giải quyết các nguy cơ
Dự phòng có mục tiêu: dự phòng có mục tiêu nhắm đến các cá nhân đã
bị thừa cân thực sự và những người tuy chưa bị béo phì nhưng có những chỉdấu sinh học cho thấy có sự thừa chất béo quá mức[9]
1.8 Một số nghiên cứu về thừa cân, béo phì ở phụ nữ
1.8.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Ấn Độ của tác giả LizaBowen và cộng sự thực hiện năm 2010 cho thấy rằng hoạt động thể lực là cóliên quan nhiều nhất đến chất béo trong cơ thể Chế độ ăn cũng rất quan trọng,với lượng chất béo và protein cao hơn và chế độ ăn ít carbohydrate có liênquan đến chất béo trong cơ thể Nghiên cứu tiến hành trên cả nam giới và phụ
nữ, nông thôn và thành thị, mẫu nghiên cứu rất lớn và sử dụng các công cụ đotin cậy Tuy nhiên, mối liên quan này không được tìm thấy một cách nhất
Trang 31quán giữa các quần thể Vì vậy nghiên cứu theo chiều dọc tiếp theo là cầnthiết để chỉ ra mối quan hệ nhân quả [48].
Năm 2012, một nghiên cứu cắt ngang của tác giả Raheb Ghorbani vàcộng sự thực hiện trên 749 phụ nữ từ 40-60 tuổi tại Iran nhằm đánh giá tìnhtrạng thừa cân béo phì ở nhóm đối tượng này Nghiên cứu này cho thấy, tỉ lệTC/BP là 80,8% (trong đó 45,4% phụ nữ thừa cân và 35,4% béo phì) cao hơnbáo cáo của hầu hết các nước khác Ngoài ra, béo phì có liên quan đến trình
độ học vấn và tình trạng kinh nguyệt của phụ nữ tuổi trung niên Nghiên cứunày sử dụng thiết kế cắt ngang và kinh tế gia đình, chất lượng cuộc sống đượcđối tượng tự khai báo[57]
Khảo sát cắt ngang năm 2013 tại Brazil do Jaqueline và cộng sự thựchiện trên 253 phụ nữ trung niên từ 40-60 tuổi cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì
là 66% (trong đó: 30,8% thừa cân, 35,2% béo phì) Kết quả nghiên cứu chothấy rằng việc can thiệp về dinh dưỡng để kiểm soát cân nặng và thay đổi cáchành vi có liên quan có thể mang lại những lợi ích đáng kể về sức khoẻ vàchất lượng cuộc sống của phụ nữ trung niên Nghiên cứu sử dụng phươngpháp chọn mẫu không xác suất, có thể làm hạn chế tính giá trị bên ngoài củakết quả [39]
Nghiên cứu của tác giả Marie và cộng sự tại Lebanon được tiến hành từnăm 2008-2009 trên 1453 phụ nữ cho thấy tỷ lệ béo phì gia tăng theo nhómtuổi từ 40-59 tuổi (trong đó từ 40-49 là 28,7%, từ 50-59 là 48,7%) Kết quảcho thấy béo phì có mối quan hệ đáng kể với tình trạng kinh tế xã hội ở phụ
nữ, giảm khi trình độ học vấn cao, mức thu nhập cao và nhấn mạnh tầm quantrọng của yếu tố dinh dưỡng Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn trực tiếp, cácbiện pháp nhân trắc được xác định bởi các chuyên gia dinh dưỡng đã đượchuấn luyện, sử dụng dụng cụ đã được hiệu chuẩn để loại trừ khả năng báo cáothấp hơn hoặc đánh giá quá cao trọng lượng và chiều cao Đánh giá chế độ ănuống được thực hiện bởi các chuyên gia dinh dưỡng được đào tạo[50]
Trang 32Nghiên cứu theo dõi trong 15 năm của tác giả Chantal và cộng sự tiếnhành trên 5344 người trung niên và cao tuổi tại Rotterdam để đánh giá tácđộng của hoạt động thể lực lên mối liên quan giữa thừa cân, béo phì và cácbệnh lý tim mạch Ở những người có hoạt động thể lực ít thì nguy cơ bị bệnhtim mạch cao hơn 1,22 lần so với hoạt động nhiều với HR =1,22 (KTC95%1,06-1,41) Những phát hiện cho thấy tác động có lợi của hoạt động thể lựcđối với bệnh tim mạch có thể lớn hơn tác động tiêu cực của chỉ số khối cơ thểgiữa người trung niên và người cao tuổi Nghiên cứu này được thực hiện trên
cỡ mẫu lớn, thời gian theo dõi tương đối dài, bộ câu hỏi đã được chứng minh
là có giá trị và đáng tin cậy Tuy nhiên, thông tin về hoạt động thể chất do đốitượng tự báo cáo có thể dẫn đến sai lệch thông tin, chế độ ăn uống khôngđược thu thập cùng lúc với BMI và hoạt động thể chất [30]
