Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ .... Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ và một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân sa sú
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM HUỲNH QUẾ THANH
TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ
Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI
VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA GIA ĐÌNH TẠI KHOA LÃO BỆNH VIỆN NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành: Nội khoa (Lão khoa)
Mã số: 60 72 01 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Hướng dẫn khoa học: TS.BS THÂN HÀ NGỌC THỂ
Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
PHẠM HUỲNH QUẾ THANH
Trang 3MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Sa sút trí tuệ 4
1.2 Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới 6
1.3 Chẩn đoán sa sút trí tuệ và MCI 9
1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán MCI và SSTT 9
1.3.2 Đánh giá phụ thuộc chức năng 12
1.4 Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ 13
1.5 Đánh giá gánh nặng người chăm sóc 14
1.6 Đánh giá nhu cầu các dịch vụ hỗ trợ 15
1.7 Một số nghiên cứu về tỉ lệ sa sút trí tuệ 16
1.7.1 Tỉ lệ SSTT trong bệnh viện 16
1.7.2 Tỉ lệ SSTT trong nhà chăm sóc 19
1.7.3 Tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ trong bệnh viện 20
1.8 Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ 22
1.8.1 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi 22
1.8.2 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính 22
Trang 41.8.3 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cư trú 23
1.8.4 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp 24
1.8.5 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường 25
1.8.6 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não 27
1.9 Các nghiên cứu về gánh nặng và nhu cầu của người chăm sóc 27
1.9.1 Nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc 27
1.9.2 Nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc 28
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.1 Dân số mục tiêu 30
2.1.2 Dân số chọn mẫu 30
2.1.3 Tiêu chuẩn chọn mẫu 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 30
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu 30
2.2.3 Cỡ mẫu 31
2.2.4 Phương pháp tiến hành ngiên cứu 31
2.2.5 Công cụ thu thập số liệu: Phiếu thu thập số liệu đã thống nhất 32
2.2.6 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu 32
2.3 Xử lý và phân tích số liệu 34
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 36
3.1.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi 36
3.1.2 Một số đặc điểm về dịch tễ của mẫu nghiên cứu 37
Trang 53.2 Một số đặc điểm dịch tễ học sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ ở
người cao tuổi 38
3.2.1 Tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người cao tuổi 38
3.2.2 Một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân SSTT 39
3.2.3 Tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) theo tuổi 40
3.2.4 Phân bố tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ theo nhóm tuổi 41
3.2.5 Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và giới tính 42
3.2.6 Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và nơi cư trú 43
3.2.7 Tỉ lệ tăng huyết áp của các đối tượng nghiên cứu 43
3.2.8 Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và đái tháo đường 44
3.2.9 Mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não 44
3.3 Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ 45
3.3.1 Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 45
3.3.2 Nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ 46
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 49
4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 49
4.1.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi 49
4.1.2 Phân bố mẫu nghiên cứu theo giới 50
4.1.3 Phân bố mẫu nghiên cứu theo nơi ở 50
4.1.4 Đặc điểm mẫu nghiên cứu về học vấn và tình trạng bệnh đi kèm 50
4.2 Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ và một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân sa sút trí tuệ cao tuổi tại khoa Lão bệnh viện Nguyễn Trãi 51
Trang 64.2.1 Tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ 51
4.2.2 Tỉ lệ mắc suy giảm nhận thức nhẹ 54
4.2.3 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi 56
4.2.4 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính 57
4.2.5 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cư trú 58
4.2.6 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp 59
4.2.7 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường 60
4.2.8 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não 63
4.3 Gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ 64
4.3.1 Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 64
4.3.2 Nhu cầu hỗ trợ của gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ 65
KẾT LUẬN 68
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 70
KIẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7NCT Người cao tuổi
RLLP Rối loạn lipid
SGNT Suy giảm nhận thức
SSTT Sa sút trí tuệ
TBMMN Tai biến mạch máu não
THA Tăng huyết áp
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
YTNC Yếu tố nguy cơ
Tiếng Anh
ADL Hoạt động cơ bản hàng ngày
(Activities of Daily Living)
DSM - 5 Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần, ấn bản 5(Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition)IADL Hoạt động sinh hoạt hàng ngày
(Instrumental Activities of Daily Living)
MCI Gỉam nhận thức nhẹ
(Mild Cognitive Impairment)
Trang 8MMSE Test đánh giá nhận thức ngắn gọn
(Mini Mental State Examination)
WHO Tổ chức Y tế thế giới
(World Health Organization)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 Tỉ lệ sa sút trí tuệ các khu vực trên thế giới theo giới
và nhóm tuổi 7
Bảng 1.2 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh điển hình 10
Bảng 1.3 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ 11
Bảng 1.4 Mối liên quan giữa nhận thức và bệnh đi kèm tại BV lão khoa Geneva 17
Bảng 1.5 Tỉ lệ MCI theo nhóm tuổi trong các phòng khám tại Mỹ 21
Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của mẫu nghiên cứu 36
Bảng 3.2 Phân bố mẫu nghiên cứu theo nhóm tuổi 36
Bảng 3.3 Một số đặc điểm về dịch tễ của mẫu nghiên cứu 37
Bảng 3.4 Tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người cao tuổi 38
Bảng 3.5 Một số đặc điểm về dịch tễ của bệnh nhân SSTT 39
Bảng 3.6 Tỉ lệ sa sút trí tuệ theo độ tuổi 40
Bảng 3.7 Tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) theo độ tuổi 40
Bảng 3.8 Tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ theo nhóm tuổi 41
Bảng 3.9 Đặc điểm về tuổi của các nhóm nghiên cứu 42
