Theo kết quả của một nghiên cứu bệnh – chứng về mức độ tiêu thụrượu bia, cà phê và thuốc lá với bệnh Parkinson được thực hiện ở Hà Lan năm 2014, được thực hiện trên tổng số 1.320 bệnh nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-LÂM MINH QUANG
MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỨC ĐỘ HÚT THUỐC LÁ
VÀ UỐNG RƯỢU BIA VỚI BỆNH PARKINSON Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC
Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-LÂM MINH QUANG
MỐI LIÊN QUAN GIỮA MỨC ĐỘ HÚT THUỐC LÁ
VÀ UỐNG RƯỢU BIA VỚI BỆNH PARKINSON Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC
Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Y tế Công cộng
Mã số: 60720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Đỗ Nguyên
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này là được ghi nhận, nhập liệu
và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, vănbản, tài liệu đã được Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh hay trường đại họckhác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũng không
có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khai thừanhận
Đề cương nghiên cứu đã được chấp thuận về mặt y đức trong nghiên cứu
từ hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học số 05 /ĐHYD-HĐ kí ngày10/01/2017
Tác giả
Lâm Minh Quang
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 6
1.1 Bệnh Parkinson 6
1.2 Thuốc lá 16
1.3 Rượu bia 18
1.4 Tình hình sử dụng rượu bia và thuốc lá 20
1.5 Một số nghiên cứu các yếu tố liên quan đến bệnh Parkinson 23
1.6 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 31
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32
2.3 Đối tượng nghiên cứu 32
2.4 Tiêu chí chọn mẫu 34
2.5 Thu thập dữ kiện 36
2.6 Xử lý và phân tích dữ kiện 37
2.7 Liệt kê và định nghĩa các biến số 37
2.8 Y đức 40
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 42
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 48
4.1 Đặc tính mẫu nghiên cứu 48
4.2 Mối liên quan giữa mức độ hút thuốc lá và mức độ uống rượu/bia với bệnh Parkinson 49
4.3 Những yếu tố liên quan đến bệnh Parkinson 54
4.4 Những yếu tố không liên quan đến bệnh Parkinson 55
4.5 Mô hình hồi quy logistic đa biến về mức độ hút thuốc lá và mức độ uống rượu/bia, tuổi, giới, tiền sử gia đình bị bệnh Parkinson, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất trừ sâu/diệt cỏ, tiền sử chấn thương đầu 58
Trang 54.6 Những điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 59
4.7 Những điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 61
KẾT LUẬN 62
ĐỀ XUẤT 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT
Trang 6ADN: Deoxyribonucleic axit
AUDIT: The Alcohol Use Disorders Identification Test
GABA: Axit gamma-aminobutyric
MPTP: 1-methyl-4-phenyl-1,2,3,6-tetrahydopyrdin
LSD: Lysergic axit diethylamit
PAH: Polycyclic aromatic hydrocarbon
PCR: Polymerase Chain Reaction (phản ứng chuỗipolymerase)
PR: Prevalence ratio (tỷ số tỷ lệ hiện mắc)
TCYTTG: Tổ chức Y tế Thế giới
TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7Bảng 3.6: Mô hình hồi quy logistic đa biến về tuổi, tiền sử gia đình bị bệnhParkinson với bệnh Parkinson (mô hình 2)
Hình 1: Trình bày mối liên quan giữa các biến số trong nghiên cứu
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Parkinson là một bệnh mạn tính thường gặp trong các bệnh của hệ ngoạitháp, thường gặp ở người cao tuổi và có xu hướng tăng lên theo tuổi thọ trungbình [4] Theo thống kê: độ tuổi khởi bệnh Parkinson là khoảng trên 60 tuổi,
tỷ lệ hiện mắc là từ 90 – 100/100.000 dân và tỷ lệ mới mắc trong 1 năm là20/100.000 dân [13] Đây là bệnh rối loạn thoái hóa thần kinh tiến triển nặngdần, phổ biến và chỉ thứ hai sau bệnh Alzheimer, ảnh hưởng rất lớn đến cuộcsống sinh hoạt của bệnh nhân [10] Điều đáng báo động hợn là bệnhParkinson có dấu hiệu ngày càng trẻ hoá, ở độ tuổi từ 30 – 40 [6], [14]
Bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là một bệnh viện
mà hàng năm đều có nhiều bệnh nhân từ Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
và các tỉnh đến khám Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận 6.500 người bệnh từkhắp các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong khu vực, trong đó cóbệnh nhân Parkinson [1] Năm 2015, bệnh viện đã tiếp nhận 1.089 bệnh nhânParkinson đến khám [14]
Nói về các bệnh mạn tính không lây, việc sử dụng một lượng lớn thuốc
lá và rượu bia và trong một khoảng thời gian dài góp phần không nhỏ vàoviệc gây ra các căn bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽnmạn tính, viêm gan, xơ gan… [21], [22] Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thếgiới (TCYTTG): nước ta hiện nay có khoảng 50% nam giới và 3,4% nữ giớitrưởng thành có hút thuốc lá, tỷ lệ này là cao nhất châu Á [22] Theo kết quảthống kê của hơn 1.000 bệnh viện nước ta trong năm 2009 cho thấy: có tới60% bệnh nhân đến khám và điều trị các bệnh không lây có nguyên nhân từhút thuốc lá [7] Mặt khác, theo một khảo sát toàn dân ở huyện Tân Phú, tỉnhĐồng Nai năm 2012 cho thấy: nam hút trung bình là 14,1 điếu và nữ là 9,7điếu mỗi ngày, và lượng tiêu thụ thuốc lá này là không ít [11] Bên cạnh thựctrạng về thuốc lá, không thể không nói đến tác hại của việc sử dụng rượu bia
Trang 9Có nhiều nghiên cứu đã cho thấy việc uống rượu vừa phải là có lợi cho sứckhỏe, tuy nhiên lạm dụng rượu sẽ cho kết quả ngược lại Nghiên cứu củaHoàng Thị Phượng và cộng sự về tình hình sử dụng và lạm dụng rượu bia ởmột số tỉnh của Việt Nam cho thấy: mức độ sử dụng rượu bia trung bình làkhá cao: 5,1 đơn vị/lần, 6,4 đơn vị/ngày và 26,1 đơn vị/tuần, vượt xa ngưỡng
sử dụng rượu an toàn của TCYTTG [12] Có 33,5% số người từ 15 tuổi trởlên có sử dụng rượu bia ít nhất một lần trong tuần, trong đó độ tuổi từ 35 – 60tuổi có xu hướng sử dụng và lạm dụng rượu bia nhiều hơn so với các nhómtuổi còn lại, trong khi đây là nhóm tuổi mà sự xuất hiện các bệnh không lâytrở nên phổ biến [12], và những tổn hại thần kinh do rượu bia gây ra là rấtnặng nề [15]