Theo báo cáo của WHO năm 2014, tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ từ 18tuổi là 52% và có xu hướng ngày càng gia tăng (trong đó thừa cân là 39% vàbéo phì là 13%) Thừa cân và béo phì là những yếu tố nguy cơ chính cho một
số bệnh mãn tính, bao gồm tiểu đường, bệnh tim mạch và ung thư Trước đâythừa cân, béo phì được coi là một vấn đề chỉ ở các nước có thu nhập cao,nhưng hiện nay lại đang gia tăng đáng kể đối với các quốc gia có thu nhậpthấp và trung bình, đặc biệt là ở các khu vực thành thị[79]
Một phân tích gộp của tác giả Kelly và cộng sự để ước tính tỉ lệ chung vàgánh nặng của thừa cân và béo phì trên thế giới, các vùng khác nhau trongnăm 2005 và dự báo gánh nặng toàn cầu vào năm 2030 dựa trên dữ liệu của
106 quốc gia Kết quả phân tích cho thấy tỉ lệ thừa cân và béo phì đang giatăng ở mức báo động ở các nước và trên toàn thế giới, số lượng được dự báo
sẽ là 2,16 tỷ người thừa cân và 1,12 tỷ người béo phì vào năm 2030 Phân tíchnày chỉ sử dụng giá trị BMI trung bình được báo cáo từ các quốc gia trên thếgiới để chuyển thành tỷ lệ thừa cân và béo phì và dự báo cho tương lai [64].Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu của tác giả Qi Sun và cộng sự thực hiện
Trang 33phì ở tuổi trung niên có liên quan đến khả năng duy trì tình trạng sức khoẻ tối
ưu trong số những người sống sót đến sau 70 tuổi Kết quả nghiên cứu chothấy rằng phụ nữ có BMI bình thường thì có khả năng sống còn cao hơn sovới phụ nữ béo phì[55]
Một báo cáonăm 2012 của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật
về thói quen dinh dưỡng, vận động thể lực với tình trạng béo phì của ngườitrưởng thành tại Colorado cho thấy có 77,8% người trưởng thành bịTC/BP(trong đó: 56,8% bị thừa cânvà 21,0% bị béo phì), 52,1% người trưởngđạt ít nhất 300 phút m i tuần của cường độ hoạt động thể chất trung bìnhhoặc 150 phút một tuần hoạt động cường độ mạnh Kết quả cũng cho thấymột tỉ lệ thấp đối tượng ăn từ 2 lần trái cây trong ngày (35,5%) và từ 3 đơn vịrau trong ngày (25,3%)[24]
Một nghiên cứu cắt ngang của tác giả C-J Chang thực hiện trên 512 phụ
nữ tại Trung Quốc cho thấy thông qua quá trình lão hóa và mãn kinh, phụ nữ
sẽ tăng tổng lượng chất béo trong cơ thể, phân bố mỡ vùng trung tâm Tuổi,mãn kinh và béo phì trung tâm là những yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch ở phụ
nữ Trung Quốc[22]
1.8.2 Các nghiên cứu trong nước
Việt Nam đang phải đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, thừa cânbéo phì và các bệnh mãn tính không lây có liên quan đến dinh dưỡng đang có
xu hướng gia tăng, đặc biệt là các thành phố lớn Trong những năm gần đây, tỉ
lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao thì tỉ lệ thừa cân, béo phì và các bệnh mãn tínhkhông lây gia tăng ở mọi lứa tuổi và các vùng miền dẫn đến thay đổi mô hìnhbệnh tật và tử vong[5]
Nghiên cứu trên đối tượng trung niên từ 40 đến 59 tuổi tại thành phố HồChí Minh của tác giả Trần Thị Minh Hạnh và cộng sự năm 1999 cho thấy,trong khi các vấn đề về suy dinh dưỡng đang được thảo luận kỹ lưỡng, cácvấn đề về dư thừa trong chế độ ăn uống ở các nước đang phát triển phần lớn
bị bỏ qua Tỷ lệ thừa cân trong nghiên cứu không cao và tỷ lệ cao nhất được
Trang 34quan sát thấy ở khu vực thành thị là 18% và nông thôn là 6,1% Tuy nhiên,hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, tỷ lệ thừa cân, béo phìnày có thể tăng lên Nghiên cứu có ưu điểm là đánh giá được khẩu phần ăn24h, tần suất tiêu thụ thực phẩm của đối tượng, ngoài ra còn thu thập đượccác số đo nhân trắc, huyết áp và xét nghiệm một số chỉ số sinh hóa [63].
