HỒ CHÍ MINH ---NGUYỄN THỊ MỸ CHÂU TỶ LỆ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH C
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ MỸ CHÂU
TỶ LỆ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ MỸ CHÂU
TỶ LỆ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Y tế Công cộng
Mã số : 60720301
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN THIỆN THUẦN
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan số liệu trong luận văn này được ghi nhận, nhập liệu
và phân tích một cách trung thực Luận văn này không có bất kì số liệu, vănbản, tài liệu đã được Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh hay TrườngĐại học khác chấp nhận để cấp văn bằng đại học, sau đại học Luận văn cũngkhông có số liệu, văn bản, tài liệu đã được công bố trừ khi đã được công khaithừa nhận
Học viên
Nguyễn Thị Mỹ Châu
Trang 4
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Câu hỏi nghiên cứu 3
Mục tiêu tổng quát 3
Mục tiêu cụ thể 3
DÀN Ý NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 4
1.1 Đại cương về bệnh đái tháo đường 5
1.1.1 Định nghĩa 5
1.1.2 Các yếu tố nguy cơ đái tháo đường type 2 5
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường 6
1.1.4 Phân loại đái tháo đường 6
1.1.5 Dịch tễ học bệnh đái tháo đường 7
1.2 Điều trị bệnh đái tháo đường type 2 8
1.2.1 Nguyên tắc chung 8
1.2.2 Mục tiêu điều trị 9
1.2.3 Các biện pháp điều trị bệnh đái tháo đường type 2 9
1.3 Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan 12
1.3.1 Khái niệm tuân thủ điều trị 12
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường 14
1.3.3 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị 16
1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường 16
1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 16
1.4.2 Một số nghiên cứu của Việt Nam 19
1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Thiết kế nghiên cứu 24
Trang 6
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Đối tượng nghiên cứu 24
2.3.1 Dân số mục tiêu 24
2.3.2 Dân số chọn mẫu 24
2.3.3 Cỡ mẫu 24
2.3.4 Kỹ thuật chọn mẫu 25
2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu 25
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa 26
2.4 Thu thập dữ kiện 26
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện 26
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện 28
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin 28
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số 29
2.5.1 Biến số nền 29
2.5.2 Biến số thể chất và sinh hóa 29
2.5.3 Biến số thông tin và đặc điểm tiền sử bệnh 30
2.5.4 Biến số kiến thức về tuân thủ điều trị 32
2.5.5 Biến số thực hành tuân thủ điều trị 36
2.5.6 Biến số lý do không tuân thủ điều trị 39
2.5.7 Biến số tiếp cận dịch vụ y tế 40
2.6 Phân tích dữ kiện 41
2.7 Y đức 42
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 43
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 43
3.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 43
3.1.2 Đặc điểm dịch vụ y tế 43
3.2 Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 49
3.3 Thực hành tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 55
3.3.1 Thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu 55
Trang 7
3.3.2 Thực hành tuân thủ thay đổi thói quen sống của mẫu nghiên cứu 57
3.3.3 Thực hành tuân thủ dùng thuốc 58
3.3.4 Thực hành tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ của mẫu nghiên cứu 59
3.3.5 Tuân thủ điều trị chung 60
3.3.6 Lý do không tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 61
3.4 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với một số yếu tố 62
3.4.1 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với một số yếu tố 62
3.4.2 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với một số yếu tố 66
3.4.3 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với một số yếu tố 70
3.4.4 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ với một số yếu tố 74
3.4.5 Mối liên quan giữa tỷ lệ tuân thủ điều trị chung với một số yếu tố 78
3.4.6 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với một số yếu tố qua phân tích hồi quy đa biến 83
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 89
4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 89
4.2 Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 91
4.2.1 Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị dùng thuốc của mẫu nghiên cứu 91
4.2.2 Kiến thức về điều trị không dùng thuốc của mẫu nghiên cứu 93
4.3 Thực hành tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 94
4.3.1 Thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng 94
4.3.2 Thực hành tuân thủ thay đổi thói quen sống 95
4.3.3 Thực hành tuân thủ dùng thuốc 96
4.3.4 Thực hành tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ 97
4.3.5 Thực hành tuân thủ điều trị chung 98
4.4 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với một số yếu tố 99
4.4.1 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với một số yếu tố 99
4.4.2 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với một số yếu tố 101
Trang 84.4.3 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với một số yếu tố 102
4.4.4 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ với một số yếu tố 103
4.4.5 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị chung với một số yếu tố 104
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu 105
4.5.1 Điểm mạnh của nghiên cứu 105
4.5.2 Hạn chế của nghiên cứu 105
4.6 Điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 106
4.6.1 Điểm mới của nghiên cứu 106
4.6.2 Tính ứng dụng của nghiên cứu 106
KẾT LUẬN 107
KIẾN NGHỊ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Các chỉ số cần kiểm soát trong điều trị đái tháo đường type 2 9Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 43Bảng 3.2 Đặc điểm về tiền sử bệnh của mẫu nghiên cứu (n=414) 44Bảng 3.3 Đặc điểm kiểm soát bệnh đái tháo đường của mẫu nghiên cứu(n=414) 46Bảng 3.4 Khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của mẫu nghiên cứu (n=414) 47Bảng 3.5 Mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế (n=414) 48Bảng 3.6 Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị dùng thuốc của mẫu nghiêncứu (n=414) 49Bảng 3.7 Kiến thức về tuân thủ điều trị không dùng thuốc của mẫu nghiêncứu (n=414) 52Bảng 3.8 Thực hành dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu (n=414) 55Bảng 3.9 Tỷ lệ tuân thủ dinh dưỡng của mẫu nghiên cứu (n=414) 56Bảng 3.10 Thực hành tuân thủ thay đổi thói quen sống của mẫu nghiên cứu(n=414) 57Bảng 3.11 Thực hành tuân thủ dùng thuốc của mẫu nghiên cứu (n=414) 58Bảng 3.12 Thực hành tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳcủa mẫu nghiên cứu (n=414) 59Bảng 3.13 Tuân thủ điều trị chung của mẫu nghiên cứu (n=414) 60Bảng 3.14 Lý do không tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu 61Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với đặc điểm nhânkhẩu học của mẫu nghiên cứu (n=414) 62Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với đặc điểm tiền
sử bệnh của mẫu nghiên cứu (n=414) 63Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với khả năng tiếpcận dịch vụ y tế (n=414) 64Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với kiến thức vềbệnh và tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu (n=414) 65
Trang 10
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với đặc điểmnhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (n=414) 66Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với đặc điểmtiền sử bệnh của mẫu nghiên cứu (n=414) 67Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với khả năngtiếp cận dịch vụ y tế (n=414) 68Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với kiến thức
về bệnh và tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu (n=414) 69Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dùng thuốc với đặc điểm nhânkhẩu học của mẫu nghiên cứu (n=414) 70Bảng 3.24 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với đặc điểm tiền sử bệnhcủa mẫu nghiên cứu (n=414) 71Bảng 3.25 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với khả năng tiếp cận dịch