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn chưa tìm thấy các bằng chứng tạiViệt Nam cho thấy ảnh hưởng của hút thuốc lá và uống rượu bia đối với bệnhParkinson Theo kết quả của một nghiên cứu bệnh – chứng về mức độ tiêu thụrượu bia, cà phê và thuốc lá với bệnh Parkinson được thực hiện ở Hà Lan năm
2014, được thực hiện trên tổng số 1.320 bệnh nhân Parkinson và nhóm chứngđược chọn từ 5 bệnh viện ở 4 khu vực khác nhau ở Hà Lan, bằng phươngpháp phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, phương pháp phân tích hồi quy logistic hiệuchỉnh tuổi và giới, với thời gian hút thuốc lá được tính là số năm từ lúc hútcho đến lúc bỏ hút, trừ đi khoảng thời gian không hút, mức độ hút được tínhvới đơn vị là gói-năm, và mức độ uống rượu được tính là số lượng rượu tiêuthụ trung bình trong 1 ngày nhân cho số năm ước tính tiêu thụ, đơn vị là tiêuthụ-năm, kết quả cho thấy: số gói-năm càng tăng thì số chênh bị bệnhParkinson càng giảm, tuy nhiên không có mối liên quan giữa mức độ tiêu thụrượu bia với bệnh Parkinson [34] Thế nhưng, nghiên cứu này có mặt hạn chế
là tỷ lệ đồng ý tham gia nghiên cứu ở nữ thấp hơn nam, và phụ thuộc vàotuổi: ở độ tuổi dưới 70 thì bệnh nhân Parkinson tham gia phỏng vấn chỉ có66% [34] Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: hút thuốc lá là yếu tố bảo vệ
Trang 10cho bệnh Parkinson, thế nhưng mặt hạn chế nữa trong nghiên cứu này là đãkhông đưa yếu tố tiền sử gia đình bị bệnh Parkinson vào để kiểm soát, do đóđiều này có thể làm kết quả nghiên cứu chưa được rõ ràng, trong khi hútthuốc lá, uống rượu bia bảo vệ bệnh là trái về mặt y khoa Liệu rằng thực sự
có mối liên quan giữa mức độ hút thuốc lá và uống rượu bia với bệnhParkinson ở bệnh nhân hay không, song đến nay những số liệu thống kê nàyvẫn chưa tìm thấy ở nước ta
Xuất phát từ những thực tiễn trên, đề tài “Mối liên quan giữa mức độ hútthuốc lá và uống rượu bia với bệnh Parkinson ở bệnh nhân đến khám tại Bệnhviện Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện để kiểm chứnglại vấn đề nêu trên Sử dụng kết quả của nghiên cứu này để đóng góp số liệuphục vụ cho nghiên cứu khoa học, nhằm đưa ra cơ sở khoa học của việc thayđổi lối sống, từ đó góp phần giảm gánh nặng bệnh tật do bệnh Parkinson gây
ra cho con người và cả cộng đồng
Trang 11CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:
Có phải mức độ hút thuốc lá và uống rượu/bia càng nhiều thì càng tăng
số chênh bị bệnh Parkinson ở bệnh nhân hay không?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Mục tiêu tổng quát:
Xác định mối liên quan giữa mức độ hút thuốc lá, uống rượu/bia vớibệnh Parkinson ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đại học Y dượcTP.HCM năm 2017
Mục tiêu cụ thể:
1 Xác định mức độ hút thuốc lá, uống rượu/bia ở 2 nhóm có và không
có bệnh Parkinson ở bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Đại học Ydược TP.HCM năm 2017
2 Xác định mức độ kết hợp (bằng tỷ số số chênh) giữa mức độ hútthuốc lá, uống rượu/bia với bệnh Parkinson ở bệnh nhân đến khám tạiBệnh viện Đại học Y dược TP.HCM năm 2017
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Ở những bệnh nhân có hút thuốc lá thì có số chênh bị bệnh Parkinsonbằng 2 lần so với những người không hút thuốc lá
Ở những bệnh nhân có uống rượu/bia thì có số chênh bị bệnh Parkinsonbằng 2 lần so với những người không uống rượu/bia
Trang 12Hình 1: Trình bày mối liên quan giữa các biến số trong nghiên cứu
- Tuổi
- Giới
Bệnh ParkinsonMức độ hút thuốc lá
Mức độ uống rượu/bia
Tiền sử bệnh và gia đình:
- Tiền sử gia đình bị bệnh Parkinson
- Tiếp xúc với hóa chất trừ sâu/diệt cỏ
- Tiền sử chấn thương đầu
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1.1 Bệnh Parkinson
1.1.1 Định nghĩa
Bệnh Parkinson tự phát: là bệnh thường gặp nhất của rối loạn thoáihóa thần kinh tiến triển, được biểu hiện bởi các đặc trưng lâm sàngcủa bệnh Parkinson: ít cử động và vận động chậm chạp, run khi nghỉ,cứng cơ, thay đổi dáng điệu, mất vững tư thế [4], [16]
Mặc dù định nghĩa về phương diện lâm sàng như là một rối loạnvận động, bệnh Parkinson cũng có thể được kèm theo các triệu chứngkhông thuộc vận động khác, bao gồm thần kinh thực vật, cảm giác,giấc ngủ, nhận thức và các rối loạn tâm thần [16]
Về phương diện bệnh học, bệnh Parkinson được biểu hiện bởi mất
tế bào dopaminergic trong chất đen và ứ động nơron α-synuclein [16].Cần phân biệt:
- Hội chứng Parkinson: là hội chứng gồm các triệu chứng run,giảm vận động và cứng đơ do các nguyên nhân khác nhau [19]
- Bệnh Parkinson: hội chứng Parkinson do thoái hóa não [19]
1.1.2 Các chất dẫn truyền thần kinh
Chất dẫn truyền thần kinh còn gọi là trung gian thần kinh, là mộtchất bảo đảm sự dẫn luồng thần kinh qua khớp thần kinh Phần lớn cácchất truyền dẫn thần kinh có thể là sản phẩm của chuyển hóa não (nhưcác axit amin) hoặc là những hóc-môn (như các amin và peptit) [6]
Có thể chia ra bốn nhóm chất dẫn truyền thần kinh [6]:
- Các axit amin: axit gamma-aminobutyric (GABA), axit glutamic,axit aspartic, glycin, taurin
- Các amin: acetylcholin (ACH), dopamin (DA), nor – adrenalin(NA), adrenalin (A), serotonin (5-hydroxytryptamin) (5TH),histamin
Trang 14Theo Tổ chức WEMOVE ở Hoa kỳ cho biết, tỷ lệ bệnh Parkinsontoàn bộ từ 57 – 371 cho 100.000 người, còn ở Canada là 300/100.000.Mặt khác, có từ 35% đến 42% trường hợp chưa được chẩn đoán Còn
tỷ lệ mới phát hiện cũng ở Hoa Kỳ và Canada dao động từ 5 đến 24cho 100.000 người mỗi năm Khoảng 4 – 10% trường hợp xảy ratrước 40 tuổi [6]
Có khoảng 1 triệu cư dân ở Mỹ mắc bệnh Parkinson, khoảng 1% cưdân Mỹ trên 55 tuổi có bệnh Parkinson, và khoảng 1% bệnh nhânbệnh Parkinson dưới 50 tuổi Ở Châu Âu, tỷ lệ mắc bệnh Parkinson ởnhững người trên 65 tuổi là 1,6% [19]
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh Parkinson so với các bệnh thần kinhkhác là khoảng 1,6% [19] Tuổi của đỉnh khởi phát bệnh trong nhữngnăm đầu là 60 tuổi Thường gặp ở nam nhiều hơn nữ [16]
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ
Các yếu tố nguy cơ của bệnh Parkinson có thể là [16], [19]:
Trang 15- Phơi nhiễm với vài độc tố thần kinh (như khí CO, manganese,một vài thuốc trừ sâu).
