1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành về dịch vụ phòng khám bác sĩ gia đình của người dân tại trạm y tế phường tân tạo, quận bình tân năm 2017

87 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thái độ, thực hành về dịch vụ phòng khám bác sĩ gia đình của người dân tại trạm y tế phường Tân Tạo, quận Bình Tân năm 2017
Tác giả Phạm Thanh Vũ
Người hướng dẫn PGS.TS.BS. Trần Thiện Thuần
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở y tế phường xã nơi cung cấp dịch vụ khám chữabệnh người dân có thể dễ dàng tiếp cận, dịch vụ khám chữa bệnh, phòngkhám Bác sỹ gia đình trong thời gian tới giai đoạn II năm 2015 đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHƯỜNG TÂN TẠO, QUẬN BÌNH TÂN

NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -PHẠM THANH VŨ

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ

DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI DÂN TẠI TRẠM Y TẾ PHƯỜNG TÂN TẠO, QUẬN BÌNH TÂN

NĂM 2017

Chuyên ngành: Y tế Công cộng

Mã số: 60 720 301

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS.BS Trần Thiện Thuần

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thựcchính xác Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn không sao chépbất kỳ kết quả nghiên cứu của luận văn hay luận án nào chưa được trình bàihay công bố trong bất cứ công trình nào nghiên cứu trước đây

NGƯỜI HƯỚNG DẪN TÁC GIẢ

PGS.TS TRẦN THIỆN THUẦN PHẠM THANH VŨ

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT Bảo hiểm y tế

CP Chính Phủ

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Mục tiêu tổng quát 3

Mục tiêu cụ thể: 3

DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 5

1.1 Khái niệm về Y học gia đình, Bác sĩ gia đình và Chăm sóc ban đầu 5 1.1.1 Y học gia đình 5

1.1.2 Bác sĩ gia đình 5

1.1.3 Vai trò Bác sĩ tuyến ban đầu tại các nước 6

1.1.4 Vai trò của BSGĐ trong CSSKBĐ 10

1.1.5 Quan điểm, nguyên tắc hoạt động của BSGĐ 11

1.2 Xác định mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt nam 12

1.2.1 Mô hình tổ chức 12

1.2.2.Điều kiện hoạt động của phòng khám bác sĩ gia đình 12

1.2.3.Chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi phòng khám bác sĩ gia đình 13

1.3 Mô hình bác sĩ gia đìnhtại một số quốc gia trên thế giới 15

1.3.1 Mô hình của Hoa Kỳ 15

1.3.2 Mô hình của Vương quốc Anh 16

1.3.3 Mô hình của vương quốc Bỉ 17

1.3.4.Quá trình áp dụng mô hình y học gia đình tại Thái Lan 18

1.3.5 Vài nét về mô hình bác sĩ gia đình tại CuBa 20

1.4 Một số nghiên cứu về y học thực hành bác sĩ gia đình 22

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Thiết kế nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Đối tượng nghiên cứu 25

Trang 6

2.4 Phương pháp chọn mẫu 26

2.5 Kiểm soát sai lệch 26

2.6 Liệt kê và định nghĩa biến số 27

2.6.1 Các biến số về đặc tính của mẫu nghiên cứu 27

2.6.2 Các biến số về kiến thức về dịch vụ PK BSGĐ 28

2.6.3.Thái độ về dịch vụ PK BSGĐ 29

2.6.4 Thực hành sử dụng dịch vụ PK BSGĐ 30

2.7.Thu thập dữ kiện 31

2.7.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 31

2.7.2 Công cụ thu thập dữ kiện 31

2.8 Phân tích dữ kiện 31

2.8.1 Thống kê mô tả 31

2.8.2 Số thống kê phân tích 31

2.9 Vấn đề Y đức 31

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 ĐẶC TÍNH MẪU NGHIÊN CỨU 32

3.1.1 Nhóm tuổi 32

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhóm tuổi (n=385) 32

3.1.2.Giới tính 32

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ giới tính (n=385) 32

3.1.3 Trình độ học vấn, dân tộc, nghề nghiệp 33

Bảng 3.1 Trình độ học vấn, dân tộc, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=385) 33

3.1.4 Thu nhập cá nhân bình quân hàng tháng 34

Biểu đồ 3.3 Thu nhập cá nhân bình quân hàng/tháng (n=385) 34

3.1.5 Nơi thường đến khám khi có vấn đề về sức khỏe 34

Biểu đồ 3.4 Nơi người dân thường đến khám khi có vấn đề về sức khỏe (n=385) 34

3.1.6 Khoảng cách từ nơi sinh sống đến nơi khám bệnh 35

Trang 7

Bảng 3.2 Khoảng cách từ nơi sinh sống đến nơi khám bệnh (n=385) 35

3.1.7 Số lần đến khám 35

Biểu đồ 3.5 Số lần đến khám (n=385) 35

3.1.8 Bảo hiểm y tế 36

Bảng 3.3 Bảo hiểm y tế (n=385) 36

3.2 TIẾP CẬN DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SỸ GIA ĐÌNH 36

3.2.1 Biết về dịch vụ PK BSGĐ 36

Biểu đồ 3.6 Biết về dịch vụ PK BSGĐ (n=385) 36

3.2.2 Các kênh truyền thông (n=385) 37

Biểu đồ 3.7 Các kênh truyền thông (n=385) 37

3.2.3 Biết nơi có dịch vụ phòng khám BSGĐ 37

Bảng 3.4 Biết nơi có dịch vụ phòng khám BSGĐ (n=385) 37

3.3 KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH 38

Bảng 3.5 Kiến thức về dịch vụ phòng khám bác sĩ gia đình (n=385) 38

3.4 THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SỸ GIA ĐÌNH 40

Bảng 3.6 Thái độ sử dụng về DV PK BSGD(n=385) 40

3.5 THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH 41

Bảng 3.7 Thực hành về sử dụng DV PK BSGD(n=385) 41

Bảng 3.8 Mức độ hài lòng khả năng tiếp cận và sự minh bạch thông tin trong DV PK BSGD(n=385) 42

Bảng 3.9 Mức độ hài lòng về cơ sở vật chất trong DV PK BSGD (n=385) 43

Bảng 3.10 Mức độ hài lòng về thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên trong DV PK BSGD( n=385) 44

Bảng 3.11 Mức độ hài lòng về kết quả cung cấp dịch vụ trong DV PK BSGD( n=385) 45

Trang 8

3.7 MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNHVỚI CÁC ĐẶC TÍNH CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 463.7.1 Mối liên quan giữa kiến thức về DV PK BSGĐ với các đặc tính củamẫu- phân tích đơn biến 46Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức về DV PK BSGĐ với các đặc tínhcủa mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 46Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức về DV PK BSGĐ với các đặc tínhcủa mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 47Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thái độ sử dụng DV PK BSGĐ với các đặctính của mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 48Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thái độ sử dụng DV PK BSGĐ với các đặctính của mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 49Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng DV PK BSGĐ với các đặctính của mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 50Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng DV PK BSGĐ với các đặctính của mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 513.7.4 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành sử dụng DV PKBSGĐ - phân tích đơn biến 53Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành sử dụng DV

PK BSGĐ - phân tích đơn biến (n=385) 533.8 MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNHVỚI CÁC ĐẶC TÍNH CỦA MẪU NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH ĐABIẾN 543.8.1 Mối liên quan giữa kiến thức về DV PK BSGĐ với các đặc tính củamẫu- phân tích đa biến 54Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức về DV PK BSGĐ với các đặc tínhcủa mẫu- phân tích đa biến (n=385) 543.8.2 Mối liên quan giữa thực hành về sử dụng DV PK BSGĐ với kiến thức

và các đặc tính của mẫu-phân tích đa biến 55Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thực hành về sử dụng DV PK BSGĐ với kiếnthức và các đặc tính của mẫu- phân tích đa biến(n=385) 56

Trang 9

BÀN LUẬN 58

4.1 ĐẶC TÍNH MẪU NGHIÊN CỨU 58

4.2 TIẾP CẬN DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SỸ GIA ĐÌNH 60

4.3 KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH 62

4.4 THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SỸ GIA ĐÌNH 63

4.5 THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI DÂN VỀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH 64

4.6 MỨC ĐỘ HÀI LÒNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH 65

4.7 MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỚI CÁC ĐẶC TÍNH CỦA MẪU NGHIÊN CỨU 68

4.8 MỐI LIÊN QUAN GIỮA KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỚI CÁC ĐẶC TÍNH CỦA MẪU NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH ĐA BIẾN 69