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính 42
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cư trú 43
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp 43
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường 44
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não 44
Bảng 3.15 Nhu cầu các đối tượng hỗ trợ gia đình trong việc chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 47
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1.1: Nguyên nhân sa sút trí tuệ 5
Biểu đồ 1.2: Số người SSTT (triệu người) ở các nước có thu nhập cao, thấp, trung bình trong khoảng thời gian 2015-2050 8
Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ SSTT ở khoa cấp cứu theo giới và nhóm tuổi trong 1 bệnh viện tại Anh 18
Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ hiện mắc sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ (MCI) ở người cao tuổi 38
Biểu đồ 3.2 Ti lệ mắc sa sút trí tuệ theo tuổi và giới 41
Biểu đồ 3.3 Gánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 45
Biểu đồ 3.4 Nhu cầu học về sa sút trí tuệ của gia đình bệnh nhân 46
Biểu đồ 3.5 Nhu cầu về phương tiện học sa sút trí tuệ 46
Biểu đồ 3.6 Nhu cầu đối tượng hỗ trợ của gia đình trong việc chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 47
Biểu đồ 3.7 Nhu cầu của gia đình về nơi chăm sóc bệnh nhân SSTT 48
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
TrangHình 1.1: Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới 6Hình 1.2: Các hoạt động IADL 13Hình 1.3: Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ 13
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Già hóa dân số đang diễn ra trên tất cả các khu vực và quốc gia trên thếgiới với tốc độ khác nhau Liên Hiệp Quốc dự báo, từ 2015 – 2030, số ngườicao tuổi từ 60 tuổi trên thế giới tăng 56% và tới năm 2050 sẽ tăng gấp đôi đạt2,1 tỉ [90] Theo kết quả điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình,
số người cao tuổi trên 60 của Việt Nam là 8,65 triệu năm 2011, chiếm 10%dân số Với số liệu này, năm 2011 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn
“Gìa hóa dân số” Gìa hóa dân số làm mô hình bệnh tật thay đổi nhiều, với sựgia tăng các bệnh mạn tính, liên quan lão hóa nếu chúng ta không kịp thíchứng, không có mô hình chăm sóc NCT phù hợp, sẽ rất khó khăn cho sự pháttriển kinh tế – xã hội của đất nước
Sa sút trí tuệ, đặc trưng cho thoái hóa thần kinh ở NCT, là nguyên nhânchính gây tàn phế, nhập viện, giảm tuổi thọ và chất lượng sống của bệnh nhân[52], [92] Alzheimer còn là nguyên nhân thứ 6 gây tử vong tại Mỹ năm 2010[57] Dưới góc độ kinh tế mà nói, thì sa sút trí tuệ là một trong những bệnh lý
mà chi phí tốn kém nhất, chỉ đứng sau các bệnh tim mạch và ung thư [52].Gia đình và người chăm sóc người bệnh cũng bị ảnh hưởng về thể chất, tâm
lý, xã hội và kinh tế Theo WHO, năm 2015 số người SSTT trên thế giới là47,5 triệu người, và dự báo đến năm 2050 con số này sẽ tăng gấp ba lầnkhoảng 135,5 triệu, trong đó 71% là ở các nước có thu nhập thấp và trungbình [93]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Kinh Quốc [4] năm 2011, tỉ lệ sa sút trítuệ tại TP HCM là 4,8% Trong bệnh viện, tác giả Bùi Thị Mai Trúc nghiêncứu tại khoa nội tiết BV 30/4 cho thấy tỉ lệ SSTT 19,2% và MCI 42,5% [10].Tuy nhiên tại khoa Lão, nơi tiếp nhận các bệnh nhân cao tuổi, lại chưa có
Trang 13nhiều số liệu về tình hình SSTT Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu này nhằmtìm ra tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ ở khoa Lão BV NguyễnTrãi, từ đó nâng cao nhận thức về bệnh lý này ở các bác sĩ Lão khoa và pháthiện sớm bệnh lý này ở bệnh nhân cao tuổi .
Các bệnh nhân SSTT chủ yếu được chăm sóc bởi gia đình Đối vớibệnh nhân SSTT, người chăm sóc có vai trò rất quan trọng đối với tình trạngsức khỏe của họ Tuy nhiên, nhiều người chăm sóc cho biết họ không có đủcác kỹ năng và kiến thức cần thiết để chăm sóc lâu dài cho người bị bệnh mạntính vì vậy họ cảm thấy thiếu tự tin và không được chuẩn bị [32] Chăm sóccho người SSTT gây căng thẳng nhiều hơn so với việc chăm sóc người bị suychức năng do một bệnh mãn tính khác Khảo sát cho thấy BN Alzheimer cầntrung bình 70 giờ chăm sóc mỗi tuần [79], tỉ lệ lo âu và trầm cảm của ngườichăm sóc là 46.7% và 26.7% [64] Vì vậy, năm 2012 WHO đã công bố SSTT
là một ưu tiên chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhằm mục đích cung cấp thôngtin và nâng cao nhận thức về SSTT, tăng cường các nỗ lực từ cộng đồng và tưnhân để cải thiện chăm sóc và hỗ trợ cho người bệnh và người chăm sóc
Ở Việt Nam, hầu hết bệnh nhân SSTT được chăm sóc tại nhà Hiệnnay, nước ta chưa có nghiên cứu nào về nhu cầu cần hỗ trợ của các gia đình
có người thân sa sút trí tuệ Nước ta cũng chưa có các dịch vụ hỗ trợ giúp giađình của các BN SSTT vì đây là một xu hướng cần phát triển trong tương laigần Vì vậy, từ các kết quả của nghiên cứu này có thể xây dựng các chươngtrình giáo dục gia đình và người chăm sóc BN SSTT, giúp họ hiểu hơn về tìnhtrạng giảm chức năng dần của BN và cách xử lý trong quá trình chăm sóc.Thêm vào đó, có thể đề xuất các chương trình dịch vụ hỗ trợ gia đình ngườibệnh nhằm làm giảm gánh nặng cho người chăm sóc
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3- Đánh giá gánh nặng của người chăm sóc và nhu cầu hỗ trợ của giađình
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Sa sút trí tuệ
Sa sút trí tuệ là một rối loạn mắc phải với suy giảm đáng kể ở một hoặc
nhiều chức năng nhận thức:
- Tập trung: duy trì, chọn lọc, phân tán và tốc độ xử lý
- Điều hành: lên kế hoạch, ra quyết định, trí nhớ công việc, đáp ứng vớiphản hồi, kiềm chế và linh hoạt
- Học tập và trí nhớ: tự nhớ, gợi nhớ, trí nhớ mô tả, trí nhớ ngữ nghĩa vàhình ảnh, trí nhớ dài hạn, kỹ năng nội sinh
- Ngôn ngữ: định danh, tìm từ, trôi chảy, ngữ pháp và cấu trúc câu, hiểulời hoặc chữ viết
- Vận động trí tuệ: nhận biết thị giác, phân tích cấu trúc bằng thị giác, kếthợp vận động trí tuệ
- Nhận thức xã hội: nhận biết cảm xúc, lý giải suy nghĩ, phán đoán
Việc suy giảm nhận thức phải đủ cản trở sự độc lập về chức năng củabệnh nhân [17]
Mặc dù SSTT ảnh hưởng chủ yếu ở NCT nhưng nó không phải là mộtquá trình lão hóa bình thường Có nhiều thể SSTT từ tổn thương não nhưbệnh Alzheimer, thể hỗn hợp, thể Lewy, sa sút trí tuệ trán-thái dương, bệnhCreutzfeldt-Jacob, bệnh Huntington Ngoài ra, SSTT còn có thể do nguyênnhân chuyển hóa, bệnh lý tuyến giáp, thiếu vitamin B12 và nhiễm trùng
Bệnh Alzheimer là nguyên nhân phổ biến của SSTT, chiếm hầu hết cáctrường hợp, 50- 60% Đặc điểm bệnh lý đặc trưng bởi các mảng thoái hóa,
Trang 16bao gồm -amyloid và các tế bào sao bị loạn dưỡng cùng các đám rối vi sợithần kinh mà thành phần chính là các protein tau với các vi ống phosphoryl.