Các yếu tố làm giảm nguy cơ cho bệnh Parkinson có thể là [16]:
- Uống cà phê
- Hút thuốc
- Dùng kháng viêm non-steroid
- Dùng estrogen thay thế ở những phụ nữ sau mãn kinh
Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu về cơ chế của các yếu tốnguy cơ này đối với bệnh Parkinson
1.1.5 Nguyên nhân
Gần như tất cả các thể của hội chứng Parkinson là kết quả từ [16]:
- Giảm sự dẫn truyền hệ thống dopamin bên trong hạch nền
- Sự ứ đọng các hạt thể vùi giữa các nơron thần kinh thâm nhiễmbạch cầu ái toan (thể Lewy) Tổn thương rộng khắp của thân não,khứu giác, đồi thị, và cấu trúc vỏ não giải thích sinh lý cơ bảncủa các dấu hiệu và triệu chứng không thuộc vận động
Có hơn 75% của hội chứng Parkinson ngẫu nhiên và tự phát (bệnhParkinson) [16]
Còn lại dưới 25% hội chứng Parkinson do di truyền hay nguyênnhân khác (như các rối loạn thoái hóa thần kinh khác, bệnh mạch máunão, và do thuốc) [16]:
- Các đột biến của nhiều gen khác nhau là nguyên nhân của các thểhội chứng Parkinson có tính gia đình (PARK1 đến PARK10), độtbiến α-synuclein (PARK1) hay sao chép thêm gen này (PARK4),tất cả là những nguyên nhân về gen
- Sự di truyền có vai trò quan trọng hơn nếu tuổi khởi phát dưới 45tuổi
Hiện nay có 4 giả thuyết lớn về nguyên nhân của bệnh Parkinson[6]:
Trang 16- Phần lớn trường hợp không thấy rõ nguyên nhân:
Tuy nhiên người ta chú ý tới:
o Giả thuyết virut:
Điển hình là các trường hợp xảy ra sau đại dịch viêm não mê ngủvon Economo – Cruchet 1915 – 1920 vì 70 – 80% các bệnh nhânviêm não đó có các di chứng giống như trong bệnh cảnh Parkinson.Còn đối với các trường hợp xảy ra sau viêm não Nhật Bản hoặc dogiang mai cũng hiếm Người ta không thấy có trường hợp bệnhnhân nào mới mắc viêm não mê ngủ từ năm 1960 tới nay [6]
o Tự miễn:
Người ta đã cố gắng phát hiện được các kháng thể trong dịch não– tủy và huyết thanh của một số bệnh nhân mắc bệnh thứ phát saumột quá trình bệnh lý nhất định [6]
o Sự lão hóa:
Thực ra không có vai trò quan trọng trong sinh bệnh Tuy nhiêncác tổn thương trong não gặp ở tuổi già cũng có thể là biểu hiệntriệu chứng của bệnh Parkinson [6]
- Di truyền:
Có một số đặc điểm cần chú ý:
Tính chất di truyền của bệnh Parkinson rất hiếm và đến nay người
ta vẫn chưa biết rõ về sự biến đổi của gen [6] Tuy nhiên đã có một vàinghiên cứu đã tìm hiểu về các biến đổi của gen trong bệnh này
Biến dị của gen alpha-synuclein (thể nhiễm sắc 4q) đã được biếtđến [6]
Người ta cũng đã ghi nhận có biến dị của gen Parkin ở thể thiếuniên tự thể ẩn [6]
Các tài liệu cho rằng thể gia đình chiếm tỷ lệ 10%, chủ yếu là tự thểtrội Còn các trường hợp anh em sinh đội có tỷ lệ thấp dưới 5% [6]
- Môi trường:
Trang 17Nhiều độc tố khác nhau có thể liên quan đến bệnh cảnh Parkinson:
Cố điển là nhiễm độc nghề nghiệp với Mangan, độc tố MPTP methyl-4-phenyl-1,2,3,6-tetrahydopyrdin), những người bị nhiễm độc
(1-tố này thấy có biểu hiện của hội chứng Parkinson [6]
MPTP là độc tố ngoại lai, còn độc tố nội sinh là chất tetrahydro –isoquinolein beta – carbolin Độc tố đó phân hủy có tính chất chọn lọcđối với tế bào thần kinh dopamin – lực của liềm đen với cơ chế tácđộng là ức chế chuỗi hô hấp của thể ti lạp [6]
Ngoài ra các chất thuốc trừ sâu có cấu trúc giống MPTP sử dụng ởcác vùng nông thôn có thể gây ô nhiễm nguồn nước giếng tại địaphương nơi bệnh nhân cư trú [6]
Người ta cũng nêu lên tỷ lệ mắc bệnh Parkinson thấp ở ngườinghiện thuốc lá và giải thích là do có tương tác của chất nicotin đốivới chuyển hóa của dopamin cũng như tác dụng chống oxy hóa củaoxit carbon Tuy nhiên những thể bệnh Parkinson ở người hút thuốccũng không thấy nhẹ hơn so với người không hút thuốc [6]
Tóm lại, như vậy hiện nay có bốn giả thuyết và phần lớn người tachú trọng nhiều tới sự kết hợp giữa các nguyên nhân di truyền vớihoàn cảnh môi trường Nếu như các yếu tố về tiền sử gia đình đã đượcphát hiện cũng như các đặc điểm về tuổi già và vấn đề anh em sinh đôiđồng hợp tử có bệnh Parkinson sớm khởi phát đã được khẳng định thìcác yếu tố môi trường là những yếu tố nguy cơ rất khả nghi Các yếu
tố đó bao gồm các chất diệt cỏ, các thuốc trừ sâu, các kim loại nặng,nơi cư trú tại khu vực nông thôn, gần khu vực nông nghiệp, sử dụngnước giếng và tiền sử bị chấn thương đầu nhiều lần cần được điều trathận trọng đối với tất cả các trường hợp nghi mắc bệnh Parkinson
1.1.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng
Hội chứng Parkinson/Bệnh Parkinson bao gồm rất nhiều triệuchứng đặc sắc:
Trang 18- Triệu chứng cơ bản:
o Hội chứng run:
Run là những động tác bất thường, không hữu ý, là sự co nhịpnhàng luân chuyển của một nhóm cơ nhất định và các cơ đối độngtương ứng Run thường thấy rõ ở đầu ngọn – đầu ngón tay, bàn tay,bàn chân, cũng có thể ở cả mặt, đặc biệt ở môi, nhất là môi dưới, ởlưỡi khi bệnh nhân thè lưỡi ra; có khi run cả hàm dưới và cằm Run
ở ngọn chi xuất hiện khá sớm rồi dần dần lan lên gốc chi và thườngkhu trú ở một bên cơ thể trong những năm đầu của bệnh Hiệntượng run thường khởi phát lặng lẽ, âm thầm, có thể chỉ thấy ởngón chân hoặc ngón tay, thậm chí có khi chỉ rõ ở riêng ngón taycái [6]
Đây là một loại run nhỏ, vụn với tần số khoảng 4 – 8 lần trongmột giây nhưng cũng có thể nhanh hơn Nếu run ở đầu ngón tay thìgiống nhu động tác viên thuốc, rắc đường, rắc muối, cuộn thuốc lá,
ở chân thì như là động tác gõ nhịp [6]
Một đặc tính khác ở đây là những run của tư thế nửa nghỉ vì khilàm động tác hữu ý không run và khi nghỉ ngơi thoải mái cũngkhông run Tuy nhiên dù nhất thời có thể hết run hoặc không run thìchỉ một lát sau lại thấy run tái diễn, cũng như bệnh nhân ngủ khôngrun nhưng khi xúc cảm run sẽ tăng lên rõ rệt Tính chất diễn biếnthay đổi này của run rất quan trọng trong lâm sàng [6]
Người ta thấy run thường bắt đầu ở một bàn tay rồi tiếp tới ởcẳng chân cùng bên Có khi nơi khởi phát run tương ứng với vị tríkhu trú của một chấn thương cũ, ví dụ nơi gẫy xương tay, chân Ítlâu sau sẽ run lan sang bàn tay bên đối diện và sau cùng lan xuốngcẳng chân đối diện Những trường hợp có biểu hiện khu trú ở nửangười thường tiến triển chậm Cũng có trường hợp hiếm gặp bệnhnhân hoàn toàn không bị run chút nào [6]
Trang 19o Hội chứng tăng trương lực:
Đây là những triệu chứng quan trọng nhất của bệnh Parkinson.Trương lực cơ tăng quá mức thường thấy ở các cơ chống đối vớitrọng lực, do đó khi đứng bệnh nhân thường phải cố gắng giữ mìnhtrong một tư thế nào vững nhất, đố là tư thế nửa gấp Nét cơ bảncủa tăng trương lực ở đây là tăng phản xạ tư thế: khi đã có một tưthế nào đó thì khó buông thả ra Sờ nắn bắp cơ bao giờ cũng thấycứng và căng [6]
Mức độ co duỗi của bắp cơ cũng giảm nhiều, có thể thấy rõ khilàm các động tác bị động, ở một chi nhất định nào đó hiện tượngcưỡng lại động tác bị động xảy ra đều nhau đối với các cơ đồng lực.Biểu hiện lâm sàng thường rõ nhất đối với vận động ở các khớp lớn,
ví dụ khuỷu tay Đây cũng là nét khác biệt đối vơi cơ cứng do tổnthương bó tháp vì trong co cứng trương lực cơ tăng đối với các cơgấp ở tay và các cơ duỗi ở chân Cũng do tăng phản xạ tư thế vàgiảm độ co duỗi nên có thể sinh ra “hiện tượng bánh răng” thườngthấy rõ ở khuỷu tay Và đối với các động tác nói chung, mặc dù đã
có sẵn một tư thế nào nhất định ta vẫn có thể tạo cho bệnh nhân một
tư thế mới và nhất là giữ lại được tư thế mới này; đó là triệu chứng
“dễ uốn như sáp” Hiện tương “bánh răng” dễ phát hiện khi bệnhnhân có biểu hiện run kèm theo căng cứng cơ nặng [6]
Tóm lại trong bệnh Parkinson, hiện tượng tăng trương lực cơ cótính chất tạo hình của ngoại tháp cần được đặc biệt chú ý và triệuchứng sớm nhất có thể phát hiện được chính là căng cứng Căngcứng góp phần làm cho biểu hiện giảm động tác trở nên trầm trọnghơn, cũng như chi phối tới sự phối hợp động tác và cả sự điều chỉnh