4.9 ĐIỂM MỚI, ĐIỂM MẠNH VÀ ĐIỂM HẠN CHẾ 71

4.10 TÍNH ỨNG DỤNG VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀI 72

KẾT LUAN……… 74

ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ………76

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nhóm tuổi (n=385) 32

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ giới tính (n=385) 32

Biểu đồ 3.3 Thu nhập cá nhân bình quân hàng/tháng (n=385) 34

Biểu đồ 3.4 Nơi người dân thường đến khám khi có vấn đề về sức khỏe (n=385) 34

Biểu đồ 3.5 Số lần đến khám (n=385) 35

Biểu đồ 3.6 Biết về dịch vụ PK BSGĐ (n=385) 36

Biểu đồ 3.7 Các kênh truyền thông (n=385) 37

DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Trình độ học vấn, dân tộc, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (n=385) 33

Bảng 3.2 Khoảng cách từ nơi sinh sống đến nơi khám bệnh (n=385) 35

Bảng 3.3 Bảo hiểm y tế (n=385) 36

Bảng 3.4 Biết nơi có dịch vụ phòng khám BSGĐ (n=385) 37

Bảng 3.5 Kiến thức về dịch vụ phòng khám bác sĩ gia đình (n=385) 38

Bảng 3.6 Thái độ sử dụng về dịch vụ PK BSGĐ n=385) 40

Bảng 3.7 Thực hành về sử dụng dịch vụ PK BSGĐ (n=385) 41

Bảng 3.8 Mức độ hài lòng khả năng tiếp cận và sự minh bạch thông tin trong dịch vụ PK BSGD (n=385) 42

Bảng 3.9 Mức độ hài lòng về cơ sở vật chất trong dịch vụ PK BSGD (

n=385) 43

Bảng 3.10 Mức độ hài lòng về thái độ ứng xử, năng lực chuyên môn của nhân viên trong dịch vụ PK BSGD ( n=385) 44

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa kiến thức về dịch vụ PK BSGĐ với các đặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 46

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa kiến thức về dịch vụ PK BSGĐ với các đặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 47

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thái độ sử dụng dịch vụ PK BSGĐ với các đặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 48

Trang 11

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thái độ sử dụng dịch vụ PK BSGĐ với cácđặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 49Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng dịch vụ PK BSGĐ vớicác đặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (n=385) 50Bảng 3.17 Mối liên quan giữa thực hành sử dụng dịch vụ PK BSGĐ với cácđặc tính của mẫu- phân tích đơn biến (tt) (n=385) 51Bảng 3.18 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành sử dụng DV

PK BSGĐ - phân tích đơn biến (n=385) 53Bảng 3.19 Mối liên quan giữa kiến thức về dịch vụ PK BSGĐ với các đặctính của mẫu- phân tích đa biến (n=385) 54Bảng 3.20 Mối liên quan giữa thực hành về sử dụng dịch vụ PK BSGĐ vớikiến thức và các đặc tính của mẫu- phân tích đa biến (n=385) 56

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀBác sĩ gia đình là bác sĩ đa khoa thực hành, chăm sóc toàn diện vàliên tục cho người bệnh, có mối quan hệ lâu dài và bền vững với ngườibệnh, là những thầy thuốc gắn với dân và gần dân nhất Bác sĩ gia đình làbác sĩ hướng về gia đình, biết rõ từng người bệnh trong hoàn cảnh và giađình của họ, xem xét vấn đề sức khỏe của người bệnh trong hoàn cảnh củacộng đồng và lối sống của người đó trong cộng đồng [23].

Mô hình bác sĩ gia đình (BSGĐ) đã phát triển và nhân rộng ở nhiềunước trên thế giới từ Thế kỷ XX Năm 1960, Y học gia đình ra đời ở Mỹ,Anh và một số nước, đã đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khỏe củacộng đồng với sự chuyển đổi mô hình bệnh tật trên toàn cầu

Tại Việt Nam, từ ngàn năm nay nhân dân ta có một mạng lưới y tếphục vụ chăm sóc sức khỏe một cách tự phát Các ông lang, bà mế, bà đỡ,các phòng chẩn trị y học cổ truyền, thầy thuốc tư…đã hình thành mạng lướichăm sóc sức khỏe gần nhất với người dân tại cộng đồng Năm 1998, Dự

án phát triển đào tạo BSGĐ tại Việt Nam với sự tài trợ bởi quĩ CMB(China Medical Board of New York) Bộ Y tế phê duyệt Dự án triển khaiđào tạo chuyên ngành Y học gia đình tại các trường: Đại học Y Hà Nội,Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Y Thái Nguyên [1]

Triển khai mô hình phòng khám Bác sĩ gia đình thí điểm giai đoạn

2013 – 2015 triển khai 80 phòng khám (Hà Nội 20, Thái Nguyên 05, Huế

05, Đà Nẵng 05, Khánh Hòa 05, Thành phố Hồ Chí Minh 30, Tiền Giang

05, Cần Thơ 05) Cơ sở y tế phường xã nơi cung cấp dịch vụ khám chữabệnh người dân có thể dễ dàng tiếp cận, dịch vụ khám chữa bệnh, phòngkhám Bác sỹ gia đình trong thời gian tới (giai đoạn II năm 2015 đến năm2020) sẽ triển khai đến tận nhiều nơi trong các phường xã tạo điều kiện chomọi người dân tiếp cận chăm sóc nâng cao sức khỏe được tốt hơn

Hiện nay, mô hình bệnh tật ở nước ta là mô hình bệnh tật kép, cácbệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng vẫn ở mức khá cao, trong khi nhóm các

Trang 13

bệnh không lây nhiễm và tai nạn thương tích tăng nhanh dẫn đến nhu cầukhám, chữa bệnh của người dân ngày càng tăng; việc sàng lọc, theo dõi,quản lý, điều trị bệnh mạn tính tại cộng đồng là hết sức cần thiết, đòi hỏiviệc nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở ngày càng trở nên cấp bách.

Hoạt động BSGĐ ở nước ta hiện nay là mô hình mới, chưa đượcquan tâm đầu tư tương xứng, chưa có chức danh bác sĩ gia đình ở các cơ sở

y tế, hoạt động còn tản mạn, nhiều hạn chế, bất cập, chưa có đầy đủ cơ sởpháp lý và hiệu quả chưa cao Thí điểm TP HCM đã triển khai hoạt độngphòng khám BSGĐ cho đến hiện tại trên tất cả 24 quận huyện Quận BìnhTân triển khai gồm 01 phòng khám Bác sỹ gia đình (PK BSGĐ) tại bệnhviện quận và 10 phòng khám cho 10 Trạm y tế Phường

Hiện tại tất cả các Trạm y tế có triển khai PK BSGĐ thì rất ít ngườidân đến tiếp cận dịch vụ này để chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và gia đình

họ, trong khi các Phòng khám, Bệnh viện công và tư nhân ngày một quátải Như vậy ở góc độ phân tích kết quả trên thì có 2 vấn đề cần xem xét

Thứ nhất: Người dân chưa hiểu đúng nhiều về hoạt động dịch vụ PKBSGĐ cho nên thái độ của họ chưa quan tâm, chưa đồng thuận nhiều đếnvới mô hình chăm sóc sức khỏe này

Thứ hai: Triên khai mô hình PK BSGĐ chưa đáp ứng được nhu cầuchăm sóc sức khỏe của người dân

Xuất phát từ thực tiễn trên, với khả năng và thời gian cho phép tôi

chọn vấn đề thứ nhất để tiến hành nghiên cứu là Kiến thức, thái độ, thực

hành về dịch vụ PK BSGĐ của người dân đến tiếp cận dịch vụ tại Trạm y tế

của phường Tân Tạo, quận Bình Tân Kết quả nghiên cứu này có thể góp

phần bổ sung xây dựng mô hình PK BSGĐ nâng cao chất lượng dịch vụkhám bệnh, chữa bệnh ban đầu, giúp người dân được chăm sóc sức khỏetoàn diện, liên tục và phòng bệnh chủ động, tích cực góp phần giảm tìnhtrạng quá tải tại các bệnh viện

Trang 14

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Tỉ lệ kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng về dịch vụ PKBSGĐ của người dân khám tại Trạm y tế phường Tân Tạo, quận Bình Tân

là bao nhiêu?