vụ y tế của mẫu nghiên cứu (n=414) 72Bảng 3.26 Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với kiến thức về bệnh vàtuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu (n=414) 73Bảng 3.27 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khámđịnh kỳ với đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu (n=414) 74Bảng 3.28 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khámđịnh kỳ với đặc điểm tiền sử bệnh của mẫu nghiên cứu (n=414) 75Bảng 3.29 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khámđịnh kỳ với khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của mẫu nghiên cứu (n=414) 76Bảng 3.30 Mối liên quan giữa tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khámđịnh kỳ với kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị của mẫu nghiên cứu(n=414) 77Bảng 3.31 Mối liên quan giữa tuân thủ chung với đặc điểm nhân khẩu họccủa mẫu nghiên cứu (n=414) 78Bảng 3.32 Mối liên quan giữa tuân thủ chung với đặc điểm tiền sử bệnh củamẫu nghiên cứu (n=414) 79
Trang 11
Bảng 3.33 Mối liên quan giữa tuân thủ chung với đặc điểm một số chỉ số sinhhoá và chỉ số huyết áp của mẫu nghiên cứu (n=414) 80Bảng 3.34 Mối liên quan giữa tuân thủ chung với khả năng tiếp cận dịch vụ y
tế của mẫu nghiên cứu (n=414) 81Bảng 3.35 Mối liên quan giữa tuân thủ chung với kiến thức về bệnh và tuânthủ điều trị của mẫu nghiên cứu (n=414) 82Bảng 3.36 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng với một số yếu tốqua phân tích hồi quy đa biến (n=414) 83Bảng 3.37 Mối liên quan giữa tuân thủ thay đổi thói quen sống với một sốyếu tố qua phân tích hồi quy đa biến (n=414) 85Bảng 3.38 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dùng thuốc với một số yếu tốqua phân tích hồi quy đa biến (n=414) 86Bảng 3.39 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ kiểm soát đường huyết và táikhám định kỳ với một số yếu tố qua phân tích hồi quy đa biến 87Bảng 3.40 Mối liên quan giữa tuân thủ điều trị chung với một số yếu tố quaphân tích hồi quy đa biến 88Biểu đồ 3.1 Phân bố tỷ lệ bệnh mạn tính/biến chứng đi kèm của người bệnh
Trang 12
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là một trong những bệnh mạn tính thường gặpnhất trong các bệnh nội tiết chuyển hóa Bệnh đang có tốc độ phát triển rấtnhanh, xu hướng tăng rõ rệt theo thời gian cùng với sự tăng trưởng kinh tế ởcác nước công nghiệp, kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe vàkinh tế đối với toàn thế giới trong thế kỷ 21
Theo thống kê của Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế, bệnh đái tháođường type 2 chiếm trên 90% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường Năm
2015 trên toàn thế giới ước tính có khoảng 8,8% dân số trưởng thành mắcbệnh đái tháo đường Trong đó, khu vực Tây Thái Bình Dương có số người bịmắc bệnh đái tháo đường cao nhất (153 triệu người – 9,3% dân số trưởngthành) và ước tính tỷ lệ tăng của bệnh đái tháo đường trong vòng 20 năm tớithì khu vực này đứng vị trí thứ 5 trên thế giới [34]
Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh đái tháođường nhanh nhất thế giới (8-20%/năm) Theo kết quả điều tra tại Việt Namnăm 2008, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cả nước là 5,7%, riêng tại cácthành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7,0% đến 10% [20] Năm 2015
có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường chiếm tỷ lệ 5,6% và dựđoán đến năm 2040 sẽ lên đến 6,1 triệu người, đứng trong top 5 nước có sốlượng người bị mắc đái tháo đường cao nhất trong khu vực [20], [34]
Bệnh đái tháo đường gây ra nhiều biến chứng như bệnh động mạch vành,bệnh mạch máu ngoại biên, đột quỵ, cắt cụt chi, suy thận, mù lòa… làm giatăng tỷ lệ khuyết tật, giảm tuổi thọ của người bệnh Mỗi năm, thế giới cókhoảng 3,2 triệu người chết vì bệnh đái tháo đường, tương đương số ngườichết hàng năm vì bệnh HIV/AIDS Một trong những nguyên nhân gây tửvong cao là do người bệnh không tuân thủ chế độ điều trị gây ra các biếnchứng trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh và xã hội [2].Điều trị bệnh đái tháo đường là một quá trình lâu dài, suốt cuộc đời củangười bệnh, gây nên gánh nặng bệnh tật cho gia đình cũng như toàn xã hội ỞHoa Kỳ, với 15 triệu người mắc bệnh đái tháo đường đã phải tiêu tốn 98,2 tỷ
Trang 13
Mặc dù tuân thủ điều trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việckiểm soát đường huyết Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn không ít bệnh nhânvẫn không đạt đường huyết mục tiêu trong quá trình điều trị, tỷ lệ người bệnhkhông tuân thủ điều trị theo khuyến cáo của thầy thuốc đang trong tình trạngbáo động Thực tế có nhiều nghiên cứu như Bùi Nam Trung và cộng sự(2013) cho biết chỉ có 55,2% người bệnh đái tháo đường điều trị ngoại trú tạiBệnh viện Lão khoa Trung Ương thực hành đúng về nguyên tắc dinh dưỡng[22] Theo nghiên cứu Lê Thị Hương Giang và cộng sự (2013) tại Bệnh viện
198 thì có đến 51,4% người bệnh đái tháo đường không theo dõi đường huyếttại nhà [8] Nghiên cứu của Nguyễn Minh Sang và cộng sự (2007) tại Bệnhviện Bạch Mai có đến 80,8% bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát đườnghuyết kém [20] Điều đó cho thấy hiểu biết và thực hành về tuân thủ điều trịcủa bệnh nhân hiện nay rất đáng báo động
Bệnh viện quận Thủ Đức nằm ở cửa ngõ đông bắc của Thành phố HồChí Minh, giáp ranh với nhiều tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai và làkhu vực tập trung nhiều khu chế xuất, khu công nghiệp lớn Mật độ dân cưđông do số lượng dân nhập cư tương đối lớn Hiện tại, Bệnh viện quận ThủĐức đang quản lý khám và điều trị ngoại trú cho hơn 2.800 bệnh nhân đáitháo đường mỗi năm Đã có nhiều nghiên cứu về bệnh đái tháo đường tạibệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào về tỷ lệ tuân thủ điều trị Xuất phát
từ những lý do trên nghiên cứu được tiến hành “Tỷ lệ tuân thủ điều trị và các
yếu tố liên quan ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh”.
Trang 14
Câu hỏi nghiên cứu
Tỷ lệ tuân thủ điều trị (tuân thủ chế độ dinh dưỡng; thay đổi thói quensống; dùng thuốc; kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ) của ngườibệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quận ThủĐức Thành phố Hồ Chí Minh là bao nhiêu?
Có hay không mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với các đặc điểm:nhân khẩu học, tiền sử bệnh, đặc điểm sinh học, kiến thức về tuân thủ điều trị
và tiếp cận dịch vụ y tế của người bệnh tháo đường type 2 đang điều trị ngoại
trú tại Bệnh viện quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu tổng quát
Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 vàmối liên quan giữa tuân thủ điều trị với các đặc điểm: nhân khẩu học, tiền sửbệnh, đặc điểm sinh học, kiến thức về tuân thủ điều trị và tiếp cận dịch vụ y tếcủa người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh việnquận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh
Mục tiêu cụ thể
1 Xác định tỷ lệ tuân thủ điều trị (tuân thủ chế độ dinh dưỡng; thayđổi thói quen sống; dùng thuốc; kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ)của người bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh việnquận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh
2 Xác định tỷ lệ kiến thức đúng về tuân thủ điều trị (kiến thức về bệnh
và tuân thủ điều trị dùng thuốc; kiến thức về tuân thủ không dùng thuốc) củangười bệnh đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện quậnThủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh
3 Xác định mối liên quan giữa tuân thủ điều trị (tuân thủ chế độ dinhdưỡng; thay đổi thói quen sống; dùng thuốc; kiểm soát đường huyết và táikhám định kỳ) với các đặc điểm: nhân khẩu học, tiền sử bệnh, đặc điểm sinhhọc, kiến thức về tuân thủ điều trị và tiếp cận dịch vụ y tế
Trang 15
DÀN Ý NGHIÊN CỨU
TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
(Dinh dưỡng; thay đổi thói quen sống;
dùng thuốc; kiểm soát đường huyết và tái
- Hài lòng về thông tin tuânthủ điều trị nhận được từCBYT
- Hài lòng với thái độ CBYT
Trang 16
Theo Bộ Y Tế: Đái tháo đường là một rối loạn mạn tính, có những thuộctính sau: tăng glucose máu, kết hợp với những bất thường về chuyển hóacarbohydrat, lipid và protein, bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển cácbệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của xơvữa động mạch [5].