Sa sút trí tuệ do nguyên nhân mạch máu và thể hỗn hợp giữa Alzheimer
và mạch máu là nguyên nhân thường gặp thứ hai của sa sút trí tuệ ở các nướcChâu Á Chúng chiếm khoảng 20-30% các trường hợp Nguyên nhân do hẹpcác mạch máu nuôi não hoặc thiếu oxy não, đột quị não, nhồi máu lỗ khuyết,thoái hóa myelin hoặc hỗn hợp
Sa sút trí tuệ thể Lewy chiếm khoảng 10% các trường hợp Đặc điểmcủa dạng này là các thể Lewy được phát hiện dưới kính hiển dưới dạng cácthể vùi bất thường trong các tế bào não Diễn tiến bệnh khá nhanh và có thể
có các triệu chứng của hội chứng Parkinson, té ngã và có tình trạng dao độngnhận thức Ngược lại với các nước Châu Á, ở Mỹ và các nước Châu Âu, sasút trí tuệ thể Lewy là nguyên nhân phổ biến thứ hai sau Alzheimer Trongkhi SSTT do mạch máu và các thể khác chiếm phần còn lại [79]
Biểu đồ 1.1: Nguyên nhân sa sút trí tuệ [79]
Trang 171.2 Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới
Hình 1.1: Tình hình sa sút trí tuệ trên thế giới [68]
Từ những phân tích nghiên cứu trên toàn thế giới báo cáo năm 2015của hiệp hội Alzheimer [68], tỉ lệ sa sút trí tuệ cao nhất ở Bắc Phi/Trung Đông(8.7%) và Châu Mỹ La Tinh (8.4%), thấp nhất ở vùng hạ Saharan (4.67%) vàTrung Âu (4.7%) Các khu vực khác thay đổi từ 5.6% tới 7.6%
Châu Mỹ Châu Phi Châu Âu Châu Á Thế giới
Trang 18Bảng 1.1 Tỉ lệ sa sút trí tuệ các khu vực trên thế giới theo giới và nhóm tuổi Khu vực Giới tính
người trên
60 tuổi 60-64 65-69 70-74 75-79 80-84 85-89 90+
Đông Á
Nam 1.2 1.9 3.0 5.1 8.6 14.2 27.2
6.19
Nữ 1.5 2.5 4.2 7.3 12.8 21.6 43.0 Tất cả 1.5 2.4 4.0 7.0 12.1 20.3 40.5 6.61
Nam Á
Nam 1.2 1.9 3.0 5.1 8.5 13.8 26.2
5.63
Nữ 1.6 2.5 4.0 6.7 11.2 18.1 34.3 Tất cả 1.9 3.0 4.9 8.3 14.0 23.0 44.1 7.70
Đông Nam Á
Nam 1.8 2.6 3.9 6.2 9.8 15.0 26.4
7.64
Nữ 1.8 3.0 5.1 9.0 16.0 27.2 54.9 Tất cả 3.3 4.4 6.0 8.3 11.5 15.6 23.5 7.15 CHÂU ÂU
Tây Âu
Nam 1.1 1.8 2.8 4.7 7.8 12.6 23.7
6.67
Nữ 2.0 3.2 5.2 8.7 14.6 23.7 45.1 Tất cả 1.6 2.6 4.3 7.3 12.4 20.5 39.8 6.80
Trung Âu
Nam 1.6 2.3 3.3 4.9 7.3 10.6 17.3
5.18
Nữ 1.8 2.6 4.0 6.3 10.0 15.4 27.1 Tất cả 1.1 1.8 2.9 5.0 8.5 14.0 27.1 4.65 CHÂU MỸ
Bắc Mỹ (Hoa Kì)
Nam 1.3 2.1 3.7 6.8 12.3 21.6 45.2
6.77
Nữ 1.0 1.8 3.3 6.4 12.5 23.2 52.7 Tất cả 1.0 1.7 3.0 5.7 10.6 19.1 41.6 5.73
Châu Mỹ La Tinh
Nam 1.4 2.4 4.3 7.4 12.6 21.6 43.7
8.41
Nữ 1.3 2.5 4.7 8.9 16.5 30.7 69.4 Tất cả 1.5 2.6 4.8 8.6 15.2 27.0 57.5 8.34 CHÂU PHI
Vùng hạ Saharan
Nam 1.0 1.5 2.3 3.8 5.7 9.2 17.5
5.47
Nữ 2.0 3.0 4.6 7.5 11.5 18.6 35.8 Tất cả 1.3 2.0 3.1 5.1 8.0 13.1 25.7 4.63 Bắc Phi/Trung Đông Tất cả 2.2 3.6 6.0 9.7 16.4 29.4 29.4 8.67
Nguồn: World Alzheimer Report 2015: The Global Impact of Dementia [68]
Trang 19Theo ước tính trong năm 2015, Đông Á là khu vực có nhiều bệnh nhânSSTT nhất (9,8 triệu người), tiếp theo là Tây Âu (7,4 triệu) Theo sau là Nam
Á với 5,1 triệu và Bắc Mỹ với 4,8 triệu Xét về cấp độ quốc gia, mười nước
có hơn một triệu người SSTT năm 2015: Trung Quốc (9,5 triệu), Mỹ (4,2triệu), Ấn Độ (4,1 triệu), Nhật Bản (3,1triệu), Brazil (1,6 triệu), Đức (1,6triệu), Nga (1,3 triệu), Ý (1,2 triệu), Indonesia (1,2 triệu) và Pháp (1,2 triệu)
Mặc dù tỉ lệ SSTT ở khu vực các nuớc phát triển cao hon, nhưng da sốnguời bị SSTT dang sống ở các nuớc dang phát triển Tỉ lệ tăng số BN bịSSTT dao dộng rất nhiều theo vùng, ở các nuớc dang phát triển 2 lần cao honcác nuớc phát triển Hậu quả là, tỉ lệ nguời bị SSTT ở các nuớc thu nhập trungbình thấp và thấp tăng 223% và 264%, so với ở các nước có thu nhập cao tăng116%
nước có thu nhập cao nước có thu nhập thấp và trung bình
Biểu đồ 1.2: Số người SSTT (triệu người) ở các nước có thu nhập cao, thấp,
trung bình trong khoảng thời gian 2015-2050
Nguồn: World Alzheimer Report 2015: The Global Impact of Dementia [68]
Trang 201.3 Chẩn đoán sa sút trí tuệ và MCI
1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán MCI và SSTT
Trong nghiên cứu này, tiêu chuẩn DSM-5 được sử dụng để chẩn đoán sasút trí tuệ Tiêu chuẩn này ra đời năm 2013 bởi Hội Tâm Thần Hoa Kỳ TrongDSM-5, họ không dùng thuật ngữ sa sút trí tuệ, thay vào đó họ đưa ra thuậtngữ mới “Các rối loạn nhận thức thần kinh” Mục đích của DSM-5 là để nhấnmạnh những thay đổi nhận thức sớm xảy ra ngay cả khi chưa bị sa sút trí tuệ
và được định nghĩa là “ Rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ”, tương ứng giảmnhận thức nhẹ (MCI) “Rối loạn nhận thức thần kinh điển hình” trong DSM-5ứng với SSTT trong DSM IV Rối loạn nhận thức thần kinh là tình trạng giảmnhận thức không xuất hiện khi sinh hoặc trong giai đoạn sớm của cuộc đời và
vì vậy đặc trưng bởi sự giảm chức năng so với thời gian trước đây Do tínhphổ biến và thói quen, trong nghiên cứu này chúng tôi vẫn dùng thuật ngữ sasút trí tuệ và giảm nhận thức nhẹ (MCI)
Sau 60 tuổi, tần suất SSTT tăng gấp đôi sau mỗi 5 năm, tỉ lệ bệnh ởngười lớn hơn 85 tuổi trong cộng đồng từ 25-45% [41] Giảm nhận thức nhẹ(MCI) cuối cùng có nguy cơ tiến triển thành Alzheimer hoặc các dạng sa súttrí tuệ khác Mỗi năm, 10-15% giảm nhận thức nhẹ tiến triển thànhAlzheimer, so với nhóm chứng cùng tuổi là 1-2% [41]