Có mối liên quan giữa kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hành đúng

về dịch vụ PK BSGĐ với các đặc tính của mẫu của người dân khám tạiTrạm y tế phường Tân Tạo, quận Bình Tân hay không?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát

Xác định tỉ lệ người dân có kiến thức đúng, thái độ đúng, thực hànhđúng về sử dụng dịch vụ PK BSGĐ triển khai ở trạm y tế và các mối liênquan tại phường Tân Tạo, quận Bình Tân năm 2017

Trang 15

và số lần đến khám trong vòng 1 năm qua ≥1 lần

Dịch vụ PK BSGD Các kênh thông tin tiếp cận:

Ti vi, báo, internet, tờ rơi, gia đình, bạn bè, nhân viên y tế

Đặc tính của mẫu nghiên cứu:

(Tuổi, giới, trình độ học vấn, dân tộc, nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng)

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN

1.1 Khái niệm về Y học gia đình, Bác sĩ gia đình và Chăm sóc ban đầu 1.1.1 Y học gia đình

Theo định nghĩa của Hiệp Hội Y học Hoa Kỳ (AAFP): Y học giađình là một chuyên ngành y học, cung cấp dịch vụ chăm sức khỏe liên tụccho từng cá nhân và gia đình Đây là chuyên ngành rộng, lồng ghép sinhhọc, lâm sang học và khoa học hành vi Phạm vi hoạt động của Y học giađỉnh (YHGĐ) bao gồm nhóm tuổi, giới tính, cơ quan và các bệnh lý thựcthể [11], do vậy YHGĐ phát triển có thể giải quyết đến 80% các vấn đề vềsức khỏe cho cá nhân và gia đình trong cộng đồng dân cư hiện đang sinhsống ngay cả nông thôn và thành thị

1.1.2 Bác sĩ gia đình

Năm 1995, có 56 nước đã phát triển và áp dụng chương trình đào tạoYHGĐ Hiệp hội Bác sĩ gia đình toàn cầu (WONCA) đã được thành lậpnăm 1972 và đến nay đã có gần 100 quốc gia thành viên Hiện nay, môhình BSGĐ đã được phát triển rộng rãi không chỉ ở các nước phát triển như

Mỹ, Anh, Pháp, Australia, Canada mà cả ở các nước đang phát triển nhưPhilippines, Malaysia, đặc biệt Cu Ba là quốc gia được coi là một hình mẫu

về phát triển mô hình Bở các nước Đsgđ ang phát triển [23] Bác sĩ gia đình

là người có trách nhiệm chăm sóc người bệnh một cách liên tục toàn diện,

và phối hợp (Continuing, Comprehensive and Coordinated care) nhằm mụctiêu phát hiện, xử lý sớm các vấn đề bệnh tật, dự phòng và duy trì sức khỏecho từng cá nhân gia đình và cộng đổng Người bác sĩ gia đình có khả năngđáp ứng trên 90% nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho mọi thành viên trong giađình Trong một nghiên cứu của White KL, và cộng sự thấy trong 1.000người lớn, có 750 người đã bị một hay hai đợt ốm đau/thương tật/tháng.Trong đó có 250 người tìm đến bác sĩ/tháng, có 04 người phải nhập viện,

và trong số này có 05 người được chuyến đến chuyên khoa khác/tháng [1]

Trang 17

Chính vì vậy, khi lực lượng Bác sĩ gia đình đủ lớn và mạng lưới phòngkhám BSGĐ phủ khắp thì việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng dân cư ViệtNam nói chung, cũng như cộng đồng dân cư ở những ở những địa bàn đượcphủ đầy phòng khám BSGĐ sẽ tốt hơn và sẽ làm giảm tải tuyến bệnh viện

và các bệnh viện chuyên khoa như hiện nay Như vậy Bác sĩ gia đình làngười chăm sóc ban đầu, có tính liên tục và xuyên suốt cho cộng đồngtrước và trong khi có vấn đề về sức khỏe

1.1.3 Vai trò Bác sĩ tuyến ban đầu tại các nước

Cũng như y học phương Đông, nền y học phương Tây được phát triển

từ rất sớm từ thời Hypocrate khoảng 400 năm trước Công nguyên Đếnkhoảng cách đây 200 năm, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nền ykhoa cổ truyền của Tây y phát triển thành y học hiện đại Do vậy, có thểnói Y học hiện đại có liên hệ mật thiết với y học cổ truyền của các nướcphương Tây và khác với y học cổ truyền của các nước phương Đông

Trước đây, người bác sĩ chính là những người thực hành Tây y, phục

vụ việc chăm sóc điều trị cho bệnh nhân Họ hoạt động một cách độc lập tạiphòng khám hoặc tại nhà của thân chủ Các hình thức dịch vụ y tế khác vẫnchưa hình thành vào thời điểm đó

Sau đó, xã hội phát triển lên qui mô mới, làm nảy sinh những nhu cầuchăm sóc y tế mới như chăm sóc cho những người nghèo, người vô gia cư,những bệnh nan y chưa có thuốc chữa cần tập trung cô lập (bệnh dịch ),thương viện binh…vv Nhà thờ đã đứng ra cưu mang người bệnh, lập trạm

xá, nhà tế bần để chăm sóc thường trực (nội trú) bệnh nhân Người bác sĩđược nhà thờ trả tiền để đến làm việc, dần dần sau đó trở thành nhân viênthường trực tại các đơn vị trạm xá này (khoảng cách nay 200 năm) Một khinhu cầu càng cao, bác sĩ được yêu cầu làm thường trực – trực gác và trởthành nhân viên của các trạm xá này Các mô hình trạm xá – nhà tế bầnphát triển lớn dần về qui mô và trở thành bệnh viện về sau

Trang 18

Với cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào những thập niên đầu củathế kỷ 20, các bệnh viện được trang bị máy móc, thiết bị, các kỹ thuật canthiệp ngày càng hiện đại, đội ngũ nhân viên ngày càng chuyên khoa hóasâu, thực hiện các phương pháp điều trị ngày càng tinh vi Từ nay, nền yhọc chứng kiến xu hướng phân khoa hóa, chuyên sâu hóa rõ nét Các bác sĩcông tác tại bệnh viện được phát triển sâu về một chuyên môn nhất định vàtrở thành bác sĩ chuyên khoa Trong khi đó, các bác sĩ đang công tác độclập ngoài hệ thống bệnh viện vẫn giữ nguyên tình trạng chuyên môn là đakhoa tổng quát.

Có thể nói nguồn gốc của y học hiện đại được bắt đầu từ bối cảnhchăm sóc ngoại trú trong đó bác sĩ làm việc trực tiếp với người bệnh ngaytrong bối cảnh cuộc sống của người bệnh nhân Việc phát triển mô hìnhđiều trị nội trú là sau này nhằm đáp ứng các nhu cầu chuyên biệt

Hậu quả của việc phân khoa hóa, chuyên sâu hóa của các đồngnghiệp công tác tại bệnh viện đã đưa đến sự ngộ nhận về vai trò của ngườibác sĩ tổng quát mặc dù họ đang thực hành một cách hiệu quả - tích cực tạituyến y tế ngoại trú trong hệ thống y tế Từ đó, người dân có các đánh giákhông phù hợp về hình ảnh người bác sĩ tổng quát như những bác sĩ cóchuyên môn kém, bác sĩ dành cho người nghèo, bác sĩ hạng hai…

Đứng trước các nhận định không chính xác của xã hội, vào đầunhững năm 1960-1970, tại các nước phát triển, hiệp hội bác sĩ tổng quát đãđặt ra câu hỏi: bác sĩ tổng quát có cần thiết cho xã hội, có vai trò như thếnào trong hệ thống y tế? bác sĩ tổng quát có đảm nhận chức năng điều trịhay chỉ giới hạn ở dự phòng? Mối tương quan chuyên môn giữa bác sĩ tổngquát và bác sĩ chuyên khoa như thế nào?

Kết quả cuối cùng đã công nhận y học tổng quát/y học gia đình làmột chuyên ngành lâm sàng tổng quát, được tổ chức đào tạo sau đại học vànhằm phục vụ y tế tuyến ban đầu Nếu như vai trò và chức trách của bác sĩ

Trang 19

tổng quát sau đó được mô tả trong công ước Alma Ata năm 1978 (điểm 6của công ước về chăm sóc ban đầu).