tư thế
o Hội chứng giảm động tác:
Trang 20Con người là một sinh vật thường xuyên có động tác dù chỉ lànhững động tác nhỏ nhặt nhất, đó là những động tác hồn nhiên Bêncạnh đó còn có những động tác tự động bẩm sinh như chớp mắt,ngáp, nhai, nuốt, những động tác biểu lộ cảm xúc ở vẻ mặt, chântay, cử chỉ và những động tác phối hợp, ví dụ vung tay khi đi Ởbệnh nhân nói chung các động tác tự động nguyên phát này mất đihoặc bị rối loạn trở ngại lớn, do đó dáng bộ sững sờ, bất động,không có động tác hồn nhiên Vẻ mặt như người mang mặt nạ, ítchớp mắt, tuy nhiên riêng đôi mắt vẫn còn linh hoạt Bệnh nhânnhai, nuốt chậm chạp, ngáp, cười, khóc cũng bị trở ngại khó khăn
vô cùng Nhìn chung vẻ mặt chẳng biểu lộ cảm xúc nào Đối vớinhững cử chỉ thì một mặt động tác hồn nhiên không có, mặt khắcđộng tác tự động cũng không mất hoặc ít đi [6]
Đối với các động tác tự động thứ phát, nói chung không mất mộtđộng tác nào cả nhưng mọi động tác đều bị trở ngại chậm chạp Khi
đi thì khởi động rất chậm, có khi do dự khá lâu Lúc đã bước thì đirất nhanh như chạy theo trọng tâm của mình vì tư thế cơ thể là tưthể nửa gấp và tay không ve vẩy Đã đi rồi muốn dừng lại khôngđược và rất khó kết thúc động tác, cho nên cũng có lúc tự dừng lạiđược những cũng có lúc bị va vào tường Lời nói bắt đầu chậmchạp, mất âm điệu, có trường hợp bệnh nhân nói cũng như đi và nóirất nhanh Khi viết cũng như khi đi, khởi đầu chậm chạp ngậpngừng, chữ viết ngày càng nhỏ đi Các động tác khác như ăn…cũng rất chậm [6]
Đối với các động tác hữu ý, trước hết là thiếu sự phát huy độngtác Một mặt sự khởi động chậm chạp, các động tác hữu ý chậmchạp và động tác cũng thiếu hồn nhiên Hơn nữa động tác càng hữu
ý bao nhiều thì càng bị cản trở bấy nhiêu, động tác có thể bị ngắtquãng hoặc ngừng lại thể hiện tính thiếu nhịp nhàng trong vận
Trang 21động Mặt khác, do ảnh hưởng của cảm xúc có thể lại diễn ra cácđộng tác nghịch thường Thông thường bệnh nhân ít bị xúc cảm,nhưng nếu bị xúc động mạnh mẽ như vui mừng hoặc giận dữ thì sẽ
có động tác rất linh hoạt, ví dụ có thể có cơn nói nhiều hoặc địnhhình ngôn ngữ Đặc biệt trong một số trường hợp bệnh nhân có hiệntương đứng ngồi không yên [6]
Giảm động là một nhóm triệu chứng khá phức tạp, trên lâm sàng
có khi chỉ thấy hội chứng này mà không thấy kèm theo căng cứng
và run [6]
Các đặc điểm khác [6]:
- Chữ viết nhỏ dần
- Vẻ mặt không biểu hiện (như mang mặt nạ)
- Hoạt động chậm dần trong đời sống hàng ngày
- Khi đi ít ve vẩy tay
- Dáng đi kéo lê chân, gấp thân cúi người
Các triệu chứng phụ khác [6]:
- Khi ngồi khó đứng dậy
- Khi nằm khó trở mình
- Khi nói phát âm yếu
- Chảy nhiều nước bọt
- Mất khứu giác
- Loạn trương lực bàn chân
Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa vào [6]:
- 2 trong số 3 triệu chứng, nhất là run khi nghỉ và vận động chậm
- Đáp ứng tốt với thuốc điều trị bệnh Parkinson
- Không thấy có nguyên nhân khác như do thuốc an thần, do rốiloạn chuyển hóa
- Chẩn đoán loại trừ bệnh Parkinson
Trang 22- Chẩn đoán khẳng định cuối cùng phải dựa vào xét nghiệm vi thểphát hiện thấy:
o Mất sắc tố ở liềm đen
o Mất tế bào thần kinh
o Có thể Lewy ở liềm đen
Chẩn đoán phân biệt đối với thể không điển hình (hội chứngParkinson) cần chú ý tới các đặc điểm như [6]:
- Bệnh khởi phát sớm hoặc tiến triển nhanh đến sa sút
- Quá trình tiến triển nhanh
- Liệt chức năng nhìn do tổn thương trên nhân
- Dấu hiệu tổn thương tế bào thần kinh vận động phía trên: dấuhiệu Babinski, phản xạ gân xương tăng
- Có dấu hiệu tiểu não
- Tiểu tiện không tự chủ
- Hạ huyết áp tư thế triệu chứng
Trong chẩn đoán lâm sàng, trọng tâm là phân biệt bệnh Parkinsonvới các hội chứng Parkinson do các nguyên nhân khác:
- Hội chứng Parkinson sau viêm não:
- Tràn dịch não với áp lực trong sọ bình thường:
- Run tuổi già (lão suy):
- Run vô căn (lành tính, gia đình):
- Liệt trên nhân tiến triển (bệnh Steele – Richardson – Olszeski):
- Thoái hóa vỏ não – hạch đáy não:
- Thoái hóa thể vân – liềm đen:
- Hội chứng Shy – Drager:
- Teo nhiều hệ:
- Thoái hóa gan – não (bệnh Wilson):
- Hội chứng Parkinson do thuốc:
Trang 23Ngoài những bệnh cảnh mô tả trên đây, còn có một số nhóm bệnhkhác phần lớn là những bệnh có tính chất thoái hóa cũng có thể gây ramột hội chứng Parkinson trên lâm sàng Do đó ngoài việc thăm khámlâm sàng, còn cần tới một số xét nghiệm cận lâm sàng để giúp chochẩn đoán được chính xác.
- Hắc ín (Tar):
Nhựa thuốc lá là sự tập hợp tên của hàng ngàn chất hóa học và phụgia, được tạo thành chất lắng của khói thuốc có đặc điểm dính và dầy.Nhựa thuốc lá là một trong những sản phẩm phụ nguy hiểm nhất củakhói thuốc lá, chứa rất nhiều chất gây ung thư Khi khói thuốc đượchít vào phổi, các chất nhựa lắng đọng và bám vào các khoang chứa khí
Trang 24của phổi Sau một thời gian, các chỗ nhựa thuốc lá bám vào tạo thànhung thư và các bệnh về phổi [8].
- Carbon monoxit (khí CO):
Khí CO trong khói thuốc lá hấp thụ vào máu gắn với homoglobinelàm giảm khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu, vì vậy làm giảmlượng oxy trong máu, góp phần hình thành các mảng xơ vữa độngmạch và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và điều chỉnh cơ thể, liên quanđến bệnh tim, đột quỵ và các vấn đề tuần hoàn khác [8]
- Formaldehyt:
Dung dịch dùng trong ướp xác Chất này gây kích thích mũi, họng
và mắt của người hút thuốc khi hít phải khói thuốc lá [8]
- Polycyclic aromatic hydrocarbon (PAH):
Là một chất gây ung thư tìm thấy trong dầu diezel và sản phẩm đốtcháy khác [8]
Theo báo cáo của viện ung thư liên bang Hoa Kỳ đã kết luận rằng:chiến lược quảng cáo thuốc lá nhẹ của ngành công nghiệp thuốc lá lànhằm giảm lo ngại cho người hút thuốc về tác hại của thuốc lá đối vớisức khỏe, từ đó hạn chế việc cai thuốc lá ở những người hút thuốc [8].Rất nhiều người hút thuốc lá lựa chọn thuốc lá loại nhẹ này, vì nghĩrằng loại này đỡ độc hại hơn các thuốc lá thông thường khác Tuy
Trang 25nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sử dụng những sản phẩm thuốc
đó không hạn chế được tác hại của thuốc lá, bởi khi hút thuốc này,người hút sẽ phải tự động hít sâu hơn, hút nhiều hơn để bù lại lượngNicotine thiếu do cơ thể đã bị nghiện, do đó lượng chất độc đi vào cơthể cũng nhiều và gần như tương đương nhau ở các loại thuốc lá [8]
1.2.2 Ảnh hưởng của hút thuốc lá đối với sức khỏe
- Hút thuốc lá và ung thư:
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh mối liên quangiữa hút thuốc lá với các bệnh ung thư đường hô hấp: phổi, thanhquản, hầu, miệng, thực quản; và một số ung thu ở các tạng khác: tụy,bàng quang, thận, cổ tử cung, dạ dày Ở những người có hút thuốc lá
có nguy cơ bị ung thư các tạng này cao hơn hẳn so với những ngườikhông hút thuốc lá [8]
- Hút thuốc lá và bệnh tim mạch:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hút thuốc lá có mối quan hệ nhânquả với các bệnh tim mạch như: tăng huyết áp, bệnh mạch vành, độtquỵ, tai biến mạch máu não Ở những người có hút thuốc lá có nguy
cơ bị các bệnh về tim mạch cao hơn so với những người không hútthuốc lá [8]
- Hút thuốc lá và các bệnh về hô hấp:
Hút thuốc lá đã được chứng minh là nguyên nhân của các bệnh về
hô hấp cấp tính, mạn tính Ở những người có hút thuốc lá có nguy cơ
bị các bệnh về hô hấp cao hơn so với những người không hút thuốc lá[8]
- Hút thuốc lá và các vấn đề sức khỏe sinh sản:
Hút thuốc lá làm giảm khả năng sinh sản ở cả 2 giới, và ảnh hưởngxấu đến sức khỏe sinh sản [8]
1.3 Rượu bia
1.3.1 Khái niệm
Trang 26Rượu bia là đồ uống có cồn, được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lênmen tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả, ngũ cốc [3].