Trang 21Bảng 1.2 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh điển hình
A Bằng chứng của giảm nhận thức nặng so với trước đây ở một hoặcnhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, họctập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận- vận động hoặc nhận thức
xã hội) dựa trên:
1- Sự giảm chức năng nhận thức nặng mà bản thân người bệnh hoặc mộtngười cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ pháthiện và
2- Một sự giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâm thầnthần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng
B Tình trạng giảm nhận thức cản trở sự độc lập của người bệnh trong cáchoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong các hoạtđộng hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men)
C Giảm nhận thức không xảy ra trong bệnh cảnh sảng
D Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảmnặng hoặc tâm thần phân liệt)
Nguồn: American Psychiatric Association (2013) Diagnostic and statistical manual of mental disorders, fifth edition Washington.
Trang 22Bảng 1.3 Chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ
A Bằng chứng của giảm nhận thức mức độ vừa so với trước đây ở mộthoặc nhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý,học tập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận- vận động hoặc nhậnthức xã hội) dựa trên :
1- Sự giảm chức năng nhận thức mứa độ vừa mà bản thân người bệnhhoặc một người cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩphát hiện và
2- Một sự giảm nhận thức vừa được phát hiện qua các test tâm thần thầnkinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng
B Tình trạng giảm nhận thức không cản trở sự độc lập của người bệnhtrong các hoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong cáchoạt động hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men
C Giảm nhận thức không nằm trong bệnh cảnh sảng
D Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảmnặng hoặc tâm thần phân liệt)
Nguồn: American Psychiatric Association (2013) Diagnostic and statistical
manual of mental disorders, fifth edition Washington
Việc phát hiện sự suy giảm nhận thức và trí nhớ có thể sớm hơn nếuchúng ta dùng những phương tiện đánh giá chuẩn Có nhiều test dùng để tầmsoát suy giảm nhận thức và trí nhớ nhưng test đánh giá nhận thức ngắn gọnMini Mental State Examination (MMSE) là thang điểm được dùng nhiều nhất[28] vì độ chính xác cao [50], [76] Chỉ mất khoảng 5- 10 phút, thang đo này
có 30 điểm đánh giá được các chức năng định hướng về thời gian và khônggian (10 điểm), trí nhớ tức thời (3 điểm), trí nhớ ngắn hạn (3 điểm), sự tập
Trang 23trung/tính toán (5 điểm), ngôn ngữ và chức năng định hình (9 điểm) Điểm từ
24 trở lên là bình thường và dưới 24 cho thấy có tình trạng suy giảm nhậnthức Trường hợp bệnh nhân mù chữ điểm dưới 17,5 là bất thường [37]
MMSE ra đời năm 1975 bởi Marshall F Folstein, Susan E Folstein vàPaul R McHugh, độ nhạy và độ đặc hiệu của test lần lượt là 81% và 89%[88] Năm 2005, tác giả Nguyễn Kinh Quốc thuộc bộ môn Nội Thần Kinh ĐạiHọc Y dược Thành phố Hồ Chí Minh đã dịch và chuẩn hóa sang tiếng Việt[3]
1.3.2 Đánh giá phụ thuộc chức năng
Khái niệm hoạt động hàng ngày là tình trạng còn chức năng được đềxuất bởi Katz và phát triển bởi Lawton, người phân chia hoạt động hàng ngàythành 2 loại: hoạt động cơ bản (ADL) và hoạt động sinh hoạt hàng ngày(IADL), hoạt động cần nhiều nhận thức hơn Chúng tôi đánh giá sự độc lậpcủa người bệnh dựa vào hoạt động sinh hoạt hàng ngày (IADL)
ADLs (basic Activity of daily living): hoạt động cơ bản hàng ngày, đề
cập đến những chức năng thiết yếu để tự chăm sóc bản thân, nhưng chưa đầy
kỳ mục nào trong các hoạt động, có nghĩa họ bị giảm chức năng Nhữngngười có phụ thuộc chức năng trong cấp độ này đòi hỏi một cuộc sống cầnđược hỗ trợ tại nhà, hoặc các dịch vụ chăm sóc cộng đồng
Trang 24Hình 1.2: Các hoạt động IADL
(Instrument activity of daily living)
1.4 Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ
Hình 1.3: Một số yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ
Nguồn: Alzheimer's society 2016
Trang 251.5 Đánh giá gánh nặng người chăm sóc
Những người chăm sóc và gia đình bệnh nhân sa sút trí tuệ thường gặpnhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa chăm sóc người bệnh với những nhucầu của họ như chăm sóc con cái, nghề nghiệp và các mối quan hệ Họ cónguy cơ cao bị gánh nặng, stress, trầm cảm và những vấn đề sức khỏe khác[25] 63% người chăm sóc cho biết họ gặp nhiều gánh nặng và 47% có vấn đềtâm lí khi chăm sóc người bệnh [18] Nhiều nghiên cứu báo cáo rằng ngườichăm sóc BN sa sút trí tuệ bị stress nhiều hơn người chăm sóc bệnh nhân cóbệnh lí khác
Bảng câu hỏi Gánh nặng Zarit (Zarit Burden Interview) là bộ câu hỏiđược sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc
Bộ câu hỏi gồm 22 câu, mỗi câu có 5 thang điểm, từ 0-4 điểm:
0 = "ko bao giờ"
- “Bạn có cảm thấy căng thẳng khi chăm sóc người thân của mìnhkhông?”
- “Bạn có cảm thấy sức khỏe của mình bị ảnh hưởng khi chăm sócngười thân không?”