Vai trò và chức trách của BSGĐ /bác sĩ tổng quát lại được mô tảthông qua định nghĩa của tổ chức WONCA (hiệp hội bác sĩ gia đình/bác sĩtổng quát) năm 2011

Việc gắn kết hình ảnh của YHCĐ vào tuyến ban đầu của hệ thống y

tế không xuất phát từ chính kiến chủ quan của bất kỳ một nhóm lợi ích nào

cả Lịch sử của sự kết hợp này lại xuất phát từ chính điểm yếu của nền yhọc hiện nay: “Y học sẽ không thể một mình giải quyết hết tất cả các khíacạnh phức tạp của vấn đề sức khỏe cho cá nhân hoặc cho cộng đồng dân cưliên quan Điều mấu chót là việc phối hợp với người bệnh, vận dụng cácnguồn lực để tạo ra điều kiện sống tốt cho sức khỏe, tìm kiếm giải phápphù hợp mà người bệnh mong đợi nhằm giải quyết vấn đề sức khỏe [14]

Trang 20

Như chúng ta thấy quá trình phát triển lịch sử y học, y học gia đìnhđược phát triển trên nền tảng thực hành lâm sàng Bác sĩ gia đình có thểcung cấp dịch vụ điều trị bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện cho cá nhân.

Để đạt được hiệu quả cao, YHGĐ cần có sự tham gia, trao đổi, cộng táccủa chính cá nhân người bệnh cũng như của chính cộng đồng dân cư xungquanh với nhân viên y tế Điều này chỉ có thể thực hiện được khi ngườithực hành y học gia đình có được lòng tin của người bệnh, gần gũi, tiếp xúcthường xuyên và ở tất cả các giai đoạn sức khỏe ngay từ khi chưa mắc bệnhđến khi bệnh đã ổn định cần theo dõi Chính điều này đặt người thực hành

y học gia đình vào tuyến y tế ban đầu, nơi được xem là điểm tiếp xúc đầutiên của hệ thống y tế với người bệnh, với cộng đồng dân cư

Tất cả các điểm đặc trưng này đã không thay đổi trong suốt quá trìnhphát triển của ngành YHGĐ trong suốt thời gian vừa qua Các điểm này cóthể được thấy rõ qua các định nghĩa: Hội nghị Leeuwenhorst – Hà Lan 1974[19]; hội nghị WONCA 1991, báo cáo của Olesen năm 2000 [18] và địnhnghĩa do WONCA 2002 đề xuất [15] và sau này là phiên bản 2011 [16].Chính định nghĩa về Y học gia đình được xây dựng bởi nhánh WONCAchâu Âu cho phép thấy rõ sự hợp nhất giữa 2 phạm trù: YHGĐ và vị trítuyến ban đầu của hệ thống y tế quốc gia

Nếu như năm 1995 chỉ mới có 56 nước phát triển và áp dụng chươngtrình đào tạo Y học gia đình, hiệp hội Bác sĩ gia đình thế giới (WONCA)hiện nay đã có gần 100 quốc gia thành viên Không chỉ ở các nước pháttriển mà cả ở các nước đang phát triển, mô hình y học gia đình đã đượcphát triển rộng rãi và mang nhiều nét đặc thù khác nhau tương ứng với bốicảnh từng nước Nước ta cũng đang nằm trong chu trình đó

Trang 21

1.1.4 Vai trò của BSGĐ trong chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ)

Những nghiên cứu khác xem xét ảnh hưởng của việc cung cấp bác sĩCSSKBĐ ở mức tiểu bang trong khi vẫn tính đến vai trò của bác sĩ chuyênkhoa Những phân tích này cho thấy, giữa năm 1985 và năm 1995, việccung cấp những bác bác sĩ chăm sóc ban đầu (CSBĐ) liên quan tới tử xuấttoàn bộ thấp, trái lại việc cung cấp nhiều bác sĩ chuyên khoa lại liên quanđến tử xuất chung cao hơn Trong khi việc cung cấp bác sĩ CSBĐ là baogồm BSGĐ, bác sĩ nội tổng quát, bác sĩ nhi nhưng chỉ có BSGĐ có liênquan có ý nghĩa đến tử xuất thấp (Shi và cộng sự 2003) [1]

Các phân tích tại bang Florida dùng tử xuất do ung thư cổ tử cungnhư là tiêu chí đánh giá y tế Sau khi hiệu chỉnh sự khác biệt về địa dư (hạt)

tỉ lệ da trắng, mức giáo dục thấp, thu nhập hộ gia đình, phần trăm phụ nữkết hôn và tỷ lệ thành thị/ nông thôn), thì khi tăng thêm một BSGĐ trên10.000 dân sẽ giảm được 0,65 trên 100.000 dân Nghĩa là khi tăng thêm 1/3

số BSGĐ thì giảm 20% tử xuất do ung thư cổ tử cung Hiệu quả của CSBĐcũng được tìm thấy trong mối quan hệ giữa giảm tử xuất và tăng cung cấpbác sĩ nội khoa nhưng không liên quan đến cung cấp bác sĩ sản phụ khoa(Campbell và cộng sự 2003) [1]

Tử xuất tai biến mạch máu não cũng liên quan đến việc cung cấp bác

sĩ CSBĐ Sử dụng số liệu 11 năm ở mức tiểu ban có hiệu chỉnh thu nhập,trình độ văn hóa, tình trạng thất nghiệp, chủng tộc và phần trăm dân thànhthị, thì sự cung cấp bác sĩ CSBĐ vẫn liên quan có ý nghĩa với việc giảm tửxuất thậm chí sau khi loại bỏ việc bất bình đẳng về thu nhập [20] Kết quảcũng tương tự như vậy đối với tử xuất chung hay do từng nguyên nhânkhác nhau Mức giảm sinh nhe cân ở mức tiểu ban liên quan chặt chẽ đếnviệc cung cấp bác sĩ CSSKBĐ trong cùng năm hay 1,2, và 5 năm sau Càng

có nhiều bác sĩ CSBĐ được cung cấp thì tử xuất trẻ em càng thấp và điềunày không thay đổi khi hiệu chỉnh các yếu tố kinh tế xã hội và sự khác biệt

về thu nhập [20]

Trang 22

Mối liên hệ giữa việc cung cấp bác sĩ CSBĐ và cải thiện y tế khôngchỉ hạn chế trong các nghiên cứu ở Mỹ Ở Anh, tử xuất được chuẩn hóa domọi nguyên nhân từ 15 tới 64 tuổi thấp hơn ở những vùng được cung cấpnhiều bác sĩ đa khoa (ở Anh bác sĩ nhi khoa và nội khoa không có chứcnăng và không được xem bác sĩ CSBĐ) Khi thêm một bác sĩ đa khoa trên10.000 dân (tăng 15 – 20%) thì giảm 6% tử xuất [17].

Như vây qua các chứng cứ trên rõ ràng BSGĐ có vai trò rất lớn vàhữu hiệu trong công tác CSSKBĐ, nâng cao sức khỏe người dân và làmgiảm tử xuất do nhiều nguyên nhân gây ra có ý nghĩa và không có sự khácbiệt vào yếu tố kinh tế thu nhập, chủng tộc, thành thị/nông thôn Việc ứngdụng và phát triến Y học gia đình, đào tạo phát triển đội ngũ BSGĐ lả mộthướng đi đúng và phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển cùng với thếgiới và đồng thời nâng cao sức khỏe cho người dân của Việt Nam

1.1.5 Quan điểm, nguyên tắc hoạt động của BSGĐ

• Y học gia đình là một chuyên ngành y học cung cấp dịch vụ chăm sócsức khỏe toàn diện, liên tục cho từng cá nhân và gia đình Đây là chuyênngành rộng, lồng ghép giữa y học lâm sàng với sinh học và khoa họchành vi

• Bác sĩ gia đình là bác sĩ chuyên khoa y học gia đình, được đào tạo đểhành nghề tại tuyến khám bệnh, chữa bệnh ban đầu, khám bệnh, chữabệnh ngoại trú, có nhiệm vụ chăm sóc đầu tiên và liên tục cho ngườibệnh cũng như người khỏe theo những nguyên tắc đặc thù

• Bác sĩ gia đình hoạt động trên nguyên tắc liên tục, toàn diện, phối hợp,theo hướng dự phòng, dựa vào cộng đồng và gia đình

• Chức năng bác sĩ gia đình: CSBĐ cho người dân tại cộng đồng theohướng dự phòng

• Hoạt động của BSGĐ: Cung ứng dịch vụ chăm sóc toàn diện, lồngghép, liên tục và toàn diện cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, duy trìmối quan hệ tin cậy và lâu dài với người bệnh; tham vấn, vận động lối

Trang 23

sống lành mạnh, loại bỏ các hành vi nguy cơ đối với bệnh tật nhằm nângcao năng lực của cá nhân, nhóm và cộng đồng trong việc tự bảo vệ vànâng cao sức khoẻ.