Một nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên phụ nữ từ 20-60 tuổi tại 13quận Thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Trần Quốc Cường và cộng sự chothấy tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ có tỉ lệ là 33,6%, trong đó tỉ lệ TC/BP giatăng dần theo nhóm tuổi từ 40-49 là 49,5% và 50-59 là 55,5% Vấn đề thừacân và béo phì phổ biến hơn ở phụ nữ so với ở nam giới và ở nhóm tuổi lớnhơn Các chính sách y tế công cộng thích hợp là cần thiết để giải quyết vấn đề
và cần phải giám sát tiếp theo để ước tính các xu hướng về tình trạng dinhdưỡng ở Việt Nam và cung cấp thông tin để đánh giá các can thiệp trongtương lai [65]
Một nghiên cứu cắt ngang của tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sựthực hiện năm 2010 trên 862phụ nữ (từ 20 tuổi trở lên) tại Thành phố Hồ ChíMinh cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ là 19% và tỉ lệ TC/BP, phầntrăm mỡ cơ thểđều gia tăng theo độ tuổi từ 40 đến 60 tuổi (trong đó : nhómtuổi 40-49 là 34,5% và 50-59 là 35,6%) Nghiên cứu là một điều tra cắtngang, do đó không thể đưa ra bất kỳ suy luận nhân quả nào đối với mối quan
hệ giữa phần trăm mỡ cơ thể và BMI Những người tham gia khảo sát đượclấy mẫu từ một khu đô thị, do đó kết quả này có thể không khái quát được đốivới toàn bộ dân số Việt Nam, nơi có gần 70% dân số sống ở nông thôn Tuynhiên, kết quả cũng cung cấp một cái nhìn tổng quát về gánh nặng thừa cân,béo phì ở một quần thể đang trải qua quá trình chuyển đổi nhanh chóng và làmột tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu trong tương lai[46]
Nghiên cứu của tác giả Trần Quang Bình và cộng sự vào năm 2010 tạiHải Dương trên 890 phụ nữ từ 35-70 tuổi khảo sát về các yếu tố nguy cơ của
Trang 35là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với bệnh đái tháo đường týp 2 ở phụ nữViệt Nam Các yếu tố nguy cơ được tìm thấy trong nghiên cứu cắt ngang hiệntại là những yếu tố dự báo tiềm năng quan trọng cần được xác nhận trong cácnghiên cứu theo dõi Thứ hai, dữ liệu về hoạt động thể chất, lượng thức ăn ănđược, và lipid máu không được khảo sát trong nghiên cứu này để đánh giá tácđộng tiềm tàng[66].
Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Đ Thái Hòa và cộng sự được tiếnhành năm 2013 trên 1.200 người nhóm tuổi 40-59 tại huyện Đông Sơn, tỉnhThanh Hóa nhằm mô tả thực trạng kiến thức, hành vi nguy cơ đối với bệnhkhông lây nhiễm Kết quả của nghiên cứu về mức tiêu thụ rau quả trong khẩuphần ăn chưa đáp ứng với khuyến cáo của WHO Tỷ lệ người trung niên ở 2nhóm, từ 40-49 tuổi và từ 50-59 tuổi sử dụng dầu thực vật thường xuyêntrong chế biến thức ăn là 66,8% và 68,8% Nghiên cứu khảo sát tạo cộngđồng với cỡ mẫu lớn, sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc trên cơ sởtham khảo bộ câu hỏi điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm củaWHO Tuy nhiên, trong khảo sát không tiến hành đánh giá tình trạng thừacân, béo phì của phụ nữ từ 40-59 tuổi thông qua các chỉ số nhân trắc[4]
Một số nghiên cứu tại Trà Vinh đều cho thấy thừa cân béo phì tuổi trungniên có liên quan đến tình trạng sức khỏe của phụ nữ Nghiên cứu cắt ngangnăm 2012 của tác giả Cao Mỹ Phượng và cộng sự tại Trà Vinh trên 14.492đối tượng từ 40 tuổi trở lên, kết quả cho thấy tình trạng thừa cân, béo phì cóliên quan đến vấn đề cao huyết áp của đối tượng [12] Nghiên cứu ở 650 phụ
nữ trên 45 tuổi tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh năm 2010 của tác giảNguyễn Thị Phương Lan cho thấy tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ có tỉ lệ là36,1% và có liên quan đến tình trạng rối loạn lipid máu[10].Các nghiên cứutrên cho thấy tỉ lệ TC/BP ở phụ nữ ngày càng gia tăng, đặc biệt là vùng nôngthôn và là nguy cơ tiềm ẩn cho một số bệnh không lây Tuy nhiên, hiện tạichưa có nghiên cứu nào tại Trà Vinh khảo sát về thừa cân, béo phì và các yếu