Trang 261.6 Đánh giá nhu cầu các dịch vụ hỗ trợ
Việc chăm sóc các bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ gây gánh nặngcực kỳ về thể chất, tâm lý, đời sống xã hội và kinh tế của người chăm sóc Sovới những bệnh nhân không sa sút trí tuệ thì các bệnh nhân có sa sút trí tuệthường lớn tuổi hơn, phải uống nhiều thuốc và cần các nhu cầu như đi lại,phục vụ các bữa ăn và quản lý thuốc men[19] Người chăm sóc thường khôngđược nghỉ ngơi, họ nên được giúp đỡ từ các hỗ trợ bên ngoài Các dịch vụ hỗtrợ sẽ giúp giảm bớt căng thẳng và gánh nặng cho người chăm sóc
Hiệp hội Alzheimer đã phát triển một loạt các biện pháp can thiệp vớimục đích cung cấp sự hỗ trợ cho những người chăm sóc Các can thiệp cơ bản
về mặt giáo dục và hỗ trợ chăm sóc, tùy nhu cầu gia đình và giai đoạn bệnh.Các chương trình đào tạo và giáo dục, cung cấp thông tin qua mạng máy tính
và điện thoại, lập kế hoạch chăm sóc dựa trên nhu cầu bệnh nhân và gia đình,nhóm hỗ trợ chăm sóc, trung tâm chăm sóc ban ngày, nhà dưỡng lão Mộtđánh giá có hệ thống từ 44 nghiên cứu cho thấy sự can thiệp về mặt giáo dục
có tác động tích cực về tỉ lệ mắc bệnh tâm lí của người chăm sóc [14, 24]
Trong nghiên cứu này, người chăm sóc được hỏi về nhu cầu về thôngtin (giúp họ hiểu hơn về tình trạng giảm chức năng dần của BN, cách xử lýtrong quá trình chăm sóc) và dịch vụ hỗ trợ của mình Từ các kết quả củanghiên cứu này có thể xây dựng các chương trình giáo dục và dịch vụ hỗ trợgia đình người bệnh nhằm làm giảm gánh nặng cho người chăm sóc Phần hỏinhu cầu thông tin gồm 2 câu “Bạn có muốn học về sa sút trí tuệ/Alzheimerkhông” và câu “Bạn muốn học về sa sút trí tuệ/Alzheimer thông qua phươngtiện gì?” với 5 lựa chọn “Giáo dục cộng đồng , khóa huấn luyện, TiVi, báochí, tờ rơi”
Trong phần hỏi nhu cầu dịch vụ hỗ trợ, câu hỏi đầu tiên là hỏi gia đình
có nhu cầu về đối tượng hỗ trợ hay không Câu hỏi thứ hai hỏi về đối tượng
Trang 27hỗ trợ nào mà gia đình muốn họ hỗ trợ (“Bạn cần đối tượng nào giúp đỡ” vớilựa chọn “người thân, người thuê, người làm công tác xã hội’), Câu hỏi thứ bahỏi về nhu cầu về nơi chăm sóc bệnh nhân SSTT (“Bạn muốn người thân củamình được chăm sóc ở đâu? Với các lựa chọn “ tại nhà, nhà dưỡng lão, trungtâm chăm sóc ban ngày).
1.7 Một số nghiên cứu về tỉ lệ sa sút trí tuệ
1.7.1 Tỉ lệ SSTT trong bệnh viện
Nghiên cứu của tác giả Thân Hà Ngọc Thể [7] trên 367 BN từ 60 tuổi ở
ba bệnh viện Nguyễn Trãi, Nhân Dân Gia Định và Đại Học Y Dược tại khuvực TP Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ SSTT ở các khoa Lão là 24,2%, tuổi trungbình dân số nghiên cứu 77 + 9,2, không có sự khác biệt giữa nam và nữ Tácgiả sử dụng tiêu chuẩn DSM-5 với thang điểm MMSE, IADL, FAQ để đánhgiá tình trạng nhận thức
Molaschi [54] đánh giá 1745 BN từ 65 tuổi (971 nam và 774 nữ) tạikhoa Lão trong một BV ở Ý bằng thang điểm Short Portable Mental StatusQuestionnaire (SPMSQ), kết quả có 26,8% SSTT, 15,8% MCI Đây là thangđiểm có tính chính xác cao và có liên quan chặt với thang điểm MMSE [49],[74] Tuổi trung bình BN SSTT (80,7 + 8) cao hơn BN MCI (79,5 + 7,8) vàkhông SGNT (75,3 + 8,3) Trong số những BN SSTT thì có 15,6% cần sự hỗtrợ trước khi nhập viện, tỉ lệ phụ thuộc hoạt động cơ bản hàng ngày cao hơn(70,9%), tỉ lệ tử vong trong BV cũng cao hơn (21,2%) Tác giả Orsitto nghiêncứu trên 179 BN từ 65 tuổi tại đơn vị Lão khoa trong một BV ở Ý năm 2005,tình trạng nhận thức được đánh giá bằng thang điểm MMSE và CDR cho thấy
tỉ lệ sa sút trí tuệ 40,8% và MCI 19,6% [62] Nghiên cứu của Clare bowlernăm 1994 [27] tại Đơn vị lão khoa, Anh trên 153 bệnh nhân trên 65 tuổi chokết quả tỉ lệ SSTT 26.8%, tiêu chuẩn và thang điểm đánh giá nhận thức làICD-10,MMSE, CAMCOG, SCAN
Trang 28Dina Zekry [29] tiến hành nghiên cứu 349 đối tượng trên 75 tuổi tạibệnh viện phục hồi Lão khoa Geneva năm 2007, tuổi trung bình mẫu 85.2 ±6.7 Kết quả cho thấy 43.3% mắc SSTT, 10.6% MCI, không có sự khác biệt
về giới p=0.129, TBMMN thường gặp nhiều hơn ở BN SSTT so với 2 nhómcòn lại, ngược lại, THA, ĐTĐ gặp nhiều ở nhóm không suy giảm nhận thức.Tác giả sử dụng thang điểm đánh giá nhận thức Short Cognitive EvaluationBattery (SCEB) và MMSE
Bảng 1.4 Mối liên quan giữa nhận thức và bệnh đi kèm tại BV lão khoa
GenevaBệnh
đồng thời SSTT MCI
Không suy giảm nhận thức pTHA 66.9% 51.4% 72.7% 0.041 TBMMN 21.9% 10.8% 12.4% 0.050 ĐTĐ 19.2% 16.2% 21.7% 0.707
Nguồn: Demented versus non-demented very old inpatients: the same comorbidities but poorer functional and nutritional status [29]
Nghiên cứu của tác giả Suzanne Timmons [84] năm 2015 (5 bệnh việncông và 1 bệnh viện tư) ở Ireland, trên 598 bệnh nhân từ 70 tuổi, dựa trêntiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, test đánh giá MMSE và bộ câu hỏi về suygiảm nhận thức ở người cao tuổi Informant Questionnaire on CognitiveDecline in the Elderly (IQCODE)
Kết quả cho thấy tỉ lệ sa sút trí tuệ chung là 24,9%, ở bệnh viện công28.9%, (nông thôn cao hơn thành phố 37.1 với 26.9%), tỉ lệ ở bệnh viện tưthấp 7,9%, ở những bệnh nhân ở trại dưỡng lão cao 77,1% Tỉ lệ SSTT khácnhau ở các khoa, khoa cấp cứu cao hơn những khoa còn lại (28.6 với 16.0%,
P < 0.001) Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về giới (p= 0.08), BN
Trang 29SSTT có tuổi trung bình cao hơn (84 với 78,3) và tỉ lệ ở người hơn 90 tuổi là63%.