1.2 Xác định mô hình phòng khám bác sĩ gia đình tại Việt nam

1.2.1 Mô hình tổ chức

• Phòng khám bác sĩ gia đình tư nhân;

• Phòng khám bác sĩ gia đình phối hợp, lồng ghép chức năng trạm y tế xã;

• Phòng khám bác sĩ gia đình tại khoa khám bệnh của các bệnh viện,thuộc sự quản lý của bệnh viện

Quy mô phòng khám BSGĐ tùy thuộc vào mô hình bệnh tật ở địaphương, điều kiện nhân lực, trang thiết bị cơ sở vật chất cụ thể và mức độbao phủ cụm dân cư của phòng khám bác sĩ gia đình

1.2.2.Điều kiện hoạt động của phòng khám bác sĩ gia đình

Phòng khám bác sỹ gia đình phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đâymới được cấp phép hoạt động:

Trường hợp bác sĩ trực tiếp thực hiện kỹ thuật điện tim, điện não đồ,điện cơ, lưu huyết não, siêu âm, nội soi tiêu hóa, xét nghiệm thì phải cógiấy chứng nhận đã học các kỹ thuật đó của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên

Riêng đối với kỹ thuật nội soi tiêu hóa phải có thêm giấy xác nhận đã

có thời gian thực hành về nội soi tiêu hóa ít nhất từ 18 tháng trở lên tại cơ

sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến tỉnh trở lên

Trang 24

Cơ sở vật chất

Xây dựng và thiết kế

Địa điểm cố định, tách biệt với nơi sinh hoạt gia đình;

Đảm bảo có đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, khámbệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng;

Xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nềnnhà phải sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh;

Có nơi đón tiếp người bệnh;

Có buồng khám bệnh, chữa bệnh diện tích ít nhất là 10m2;

Có buồng truyền thông, tư vấn sức khỏe;

Có buồng xét nghiệm, thăm dò chức năng

Ngoài quy định trên, tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn đăng

ký, phòng khám phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:

Có buồng thủ thuật với diện tích ít nhất là 10m2 nếu có thực hiện thủthuật;

Có buồng vận động trị liệu có diện tích ít nhất là 40 m2 nếu thựchiện vận động trị liệu, phục hồi chức năng;

Bảo đảm xử lý rác thải y tế theo quy định của pháp luật; bảo đảm vôtrùng đối với buồng thực hiện thủ thuật;

Bảo đảm có đủ điện, nước, khu vệ sinh và các điều kiện khác đểphục vụ chăm sóc người bệnh

Thuốc và thiết bị y tế

Có danh mục thuốc, thiết bị y tế tối thiểu đủ để khám bệnh, chữabệnh thông thường; có máy điện tim, máy siêu âm, máy xét nghiệm sinhhóa và các trang thiết bị y tế khác phù hợp với phạm vi hoạt động chuyênmôn đăng ký hoạt động

1.2.3.Chức năng, nhiệm vụ, quyền lợi PK BSGĐ

Khám bệnh, chữa bệnh;

Sơ cứu, khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh thường gặp;

Trang 25

Thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, sàng lọc phát hiện sớm bệnh, tật

và khám bệnh, chữa bệnh tại phòng khám và tại nhà người bệnh;

Tham gia hệ thống chuyển tuyến: Là cơ sở đầu tiên trong hệ thốngchuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh, có trách nhiệm giới thiệu và chuyểnngười bệnh đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác khi có yêu cầu vềchuyên môn; tiếp nhận người bệnh từ các cơ sở khám bệnh, chữa bệnhkhác chuyển đến để tiếp tục chăm sóc và điều trị;

Tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cuối đời

Phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu

Tham gia giám sát, phát hiện sớm dịch bệnh trong cộng đồng dân cư;Tham gia các chương trình tiêm chủng, chương trình y tế quốc gia;Hướng dẫn vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòngchống dịch bệnh lây nhiễm và bệnh không lây nhiễm;

Tham gia quản lý bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ

em, người cao tuổi, khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh tật; có

hồ sơ theo dõi sức khỏe toàn diện liên tục cho cá nhân và gia đình theo quyđịnh của Bộ Y tế

Phục hồi chức năng và nâng cao sức khỏe

+ Tổ chức phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho các đối tượng

Trang 26

Tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe để góp phần nâng caonhận thức của người dân về phòng bệnh tích cực và chủ động, phòng ngừacác yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh, tật.

Nghiên cứu khoa học và đào tạo

Nghiên cứu khoa học về y học gia đình và các vấn đề liên quan;Tham gia công tác đào tạo chuyên ngành y học gia đình;

Tham gia các chương trình đào tạo liên tục của chuyên ngành y họcgia đình để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn

Xây dựng phần mềm tin học quản lý các thông tin về sức khỏe của

cá nhân, gia đình và cộng đồng; kết nối mạng giữa phòng khám bác sĩ giađình với người bệnh, với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các cơ sở y tếkhác

Xây dựng bệnh án điện tử y học gia đình

Bảo đảm bảo mật các thông tin về sức khỏe của người bệnh

1.3 Mô hình bác sĩ gia đìnhtại một số quốc gia trên thế giới

1.3.1 Mô hình của Hoa Kỳ

Đây là một trong số ít những nước không có hệ thống bảo hiểm toàndân 2 hệ thống bảo hiểm nổi tiếng của chính phủ là Medicare dùng chongười già trên 65 tuổi là Mediaids dùng cho người nghèo có thu nhập dướingưỡng Do vậy, vấn đề chi phí y tế là một trong những rào cản quan trọng

để tiếp cận dịch vụ y tế

Trang 27

Mỗi bác sĩ gia đình quản lý trung bình từ 2000 đến 3000 bệnh nhân.Tuy nhiên các bệnh nhân này không trực thuộc cụ thể một bác sĩ riêng nào.Mỗi bác sĩ khám trung bình từ 20-30 bệnh nhân mỗi ngày, có khám bệnhtại nhà, một số có tham gia điều trị tại bệnh viện cho bệnh nhân riêng Cónhiều mô hình hoạt động khác nhau như độc lập, theo nhóm hoặc theonghiệp đoàn; đa khoa tổng quát hoặc nhiều chuyên khoa, hình thức chi trảtrước hoặc chi trả sau Thông thường là chi trả cho mỗi lần khám (khác vớihình thức chi trả trọn gói).

Chương trình đào tạo là 3 năm sau đại học, chủ yếu thực hành tại cácbệnh viện của vùng Hơn 90% các trường y có khoa Y học gia đình, trong

đó ¼ số khoa được đánh giá rất mạnh trong lĩnh vực nghiên cứu Ngườithực hành lâm sàng y học gia đình đều phải tham giá các khóa đào tạo liêntục suốt đời, đều phải qua kỳ kiểm tra mỗi 7 năm

1.3.2 Mô hình của Vương quốc Anh

Tại Anh, cũng như phần lớn các nước châu Âu, hầu như tất cả ngườidân đều được hưởng bảo hiểm y tế nhà nước (tỷ lệ không đạt 100% dân số

vì có một tỷ lệ nhất định những người nước ngoài, người di dân chưa đượcghi nhận bởi chính quyền nên không có bảo hiểm y tế)

Mô hình thực hành y học gia đình đa dạng, thường là nhóm nhỏ Mỗibác sĩ phụ trách một danh sách từ 1500 đến 2000 bệnh nhân, đây là nhữngbệnh nhân có đăng ký được chăm sóc bởi bác sĩ gia đình cụ thể (mang tínhchất ràng buột) Mỗi ngày, bác sĩ gia đình khám trung bình 30 bệnh nhân,thực hiện nhiều việc khám bệnh tại nhà, không tham gia điều trị tại bệnhviện Bảo hiểm y tế thanh toán các dịch vụ khám ngoại trú theo hình thứctrọn gói khoán theo năm Mức khoán cho mỗi bệnh nhân được điều chỉnhtheo mỗi năm bởi chính phủ Để có thể đến khám tại tuyến trên, bệnh nhânphải được sự giới thiệu của bác sĩ gia đình (mô hình phân tuyến bắt buộc)

Trang 28

Về đào tạo, bác sĩ gia đình được đào tạo sau đại học với chương trìnhhọc 4 năm, trong đó năm cuối thực hành tại phòng khám đa khoa Sau khi

đã ra nghề, bác sĩ thực hành lâm sàng vẫn phải tham gia đào tạo liên tục.Tất cả các trường y đều có khoa y học gia đình và có nhiều hoạt độngnghiên cứu trong lĩnh vực này