1.1.2 Các yếu tố nguy cơ đái tháo đường type 2
Các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường type 2 là: [5]
- Người trên 45 tuổi Tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng cao
- Thừa cân béo phì với BMI ≥ 23 (ở người Châu Âu, Mỹ ≥ 25)
- Béo dạng nam với vòng bụng ≥ 90cm (nam) và ≥ 80 (nữ)
- Huyết áp tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc Huyết áp tâm trương ≥ 85mmHg
- Trong gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường ở thế hệ cận kề(bố, mẹ, anh chị em ruột, con ruột bị mắc đái tháo đường type 2)
- Tiền sử được chẩn đoán mắc hội chứng chuyển hóa, tiền đái tháođường
- Phụ nữ có tiền sử sản khoa đặc biệt: (Đái tháo đường thai kỳ, sinhcon to ≥ 4 kg, sẩy thai tự nhiên nhiều lần, thai chết lưu…)
- Người có rối loạn Lipid máu, đặc biệt khi HDL-c dưới 0,9 mmol/l
và Triglycerid trên 2,2 mmol/l
- Chủng tộc (người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha, người
Mỹ bản địa, người trên các đảo thuộc Thái Bình Dương)
Trang 17
- Ngoài ra các yếu tố sau cũng là những điều kiện thuận lợi đến đáitháo đường type 2 như : ít vận động, stress, thói quen ăn nhiều và giàu đườngđơn, các thuốc làm tăng glucose huyết (cortisol v.v…)
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường của Hiệp hội đái tháo đườngHoa Kỳ (ADA) năm 2016 Chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêuchuẩn sau: [5], [28]
1.1.4 Phân loại đái tháo đường
1.1.4.1 Đái tháo đường type 1
Phần lớn xảy ra ở trẻ em, người trẻ tuổi và thường có yếu tố tự miễn ỞViệt Nam chưa có số liệu điều tra quốc gia, nhưng theo thống kê từ các Bệnhviện thì tỷ lệ mắc đái tháo đường type 1 vào khoảng 7- 8% tổng số ngườibệnh đái tháo đường [32]
1.1.4.2 Đái tháo đường type 2
Đây là loại đái tháo đường thường gặp nhất, phần lớn xảy ra ở người lớn.Thông thường với bệnh đái tháo đường type 2, trong cơ thể vẫn còn sản xuấtinsulin, nhưng các tế bào không sử dụng nó Đặc trưng của đái tháo đườngtype 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối (hơn là
Trang 18
thiếu hụt tuyệt đối) Ở giai đoạn đầu, những người bệnh đái tháo đường type 2không cần insulin cho điều trị nhưng sau nhiều năm mắc bệnh, nhìn chunginsulin máu giảm dần và người bệnh dần dần lệ thuộc vào insulin để cân bằngđường máu [32]
1.1.4.3 Đái tháo đường thai kỳ
Đây là loại đái tháo đường thường gặp ở một số phụ nữ mang thai(chiếm 1-2% người mang thai), là tình trạng rối loạn dung nạp glucose ở bất
kỳ mức độ nào, khởi phát hoặc được phát hiện lần đầu trong thời gian mangthai [32]
1.1.4.4 Đái tháo đường khác
Nguyên nhân do khiếm khuyết chức năng tế bào beta, giảm hoạt tính củainsulin do khiếm khuyết gen, bệnh lý của tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiếtkhác, do thuốc hoặc hóa chất khác, do nhiễm trùng, các thể ít gặp, các bệnhnhiễm sắc thể dẫn đến bệnh đái tháo đường [5], [32]
1.1.5 Dịch tễ học bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường đang ngày càng gia tăng trên toàn thế giới Năm
1995, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở người lớn trên toàn thế giới là 4%, ảnhhưởng tới 135 triệu người, con số này tăng lên 8,3% (366 triệu người) vàonăm 2011, và dự đoán sẽ tăng lên 9,9% (552 triệu người) vào năm 2030.Trong khoảng từ năm 2011 đến năm 2030 sẽ tăng 58% số người bệnh mắcbệnh ĐTĐ ở các nước đang phát triển và sẽ tăng 7% ở các nước phát triển Tỷ
lệ người mắc bệnh ĐTĐ type 2 tăng nhanh ở các quốc gia có nền kinh tế đangphát triển là do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống,nhất là lối sống ít hoạt động thể lực, tĩnh tại [2]
Tại Việt Nam, bệnh đái tháo đường đang có chiều hướng gia tăng nhanhtheo thời gian và ngày càng trẻ hóa theo tốc độ phát triển kinh tế cũng như tốc
độ đô thị hóa [2] Năm 2001, một nghiên cứu được tiến hành ở 4 thành phốlớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc
Trang 19
bệnh đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucose chung là 4,9%; 5,9%.Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường, rối loạn dungnạp glucose và rối loạn đường huyết tương ứng là 3,7%; 6,1% và 2,4% [1].Như vậy, từ việc hầu như không đáng kể, đến nay bệnh đã gia tăng ở cùngmột mức độ như tình hình chung của các nước trên toàn thế giới cũng như tạikhu vực Đông Nam Á, trong đó đái tháo đường là cao nhất khoảng 93 triệuchiếm hơn 13,2% [36] Do vậy chính bệnh đái tháo đường mới gây ra vấn đềcho sức khỏe cộng đồng vì tần suất gia tăng song hành với sự lão hóa, đô thịhóa, lối sống tĩnh tại và sự gia tăng của tình trạng béo phì trong dân số ở cácnước đang phát triển
1.2 Điều trị bệnh đái tháo đường type 2
- Giảm cân nặng (với người béo) hoặc không tăng cân (với ngườikhông béo)
- Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập Đây là bộ ba điều trịbệnh đái tháo đường
- Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid,duy trì số đo huyết áp hợp lý, phòng, chống các rối loạn đông máu…
- Khi cần phải dùng insulin (như trong các đợt cấp của bệnh mạn tính,bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật…)
- Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống
- Để đạt được mục đích này cần dựa vào các loại hình quản lý nhưsau: Quản lý về dinh dưỡng bằng chế độ ăn hợp lý, tăng cường hoạt động thể
Trang 20
lực thích hợp, điều trị bằng thuốc theo sự hướng dẫn của bác sỹ, người bệnh
tự theo dõi đường huyết và tái khám định kỳ
6,2 – 7,07,8 ≤ 10,0
* Người có biến chứng thận- từ mức có microalbumin niệu HA ≤ 125/75
** Người có tổn thương tim mạch LDL-c nên dưới 1,7 mmol/l (dưới 70mg/dl) [4]
1.2.3 Các biện pháp điều trị bệnh đái tháo đường type 2
1.2.3.1 Thay đổi chế độ ăn
Thay đổi chế độ ăn là cần thiết và hạn chế một số loại thức ăn làm tăngđường huyết Giảm cân giúp hạn chế đề kháng insulin, cải thiện cân bằngchuyển hóa, hạn chế sự rối loạn lipid và làm giảm huyết áp Chế độ ăn được
tư vấn điều chỉnh hợp lý cho từng bệnh nhân [41]
Trang 21
Một chế độ ăn thích hợp cần đáp ứng được các yêu cầu [3]:
- Đủ năng lượng cho hoạt động bình thường và phải đáp ứng phù hợpvới những hoạt động khác như hoạt động thể lực, hoặc những thay đổi đềukiện sống
- Tỷ lệ cân đối giữa các thành phần đạm, mỡ, đường
- Đủ vi chất
- Chia nhỏ bữa ăn cho phù hợp và tránh tăng đột ngột glucose máu
- Phối hợp với thuốc điều trị (nếu có)
Lựa chọn thực phẩm:
- Cách chọn thực phẩm giàu glucid có lợi cho sức khỏe: Nên chọn
các thực phẩm gần thiên nhiên để giữ đủ các chất dinh dưỡng và chất xơ như:ngũ cốc xát, gạo giã …Và các thực phẩm có nhiều chất xơ, đường huyết thấpnhư khoai củ, các loại rau trừ bí đỏ, đậu hạt (đậu xanh, đậu đen, đậu Hà Lan )….Ngoài ra nên hạn chế các thực phẩm có chỉ số đường huyết cao, hấp thunhanh và chỉ dùng trong các trường hợp đặc biệt (hạ đường máu) như: đường,mật, mứt, quả khô, kẹo, nước đường… Khi sử dụng các thực phẩm có chỉ sốđường huyết cao nên sử dụng phối hợp với các thực phẩm giàu chất xơ nhưrau hoặc bổ sung thêm chất xơ [11]