tố liên quan ở phụ nữ tuổi trung niên, đặc biệt trên đối tượng phụ nữ người
Trang 36dân tộc Khmer Vì vậy, việc xác định tỉ lệ thừa, béo phì ở phụ nữ nông thôn,
có nhiều đồng bào dân tộc Khmer nhằm phát hiện sớm tình trạng này sẽ gópphần cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như dự phòng được những vấn đềbệnh tật liên quan
1.9 Thông tin về địa điểm nghiên cứu
Càng Long là một huyện nằm ở phía bắc của tỉnh Trà Vinh Trung tâmcủa huyện nằm ven Quốc lộ 53, nối liền hai tỉnh Trà Vinh vàVĩnh Long, cáchthành phố Trà Vinh khoảng 21 km, cách Vĩnh Long 43 km Càng Long đượcxem là cửa ngỏ giao lưu kinh tế – văn hóa – xã hội của Trà Vinh với các tỉnhtrong khu vực đồng bằng sông Cửu Long
- Phía Đông giáp huyện Châu Thành và thị xã Trà Vinh
- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long
- Phía Nam giáp huyện Tiểu Cần và huyện Cầu Kè
- Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Bến Tre
Toàn huyện có 14/14 xã – thị trấn, với 136 ấp – khóm gồm có 1 thịtrấn Càng Long và 13 xã trực thuộc: An Trường, An Trường A, CàngLong, Bình Phú, Đại Phúc, Đại Phước, Đức Mỹ, Huyền Hội, Mỹ Cẩm, NhịLong, Nhị Long Phú, Phương Thạnh, Tân An, Tân Bình
Toàn huyện có tổng cộng 171.955 người với mật độ dân số đạt 563người/km² Trong đó, dân tộc Khmer chiếm 5,64% so với tổng số dân Số laođộng trong tỉnh đạt 96.870 người gồm 94.628 lao động có việc làm và 2.242lao động không có việc làm Phụ nữ nhóm tuổi từ 40-59 chiếm số lượng khálớn là 23.272 người vào năm 2017
Huyện Càng Long là đơn vị "Cửa ngõ" của tỉnh Trà Vinh, vị trí và tầmvóc đã được xác định là vùng kinh tế trọng điểm trong tương lai, phát triểnmạnh mẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội đã làm thay đổi cuộc sống và tình hìnhsức khỏe của người dân, trong đó có phụ nữ[17], [16]
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Tháng 3/2017 đến tháng 5/2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ:
n =Trong đó: p là tỉ lệ thừa cân, béo phì ở phụ nữ từ 45 tuổi trở lên theonghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Lan năm 2010 tại huyện Cầu Ngang, tỉnhTrà Vinh thì tỉ lệ này là 36,1% (chọn p = 0,36) [10]
n là số đối tượng cần điều tra
Độ tin cậy 95% thì Z = 1,96Sai số cho phép: d = 0,05
Từ công thức trên ta có:
Trang 38Sử dụng phương pháp chọn mẫu PPS, cỡ mẫu được điều chỉnh với hệ số
thiết kế là 1,5 Như vậy, tổng cỡ mẫu nghiên cứu là 531 phụ nữ.
Chọn mẫu Bước 1: Chọn ấp/khóm bằng phương pháp chọn mẫu PPS
- Lập danh sách 136 ấp/khóm của huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
- Từ danh sách này chọn ra 30 cụm theo phương pháp PPS Tổng số phụ
nữ từ 40-59 tuổi của huyện Càng Long năm 2017 là 23.272, như vậy phân bốchọn mẫu sẽ là:
- Ấp/khóm đầu tiên được chọn theo bảng số ngẫu nhiên từ 1 đến 776, rơivào số 168, ấp Lo Co B xã An Trường A theo danh sách có số thứ tự chứa sốnày Tiếp theo cộng 168 + 776 = 944, xã tiếp theo là ấp Lo Co C thuộc xã AnTrường A, chọn như vậy cho đến khi đủ 30 cụm theo danh sách
Bước 2: chọn đối tượng tại m i cụm (ấp)
Lập danh sách phụ nữ từ 40-59 tuổi của 30 cụm được chọn Cỡ mẫunghiên cứu là 531 nên số phụ nữ được chọn tại m i cụm là 18 người Sau đó,
sử dụng phương pháp chọn ngẫu nhiên đơn dựa trên danh sách phụ nữ đượccung cấp
2.2.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
Tiêu chí đưa vào
Phụ nữ từ 40-59 tuổi đang sống tại huyện Càng Long năm 2017 đồng ýtham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại ra
- Mời đối tượng 2 lần không gặp
- Đối tượng mắc các bệnh ảnh hưởng đến trọng lượng cơ thể: basedow,phù thận, Cushing, xơ gan
- Không thu thập được các chỉ số nhân trắc (mất chi, gù vẹo cột sống)
23272
= 775,7 ~ 77630
Trang 39- Phụ nữ đang mang thai và cho con bú trong 12 tháng đầu.