1.3.3 Mô hình của vương quốc Bỉ

Bảo hiểm y tế phủ toàn bộ dân số (một số ít những người di dânkhông có bảo hiểm do không đăng ký với chính quyền địa phương) Bệnhnhân vẫn tham gia đồng chi trả một phần chi phí điều trị (tuy số tiền bỏ rakhông nhiều) Mục đích của việc đồng chi trả nhằm tránh hiện tượng lạmdụng quĩ bảo hiểm y tế Đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú, có 3 hình thứcthanh toán chi phí điều trị khác nhau: chi trả trọn gói theo từng năm chomỗi người dân, chi trả cho mỗi lần khám với chi phí hoàn trả sau cho BShoặc chi phí hoàn trả sau cho người bệnh

Có nhiều mô hình thực hành y học khác nhau: độc lập hoặc theonhóm; quản lý hoặc không quản lý Tuy nhiên, phần lớn bác sĩ vẫn thựchành theo hình thức không quản lý Số bệnh nhân đăng ký quản lý bắt buộcchỉ mới chiếm khoảng 5% dân số Mỗi bác sĩ gia đình tham gia quản lýkhoảng 2000 bệnh nhân (đối với mô hình chi trả trọn gói) Trung bình mỗingày, bác sĩ khám khoảng 30 bệnh nhân Có khoảng 1/3 số lần khám ngoạitrú được thực hiện tại nhà Tuy mô hình có phân tuyến rõ ràng, nhưng sốbệnh nhân đăng ký quản lý tại bác sĩ gia đình còn ít, tình trạng điều trị vượttuyến vẫn thường xuyên xảy ra

Chương trình đào tạo y học gia đình được giới thiệu trong đại học vàsau đại học Tất cả sinh viên y học gia đình đều qua 3 năm sau đại họctrong đó có 1 năm lý thuyết và 2 năm thực hành tại phòng khám đa khoa –phòng mạch tư Việc đào tạo liên tục là bắt buộc đình kỳ theo hình thức tín

Trang 29

chỉ, được quản lý bởi nghiệp đoàn y Tất cả các trường y đều có bộ môn Yhọc tổng quát-y học gia đình

1.3.4 Quá trình áp dụng mô hình y học gia đình tại Thái Lan

Thái Lan là một trong những nước được đánh giá cao về thành tựu ykhoa thông quá các chỉ số về sức khỏe trong các thập kỷ gần đây Vàonhững năm 1990 Với các chính sách của bộ y tế, bảo hiểm y tế đã đượctriển khai bắt đầu từ các bệnh viện cấp tỉnh-thành phố và sau đó là các bệnhviện của huyện và trạm y tế

Việc khám điều trị bệnh chủ yếu được đáp ứng bằng hệ thống phòngkhám ngoại chẩn tại các bệnh viện Bên cạnh đó, mạng lưới các phòngkhám tư nhân tham gia đáp ứng một phần nhu cầu chăm sóc y tế của ngườidân Mạng lưới tư nhân được hình thành ban đầu là các phòng mạch tư, dochính nhân viên y tế nhà nước đứng tên thành lập và hoạt động ngoài giờhành chính Dần về sau, các phòng mạch tư được trang bị dần và phát triểnthành các phòng khám đa khoa tư nhân Việc chuyên khoa hóa là một xuhướng chung Ban đầu các bác sĩ trẻ được bố trí công tác tại các bệnh việntuyến huyện, đảm nhận công việc bác sĩ đa khoa trước khi đủ điều kiện đểtheo học chuyên khoa về sau

Đứng trước tình hình chi phí y tế tăng cao và nhu cầu cải thiện chấtlượng chăm sóc y tế, năm 1996, bộ y tế Thái Lan đã triển khai chương trìnhcải cách bao gồm 3 hướng chính: cải cách tài chính của bảo hiểm y tế, cảicách mạng lưới y tế dựa trên mô hình bác sĩ gia đình và nâng cao quyềncủa bệnh nhân Với việc cải cách mạng lưới y tế, mô hình y học thiên

về bệnh viện được chuyển hướng sang mô hình y học gia đình, đảm nhiệmbởi mạng lưới các đơn vị chăm sóc tuyến ban đầu (có thể liên kết với bệnhviện hoặc không) Mỗi đơn vị chăm sóc tuyến ban đầu này thường cókhoảng 8 nhân viên, trong đó có ít nhất 2 y tá và 1 bác sĩ (nếu như có thể)

Trang 30

phụ trách cho một cộng đồng dân cư khoản 10.000 dân Các đơn vị nàyđược nhận một khoản kinh phí hỗ trợ tương ứng với số người dân đăng ký,

do vậy bệnh nhân chỉ trả một phần chi khí cho mỗi lần khám bệnh

Tuy nhiên số bác sĩ chấp nhận công tác tại các tuyến ban đầu theo

mô hình này không nhiều, do vậy nhà nước đã có những chính sách khácnhau nhằm củng cố trình độ của các đơn vị y tế tuyến cơ sở Mô hình y họcgia đình tại Thái Lan được xây dựng trên những kinh nghiệm đúc kết từ cácchuyến tham quan mô hình y tế các nước, phối hợp với kinh nghiệm thựctiễn và đặc trưng của Thái Lan Mặc dù chương trình cải cách được triểnkhai thí điểm từ cuối những năm 90, đến năm 2001 (thời điểm triển khaicải cách), mô hình YHGĐ của Thái Lan vẫn chưa có được sự thống nhất,còn nhiều ý kiến khác nhau

Để đẩy mạnh phát triển y học gia đình, nguồn nhân lực cũng đã đượcchú ý phát triển Giải pháp đầu tiên là nâng cao năng lực điều trị lâm sàngcho các y tá đang công tác tại trạm y tế thông qua các khóa đào tạo ngắnhạn Việc phát triển bác sĩ gia đình được thực hiện bằng 2 hình thức Hìnhthức thứ nhất là các bác sĩ trẻ mới tốt nghiệp sẽ học thêm chương trình sauđại học trong 3 năm (chuyên khoa về bác sĩ gia đình), chính thức hìnhthành từ năm 2000 Hình thức thứ 2 là mô hình đào tạo dành cho các bác sĩ

đã công tác tại địa phương, nó cho phép những bác sĩ đa khoa hoặc đãchuyên khoa đã qua công tác điều trị trong 5 năm được phép lấy bằng về yhọc gia đình chỉ qua một khóa học ngắn hạn (khoảng 1 tuần lễ) Với cáchthức đào tạo này, chỉ trong năm đầu tiên triển khai, đã có 2000 bác sĩ tốtnghiệp chương trình này Đây cũng chính là lý do giải thích việc các bác sĩ

có bằng bác sĩ gia đình ít khi công tác tại tuyến y tế ban đầu (vì đa phần đã

là người đang công tác tại các tuyến y tế chuyên sâu, tuyến bệnh viện)

Trang 31

Việc triển khai y học gia đình trên qui mô quốc gia đã gặp nhiều khókhăn Các phòng khám tư nhân (phòng mạch tư) không muốn tham giamạng lưới này vì họ vẫn muốn quyền tự chủ trong hoạt động Các trạm y tếkhông có đủ nhân lực cần thiết (thường là thiếu bác sĩ) để triển khai thêmhoạt động điều trị (vốn trước đây họ chỉ có đủ nguồn lực cho các hoạt động

dự phòng và chương trình cộng đồng) Do vậy, các trạm y tế phải nhờ đếncác bác sĩ của các bệnh viện tuyến huyện hỗ trợ hoạt động điều trị Tuynhiên, giải pháp này chỉ mang tính chất nhất thời, không thể duy trì lâu dài.Các trạm y tế thường phối hợp với bệnh viện để hình thành mạng lưới.Việc này cũng không dễ dàng Ban lãnh đạo các bệnh viện lại không ủng

hộ việc chuyển hướng y học bệnh viện sang hướng y học gia đình, đây làmột trong những lý do gây cản trở cho việc đẩy củng cố chuyên môn tuyến

y tế chăm sóc ban đầu

Một trong những khó khăn cũng phải cần nhấn mạnh là quan niệmcủa người dân về chất lượng y tế còn giới hạn Bệnh viện vẫn được xem lànơi cung cấp các dịch vụ sức khỏe có chất lượng, và trạm y tế vẫn bị xem

là không có đủ chuyên môn đảm nhận điều trị

1.3.5 Vài nét về mô hình bác sĩ gia đình tại CuBa [13]

Cuba là một quốc gia có các chỉ số về sức khỏe gần giống với cácnước phương Bắc (các nước đã phát triển) trong khi các thông số về nguồnlực và tài chính thì lại giống với các nước phương Nam (các nước đangphát triển) Từ năm 1959, các hoạt động điều trị được ủy thác cho bác sĩ,trên cơ sở ưu tiên bác sĩ chuyên khoa Với đặc điểm này, tiền thân các đơn

vị chăm sóc tuyến ban đầu của Cuba là những phòng khám đa khoa donhững bác sĩ chuyên khoa khác nhau đảm trách

Đến năm 1984, sau hàng loạt các đợt tham quan học tâm các môhình y tế của các nước châu Âu, châu Mỹ, chính quyền Cuba đã thực hiện

Trang 32

cải cách quan trọng trong hệ thống y tế mà chủ yếu là cho thực hiện môhình BSGĐ tại Cuba Đặc điểm của mô hình này là một đơn vị chăm sócban đầu bao gồm 1 BSGĐ và 1 y tá phụ trách cho một cộng đồng dân cư từ500-800 người dân (ghi chú: tỷ lệ nhân viên y tế tại Cuba là: 1BS/172người dân, 1YTá/128 người dân).