- Cách lựa chọn thực phẩm cung cấp chất đạm có lợi cho sức khỏe:
Nên chọn các thực phẩm giàu đạm có nguồn gốc thực vật để cung cấp cácacid béo không no cần thiết như: đậu tương và các chế phẩm từ đậu tương(đậu phụ, sữa đậu nành)… và các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ítchất béo và/hoặc nhiều acid béo chưa no như thịt nạc (thịt da cầm nên bỏ da),
cá (nên ăn cá ít nhất 3 lần trong tuần) Ngoài ra cũng nên chọn các thựcphẩm có ít cholesterol và hạn chế sử dụng các thực phẩm có nhiềucholesterol: phủ tạng động vật, tôm, lươn…[11]
- Cách lựa chọn chất béo có lợi cho sức khỏe: Nên chọn thực phẩm
có ít chất béo hòa tan và ít chất béo đồng phân như: cá và thịt nạc, vừng lạc
Trang 22
Ngoài ra cũng nên chọn các thực phẩm có hàm lượng mỡ thấp, hoặc sử dụngdầu, bơ thực vật như dầu cá, dầu đậu nành, vừng, dầu lạc…[11]
- Cách lựa chọn thực phẩm giàu chất xơ có lợi cho sức khỏe: Chọn
các thực phẩm có nhiều chất xơ như: hầu hết các loại rau, mỗi ngày nên ăn từ4-5 đơn vị rau (300-400 g), gạo lức, gạo giã cối, bánh mỳ đen…Ngoài ra cũngnên chọn thực phẩm giàu vitamin, khoáng chất và chất chống oxy hóa cho cơthể như các loại hoa quả có chỉ số đường huyết thấp: xoài, chuối, táo, nho,mận , mỗi ngày nên ăn 2-3 đơn vị (200-300g) [11]
1.2.3.2 Tăng cường vận động thể lực
Luyện tập thể lực là biện pháp điều trị bắt buộc trong điều trị bệnh đáitháo đường Tập luyện ở mức độ trung bình như đi bộ, đi bộ nhanh, đạp xeđạp trong thời gian từ 30-60 phút, 3-5 lần/tuần (tối thiểu 150 phút/1 tuần).Hoạt động thể thao nên bắt đầu với làm ấm cơ thể trong 5-10 phút và khôngnên dừng lại đột ngột mà chậm dần lại Đi bộ ít nhất 3 lần/tuần cũng sẽ đemlại lợi ích tới sức khỏe cho người bệnh [3]
Việc vận động thể lực thường xuyên cũng làm hạn chế sự đề khánginsulin Vận động thể lực được điều chỉnh tùy theo từng lứa tuổi và tình trạngtim mạch của từng bệnh nhân [41]
Người bệnh đang sử dụng insulin hay thuốc hạ glucose máu cần phải biết
về chế độ luyện tập Hạ glucose máu có thể xảy ra trong khi hoạt động thểlực Do đó, thời gian của hoạt động thể lực sẽ phụ thuộc vào chế độ điều trịcủa mỗi người bệnh và thói quen của người đó Tổ chức Y tế Thế giới khuyếnnghị người bệnh đái tháo đường type 2 nên có kẹo hoặc đồ uống ngọt ngaycạnh khi tập luyện thể thao, đề phòng trường hợp hạ glucose máu xảy ra vàngười bệnh trước khi tập thể thao nên ăn một bữa nhỏ trước 30-60 phút [41]
1.2.3.3 Sử dụng thuốc
Các loại thuốc hạ đường huyết thường được chỉ định sau khi chế độ ăn
và vận động thể lực bị thất bại trong việc kiểm soát đường huyết Việc sửdụng thuốc luôn luôn đi kèm với các nguyên tắc tiết chế cũng như vận động
Trang 23
Theo phác đồ thường sử dụng, các thuốc sulfamid hạ đường huyết đượcchỉ định đầu tiên trên bệnh nhân có cân nặng bình thường hay thừa cân nhẹ,trong khi các thuốc nhóm biguanid sẽ được lựa chọn đầu tiên đối với bệnhnhân béo phì
Nếu tình trạng mất kiểm soát đường huyết kéo dài, cần phải tăng liều hayđổi loại thuốc có hoạt lực mạnh hơn, sau đó có thể phối hợp nhiều nhómthuốc khác nhau Trong trường hợp thất bại, điều trị với insulin đơn thuần hayphối hợp với thuốc viên là biện pháp duy nhất [41]
1.2.3.4 Theo dõi đường huyết và tái khám định kỳ
- Tái khám định kỳ ít nhất 1 tháng/1 lần hoặc theo hướng dẫn của bácsỹ
- Theo dõi định kỳ các chỉ số sinh hóa để điều chỉnh chế độ điều trịcho người bệnh [3]
- Theo dõi glucose máu lúc đói thường xuyên tại nhà
- Kiểm tra HbA1C từ 3-6 tháng/ 1 lần
- Khám mắt 6 tháng/ 1 lần với người phát hiện bệnh < 5 năm, 3tháng/1 lần với người phát hiện ≥ 5 năm Chụp đáy mắt 6-12 tháng/1 lần tùytheo mức độ tổn thương lâm sàng
- Khám bàn chân: khám lần đầu, sau đó 3-6 tháng/1 lần
- Các chỉ số lipid máu từ 3-6 tháng/1 lần Trường hợp đặc biệt chỉđịnh theo tình trạng của người bệnh và nhu cầu điều trị
- Thăm dò đánh giá chức năng hệ tim mạch: thường xuyên theo dõihuyết áp Điện tim 3 tháng/1 lần
1.3 Tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan
1.3.1 Khái niệm tuân thủ điều trị
Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới có nhiều khái niệm về tuân thủđiều trị nhưng không có một khái niệm chuẩn nào đầy đủ về tình trạng tuânthủ điều trị của người bệnh đái tháo đường Tuy nhiên, khái niệm của WHO
Trang 24
- Tuân thủ chế độ ăn là đảm bảo đầy đủ thành phần dinh dưỡng theokhuyến cáo của các chuyên gia.
- Tuân thủ điều trị liên quan đến thay đổi thói quen sống là thườngxuyên tập thể dục, thể thao mức độ từ trung bình trở lên ít nhất 30 phút mỗingày (tối thiểu 150 phút/tuần), không hút thuốc, giảm uống rượu/bia vớilượng nam ≤ 2 đơn vị/ngày, nữ ≤ 1 đơn vị/ngày (1 đơn vị tiêu chuẩn tươngđương 330 ml bia, hoặc 120 ml rượu vang, hoặc 30 ml rượu nặng)
- Tuân thủ chế độ dùng thuốc là dùng thường xuyên tất cả các loạithuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của cán bộ y tế
- Tuân thủ kiểm soát đường huyết và tái khám định kỳ theo lịch hẹncủa bác sĩ
Đối với người bệnh đái tháo đường việc tuân thủ phác đồ điều trị là chìakhóa vàng để khỏi bệnh hoặc kiểm soát tốt đường huyết Trong điều trị đáitháo đường sự thành công của một phác đồ điều trị lâu dài phụ thuộc rất lớnvào ý thức hợp tác của người bệnh
Người bệnh đái tháo đường vẫn có thể có cuộc sống khỏe mạnh nếu duytrì được lối sống khoa học, uống thuốc điều đặn, đặc biệt là biết lắng nghe cơthể mình một cách cẩn trọng Ngược lại nếu không tuân thủ phác đồ điều trị,người bệnh đái tháo đường sẽ có nguy cơ mắc các biến chứng sớm, nguyhiểm đến tính mạng
Trang 25
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường là một trong những bệnh lý mạn tính, là gánh nặng tâm
lý cho bản thân người bệnh cũng như gia đình và xã hội Hơn nữa điều trị đáitháo đường đòi hỏi người bệnh phải tuân thủ chặt chẽ sử dụng thuốc, chế độ
ăn, hoạt động thể lực Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu người bệnh không tuânthủ sẽ dẫn đến thất bại trong điều trị Dưới đây là một số các lý do khiếnngười bệnh không tuân thủ điều trị [25]:
Do thuốc điều trị: người bệnh phải uống quá nhiều thuốc trong một
ngày, đặc biệt đối với những người mắc các bệnh lý mạn tính hoặc biếnchứng kèm theo và với những người bệnh được điều trị bằng thuốc uống kếthợp với thuốc tiêm thì họ phải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên trong 1 ngày
và phải dùng với thời gian kéo dài suốt đời kèm theo tâm lý sợ đau khi tiêm lànhững rào cản lớn tác động đến sự tuân thủ Một nguyên nhân khác nữa phải
kể tới là do tác dụng phụ gây hạ đường huyết khi dùng insullin không đúngcách Hoặc do các tác dụng không mong muốn của thuốc mang lại cho ngườibệnh, dù cho các kết quả này rất quan trọng, ví dụ: Tiêm insulin có thể có tácdụng phụ không mong muốn là hạ đường huyết, tăng cân, dị ứng Điều nàycũng là một yếu tố khiến người bệnh e ngại việc sử dụng insulin
Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Thời điểm