1.3.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với rượu bia TCYTTGphân loại theo nồng độ cồn và chia thành 3 loại [3]:
- Bia: thường có độ cồn 5%
- Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12 – 15% (ví dụ: rượu vang…)
- Rượu mạnh: có độ cồn khoảng 40% (ví dụ: rượu Whisky,Cognac, rượu đế…)
1.3.4 Mức độ nguy cơ trong sử dụng rượu bia
Đánh giá nguy cơ do sử dụng rượu bia dựa theo hướng dẫn trong bộcông cụ sàng lọc AUDIT Có 4 mức độ nguy cơ trong sử dụng rượubia:
- Sử dụng rượu bia hợp lý, nguy cơ thấp:
Không nên uống rượu hoặc nếu đã uống chỉ nên giữ ở mứckhông quá 2 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá 1 đơn vịrượu/ngày đối với nữ [3]
- Sử dụng rượu bia ở mức nguy cơ:
Là việc sử dụng rượu bia ở mức độ dẫn đến nguy cơ gây hại chongười uống Những người này mặc dù chưa chịu những tác hại vềsức khỏe do rượu bia gây ra nhưng họ có nguy cơ mắc các bệnhmạn tính như: ung thư, tim mạch… hoặc nguy cơ chấn thương,
Trang 27bạo lực hay hành vi liên quan đến pháp luật, giảm khả năng làmviệc… [3].
- Sử dụng rượu bia ở mức có hại:
Là việc sử dụng rượu bia ở mức gây ra các tổn hại về sức khỏe.Những tổn hại này có thể về thể chất (gan, tim mạch…) hay tâmthần (trầm cảm, loạn thần…) hoặc các hậu quả xã hội khác [3]
- Phụ thuộc/nghiện rượu bia:
Là trình trạng lệ thuộc vào rượu bia được đặc trưng bởi sự thèmmuốn (nhu cầu uống mãnh liệt), mất kiểm soát (không thể ngừnguống mặc dù rất muốn dừng), tăng mức độ dung nạp, ảnh hưởngđến thể chất [3]
1.3.5 Ảnh hưởng của sử dụng rượu bia đối với sức khỏe
Thức uống có cồn là chất độc tác động trực tiếp và gián tiếp đếnhàng loạt các cơ quan trong cơ thể Mức độ tác hại đối với sức khỏe
do sử dụng rượu bia trên từng cá nhân là khác nhau, tùy thuộc vào cácyếu tố: tuổi, giới, đặc điểm sinh học, mức dung nạp bình quân, địađiểm, cách thức uống… [3]
Rượu bia là yếu tố nguy cơ gây tử vong, xếp hàng thứ 8 trên toàncầu và chiếm 4% số trường hợp tử cong toàn cầu Tại Việt Nam, việc
sử dụng rượu bia là yếu tố gây ra 2,9% trường hợp tử vong và 2,2%gánh nặng bệnh tật quốc gia [3]
1.4 Tình hình sử dụng rượu bia và thuốc lá
1.4.1 Trên thế giới
Theo số liệu thống kê về thuốc lá và rượu bia của Men’s HealthForum tổng hợp vào tháng 12 năm 2014: nam thích hút thuốc lá hơn
nữ với tỷ lệ tương ứng là 22% và 17% Nam thích uống rượu hơn nữ
và uống ở mức nguy cơ Có 14% nam uống thức uống có cồn từ 5ngày trở lên trong tuần, trong khi nữ là 9% [36]
Trang 28Thống kê về rượu bia của Alcohol Concern cho thấy: có hơn 9 triệungười ở Anh uống rượu với mức độ nhiều hơn so với mức độ giới hạnhằng ngày được khuyến cáo Có 16% nam giới và 9% nữ giới đã uốngrượu ít nhất 5 lần trong 7 ngày bình thường Có 34% nam giới và 28%
nữ giới đã uống hơn mức khuyến cáo (là 4 đơn vị rượu cho nam, và 3đơn vị rượu cho nữ) trong một ngày Có 18% nam giới và 12% nữgiới đã uống với mức độ nhiều (ít nhất là gấp 2 lần mức giới hạn đượckhuyến cáo) và uống ít nhất là 1 lần trong tuần Những người lớn tuổi
có xu hướng uống thường xuyên hơn so với người trẻ tuổi Tỷ lệngười trưởng thành uống rượu mỗi ngày tăng theo từng nhóm tuổi: cụthể là 1% đối với tuổi từ 16 – 25, 4% đối với tuổi từ 25 – 44, 9% đốivới tuổi từ 25 – 64 và 13% ở độ tuổi từ 65 trở lên Ở những người trẻtuổi có xu hướng uống rất nhiều (quá 8 đơn vị rượu ở nam và quá 6đơn vị rượu ở nữ) [23]
Theo thống kê của Health and Social Care về hút thuốc lá đượcthực hiện tại nước Anh năm 2015: kết quả từ nghiên cứu ý kiến và lốisống được thực hiện năm 2013 cho thấy gần 1/5 người trưởng thành ởnước anh (19%) có độ tuổi từ 16 trở lên có hút thuốc, mặc dù tỷ lệ nàyhơi thấp so với năm 2012, song vẫn còn một phần lớn nhóm ngườinày không thay đổi trong những năm gần đây Trong năm 2013, nhómtuổi từ 16 – 24 và nhóm tuổi từ 25 – 34 có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất(tương ứng là 23% và 25%), trong khi ở nhóm tuổi từ 60 trở lên lại có
tỷ lệ hút thuốc lá thấp hơn (11%) Và mức độ hút thuốc lá giảm dầntheo tuổi Tỷ lệ hút thuốc lá ở nam là cao hơn nữ (tương ứng là 22%
và 17%), tỷ lệ này thấp hơn năm 2001 (28% ở nam và 26% ở nữ) Có
sự khác biệt về tần suất hút thuốc lá ở nhóm người có việc làm vàkhông có việc làm Ở nhóm người không có việc làm hút khoảng gấpđôi so với những người có việc làm (tỷ lệ là 35% so với 16%), trongkhi ở năm 2003, tỷ lệ này là 46% so với 28% Theo cuộc khảo sát về
Trang 29sức khỏe ở Anh từ năm 2013 đến tháng 12 năm 2014 đã cho thấy tỷ lệnam giới chưa từng hút thuốc lá thường xuyên đã tăng từ 39% (năm1993) lên đến 48% (năm 2013), và ở nữ là từ 52% (năm 1993) lên đến60% (năm 2013) Đối với việc tiêu thụ thuốc lá trong năm 2013 ghinhận: mức tiêu thụ thuốc lá trung bình hiện tại là 12 điếu trong 1 ngày.Con số này không thay đổi so với năm ngoái nhưng đã giảm so vớinăm 2003 (14 điếu trong 1 ngày) Nam giới hút thuốc lá với số lượngtrung bình nhiều hơn nữ giới (13 so với 11 điếu trong 1 ngày), namgiới ở độ tuổi 50 – 59 hút nhiều nhất (15,5 điếu trong 1 ngày) [32].