Cách tiếp cận của chăm sóc tuyến đầu cũng thay đổi, từ cách nhìnthiên về sinh học (về bệnh) qua cách nhìn tổng quát hơn sinh học-tâm lý-xãhội, gia đình và cộng đồng (về con người) Chức năng của BSGĐ bao gồmđiều trị, dự phòng, nâng cao sức khỏe Bên cạnh đó, bác sĩ gia đình còntriển khai nhiều hoạt động chuyên biệt khác (như vãng gia chủ động) Cácđơn vị chăm sóc ban đầu này trực thuộc mạng lưới của một phòng khám đakhoa Nơi đây có thêm các chức năng bổ sung như: đào tạo, hỗ trợ, theo dõikiểm tra các đơn vị chăm sóc ban đầu này, cũng như cung cấp một số dịch

vụ chuyên khoa (khám chuyên khoa cho các bệnh nhân được chuyển đến,xét nghiệm cận lâm sàng) Các bệnh viện thì phụ trách việc điều trị các mặtbệnh nội trú

Tuy cấu trúc hệ thống y tế có phân tuyến phân cấp cụ thể, nhưngtrong thực tế, bệnh nhân có thể đi vượt tuyến, đưa đến hậu quả là các phòngkhám đa khoa và bệnh viện đôi khi cung cấp các dịch vụ y tế ban đầu.Trước nay, tất cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe là miễn phí và thuốc thìđược trợ cấp Từ năm 2010 đến nay, tình hình đã có nhiều thay đổi do việcnhà nước không còn trợ cấp về y tế

Trong vòng 15 năm, đã có 20.000 bác sĩ gia đình được đào tạo quachương trình sau đại học 3 năm (bắt buộc đối với tất cả các bác sĩ trẻ mới

ra trường trước khi phát triển 1 chuyên khoa sâu khác) Vào giai đoạn đầu,Cuba không có được đội ngũ giảng viên về chuyên ngành BSGĐ nên việcđào tạo được thực hiện thông qua các chuyên khoa khác (nội khoa, nhi

Trang 33

khoa và sản khoa) với chương trình “định hướng chuyên khoa” Dần dần vềsau, các giảng viên được đào tạo chính thức thay thế dần các vị trí giảngdạy này Chương trình đào tạo mang tính chất thực hành nhiều hơn là lýthuyết Các bác sĩ trẻ được bố trí làm việc tại một phòng mạch hoặc mộtphòng khám đa khoa Giảng viên sẽ giám sát việc khám bệnh của sinh viên.Bên cạnh đó, sinh viên phải tham dự các buổi báo cáo, hội thảo chuyên đề

tổ chức tại các phòng khám đa khoa

Việc phân bố các BSGĐ giữa các vùng địa lý khác nhau do nhà nướcquản lý điều phối thông qua các chính sách khác nhau Một trong nhữnggiải pháp là việc các trường y trực thuộc trực tiếp bộ y tế, và áp dụng chínhsách đào tạo theo nhu cầu địa phương

1.4 Một số nghiên cứu về y học thực hành BSGĐ

Nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu của Sofia Xesfingi và Athanassios Vozikis thực hiện ở

31 quốc gia từ năm 2007 – 2009, và năm 2012 nhằm đánh giá sự hài lòngcủa bệnh nhân với các chỉ số kinh tế, xã hội và y tế, cho thấy có mối liênquan giữa hài lòng của bệnh nhân với chi phí khám bệnh, tuổi, số lượngnhân viên y tế và số gường bệnh [22]

Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ được tiến hành từ tháng 12/2010 đếntháng 5/2011 tại bệnh viện nông thôn của Orbetello, Tuscany (Italy) khảosát trên 259 bệnh nhân cho kết quả rằng yếu tố tiếp nhận bệnh nhân cấp cứuchậm và thời gian chờ kết quả xét ngiệm ảnh hưởng đến mức độ hài lòngtại khoa cấp cứu [21]

Nghiên cứu tại Việt Nam

Về lý thuyết mô hình đã có từ lâu Nhưng thực tế mô hình mới đưc

áp dung thí điểm tại Việt Nam giai đoạn I (từ năm 2013 – 2015), mạng lướidịch vụ PK BSGĐ còn ít nên các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực BSGĐchưa được nhiều

Trang 34

Đào tạo và thực hành Y học gia đình tại Việt Nam hiện nay là mộtphần trương trình y tế quốc gia, mục tiêu phải bố trí BSGĐ cơ hữu cho tất

cả các Trạm y tế Khi số lượng các BSGĐ ở Việt Nam phát triển công việccủa họ sẽ cải thiện hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu và sức khỏe củangười dân [4]

Nguyễn Đặng Bảo Long, khảo sát tại Trạm Y tế Phường 10, Quận 3,TP.HCM, năm 2006, thì mức độ hài lòng nói chung của bệnh nhân là96.63%, hài lòng với đối tượng tứ cao xuống thấp là:

Bác sỹ > Điều dưỡng > thuốc và trang thiết bị y tế; 42% sẽ quay trở lại khi

có vấn đề sức khỏe [6]

Lê Nữ Thanh Uyên khảo, sát tại bệnh viện Bến lức , tỉnh Long An,năm 2005, thì 90% hài lòng chung toàn bệnh viện; 94,5% hài lòng với khâukhám bệnh, theo dõi và điều trị; 25% không hài lòng với khâu thông tin,hướng dẫn; 30% không hài lòng với thủ tục hành chính; 35% không hàilòng với khâu phục vụ ăn uống,; 37,2% không hài lòng với khâu vệ sinhtrong bệnh viện [12]

Lê Thành Ni, khảo sát tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2009, có 92,95 hàilòng về điều trị, 87,5 hài lòng về khâu tiếp nhận, 82,5% hài lòng về khâuchăm sóc, 82, 05 hài lòng về khâu viện phí, 76,14% hài lòng về sự chỉ dẫn,72,23% hài lòng về vệ sinh [8]

Năm 2012 một nghiên cứu của Trần Duy My khảo sát về sự hài lòngcủa bệnh nhân khi khám với Bác sĩ gia đình tại phòng khám số 5 – Bệnhviện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy điểmtrung bình tương đương với sự hài lòng ở mức 3,7/5 cho thấy sự hài lòngchưa cao, một số yếu tố còn ảnh hưởng như: thời gian chờ khám lâu, khônggian phòng khám chật hẹp….[7]

Năm 2015, nghiên cứu của tác giả Trần Văn Khanh trên 290.907bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Quận 2 thành phố Hồ ChíMinh, trong đó có 25.780 bệnh nhân đến khám tại PK BSGĐ Tỷ lệ bệnh

Trang 35

nhân sử dụng BHYT kết hợp với dịch vụ là 99,6% và tỷ lệ sử dụng BHYT

là 0,4% Tại PK BSGĐ loại bệnh nhiều nhất là Tăng huyết áp vô căn40,0%, Đái tháo đường type 2 là 9,1% Nhóm tuổi nhiều nhất là 55-59, nam

là 35,1% và nữ là 64,9% [5]

Năm 2016, nghiên cứu của tác giả Bùi Trí Dũng khảo sát với số mẫu

n = 423 người dân đến khám tại PK BSGĐ bệnh viện Quận 2 thành phố HồChí Minh Trung bình điểm số hài lòng đạt 5,4/7, tập trung vào các phươngtiện hữu hình, năng lực phục vụ Trung bình điểm số hài lòng ở nhóm cóhiểu biết đúng về PK BSGĐ là 200,44±19,98, cao hơn nhóm có hiểu biếtchưa đúng 199,53±27,74 [2]