2.2.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
- Phỏng vấn viên mời đối tượng đến (nhà cộng tác viên ấp/khóm), giớithiệu cho đối tượng về nghiên cứu và ký vào phiếu đồng ý tham gia, sau đóxin ghi nhận các chỉ số nhân trắc và tiến hành phỏng vấn đối tượng bằng bộcâu hỏi được soạn sẵn
- Bộ câu hỏi soạn sẵn: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc trên cơ
sở tham khảo bộ câu hỏi điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễmcủa WHO[74].Bộ câu hỏi này đã được dịch sang tiếng Việt và được áp dụngtrong một số điều tra tại Việt Nam với tính giá trị và độ tin cậy cao[54], [69].Sau khi thiết kế, bộ câu hỏi được thử nghiệm tại cộng đồng để đánh giá, điềuchỉnh và hoàn thiện trước khi sử dụng, thích hợp trình độ người dân Đối vớiphụ nữ người dân tộc sẽ có người h trợ phiên dịch nếu đối tượng không hiểuđược tiếng Việt
- Kết hợp đo lường các chỉ số nhân trắc: chiều cao, cân nặng, vòng eo,vòng mông
Các công cụ đo lường chiều cao, cân nặng gồm:
- Đo cân nặng: dùng cân đa năng Tanita của Nhật với sai số 100g Cânđược kiểm tra, để ở vị trí ổn định, bằng phẳng và chỉnh về vị trí 0 trước khicân Khi cân phải bỏ giày dép, không mang vật nặng
- Đo chiều cao bằng thước cuộn có điểm giữ cố định: để thước đo theochiều thẳng đứng, vuông góc với mặt phẳng nằm ngang Đối tượng bỏ dép (đichân không), đứng thẳng lưng áp vào thước đo, mắt nhìn thẳng ra phía trướctheo đường thẳng nằm ngang, hai gót chân chụm hình chữ V, dùng thướcthẳng đặt vuông góc ở nơi cao nhất của đỉnh đầu, ghi nhớ và đọc kết quả ghitheo centimet
- Vòng eo và vòng mông: m i chỉ số được đo khi đối tượng ở tư thế đứngthẳng, tư thế thoải mái và đo mức chính xác đến 0,1cm
Trang 40Vòng eo là vòng bé nhất ở bụng đi qua điểm giữa bờ dưới xương sườn vàđỉnh mào chậu Vòng mông là vòng lớn nhất đi qua mông [6].
- Điều tra viên sử dụng tập ảnh khi phỏng vấn về thói quen ăn uống vàhoạt động thể lực để dễ dàng gợi nhớ cho đối tượng
- Điều tra viên được tập huấn về mục đích, cách tiến hành phỏng vấn đốitượng, cách đo các chỉ số nhân trắc: chiều cao, cân nặng, vòng eo, vòngmông
2.3 Biến số nghiên cứu
2.3.1 Biến số về nhân khẩu học và kinh tế xã hội
- Tuổi: tính tuổi bằng cách lấy năm dương lịch trừ cho năm sinh của đối
tượng và được chia thành 4 nhóm:
+ 40-44 tuổi+ 45-49 tuổi+ 50-54 tuổi+ 55-59 tuổi
- Dân tộc: là biến danh định gồm 4 giá trị: Kinh, Khmer, Hoa, khác.
- Tôn giáo: là biến danh định gồm 4 giá trị: Phật, Thiên chúa, không,
khác
- Trình độ học vấn: là biến danh định, gồm các giá trị:
+ Không biết đọc, không biết viết+ Biết đọc, biết viết
+ Lớp 1-lớp 5+ Lớp 6-lớp 9
+ Lớp 10-lớp 12
+ Trên lớp 12
- Tình trạng hôn nhân: là biến danh định gồm các giá trị:
+ Độc thân: đối tượng chưa từng kết hôn lần nào+ Có chồng: hiện đang sống với chồng