1.4.2 Tại Việt Nam
Theo điều tra về tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành tạiViệt Nam năm 2010 của Lương Ngọc Khuê và cộng sự: tỷ lệ hútthuốc chung của những người từ 15 tuổi trở lên là 23,8% [9] Theothông tin về tình hình sử dụng thuốc lá của Chương trình phòng chốngtác hại thuốc lá quốc gia: Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có sốngười hút thuốc lá nhiều nhất thế giới Tỷ lệ nam giới trưởng thành (từ
15 tuổi trở lên) hút thuốc lá là 47,4%, như vậy cứ khoảng trong 2 nam
sẽ có 1 người hút thuốc lá Toàn quốc có 15,3 triệu người trên 15 tuổihút thuốc lá Có 33 triệu người không hút thuốc bị tiếp xúc thụ độngvới khói thuốc tại nhà, và 5 triệu người không hút thuốc bị tiếp xúcthụ động với khói thuốc tại nơi làm việc Theo điều tra năm 2010, có56% người hút thuốc bắt đầu hút trước 20 tuổi [5]
Theo khảo sát của Vinaresearch được tiến hành trong tháng 3/2012
về thói quen uống bia ở Việt Nam: hơn 38,3% những người trên 18tuổi tham gia khảo sát thuộc các nhóm tuổi khác nhau có uống biatrong vòng một tháng qua và mức độ uống bia trung bình là 2,27lần/tuần [20] Mức tiêu thụ rượu bia của Việt Nam đang cao nhấtĐông Nam Á và đứng thứ 3 châu Á, chỉ sau Nhật Bản và Trung Quốc.Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam là một trong số ít quốc gia có xu hướng
Trang 30tăng nhanh về tiêu thụ đồ uống có cồn ở mức cao trên thế giới Tínhbình quân trên đầu người (trên 15 tuổi), mức tiêu thụ chất có cồn củaViệt Nam tăng từ 3,8 lít/người năm 2005 lên đến 6,6 lít/người năm
2010 Trung bình một ngày, 1 người tiêu thụ khoảng 37,7 gam cồnnguyên chất Tỷ lệ sử dụng đồ uống có cồn tiếp tục tăng cao ở thanhthiếu niên Việt Nam, đây là điều đáng lo ngại Có khoảng 79,9% nam
và 36,5% nữ thanh thiếu niên từ 14 – 25 tuổi có sử dụng đồ uống cócồn (năm 2008), và chỉ sau 5 năm đã tăng 10% với nam và 8% với nữ.Trong số đó, có 60,5% nam và 22% nữ đã từng uống say [2]
1.5 Một số nghiên cứu các yếu tố liên quan đến bệnh Parkinson
Trong một nghiên cứu phân tích của Moisan được thực hiện tại toànnước Pháp năm 2015, dữ liệu được lấy từ cơ quan Bảo hiểm Sức khỏeQuốc gia Pháp, tính toán tỷ lệ hiện mắc và tỷ lệ mới mắc của nam và nữtheo tuổi, sử dụng hồi quy Poisson, kết quả cho thấy: tỷ lệ hiện mắc bệnhParkinson tăng dần theo tuổi ở cả nam và nữ Cụ thể là bắt đầu từ nhómtuổi 20 – 24 thì bệnh Parkinson bắt đầu xuất hiện với tỷ lệ hiện mắc là29/1.000 ở nam và 26/1.000 ở nữ, đến nhóm tuổi 85 – 90 thì tỷ lệ hiện mắc
là 25,5% ở nam và 16,4% ở nữ Tuy nhiên, ở từ 90 tuổi trở lên thì tỷ lệ hiệnmắc thấp hơn, nhưng ở nam vẫn cao hơn nữ Tỷ số tỷ lệ hiện mắc (PR)bệnh Parkinson ở nam so với nữ là 1,48 và nguy cơ tương đối (RR) là 1,49[37] Theo kết quả này, tuổi và giới có thể là yếu tố nguy cơ của bệnhParkinson, tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh Parkinson càng tăng, vànguy cơ mắc bệnh ở nam là hơi cao so với nữ Nghiên cứu này có điểmmạnh là khả năng xác định số lượng lớn các bệnh nhân ở trong độ tuổi rộng
và đầy đủ, và có sử dụng mô hình dự đoán để kiểm tra tác động của tuổi tácvới các yếu tố khác
Bên cạnh đó, nghiên cứu cắt ngang của Kotagal về sự khác biệt giới tínhtrong sự thiếu hụt cholinergic và dopaminergic trong bệnh Parkinson đượcthực hiện năm 2013, có 36 nữ và 112 nam bị bệnh Parkinson mức độ nhẹ
Trang 31đến trung bình, các bệnh nhân được chọn từ các phòng khám Rối loạnĐộng kinh tại Trung tâm Y tế Đại học Michigan và Hệ tống Y tế AnnArbor của Bộ Cựu chiến binh, tất cả các đối tượng đều có các tiêu chuẩnchẩn đoán lâm sàng của Ngân hàng Brain Bank của Anh Quốc, và các đốitượng được loại trừ nếu đáp ứng được các tiêu chí về chứng sa sút trí tuệ,bằng phương pháp sử dụng hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả cho thấy:không có sự khác biệt đáng kể giữa giới tính trong bất kỳ yếu tố nào đốivới bệnh Parkinson [31] Hạn chế của nghiên cứu này có thể là do sự chiếm
ưu thế của bệnh nhân Parkinson nam khi đã chọn từ một bệnh viện Cựuchiến binh, tuy rằng hai nhóm này đã được bắt cặp về tuổi, thời gian mắcbệnh
Một nghiên cứu sức khỏe cộng đồng của Willis được thực hiện để tìmyếu tố nguy cơ bị bệnh Parkinson tại khu vực thành thị năm 2010, sử dụng
dữ liệu từ nghiên cứu của Viện Chăm sóc sức khỏe, cho kết quả: ở nhữngquận có nền công nghiệp và bệnh nhân có phơi nhiễm với thải kim loại làmangan, thì có nguy cơ bị bệnh Parkinson cao hơn các kim loại khác, với
RR là 1,78 [41] Theo kết quả này, có thể việc phơi nhiễm với kim loại sẽlàm tăng nguy cơ bị bệnh Parkinson Nghiên cứu này có điểm mạnh là tậptrung vào việc tiếp xúc kim loại thụ động, ở mức độ cộng đồng, có thể làcác phơi nhiễm độc quan trong nhất với chất độc thần kinh Nghiên cứunày sử dụng dân số cư trú không di động để giảm thiểu sự biến động về dân
số Tuy nhiên nghiên cứu cũng có hạn chế, mặc dù đã điều chỉnh đối vớicác yếu tố gây nhiễu đã biết, nhưng vẫn có khả năng xảy ra các biến số gâynhiễu chưa được khám phá, làm tăng khả năng bị mắc bệnh Parkinson, và
có thể làm giảm mối quan hệ với nguy cơ phơi nhiễm, cho thấy mức độthực tế bị bệnh có thể cao hơn so với kết quả của nghiên cứu này
Trong nghiên cứu của Giroud Benitez về tỷ lệ hiện mắc bệnh Parkinson
ở khu vực thành thị của tỉnh Ciudad de La Habana, Cuba năm 2000, đây lànghiên cứu được tiến hành trên tổng 17.784 người trong dân số từ 15 tuổi
Trang 32trở lên, với phương pháp phỏng vấn và thăm khám lâm sàng dựa trên cáctiêu chí của Ngân hàng Brain Bank, đối với những bệnh nhân được chẩnđoán chính xác là bị bệnh Parkinson sẽ được hỏi về tiền sử gia đình, tỷ lệbệnh được mô tả theo giới tính, nhóm tuổi, màu da và tình trạng hút thuốc
lá, kết quả cho thấy: những người chủng tộc da trắng và không hút thuốc có
tỷ lệ bị bệnh Parkinson cao hơn hẳn so với những người chủng tộc da màukhác và không hút thuốc Kết luận của nghiên cứu này nói rằng: dân số củakhu vực này có tỷ lệ hiện mắc bệnh Parkinson thấp hơn so với các báo cáocủa các dân số khác, và yếu tố môi trường vẫn chưa được xác định [24].Theo kết quả của nghiên cứu này, chủng tộc có thể là yếu tố nguy cơ củabệnh Parkinson Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa phân tích được mối liênquan giữa yếu tố nguy cơ của việc hút thuốc lá đối với bệnh Parkinson.Theo kết quả của một nghiên cứu bệnh – chứng của Kenborg về lối sống,tiền sử gia đình với bệnh Parkinson được thực hiện ở Đan Mạch năm 2015,được thực hiện trên tổng số mẫu gồm 2.762 bệnh nhân từ 35 tuổi trở lên đãđược xuất viện từ 1 trong 10 trung tâm điều trị thần kinh chính ở Đan MạchQuốc Gia Đan Mạch, nhóm chứng được chọn ngẫu nhiên từ Sổ Đăng kýDân số Trung ương Đan Mạch, còn sống và không có chẩn đoán bị bệnhParkinson, bằng phương pháp bắt cặp theo tuổi và giới, thực hiện phỏngvấn qua điện thoại và tra cứu hồ sơ bệnh án, phân tích mô hình hồi quylogistic đa biến, với mức độ hút thuốc lá được tính là số gói hút nhân vớikhoảng thời gian từ lúc hút cho đến lúc bỏ hút, đơn vị là gói-năm, và mức