sử dụng nhiều loại thuốc điều trị có liên quan mật thiết tới bữa ăn: có thuốcphải uống sau bữa ăn, có thuốc phải uống xa bữa ăn, có thuốc phải kiêng rượubia, có thuốc tiêm phải tiêm vào đúng giờ qui định …Hơn nữa một số thuốcđiều trị còn yêu cầu người bệnh phải ngừng uống rượu bia Điều này sẽ gây rakhó khăn nhất định cho người bệnh [16]
Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): sự hỗ trợ của cán bộ y tế, người
thân trong gia đình và bạn bè của người bệnh là yếu tố quan trọng đảm bảoviệc tuân thủ của họ Những người thân, bạn bè chia sẻ, an ủi, động viên cũng
Trang 26
như nhắc nhở, giúp đỡ người bệnh uống đủ số lượng thuốc, đủ liều, đúng giờ
và đo đường huyết cũng như giúp người bệnh thực hiện chế độ ăn hợp lý,hoạt động thể lực đúng cách vì trên thực tế nhiều người bệnh không thể tựmình đo đường huyết hoặc không tự giác nhớ được cách sử dụng thuốc theođúng chỉ định của thầy thuốc đặc biệt khi người bệnh là người cao tuổi
Do gánh nặng về tài chính: quá trình mắc bệnh kéo dài, phải chi trả cho
cuộc sống cũng như theo dõi điều trị, trong khi người bệnh không có khả năngtạo ra thu nhập (ở những người cao tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính không chỉcho người bệnh mà còn cho cả những người khác trong gia đình Những khókhăn và thiếu thốn trong cuộc sống hàng ngày sẽ không đảm bảo cho sức khỏethể chất và dễ làm cho người bệnh có những sang chấn về tinh thần dẫn đếnchán nản và tuyệt vọng
Do mối quan hệ giữa bác sỹ và người bệnh: khi bác sĩ giao tiếp tốt với
người bệnh, chỉ rõ lợi ích của các biện pháp điều trị, nhắc lại nhiều lần và thật
rõ ràng cho người bệnh, báo trước các tác dụng phụ có thể có hoặc khích lệngười bệnh thì việc tuân thủ điều trị của người bệnh tốt hơn nhiều
Do hệ thống chăm sóc y tế: hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho
người bệnh không? giờ giấc cung cấp các dịch vụ y tế có thuận tiện cho ngườibệnh không? (Ví dụ: người bệnh đái tháo đường thường phải mất buổi sángthậm chí cả ngày để chờ khám, làm xét nghiệm, chờ lấy kết quả cũng như nhậnthuốc, trong khi đó người bệnh rất bận) hay người bệnh có tin tưởng vào hệthống chăm sóc y tế đó không? Tất cả các lý do trên đều ảnh hưởng tới sựtuân thủ của người bệnh
Do các yếu tố khác như: sự tràn lan thuốc bắc, thuốc nam, điều trị đái
tháo đường bằng thuốc không rõ nguồn gốc cũng làm cản trở đến vấn đề tuânthủ điều trị
Tất cả các lý do trên đều ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của ngườibệnh Khi người bệnh không được giúp đỡ để vượt qua những rào cản trên, họ
Trang 27
rất dễ không tuân thủ điều trị dẫn tới một loạt những hậu quả nặng nề làm tăng
tỷ lệ người bệnh phải nhập viện và tử vong
1.3.3 Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, Bộ Y tế cũng như từ kết quảcác nghiên cứu cho thấy, việc người bệnh không tuân thủ điều trị có thể gây
ra một số hậu quả sau [4], [9] :
- Không kiểm soát đường huyết
- Không ngăn ngừa các biến chứng cấp tính như: hạ đường huyết;nhiễm toan ceton và hôn mê nhiễm toan ceton do đái tháo đường; hôn mêtăng đường máu không nhiễm toan ceton (hôn mê tăng áp lực thẩm thấu); hôn
mê nhiễm toan lactic; các bệnh nhiễm trùng cấp tính
- Không ngăn ngừa được các biến chứng mạn tính như: biến chứngtim mạch: bệnh mạch máu, bệnh tim, đột quỵ…; biến chứng tại mắt: xuấthuyết, xuất tiết võng mạc, giảm thị lực, mù lòa…; biến chứng tại thận: tổnthương thận, suy thận…; biến chứng bàn chân: loét bàn chân, cắt cụt chi, hoạitử…; biến chứng thần kinh: viêm dây thần kinh đối xứng hoặc không đốixứng…; rối loạn chức năng cương dương nam; suy giảm chức năng sinh dụcnữ
1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo
đường
1.4.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Đái tháo đường là bệnh chuyển hóa thường gặp nhất và đã có từ lâu,nhưng đặc biệt phát triển trong những năm gần đây Bệnh tăng nhanh theo tốc
độ phát triển của nền kinh tế xã hội Trên thế giới nghiên cứu về tuân thủ điềutrị bệnh đái tháo đường không phải là vấn đề mới
Nghiên cứu của Chandalia và cộng sự (2011) tại một Bệnh viện của một
Trường Đại học Y ở Malaysia Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn mẫu hệthống, phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi có sẵn và hồ sơ bệnh án với
Trang 28
405 người bệnh mắc bệnh đái tháo đường type 2 có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên
và đã được điều trị bằng thuốc ít nhất 3 tháng Kết quả nghiên cứu cho thấy cóđến 41,7% người bệnh không tuân thủ điều trị dùng thuốc Nghiên cứu cũng
đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh nhưnhững người trẻ tuổi, những người đang còn làm việc, những người gặp tácdụng phụ của thuốc, những người bệnh điều trị bằng cả thuốc viên và thuốctiêm thì ít có khả năng tuân thủ điều trị [31]
Một nghiên cứu khác về kiến thức bệnh đái tháo đường type 2 và tuânthủ điều trị ở người cao tuổi cũng tại Malaysia năm 2014 được thực hiện trên
147 bệnh nhân đái tháo đường từ 60 tuổi trở lên điều trị nội trú Kết quả chothấy có 53,7% bệnh nhân có kiến thức đúng về thuốc và bệnh của mình, 66%bệnh nhân tuân thủ điều trị bằng thuốc Nghiên cứu cũng tìm thấy các yếu tốliên quan như tuổi, giới Tuổi càng cao thì tỷ lệ tuân thủ càng tăng và nghiêncứu cũng đã chứng minh rằng một chương trình truyền thông giáo dục sứckhỏe bệnh đái tháo đường hiệu quả có thể cải thiện sự tuân thủ điều trị ở bệnhnhân đái tháo đường [39]
Về chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực dường như ít có sự tuân thủhơn so với chế độ dùng thuốc Điều này được thể hiện qua nghiên cứu cắtngang của Janaki Parajuly và cộng sự (2014) Nghiên cứu tiến hành trên 385người bệnh đái tháo đường type 2 tại Nepal cho thấy có tới 87,5% người bệnhkhông tự nguyện và 12,5% người bệnh không tuân thủ lời khuyên về chế độdinh dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuân thủ chế độ dinh dưỡng caohơn ở nam giới, người trẻ tuổi, những người ở gần Bệnh viện, những ngườinhận được tư vấn từ bác sỹ, những người sống cùng với gia đình và nhữngngười có kiến thức đúng về bệnh đái tháo đường Đối với hoạt động thể lực,
có đến 42,1% không tuân thủ hoạt động thể lực, 36,6% tuân thủ một phần vàtuân thủ tốt chỉ có 21,3% Nghiên cứu cũng tìm thấy các yếu tố liên quan đếnkhông tuân thủ hoạt động thể lực như: tiền sử gia đình bị bệnh đái tháođường, trình trạng hôn nhân và tình trạng kinh tế [35]
Trang 29
Một nghiên cứu khác tại Hàn Quốc về ―Ảnh hưởng của việc thay đổi chế
độ ăn uống, chất lượng bữa ăn và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân đái tháo đường” thực hiện trong 4 năm đã kết luận rằng chế độ ăn ở bệnh nhân đái
tháo đường có hiệu quả giúp cải thiện kiểm soát lipid máu và tình trạng dinhdưỡng mà không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [30]
Nghiên cứu của Juma Al-Kaabi và cộng sự (2009), “Hoạt động thể lực