Tác giả Travers [23] tiến hành nghiên cứu trên 493 bệnh nhân từ 70tuổi trở lên ở khoa nội, ngoại tổng quát và chỉnh hình tại 4 bệnh viện ởQueensland (Úc) năm 2013 cho thấy tỉ lệ sa sút trí tuệ chung là 20,7%, tác giảcũng dùng tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV, MMSE, bộ câu hỏi IQCODE Kếtquả cũng không có sự khác biệt về giới (P= 0,22), tỉ lệ tăng theo tuổi, 70-79:8.5% ; 80-89: 30.1% ; 90+: 47.4%, tuổi trung bình bệnh nhân sa sút trí tuệ caohơn (84,7 với 79,3)
Tác giả Elizabeth [30], [30]lại cho kết quả cao hơn 42,4% Nghiên cứuđược thực hiện tại Anh năm 2009, mẫu nghiên cứu gồm 617 người cao tuổi từ
70 trở lên ở khoa cấp cứu tại 1 bệnh viện Tiêu chuẩn chẩn đoán là DSM-IV,MMSE và thang điểm đánh giá chức năng Functional Assessment StagingScale FAST Tỉ lệ tăng theo tuổi, đặc biệt là nữ
Biểu đồ 1.3: Tỉ lệ SSTT ở khoa cấp cứu theo giới và nhóm tuổi
trong 1 bệnh viện tại Anh
Nguồn: Dementia in the acute hospital [30]
Trang 30Holmes [36] đánh giá 731 bệnh nhân trên 65 tuổi, sau khi được phẫuthuật gãy xương hông tại Anh, cho thấy tỉ lệ 40% SSTT, 39.2% trong sốngười bị SSTT sống trong viện dưỡng lão.
Trong cuốn Who Cares Wins [75] của hiệp hội Alzheimer tổng kết từnhiều nghiên cứu cho kết quả tỉ lệ SSTT trong bệnh viện trong khoảng 5-45%, trung bình là 31%; SGNT thay đổi từ 7 đến 88%, trung bình là 22%
Cuốn The Right Care [80] cũng cho kết quả tương tự, tỉ lệ trong khoảng10-40%, nhiều nhất là 25%
Tác giả Bùi Thị Mai Trúc [10] nghiên cứu trên 313 bệnh nhân cao tuổiĐTĐ2 điều trị tại bệnh viện 30-4 cho thấy tỉ lệ SSTT 19,2%, MCI 42,5%.Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng nhận thức trên bn ĐTĐ 2: tuổi, giới,trình độ văn hóa, thuốc điều trị, đường huyết, THA
Lê Nguyễn Nhựt Tín, Vũ Anh Nhị [8] nghiên cứu 218 bệnh nhân tuổi
từ 32 đến 86 tại khoa thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tần suất SSTTsau đột quị là 40,4% SSTT sau đột quị có liên quan đáng kể với các yếu tốdịch tễ như tuổi, giới, trình độ học vấn; các yếu tố nguy cơ mạch máu như:hút thuốc lá, ĐTĐ, THA, tăng cholesterol
Nguyễn Thanh Vân, Phạm Thắng [12] nghiên cứu bệnh chứng trên
104 bệnh nhân nhồi máu não và 104 bệnh nhân nhóm chứng không nhồi máunão cho thấy tỉ lệ SSTT sau nhồi máu não chiếm 25%, tỉ lệ ở nhóm chứng là19,2%
1.7.2 Tỉ lệ SSTT trong nhà chăm sóc
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ SSTT trong viện dưỡng lão rất cao,chiếm đến 3/4 số NCT trong viện dưỡng lão và khoảng 1/3 số NCT SSTTsống trong viện dưỡng lão [16, 36, 47]
Theo Macdonald [47], tỉ lệ SSTT trong viện dưỡng lão tại Anh là 74%,38% bị sa sút nặng
Trang 31Theo Sarah E Goldberg [78], 27% BN SSTT sống trong nhà chăm sóc.Báo cáo của hiệp hội Alzheimer năm 2014 [16] cho thấy 80% số ngườitrong nhà chăm sóc bị SSTT hay giảm trí nhớ nặng Các BN SSTT thì 2/3sống tại cộng đồng trong khi 1/3 ở nhà chăm sóc.