độ uống rượu bia được tính là số lượng tiêu thụ các loại rượu ở nhữngkhoảng thời gian từ lúc uống cho đến lúc ngưng uống, đơn vị là đơn vịrượu/tuần, kết quả cho thấy: có mối liên quan giữa tiền sử gia đình và nguy
cơ bị bệnh Parkinson Ở những người có tiền sử gia đình có người thân bịbệnh Parkinson có OR = 2,84 lần so với những người không có tiền sử giađình Ở những người đã từng hút thuốc lá có nguy cơ bị bệnh Parkinsonbằng một nửa so với người không hút thuốc lá, và những người có số gói-
Trang 33năm càng tăng thì càng giảm số chênh bị bệnh Parkinson, tuy nhiên không
có mối liên quan giữa mức độ tiêu thụ rượu bia với bệnh Parkinson [28].Nghiên cứu này có điểm mạnh là đã được xem xét có hệ thống về hồ sơ y
tế để xác định chính xác bệnh Parkinson Thế nhưng, nghiên cứu này cómột số mặt hạn chế là: có đến 19% bệnh nhân từ chối phỏng vấn, và nhữngbệnh nhân mới mắc bệnh Parkinson vô căn nhẹ đã không đăng ký đếnkhám tại bệnh viện trên nên không được tham gia vào nghiên cứu, bên cạnh
đó, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người trên 60 tuổi, việc khai báo vềtiền sử hút thuốc lá có thể thiếu chính xác [28], do đó kết quả này có khảnăng bị sai lệch do bệnh nhân không nhớ rõ số lượng điếu hút trong ngày.Trong nghiên cứu của Fung về yếu tố di truyền phổ biến cho bệnhParkinson trong dân số người hoa ở Đài Loan năm 2006 được thực hiệntrên tổng số 305 bệnh nhân Parkinson không tự phát được chọn từ phòngkhám thần kinh của bệnh viện Tưởng niệm Chang-Gung, được điều trị bởibác sĩ thần kinh và chẩn đoán bị bệnh Parkinson dựa trên các tiêu chuẩn đãcông bố, những bệnh nhân có hội chứng Parkinson thứ phát hoặc có cáctính năng không điển hình như chứng sa sút trí tuệ sớm, thiếu máu mắt, suynhược tự thân sớm và các dấu hiệu hình chóp không được đưa vào nghiêncứu này, nhóm chứng là 176 tình nguyện viên trưởng thành khỏe mạnhđược bắt cặp theo dân tộc và khu vực cư trú, cá nhân những người nàykhông liên quan đến di truyền học với các cá nhân ở nhóm bệnh Về việcphân loại gen và phân tích thống kê, ADN di truyền được chiết xuất từ máungoại vi và bằng cách sử dụng quy trình chuẩn Khu vực quan tâm là phảnứng chuỗi polymerase (PCR) – amplified Thử nghiệm đa hình G7153A ởtất cả các cá thể được thực hiện bằng cách khuếch đại PCR, kết quả: biếnthể G2385R đóng góp đáng kể đến nguyên nhân gây bệnh Parkinson ởngười Hán ở Trung Quốc Với việc xem xét sự gia tăng dân số già củaTrung Quốc và ở Đài Loan, biến thể di truyền này có thể là yếu tố nguy cơ
di truyền phổ biến nhất đối với bệnh Parkinson trên toàn thế giới [25] Yếu
Trang 34tố về gen và di truyền cũng cần được xem xét kỹ lưỡng và nên kết hợp vớicác yếu tố môi trường trong phân tích các yếu tố nguy cơ của bệnhParkinson.
Theo một nghiên cứu của van der Mark về mối liên quan của sự tiếp xúcvới các loại thuốc trừ sâu và các nội độc tố với bệnh Parkinson được thựchiện tại Hà Lan năm 2014, sử dụng dữ liệu từ một nghiên cứu bệnh –chứng dựa trên bệnh viện, bao gồm 444 bệnh nhân Parkinson và 876 bệnhnhân làm nhóm chứng, có bắt cặp theo tuổi và giới, kết quả cho thấy: việcphơi nhiễm với thuốc trừ sâu nói chung, thuốc diệt cỏ thì có OR cao hơn sovới các nhóm khác [35] Tuy vậy, kết quả này chưa cho thấy mối liên hệnhân quả giữa việc phơi nhiễm với hóa chất trù sâu và thuốc diệt cỏ vớibệnh Parkinson
Bên cạnh đó, nghiên cứu phân tích gộp của Liu về các đột biến gen gây
ra do thuốc trừ sâu và nguy cơ bệnh Parkinson vào năm 2013, phân tíchgộp này được thực hiện bằng phần mềm STATA 12.0, tỷ lệ OR thô vàKTC 95% đã được tính toán, phân tích cho thấy bệnh nhân Parkinson cótiếp xúc với thuốc trừ sâu có tỷ lệ đột biến gen cao hơn so với những ngườilành mạnh trong nhóm chứng Phân nhóm phân theo loại gen chỉ ra rằng tỷ
lệ đột biến trong gen GSTP1, SLC6A3 và MDR1 của bệnh nhân Parkinson
có nồng độ thuốc trừ sâu cao hơn so với nhóm chứng Kết luận của nghiêncứu này là các đột biến gen gây ra bởi thuốc trừ sâu có thể góp phần làmtăng tính nhạy cảm đối với bệnh Parkinson, đặc biệt là trong gen GSTP1,SLC6A3 và MDR1 [33]
Trong một nghiên cứu phân tích tổng hợp của Jafari về chấn thương đầu
và nguy cơ bệnh Parkinson được thực hiện năm 2013 cho thấy: ở nhữngngười đã từng bị chấn thương đầu có OR bằng 1,57 lần những người chưatừng bị chấn thương đầu [27] Theo kết quả này, tiền sử chấn thương đầu
có thể là một yếu tố nguy cơ dẫn đến bị bệnh Parkinson
Trang 35Tuy nhiên, một nghiên cứu bệnh – chứng của Kenborg về chấn thươngđầu và nguy cơ bị bệnh Parkinson được thực hiện tại Đan Mạch năm 2015,nhóm bệnh được xác định từ 1.705 bệnh nhân từ 35 tuổi trở lên được chẩnđoán chính xác bị bệnh Parkinson trong số đăng ký của Bệnh viện Quốc giaĐan Mạch, và đồng ý tham gia nghiên cứu trả lời phỏng vấn và có đầy đủ
hồ sơ bệnh án, tiêu chí chọn vào cho các bệnh nhân là có ít nhất 2 trong 4triệu chứng chính (run khi nghỉ, co cứng cơ, vận động chậm, mất thăngbằng), bệnh nhân đáp ứng với thuốc chống co giật, không có các đặc điểmkhông điển hình (bao gồm chẩn đoán chứng sa sút trí tuệ…), nhóm chứnggồm 1.785 người được bắt cặp theo tuổi và giới và được chọn từ Cơ quanĐăng ký Dân số Trung ương Đan Mạch, bằng phương pháp phỏng vấn trựctiếp và thu thập thông tin về chấn thương đầu, tiền sử bệnh tật khác, lốisống, các yếu tố xã hội, tiền sử gia đình bị bệnh Parkinson Nghiên cứu nàykhai thác các yếu tố về chấn thương đầu như: tất cả các loại chấn thươngđầu trước khi chẩn đoán bị bệnh Parkinson, bao gồm chấn thương ở đầugây mất ý thức, chứng mất trí nhớ, hoặc các vấn đề về trí nhớ, và nhập viện