và những yếu tố rào cản đến hoạt động thể lực của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Ả rập” [27] Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 390
người bệnh đang điều trị ngoại trú tại một phòng khám của huyện Al-Ain, Ảrập Kết quả cho thấy có tới 95% người bệnh nhận thức được tầm quan trọngcủa việc hoạt động thể lực, nhưng chỉ có 25% có tham gia hoạt động thể lực
từ khi được chẩn đoán mắc đái tháo đường, trong đó loại hình hoạt động chủyếu là đi bộ (78%) Tuy nhiên chỉ có 3% người bệnh thực hiện đúng theokhuyến cáo của nhân viên y tế, nghĩa là có đến 97% người bệnh không tuânthủ hoạt động thể lực theo đúng khuyến cáo Nghiên cứu này cũng tìm thấymột số yếu tố liên quan tới không tuân thủ hoạt động thể lực như tình trạngthu nhập thấp, yếu tố về văn hóa, không có thời gian, thiếu sự quan tâm vàtrách nhiệm từ phía gia đình và ở những người có chỉ số BMI bình thườngtuân thủ hoạt động thể lực thấp hơn so với những người thừa cân béo phì
Một nghiên cứu khác của Alan.M và cộng sự (2006) về việc tuân thủđiều trị kết hợp giữa tuân thủ dùng thuốc và chế độ ăn, chế độ hoạt động thểlực, kiểm soát đường huyết Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều
trị bằng thuốc thường tốt hơn tuân thủ thay đổi lối sống, có 65% người bệnh
tuân thủ chế độ ăn, 19% người bệnh tuân thủ chế độ luyện tập, 53% ngườibệnh tuân thủ chế độ thuốc uống và 67% người bệnh thường xuyên đo đườnghuyết
Nghiên cứu cũng đã tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủđiều trị của người bệnh như yếu tố về nhân khẩu học: vùng dân tộc thiểu số,tình trạng kinh tế - xã hội thấp, trình độ dân trí thấp thì có sự tuân thủ điều trị
Trang 30
thấp; yếu tố tâm lý: mức độ căng thẳng, tâm lý lo âu trầm cảm, rối loạn ănuống cũng giảm sự tuân thủ điều trị của người bệnh; yếu tố xã hội: nhữngngười bệnh có sự hỗ trợ của vợ/chồng và các thành viên trong gia đình thì sựtuân thủ điều trị tốt hơn những người bệnh không có sự hỗ trợ của gia đình;dịch vụ chăm sóc y tế: hỗ trợ xã hội như cung cấp dịch vụ điều dưỡng chămsóc quản lý người bệnh đái tháo đường đã thúc đẩy được quá trình tuân thủđiều trị chế độ ăn, uống thuốc và tự kiểm soát đường huyết Trong nghiên cứunày cũng cho thấy mối quan hệ người bệnh- bác sĩ là một yếu tố quyết địnhrất quan trọng của chế độ tuân thủ Nghiên cứu đã chứng minh rằng nhữngngười bệnh hài lòng với mối quan hệ của họ với các nhà cung cấp dịch vụchăm sóc thì có chế độ tuân thủ tốt hơn; tình trạng mắc các bệnh mạn tính:những người bệnh mắc kèm theo các bệnh mạn tính thì chế độ tuân thủ điềutrị bằng thuốc uống tốt hơn chế độ thay đổi lối sống, và những người bệnh cóchế độ điều trị đơn giản thì sự tuân thủ điều trị tốt hơn những người bệnh cóchế độ điều trị phức tạp [25] Nghiên cứu đã tìm ra được khá nhiều các yếu tốảnh hưởng tới sự tuân thủ điều trị của người bệnh để giúp cho các nhà quản lý
có những chiến lược đưa ra các biện pháp hỗ trợ để giúp cho người bệnh tuânthủ điều trị tốt hơn
1.4.2 Một số nghiên cứu của Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Sang (2007) tại Bệnh viện Bạch Mai vớinghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 104 người bệnh đái tháo đườngtype 2 vào điều trị nội trú tại khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai Kết quả chothấy có đến 80,8% người bệnh kiểm soát đường huyết kém (HbA1c >7,5%),các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát đường huyết là do người bệnh khôngđược hướng dẫn và/hoặc không thực hiện theo chế độ ăn; tập luyện; dùngthuốc không đều hoặc bỏ thuốc; không theo dõi đường huyết thường xuyên;
bị bệnh đái tháo đường lâu [20]
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên và cộng sự (2011) tại Bệnh viện
đa khoa Huyện Hòa Bình, Tỉnh Bạc Liêu trên 130 bệnh nhân đái tháo đường
Trang 31
type 2 ghi nhận: tỷ lệ người bệnh có kiến thức tốt về các yếu tố nguy cơ, triệuchứng, chế độ dinh dưỡng, chế độ luyện tập, dùng thuốc và các biến chứngcủa bệnh đái tháo đường lần lượt là 30%, 68,46%; 16,15%; 88,46%; 95,38%
và 23,08% Tỷ lệ người bệnh thực hành tốt về chế độ dinh dưỡng là 11,54%,tập luyện thể dục thể thao là 59,23%, sử dụng thuốc là 44,62%, phòng biếnchứng đái tháo đường là 18,46% Nghiên cứu tìm thấy ở những người có kiếnthức tốt về dinh dưỡng, dùng thuốc và dự phòng biến chứng thì có tỷ lệ thựchành tốt ở các lĩnh vực này cao hơn các bệnh nhân khác [14]
Nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (2012) về kiến thức, thực hành vàcác yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường type 2điều trị ngoại trú tại phòng khám bệnh viện Lão Khoa Trung Ương đã tìmthấy mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực vớinhóm tuổi và thời gian phát hiện bệnh Trong đó những người bệnh có thờigian phát hiện bệnh dưới 5 năm không tuân thủ hoạt động thể lực cao gấp 2,1lần so với nhóm người mắc bệnh đái tháo đường từ 5 năm trở lên Nghiên cứucũng tìm ra mối liến quan giữa tuân thủ kiểm tra đường huyết tại nhà và khámsức khỏe định kỳ với mức độ thường xuyên nhận được thông tin từ cán bộ y
tế Những người hoàn toàn không nhận được thông tin tuân thủ điều trị từ cán
bộ y tế thì không tuân thủ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳcao gấp 6,2 lần so với nhóm người bệnh đã từng nhận được thông tin Điềunày cho thấy vai trò quan trọng của cán bộ y tế trong việc giáo dục nâng caosức khỏe cho người bệnh [23]
Nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang và cộng sự (2013) tại Bệnh viện
198 Hà Nội nhằm đánh giá mức độ tuân thủ điều trị và các yếu tố liên quan ởngười bệnh ĐTĐ type 2 Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu cắtngang có phân tích kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính trên 210bệnh nhân đái tháo đường type 2 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủdinh dưỡng là 79,5%; rèn luyện thể lực là 63,3%; dùng thuốc là 78,1%; thayđổi thói quen (hạn chế rượu bia, không hút thuốc) là 63,3%; tự theo dõi
Trang 32
glucose tại nhà là 48,6%; tái khám đúng hẹn là 81% Tỷ lệ tuân thủ điều trịchung là 10% Kết quả cho thấy một số yếu tố liên quan đến các chế độ tuânthủ điều trị là giới tính, trình độ học vấn, được cán bộ y tế hướng dẫn chế độđiều trị đái tháo đường, mức độ được cán bộ y tế nhắc nhở về tuân thủ điềutrị, biến chứng của bệnh đái tháo đường [8]
Nghiên cứu của Vũ Đức Long và cộng sự (2014) trên 413 bệnh nhânđái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa Tỉnh HảiDương về những yếu tố liên quan, cho thấy sự tuân thủ điều trị của ngườibệnh có mối liên quan ở một số yếu tố: Nhóm tuổi với chế độ dinh dưỡng vàchế độ luyện tập; giới tính với chế độ luyện tập; trình độ học vấn với chế độkhám, điều trị thuốc và chế độ luyện tập; yếu tố địa dư (thành thị, nông thôn)với chế độ khám, điều trị thuốc; yếu tố nghề nghiệp với sự tuân thủ các chế độkhám, điều trị thuốc, dinh dưỡng, luyện tập [15]
Nghiên cứu của Lê Văn Hải (2014) ―Kiến thức, thực hành dinh dưỡng