1.7.3 Tỉ lệ suy giảm nhận thức nhẹ trong bệnh viện
Tác giả Molaschi [54] nghiên cứu tại khoa Lão trong một BV ở Ý chothấy tỉ lệ MCI 15,8%, tác giả Orsitto cho kết quả 19,6% khi đánh giá ở mộtđơn vị Lão khoa trong một BV khác tại Ý
Nghiên cứu của tác giả Tobias Luck [87] trên 3,242 người trên 75 tuổi,không sa sút trí tuệ, trong các BV đa khoa tại Đức cho thấy tỉ lệ MCI là25,2% (23,7-26,7) Tỉ lệ này cao hơn ở phụ nữ (26.8%; 95%CI = 24.9–28.6)hơn là nam giới (22.3%; 95%CI = 19.9–24.8) OR = 1.36 Tuổi trung bìnhmẫu 80.2+_3.6 (75–98) Tỉ lệ này thay đổi theo tuổi:
là Parkinson có nguy cơ bị MCI cao hơn (OR = 2.54; 95% Cl 1.11–5.54).Tuy nhiên, cơn thiếu máu não thoáng qua, di chứng TBMMN cũng như ĐTĐđược ghi nhận là khác biệt không đủ ý nghĩa thống kê
Trang 32Oscar Lopez [63] nghiên cứu 2470 đối tượng tại 4 phòng khám timmạch và thần kinh tại 4 tiểu bang Mỹ cho kết quả tỉ lệ MCI chung là 19%2003
Bảng 1.5 Tỉ lệ MCI theo nhóm tuổi trong các phòng khám tại Mỹ
Tuổi
Tỉ lệ MCIPhòng khám Pittsburgh 3 phòng khám còn lại
Nguồn: Prevalence and classification of mild cognitive impairment in the
Cardiovascular Health Study Cognition Study: part 1 [63]
Sarah E Goldberg [78] nghiên cứu 1,004 bệnh nhân trên 70 tuổi tại khoanội và chấn thương chỉnh hình tại 1 bệnh viện ở Anh cho thấy 50% ngườinhập viện bị SGNT và thường cao tuổi hơn (86 so với 79)
Tống Mai Trang và cộng sự [9] tiến hành nghiên cứu 129 BN ĐTĐnhập khoa Nội Tiết BV Chợ Rẫy, SGNT (MMSE < 24điểm) trong nghiên cứunày là 85 bệnh nhân (65,89%) THA không có mối tương quan với đa số cácchức năng nhận thức Các yếu tố góp phần ảnh hưởng đến chức năng nhậnthức: phương pháp điều trị, trầm cảm, ĐTĐ có kèm biểu hiện bệnh thần kinhngoại biên, học vấn, giới, tuổi
Trang 331.8 Các nghiên cứu về yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ
1.8.1 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tuổi
Tuổi được biết là yếu tố nguy cơ mạnh nhất của SSTT [8], [3], [6],[10], [30] Trong khi tổn thương có thể phát triển từ trước đó (khoảng 1 trong
20 người bị SSTT ở độ tuổi dưới 65) nhưng khả năng phát triển thành SSTTtăng đáng kể khi chúng ta già đi Trên 65 tuổi, nguy cơ phát triển bệnhAlzheimer hoặc SSTT mạch máu tăng gấp đôi mỗi 5 năm Ước tính rằngSSTT ảnh hưởng đến 1 trong 14 người trên 65 tuổi và là 1 trong 6 người hơn
80 Điều này có thể do các yếu tố liên quan đến lão hóa, chẳng hạn như [15]:
Tăng huyết áp
Tăng nguy cơ bệnh tim mạch (bệnh tim và đột quỵ)
Thay đổi các tế bào thần kinh, DNA và cấu trúc tế bào
Giảm hormone giới tính
Sự suy yếu của hệ thống sửa chữa tự nhiên của cơ thể
Những thay đổi trong hệ thống miễn dịch
1.8.2 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và giới tính
Phụ nữ có nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer nhiều hơn so với namgiới Nguyên nhân vẫn chưa được rõ ràng Điều này gợi ý bệnh Alzheimer ởphụ nữ có liên quan đến sự thiếu hormone estrogen sau khi mãn kinh Tuynhiên, các thử nghiệm liệu pháp thay thế hormone nữ đã không cho thấygiảm nguy cơ phát triển bệnh Alzheimer Độ tuổi bắt đầu sử dụng liệu phápthay thế hormone nữ có thể ảnh hưởng đến kết quả Hormone nữ được kê đơnchủ yếu để giảm triệu chứng thời kỳ mãn kinh, không được khuyến cáo sửdụng để giúp phụ nữ giảm nguy cơ SSTT Đối với SSTT mạch máu, nam giớithực sự có nguy cơ cao hơn so với phụ nữ Điều này là do nam giới có tỉ lệđột quỵ và bệnh tim nhiều hơn, đây là những yếu tố nguy cơ SSTT mạch máu
Trang 34và hỗn hợp Hầu hết các nguyên nhân SSTT khác, giới nam và nữ có nguy cơtương tự [15].
Kết quả các nghiên cứu cho kết quả khác nhau:một số cho thấy giới nữ
có nhiều nguy cơ sa sút trí tuệ hơn giới nam như Lê Nguyễn Nhựt Tín [8],Elizabeth [30], đa số không tìm thấy sự liên quan giữa tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ
và giới tính Nguyễn Kinh Quốc [4] Lương Chí Thành [6] Lê Văn Tuấn [11]Travers [23], Suzanne [84] Các nghiên cứu gần đây cho thấy nam giớilà yếu
tố làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ khi phân tích đa biến, gợi ý các yếu tố xã hộiảnh hưởng lên kết quả mối liên quan giữa giới tính và nguy cơ mắc sa sút trítuệ [58], [38] Vì vậy, ảnh hưởng của giới tính lên nguy cơ SSTT vẫn cònnhiều bàn cãi
1.8.3 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và nơi cƣ trú
Cư dân ở khu vực nông thôn có nhiều đặc điểm khác so với khu vựcthành thị (giáo dục, lối sống, kinh tế, hệ thống y tế), vì vậy tỉ lệ SSTT cũngkhác nhau giữa hai khu vực Tác giả Jianping Jia [40] nghiên cứu trên 10.000người tại Trung Quốc cho kết quả tỉ lệ SSTT cao hơn đáng kể ở các khu vựcnông thôn so với thành thị (6,05% so với 4,40%, P 0,001) Trong đó, tỉ lệbệnh Alzheimer ở nông thôn cao hơn thành thị (4,25% so với 2,44%, P 0,001)nhưng tỉ lệ SSTT mạch máu không khác biệt (1,28% so với 1,61%, P 5,166).Tác giả nhận định sự khác biệt về tỉ lệ Alzheimer giữa nông thôn và thành thịchủ yếu do chênh lệch về trình độ học học vấn
Nhiều nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ SSTT ở khu vực nông thôn caohơn so với thành thị [61], [84] Nghiên cứu của tác giả Suzanne Timmons[84] năm 2015 (5 bệnh viện công và 1 bệnh viện tư) ở Ireland, trên 598 bệnhnhân từ 70 tuổi, kết quả cho thấy tỉ lệ sa sút trí tuệ chung là 24,9%, ở bệnhviện công 28.9%, (nông thôn cao hơn thành phố 37.1 với 26.9%), Okamura[61] tổng hợp từ 21 nghiên cứu tại Nhật Bản, tỉ lệ ở nông thôn đều được báo
Trang 35cáo là cao hơn thành thị Tác giả Lê Văn Tuấn [11] thực hiện nghiên cứu tạihai quận, huyện Hà Nội năm 2010 trên 1680 người từ 60 tuổi cũng cho kếtquả tỉ lệ mắc sa sút trí tuệ ở nông thôn cao hơn thành thị (hai xã ngoại thành5,06% cao hơn so với hai phường nội thành 3,56%), tuy nhiên sự khác biệtchưa có ý nghĩa thống kê.