Theo nghiên cứu của Trần Khánh Toàn và cộng sự: nam 2015 “Thựctrạng, nhu cầu và các điều kiện cần thiết để phát triển đào tạo bác sĩ gia

các điều kiện cần thiết cho đào tạo BSGĐ thông qua phỏng vấn sâu, phỏngvấn bằng bảng hỏi mở với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ chuyên môn vàcán bộ đào tạo y tế ở trung ương và 7 tỉnh, thành phố Kết quả cho thấy đàotạo BSGĐ là một nhu cầu tất yếu để nâng cao chất lượng y tế cơ sở Trên

500 BSGĐ đã được đào tạo, song đội ngũ giảng viên của các trường cònthiếu và yếu, chưa có định hướng kế hoạch dài hạn cho đào tạo bác sĩ giađình 92% bác sĩ tuyến y tế cơ sở có nhu cầu đào tạo nâng cao, trong đó chỉ29% có nguyện vọng đào tạo chuyên ngành BSGĐ Cần đẩy mạnh tuyên

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Tram y tế

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 5/2017.Địa điểm nghiên cứu: Tại Phòng khám BSGĐ Trạm Y tế phườngTân Tạo, quận Bình Tân

2.3 Đối tượng nghiên cứu

2.3.3 Cỡ mẫu Được tính theo ước lượng một tỉ lệ với công thức:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

α: mức ý nghĩa thống kê (xác suất sai lầm loại 1)

Chọn độ tin cậy 95% thì α = 0,05, tương ứng Z=1,96

P: (Gía trị p không có nghiên cứu tương tự trước đây)

Nên chọn p=0,5 để được cỡ mẫu có giá trị lớn nhất

d: = 0,05 là sai số mong muốn

Vậy ta sẽ có tròn mẫu là n = 385

Trang 37

2.4 Phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Kỹ thuật chọn mẫu:

Lấy mẫu thuận tiện

Phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi nghiên cứu, có giải thích thêmnhững vấn đề khi người tiếp cận dịch vụ chưa hiểu cần nói rõ (bộ câu hỏi

Những người nước ngoài

Những người bị câm, điếc

Những người tiếp cận dịch vụ mà không đồng ý tham gia vào nghiêncứu, hoặc đồng ý nhưng bỏ ngang cuộc phỏng vấn, hoặc trả lời không đầy

đủ số câu hỏi phỏng vấn

2.5 Kiểm soát sai lệch

2.5.1 Kiểm soát sai lệch thông tin

Bộ câu hỏi được soạn dựa theo phạm quy hoạt động BSGĐ trongsách bài giảng Y học gia đình tập 1 và tập 2 của ĐHYD TP.HCM, phỏngvấn thử và được chỉnh sửa dễ hiểu với mọi đối tượng, phù hợp với nội dungnghiên cứu Phần sự hài lòng được lấy ra từ bảng câu hỏi của Bộ Y tế

Trang 38

Tập huấn nội dung và kỹ năng cho phỏng vấn viên.

Chọn thời điểm sau khi bệnh nhân được khám và điều trị xong

Thông báo cho bệnh nhân đây là một khảo sát độc lập, mọi thông tin

cá nhân được bảo mật, không ảnh hưởng đến chất lượng khám và điều trịhiện tại và những lần đến khám sau

2.5.2 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Chọn mẫu vào phỏng vấn đúng theo tiêu chí

Trong lúc phỏng vấn phát hiện những mẫu có vấn đề tâm lý, thầnkinh không ổn hoặc muốn không tiếp tục phỏng vấn thì loại ra

Chọn phương pháp kiểm định thống kê phù hợp

2.6 Liệt kê và định nghĩa biến số

2.6.1 Các biến số về đặc tính của mẫu nghiên cứu

Giới tính: là biến số nhị giá với 2 giá trị nam và nữ.

Nhóm tuổi: Tuổi được tính bằng năm nghiên cứu trừ đi năm sinh

(tính theo dương lịch) Nhóm tuổi là biến số thứ tự gồm 3 giá trị

+ <35 tuổi+ Từ 35 đến 49 tuổi

+ ≥ 50tuổi

Trình độ học vấn của người đến khám: là biến số danh định với 3

giá trị

+ Mù chữ và tiểu học (gồm mù chữ và từ lớp 1- 5)+ Trung học cơ sở (lớp 6-9) và cấp 3 (lớp 10 – 12)+ Trên Trung học phổ thông (Trung học chuyên nghiệp, Caođẳng, Đại học và Sau đại học

Nghề nghiệp: là biến số danh định gồm 6 giá trị: Công nhân, nông

dân; kinh doanh/ buôn bán; Công nhân viên chức, nhân viên văn phòng; họcsinh/sinh viên; nghề tự do (thợ mộc, thợ hồ, chạy xe ôm,,); Nghề khác (vềhưu, nội trợ)

Trang 39

Tôn giáo: là biến số danh định gồm 2 giá trị dân tộc Kinh và khác

(Hoa, Khơ Me)

Tiếp cận: là bao gồm những người đến trực tiếp và những người đưa

người thân đến sử dụng dịch vụ PK BSGĐ

2.6.2 Các biến số về kiến thức về dịch vụ PK BSGĐ

Là biến số nhị giá gồm 2 giá trị đúng và sai

1 PK BSGĐ có thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho mọingười dân gồm: trẻ em, người lớn, phụ nữ mang thai và cả ngườicao tuổi

2 PK BSGĐ có thể tầm soát và phát hiện sớm các bệnh mạn tính/ungthư

3 PK BSGĐ có thể sơ cấp cứu ban đầu

4 PK BSGĐ có thể tư vấn các vấn đề sức khỏe

5 PK BSGĐ có thể khám và điều trị các bệnh thông thường

6 PK BSGĐ có thể khám và điều trị một số bệnh mạn tính như tănghuyết áp, tiểu đường, các bệnh cơ cương khớp, bệnh ngoài da

7 Đến PK BSGĐ có thể khám phát hiện sớm, điều trị kịp thời ácbệnh cấp tính như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi vv tại cộngđồng

8 Đến PK BSGĐ có thể khám phát hiện sớm, điều trị kịp thời cácbệnh mạn tính như tăng huyết áp, tiểu đường tại cộng đồng

9 Đến PK BSGĐ có thể khám phát hiện sớm, điều trị kịp thời cácbệnh lây nhiễm như lao, phong, viêm gan B, C và HIV tại các hộgia đình thuộc địa bàn phụ trách

10 Khám bệnh tại PK BSGĐ người bệnh vẫn được chuyển tuyến lêntrên/tuyến chuyên khoa khi cần thiết

Kiến thức đúng khi trả lời được ≥7/10 nội dung và trong đó bắt

buộc phải có câu (1) PK BSGĐcó thể cung cấp các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe cho mọi người dân gồm: trẻ em, người lớn, phụ nữ mang thai và cả

Trang 40

người cao tuổi; câu (4) PK BSGĐ có thể tư vấn các vấn đề sức khỏe; vàcâu (7): Đến PK BSGĐ có thể khám phát hiện sớm, điều trị kịp thời cácbệnh cấp tính như sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi tại cộng đồng.

Kiến thức Sai khi trả lời đúng <7/10 nội dung trên

1 Khi đến PK BSGĐ có thể sử dụng được thẻ BHYT

2 BSGĐ sẽ đi đến tận nhà để tư vấn, khám bệnh, điều trị bệnh khinhận được lời mời hay cuộc gọi điện thoại của cá nhân và giađình

3 PK BSGĐ gần dân nên thuận tiện cho người dân dễ tiếp cận

4 PK BSGĐ có thể giải quyết đa số các vấn đề sức khỏe cho ngườidân

5 Hiệu quả điều trị bệnh tại PK BSGĐ tốt như tại các PK đa khoacủa các bệnh viện khác đối với những bệnh thông thường và một

số bệnh mạn tính thường gặp

6 Nên đến đăng ký BSGĐ để được tư vấn khỏe, theo dõi sức khỏeliên tục, khám và điều trị những bệnh thông thường và tầm soátnhững bệnh mãn tính

7 Bản thân và gia đình nên đăng ký trước 1 bác sĩ gia đình để khi cóbệnh hoặc bị thương sẽ được khám và điều trị kịp thời

Thái độ chung đúng về sử dụng dịch vụ phòng khám BSGĐ khi đối

tượng nghiên cứu trả lời đồng ý/rất đồng ý ≥5/7 nội dung trên và phải có

bắt buột phải có câu (2) BSGĐ sẽ đi đến tận nhà để tư vấn, khám bệnh,điều trị bệnh khi nhận được lời mời hay cuộc gọi điện thoại của cá nhân và

Ngày đăng: 12/04/2021, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w