và các yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường điều trị tại bệnh viện
đa khoa khu vực Huyện Hóc Môn” Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, với
phương pháp chọn mẫu toàn bộ bằng phỏng vấn trực tiếp bộ câu hỏi thiết kếsẵn trên 303 người bệnh mắc bệnh đái tháo đường tại Huyện Hóc Môn, thànhphố Hồ Chi Minh Kết quả người bệnh có kiến thức đúng về các nhóm thựcphẩm có lợi 42,2%, tỷ lệ người bệnh có kiến thức đúng về các thực phẩm dễtăng đường huyết 5,6%; tỷ lệ người bệnh có thực hành đúng về nguyên tắcdinh dưỡng 70,6% [9]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải (2015) ―Thực trạng tuân thủ điều trị
và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại khoa Nội tiết, Bệnh viện Thị Xã Bãi Cháy, Tỉnh Quảng Ninh” Kết quả
nghiên cứu cho thấy có 13,4% người bệnh tuân thủ cả 4 chế độ; 57,2% tuânthủ 3 chế độ; 23,6% người bệnh tuân thủ 2 chế độ; 5,1% tuân thủ 1 chế độ và0,3% người bệnh không tuân thủ chế độ nào Trong đó tuân thủ chế độ kiểmsoát đường huyết và khám định kỳ thấp nhất là 18,5% Nghiên cứu cũng tìm
Trang 33
thấy một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị như được người thân nhắcnhở, được cán bộ y tế (CBYT) tư vấn, giải thích về chế độ tuân thủ điều trị vàmức độ hài lòng của người bệnh với thái độ của cán bộ y tế và thông tin nhậnđược từ cán bộ y tế [10]
Tuân thủ điều trị là điều cốt lõi cho sự thành công trong công tác điềutrị bệnh đái tháo đường cũng như góp phần đáng kể vào công tác quản lýbệnh Để có được điều này cần phải có được những minh chứng cụ thể như tỷ
lệ người bệnh tuân thủ thuốc, dinh dưỡng, hoạt động thể lực, kiểm soát đườnghuyết tại nhà không hút thuốc lá, giảm rượu bia là bao nhiêu? yếu tố nào ảnhhưởng đến sự tuân thủ của người bệnh ? Từ đó giúp cho các nhà lâm sàng cónhững giải pháp hữu hiệu trong công tác điều trị và quản lý tốt được nhữngngười bệnh này[9], [13]
Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường ở Việt Nam chủ yếu
mô tả về kiến thức, thực hành tuân thủ điều trị của người bệnh và xác địnhđược một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị Tuy nhiên, các nghiên cứuchủ yếu tìm hiểu mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học, kiến thứcvới tuân thủ điều trị mà chưa quan tâm tìm hiểu mối liên quan giữa các đặcđiểm về dịch vụ y tế với tuân thủ điều trị của người bệnh Vì vậy, để khắcphục những hạn chế này, ngoài việc tìm hiểu mối liên quan giữa các đặc điểmnhân khẩu học, kiến thức với thực hành tuân thủ điều trị, nhóm nghiên cứucòn tìm thêm mối liên quan giữa đặc điểm dịch vụ y tế với tuân thủ điều trịnhằm đưa ra những khuyến nghị giúp các nhà quản lý Bệnh viện cải tiến dịch
vụ y tế, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, rút ngắn thời gian chờ đợikhám bệnh, giúp người bệnh tuân thủ điều trị
1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh là Bệnh viện tuyếnquận, phân hạng I trực thuộc UBND Quận Thủ Đức quản lý, tọa lạc tại số 29đường Phú Châu, Phường Tam Phú, Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.Bệnh viện quận Thủ Đức nằm ở khu vực cửa ngõ đông bắc của Thành phố Hồ
Trang 34
Chí Minh là vùng giáp ranh với tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, trên địa bàn
có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi qua, mật độ dân cư đông do số lượngdân nhập cư tương đối lớn và là khu vực tập trung nhiều khu chế xuất, khucông nghiệp lớn Bệnh viện được thành lập từ tháng 6 năm 2007 trên cơ sởchia tách Trung tâm y tế Quận thành hai đơn vị Trung tâm y tế dự phòng vàBệnh viện Quận Khi mới thành lập bệnh viện có quy mô: 3 phòng và 3 khoa,tổng số nhân sự 99 người (17 bác sĩ), thực hiện 10 giường điều trị nội trú Đếnnay, Bệnh viện có 48 Khoa, phòng, tổng số nhân viên hiện tại hơn 1.550người Trong đó có 21 khoa lâm sàng, thu dung khám và điều trị nội trú 800giường, trung bình khám bệnh ngoại trú trung bình khoảng 4.000 lượt/ngày.Bệnh viện Quận Thủ Đức quản lý hơn 2.800 hồ sơ bệnh án ngoại trúbệnh đái tháo đường, trung bình khám và điều trị ngoại trú bệnh nhân đái tháođường khoảng 250 bệnh/ngày, chủ yếu là người bệnh ĐTĐ type 2, với hơn95% người bệnh có Bảo hiểm Y tế (loại thẻ 80%, 95% và 100%)
Mặc dù, Bệnh viện đã triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tintrong công tác khám chữa bệnh Tuy nhiên do số lượng bệnh nhân khám bệnhngày một tăng, cán bộ y tế không có nhiều thời gian để tư vấn, giải thích chongười bệnh được đầy đủ về bệnh và các chế độ điều trị bệnh Do vậy ngườibệnh chủ yếu đến lấy thuốc định kỳ rồi về Mặt khác, việc tư vấn cho ngườibệnh là do bác sỹ và điều dưỡng trực tiếp giải thích và tư vấn làm cho ngườibệnh mất nhiều thời gian cho việc chờ đợi khám bệnh Tất cả những điều nàyảnh hưởng không nhỏ đến tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ tại Bệnhviện quận Thủ Đức
Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm hiểu một số yếu tố (đặc biệt
là các yếu tố về dịch vụ y tế) liên quan đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đáitháo đường type 2 đang được quản lý tại Bệnh viện quận Thủ Đức là rất cầnthiết Những thông tin đó sẽ giúp cho các nhà quản lý Bệnh viện đưa ra cácgiải pháp nâng cao chất lượng khám bệnh nhằm đáp ứng sự hài lòng và tuânthủ điều trị của người bệnh
Trang 35
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02/2017 đến tháng 05/2017
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Đối tượng nghiên cứu
2.3.3 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ của dân số:
2
2 ) 2 / 1
d
p p Z
Trong đó:
Z : trị số từ phân phối chuẩn (Z= 1,96)
d: là độ chính xác (sai số cho phép), chọn d = 0,05p: là tỷ lệ mong đợi người bệnh đái tháo đường type 2 tuân thủ điều trị.Theo nghiên cứu của Mạnh Đình Triều (2014) tại Bệnh viện Thống NhấtThành phố Hồ Chí Minh [21]
Trang 36
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Lập danh sách những người bệnh đái tháo đường type 2 đang điềutrị ngoại trú tại Bệnh viện có 2.800 bệnh nhân
- Tính hệ số k= số đối tượng trong danh sách/số đối tượng cần chọn(2800/414)
- Tính được k= 6,7 làm tròn được k= 7
- Người bệnh được chọn đầu tiên là một số ngẫu nhiên < 7 trong danhsách Chọn ngẫu nhiên số 3, thì người đầu tiên được chọn vào trong mẫunghiên cứu là người có số thứ tự 3 trong danh sách, những bệnh nhân đượcchọn vào mẫu nghiên cứu sẽ là 3, 10, 17, 24 cho đến khi đủ cỡ mẫu
2.3.5 Tiêu chí chọn mẫu
Tiêu chuẩn đưa vào
- Người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đang điều trị
ngoại trú ≥ 3 tháng tại Khoa Nội tiết, Bệnh viện quận Thủ Đức Thành phố HồChí Minh
Trang 37
- Đồng ý tham gia nghiên cứu và trả lời phỏng vấn
Tiêu chuẩn loại ra
- Những người bị câm, điếc, tâm thần, người mắc các bệnh ảnh hưởng
đến giao tiếp
- Người bệnh mắc các bệnh ảnh hưởng đến thời gian sống (ung thư
giai đoạn cuối, suy gan, suy thận giai đoạn cuối)
- Người bệnh không làm xét nghiệm HbA1C, LDLc hoặc xét nghiệm
trên 3 tháng
- Phụ nữ có thai.