vì chấn thương đầu bảng câu hỏi cũng đưa ra các thông tin về việc sử dụngthuốc lá, uống rượu, trình độ học vấn và tiền sử gia đình về bệnhParkinson, bằng phương pháp tính toán tỷ số số chênh OR và sử dụng hồiquy logistic đa biến, thế nhưng nghiên cứu lại cho thấy không có mối liênquan giữa việc đã từng bị chấn thương đầu, số lần chấn thương đầu, mất ýthức, thời gian mất ý thức, chứng mất trí nhớ, nhập viện vì chấn thương đầuvới bệnh Parkinson Nghiên cứu cũng cho thấy ở những bệnh nhânParkinson có 49,6% đã từng hút thuốc, 61,9% đã từng uống rượu [29].Điểm mạnh của nghiên cứu này là cỡ mẫu lớn, các thông tin về chấnthương đầu được khai thác sâu và rộng trong suốt cuộc đời về tất cả cácthương tích ở đầu, bao gồm cả mức độ nghiêm trọng Tuy nhiên nghiên cứucũng có mặt hạn chế là ở nhóm bệnh thường có xu hướng khai báo hơn đểgiải thích cho bệnh của họ, và bệnh nhân là những người lớn tuổi, do đó có
Trang 36thể có sai lệch nhớ lại, dẫn đến một số dữ liệu không chính xác, và điều này
có thể dẫn đến việc phân nhóm sai Như vậy, kết quả của nghiên cứu này
đã không ủng hộ giả thuyết chấn thương đầu làm tăng nguy cơ mắc bệnhParkinson Các nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung tìm hiểu chấnthương đầu kết hợp với di truyền hoặc các yếu tố nguy cơ môi trường khixác định mối liên quan giữa chấn thương đầu và bệnh Parkinson
Một nghiên cứu bệnh – chứng của Hellenbrand về hút thuốc lá và bệnhParkinson được thực hiện tại Đức năm 1997, bệnh nhân Parkinson đượcchọn từ 9 phòng khám thần kinh từ các vùng khác nhau của Đức, các bệnhnhân lớn tuổi không được tuyển dụng để giảm thiểu sự kém về trí nhớ, vàloại trừ những bệnh nhân có thời gian bệnh kéo dài, các bệnh nhânParkinson được chẩn đoán theo tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của Hiệphội bệnh Parkinson của Ngân hàng Brain Bark, nghiên cứu loại trừ nhữngbệnh nhân có hội chứng Parkinson thứ phát hoặc bị sa sút trí tuệ, tổng cộng
356 bệnh nhân Parkinson tham gia phỏng vấn và 2 nhóm chứng đã đượcchọn ngẫu nhiên từ bệnh nhân, nhóm thứ nhất bao gồm các bệnh nhân xungquanh khu vực sống của bệnh nhân Parkinson và nhóm còn lại lấy từ nhữngbệnh nhân cùng khu vực thành thị hoặc nông thôn, bằng phương phápphỏng vấn trực tiếp với thông tin về việc hút thuốc lá được thu thập nhưcòn hút hay đã bỏ, lượng thuốc lá, loại thuốc lá đã hút trong khoảng 10 nămtuổi, đơn vị là gói-năm, kết quả cho thấy có mối liên quan giữa hút thuốc lá
và bệnh Parkinson: ở những người đã từng hút thuốc lá có số chênh bị bệnhParkinson bằng 0,5 lần so với những người chưa từng hút thuốc lá, và sốchênh bị bệnh Parkinson giảm dần theo mức độ hút thuốc lá [26] Tuynhiên, từ năm 1997 cho đến thời điểm hiện tại, các kết quả này có thể có sựthay đổi, đồng thời cũng chưa nêu ra được những điểm hạn chế của nghiêncứu
Một nghiên cứu bệnh – chứng của van der Mark về mức độ tiêu thụ rượubia, cà phê và thuốc lá với bệnh Parkinson được thực hiện ở Hà Lan năm
Trang 372014, được thực hiện trên tổng số 1.320 bệnh nhân Parkinson và nhómchứng được chọn từ 5 bệnh viện ở 4 khu vực khác nhau ở Hà Lan, bằngphương pháp phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, phương pháp phân tích hồi quylogistic hiệu chỉnh tuổi và giới, với thời gian hút thuốc lá được tính là sốnăm từ lúc hút cho đến lúc bỏ hút, trừ đi khoảng thời gian không hút, mức
độ hút được tính với đơn vị là gói-năm, và mức độ uống rượu được tính là
số lượng rượu tiêu thụ trung bình trong 1 ngày nhân cho số năm ước tínhtiêu thụ, đơn vị là tiêu thụ-năm, kết quả cho thấy: số gói-năm càng tăng thì
số chênh bị bệnh Parkinson càng giảm, tuy nhiên không có mối liên quangiữa mức độ tiêu thụ rượu bia với bệnh Parkinson [34] Thế nhưng, nghiêncứu này có mặt hạn chế là tỷ lệ đồng ý tham gia nghiên cứu ở nữ thấp hơnnam, và phụ thuộc vào tuổi: ở độ tuổi dưới 70 thì bệnh nhân Parkinsontham gia phỏng vấn chỉ có 66% [34], điều này có thể làm kết quả nghiêncứu chưa được rõ ràng, có khả năng làm tăng tỷ lệ bệnh nhân nam trongnghiên cứu
Một nghiên cứu bệnh – chứng khác của Petersen về ảnh hưởng của việctiếp xúc với các chất gây ô nhiễm thực phẩm đối với nguy cơ bệnhParkinson được thực hiện năm 2008, nhóm bệnh gồm 79 bệnh nhân đượcchẩn đoán là bị bệnh Parkinson không tự phát dựa trên thông tin lâm sàng,phát triển bệnh, đáp ứng với điều trị bằng levodopa và sử dụng tiêu chuẩnchẩn đoán được quốc tế công nhận, các trường hợp bị hội chứng Parkinsonnhưng có các triệu chứng không điển hình, chứng thoái hóa vỏ não, chứngmất trí với cơ quan Lewy bị loại, nhóm chứng gồm 77 người được chọn từ
Cơ quan Đăng ký Dân số Quần đảo Faroe, được bắt cặp theo tuổi và giới,
và đồng ý tham gia nghiên cứu trả lời phỏng vấn, tiền sử hút thuốc lá, tìnhtrạng hút thuốc lá của người hút thuốc được tính theo tuổi khi bắt đầu hút,
số năm hút, số ngày hút thuốc lá mỗi ngày và số năm kể từ ngày bỏ hútđược thu thập, nghiên cứu cho kết quả: hút thuốc lá làm giảm nguy cơ bệnhParkinson, tuy nhiên số liệu này chưa có ý nghĩa thống kê So sánh với
Trang 38nhóm chưa từng hút thuốc lá, OR hiệu chỉnh bệnh Parkinson ở nhóm đãtừng hút là 0,92 (0,53 – 1,61), ở nhóm hiện còn hút là 0,63 (0,26 – 1,55), ởnhóm đã bỏ hút là 1,06 (0,58 – 1,95) [38] Nghiên cứu này có mặt hạn chế
là cỡ mẫu còn nhỏ, nên kết quả còn giới hạn, và dân số chọn mẫu củanghiên cứu này cũng không có khả năng khái quát hóa
Bên cạnh đó cũng chưa tìm thấy nghiên cứu tương tự tại nước ta
1.6 Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Bệnh viện Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là một bệnh việncông lập đa khoa hạng I hoạt động theo mô hình tiên tiến kết hợp Trường –Viện, gồm 3 cơ sở, 11 phòng chức năng, 27 Khoa Lâm sàng và Cận Lâmsàng, 8 phân khoa và các đơn vị nghiên cứu chuyên khoa sâu Bệnh việnhiện có 1000 giường bệnh, 66 phòng khám ngoại trú với đầy đủ các chuyênkhoa sâu và 17 phòng mổ được trang bị hiện đại Bệnh viện có đầy đủ cácchuyên khoa sâu: Tim mạch, Thần kinh, Nội tiết, Tiêu hóa, Gan mật, Thậnniệu, Xương khớp, Mạch máu – Lồng ngực, Hô hấp, Phụ sản, Mắt, Tai mũihọng, Da liễu, Hậu môn – Trực tràng… Từ khi thành lập đến nay, bệnhviện đã khám và chữa bệnh cho 16 triệu lượt bệnh nhân Việc khám và điềutrị bệnh nhân đạt kết quả ngày càng cao, thời gian điều trị ngắn, từ đó tạođược sự tín nhiệm, vì thế nên hàng năm đều có nhiều bệnh nhân từ Thànhphố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và các tỉnh đến khám Mỗi ngày bệnh việntiếp nhận 6.500 người bệnh từ khắp các tỉnh thành trong cả nước và một sốnước trong khu vực, trong đó có bệnh nhân Parkinson [1] Năm 2015, bệnhviện đã tiếp nhận 1.089 bệnh nhân Parkinson đến khám [14]