2.3.6 Kiểm soát sai lệch chọn lựa
Trong quá trình thu thập thông tin có thể xảy ra sai lệch chọn lựa do đốitượng từ chối tham gia phỏng vấn, để tránh khả năng sai lệch chọn lựa, phỏngvấn viên sẽ tích cực thuyết phục đối tượng, nếu thuyết phục không hiệu quả sẽchọn mẫu liền kề theo đúng tiêu chí
2.4 Thu thập dữ kiện
2.4.1 Phương pháp thu thập dữ kiện
- Phỏng vấn trực tiếp dựa vào bộ câu hỏi có cấu trúc được soạn sẵn
- Đo các chỉ số nhân trắc và huyết áp
Chiều cao: được đo bằng thước dây có vạch cm được dán thẳng đứngvào tường, vuông góc với mặt đất nằm ngang Khi đo, người bệnh đứng thẳngtrên hai chân với hai gót tựa vững chắc vào phần chân của thước đo, mông và
bả vai chạm vào thước đo, hai vai thả lỏng, hai tay thả dọc hai bên, áp sát vàotường, mắt nhìn thẳng tới trước và chân không mang giày dép Người đo sửdụng một ê ke áp sát vào tường và di chuyển từ trên xuống dưới đến khi vừachạm vào đầu đối tượng thì dừng lại và ghi nhận số đo bằng centimet Ghi kếtquả vào mục A8
Cân nặng: được đo bằng cân điện tử Omron HBF- 356 sai số 100g, cânđược kiểm tra và chỉnh trước khi cân Cân đặt ở vị trí bằng phẳng và ổn định.Người bệnh được yêu cầu bỏ giày, dép, những vật nặng có trong túi áo, quần
Trang 38
và đứng thẳng trên cân Cân nặng được ghi theo số đo hiển thị trên màn hình,với đơn vị đo là kg Ghi kết quả vào phiếu ở mục A9
Huyết áp: Chuẩn bị trước khi đo: nghỉ ngơi 5-10 phút, không hút thuốc
lá trước khi đo 15 phút, không uống cà phê trước khi đo 1 giờ Tư thế đo:ngồi, tay để trên bàn ngang với tim Bao hơi quấn phải bao trọn chu vi cánhtay và rộng 2/3 chều dài cánh tay Quấn bao hơi quanh cánh tay của bệnhnhân sao cho trọng tâm của túi hơi nằm ngay trên mạch cánh tay để áp suấtcủa túi hơi phân bố đều trên động mạch, bờ dưới bao huyết áp cách nếp khuỷutay 2,5cm để ống nghe không chạm vào dây của máy đo Bơm bao hơi: khôngquá đột ngột, không quá nhanh, vượt quá số huyết áp tâm thu ước tính khoảng
20 – 30 mmHg Xả bao hơi một cách chậm rãi với tốc độ 1 – 3 mmHg/giây.Đeo ống nghe vào tai, tìm điểm mạch cánh tay đập mạnh nhất ở mặt trongcánh tay, ấn nhẹ màng ống nghe lên điểm này Huyết áp tâm thu là ứng vớithời điểm tai ta nghe được tiếng đập đầu tiên xuất hiện Sau đó tiếp tục xã baohơi với tốc độ 2 mmHg cho mỗi nhịp đập (chậm) cho đến khi mất hẳn tiếngmạch đập, đó là huyết áp tâm trương Ghi kết quả vào phiếu ở mục A19
- Xét nghiệm HbA1c: người bệnh được cán bộ y tế tại phòng khám
giải thích trước khi thực hiện xét nghiệm Bệnh nhân nhịn ăn sáng và đượclấy máu vào buổi sáng tại Phòng xét nghiệm Lấy khoảng 2 ml máu toàn phầnvào ống có chất chống đông EDTA Mẫu máu toàn phần được trộn đều đặtvào Rack đựng bệnh phẩm dùng mã vạch (barcode) vận hành theo protocolcủa máy và máy sẽ tự động phân tích Ghi kết quả vào phiếu ở mục A17
- Xét nghiệm LDLc: người bệnh được cán bộ y tế tại phòng khám giải
thích trước khi thực hiện xét nghiệm Bệnh nhân nhịn ăn sáng và được lấymáu vào buổi sáng tại Phòng xét nghiệm Lấy máu vào ống tiêu chuẩn Lytâm trước khi tiến hành kỹ thuật Có thể sử dụng huyết thanh hoặc huyếttương chống đông bằng heparin Để bệnh phẩm, control ở nhiệt độ phòng (20-
cài đặt và chuẩn trước khi thực hiện phân tích Đối chiếu với luật về nội kiểm
Trang 39
chất lượng nếu đạt thì tiến hành phân tích mẫu Đưa bệnh phẩm vào phân tíchtheo protocol của máy Khi có kết quả thì phân tích và đối chiếu với phiếu xétnghiệm và trả kết quả Ghi kết quả vào phiếu ở mục A18
2.4.2 Công cụ thu thập dữ kiện
Bảng câu hỏi soạn sẵn gồm 4 phần:
Phần A: Đặc điểm chung của người bệnh gồm 19 câuPhần B: Kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh gồm 22 câuPhần C: Thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh gồm 41 câuPhần D: Tiếp cận dịch vụ y tế của người bệnh gồm 9 câu
2.4.3 Kiểm soát sai lệch thông tin
- Thiết kế bộ câu hỏi đúng mục tiêu, rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với
người bệnh, định nghĩa rõ ràng và cụ thể biến số
- Người phỏng vấn đồng thời là nghiên cứu viên (một người duy
nhất) nắm rõ mục tiêu nghiên cứu và nhất quán trong các khái niệm của bảnphỏng vấn sẽ tránh được sai lệch do người phỏng vấn
- Sử dụng các dụng cụ thiết bị có mức sai số thấp nhất: Máy đo huyết
áp cơ, cân điện tử và thước đo chiều cao đã được kiểm tra và chuẩn hóa đồng
bộ trước khi tiến hành điều tra
- Điều tra thử 30 bệnh nhân và điều chỉnh lại bộ câu hỏi trước khi
điều tra thật
- Không thực hiện phỏng vấn đối tượng vào thời gian cao điểm như
bệnh nhân đang xếp sổ khám , để dễ tiếp cận người bệnh và thu được thôngtin đầy đủ, chính xác hơn
- Bộ câu hỏi có phỏng vấn về chế độ ăn, số lần quên uống thuốc, số
lần đo đường huyết tại nhà Do vậy, để khắc phục sai lệch hồi tưởng, phỏngvấn viên gợi ý cho người bệnh theo yếu tố thời gian và hướng dẫn người bệnhtrả lời trung thực, đầy đủ bộ câu hỏi, nhấn mạnh lợi ích của nghiên cứu manglại để tăng tính chính xác của câu trả lời
Trang 40
2.5 Liệt kê và định nghĩa biến số
2.5.1 Biến số nền
Tuổi: là biến số định lượng không liên tục, được tính theo năm dương
lịch, tuổi tròn năm, lấy năm nghiên cứu trừ cho năm sinh
Nhóm tuổi: là biến số thứ tự gồm 4 giá trị
(1) Dưới 40 tuổi(2) Từ 40 đến dưới 50 tuổi(3) Từ 50 đến dưới 60 tuổi(4) Từ 60 tuổi trở lên
Giới tính: là biến số nhị giá gồm 2 giá trị nam và nữ Nghề nghiệp: biến số danh định Là công việc làm đem lại thu nhập
chính cho đối tượng, trong vòng 1 năm gần đây, hỏi trực tiếp để ghi nhận
Nhóm nghề nghiệp: là biến số danh định gồm 3 giá trị
(1) Còn đi làm: gồm Cán bộ công nhân viên, kinh doanh, buôn bán,công nhân, nông dân, lao động tự do
(2) Không đi làm: nội trợ(3) Già, hưu trí: Gồm già, hưu trí
Trình độ học vấn: biến số thứ tự Là cấp học cao nhất mà đối tượng đã
đạt được
Nhóm trình độ học vấn: là biến số thứ tự gồm 3 giá trị
(1) Dưới trung học: gồm mù chữ, tiểu học(2) Trung học: gồm trung học cơ sở, trung học phổ thông(3) Trên trung học: Trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học
Hoàn cảnh sống: là biến số danh định gồm 2 giá trị
(1) Sống cùng người thân(2) Sống một mình
2.5.2 Biến số thể chất và sinh hóa
Chiều cao: là biến số liên tục được tính bằng mét Cân nặng: là biến số liên tục được tính bằng kg