1.8.4 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tăng huyết áp
Hệ thống tự điều hòa ở não cho phép duy trì liên tục lượng máu nãotrong một phạm vi huyết áp dao động Ở người cao tuổi, có sự thay đổi trong
hệ thống tự điều hòa ở não bộ từ một đường cong sigma thành một đườngthẳng Điều này ngụ ý rằng bất kỳ thay đổi đột ngột huyết áp sẽ dẫn đến một
sự thay đổi nhanh chóng và đáng kể trong lưu lượng máu não Huyết áp cao
có thể thúc đẩy các tổn thương chất trắng quanh não thất và dưới vỏ [73].Những người bị THA kiểm soát kém có nguy cơ cao hơn, bị tổn thương chấttrắng nghiêm trọng hơn so với những người kiểm soát tốt hay không có THA[91]
Trong các nghiên cứu, cao huyết áp thường được báo cáo là một yếu tốnguy cơ sa sút trí tuệ [11], sa sút trí tuệ do mạch máu [81], [66] và đôi khi lànguy cơ bệnh Alzheimer [43] , [35], mặc dù một số nghiên cứu không thấy sựtham gia của THA trong sự phát triển của SSTT, đặc biệt là các nghiên cứutrong bệnh viện [29], [20] , [55]
Các công trình gần đây, nhấn mạnh đến một tác động tích cực của việcđiều trị và kiểm soát HA tốt [60], [51] Một nghiên cứu cắt ngang được tiếnhành ở Bắc Kinh, Trung Quốc trên 2065 NCT, tỉ lệ MCI cao hơn trong nhómTHA (16,5%) so với ở những người huyết áp bình thường (13,1% P = 0,043).Hơn nữa, trong những BN THA, tỉ lệ MCI thấp hơn ở BN được điều trị(14,9%) so với BN không được điều trị (19,9% P = 0,019, OR: 0,60), ở nhóm
BN kiểm soát HA tốt tỉ lệ MCI (13,4%) thấp hơn so với BN không kiểm soát
Trang 36(17,9% P = 0,042, OR: 0,64) [45] Nghiên cứu trên 3.734 đàn ông tại Hawaii,tuổi trung bình 78, đã được theo dõi huyết áp hơn 20 năm trước đó Các nhànghiên cứu thấy rằng cứ tăng mỗi 10 mmHg huyết áp tâm thu thì tăng 9 phầntrăm nguy cơ suy giảm nhận thức [60] Theo nhiều nghiên cứu theo dõi dàihạn 20 năm, nguy cơ mắc SSTT là hơn gấp đôi, nếu huyết áp tâm thu vượtquá 140 mmHg Trong một số thử nghiệm lâm sàng, kiểm soát HA bằngthuốc hạ áp đã được đề xuất để giảm nguy cơ suy giảm nhận thức [59]
Các nghiên cứu can thiệp có nhóm chứng - the Systolic Hypertension inEurope study (Syst-Eur) và Perindopril Protection Against Recurrent StrokeStudy (PROGRESS)- đã chứng minh tác dụng của thuốc hạ áp trên tỉ lệ mắcSSTT Nghiên cứu Syst-Eur thấy rằng điều trị tích cực với nitrendipine,enalapril, và hoặc hydrochlorothiazide làm giảm tỉ lệ mất trí nhớ bằng 50% sovới giả dược Nghiên cứu PROGRESS cho thấy rằng điều trị tích cực vớiperindopril và indapamide có liên quan với giảm nguy cơ suy giảm nhận thức
so với giả dược [65]
1.8.5 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và đái tháo đường
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ĐTĐ có thể làm tăng nguy cơ phát triển
cả bệnh Alzheimer và SSTT mạch máu Theo một phân tích tổng hợp gầnđây, nguy cơ tương đối của bệnh Alzheimer cho người bị ĐTĐ là 1,5 (95%
CI, 1,2-1,8), và sa sút trí tuệ mạch máu là 2,5 (95% CI, 2.1 3.0) Các phân tíchđịnh lượng cho thấy rằng ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ SSTT và suy giảm nhậnthức nhẹ [26]
Điều này được cho là do cơ chế sinh bệnh ĐTĐ có thể làm hỏng cácmạch máu nhỏ trong não, góp phần gây ra SSTT mạch máu, các tổn thươngmạch liên quan đến bệnh đái tháo đường dẫn đến giảm lưu lượng máu đếnnão, có thể là một yếu tố trong sự phát triển bệnh Alzheimer Ngày càngnhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các tế bào não không thể sử dụng
Trang 37insulin thích hợp trong bệnh Alzheimer Ngoài ra, giáo sư Wharton cho rằngđường huyết cao cũng có thể trực tiếp gây tổn hại cho các tế bào não [69].Mặc dù không rõ ràng các yếu tố làm tăng nguy cơ SSTT trong ĐTĐ nhưtăng huyết áp, tăng cholesterol máu, thời gian mắc ĐTĐ, kiểm soát đườnghuyết, sử dụng thuốc, và các yếu tố di truyền như các alen APOE ε4 nhưng tất
cả đều tham gia vào mối liên quan giữa ĐTĐ và nhận thức ở NCT [42] Cácnghiên cứu dọc quy mô lớn gần đây đã tìm thấy mối liên hệ giữa đường huyết
và suy giảm nhận thức, mặc dù vẫn chưa rõ cơ chế kiểm soát đường huyết tốtgiúp ngăn ngừa suy giảm nhận thức [85] Theo phát hiện của Xu WL[94]năm 2009 tại Thụy Điển, ĐTĐ không kiểm soát làm tăng nguy cơ mắcbệnh Alzheimer và SSTT mạch máu, điều này gợi ý một liên kết trực tiếpgiữa không kiểm soát đường huyết và thoái hóa thần kinh Tác giả nghiên cứutrên 1248 người > 75 tuổi, theo dõi 9 năm Kết quả cho thấy bệnh nhân ĐTĐ
có đường huyết bất kì <7,8 mmol / l không tăng nguy cơ SSTT trong khiĐTĐ không kiểm soát và tiền ĐTĐ có liên quan Nghiên cứu ACCORD-MIND trên BN đái tháo đường cao tuổi cho kết quả nồng độ HbA1c nền làmột yếu tố độc lập suy giảm chức năng nhận thức, HbA1c tăng 1% làm giảm0,14 điểm MMSE và suy giảm các chức năng nhận thức như tốc độ thần kinhvận động (Digital symbol substitution test DSST), trí nhớ (Rey AuditoryVerbal Learning test) và chức năng điều hành (Stroop thử nghiệm) [89]
Nghiên cứu bệnh chứng của Lê Văn Tuấn, Phạm Thắng cho thấy bệnhnhân ĐTĐ có tăng nguy cơ SSTT Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho kết quảkhác, các tác giả không tìm thấy mối liên quan giữa ĐTĐ và SSTT: nghiêncứu cắt ngang của tác giả Lương Chí Thành [6] trên 5892 NCT tại cộng đồng,của Dina Zekry [29] trên 349 bệnh nhân tại BV Lão khoa ở Geneva, Bianca[20] trên 639 bệnh nhân nội viện tại Hòa Lan, nghiên cứu dọc theo dõi 5 năm
Trang 38của MacKnight [48] trên 5574 NCT tại Canada [4] Sự khác biệt có thể dothiết kế nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu.
1.8.6 Mối liên quan giữa sa sút trí tuệ và tiền căn tai biến mạch máu não
Hầu hết nghiên cứu cho thấy TBMMN là yếu tố nguy cơ của sa sút trítuệ [1], [11], [4] Ảnh hưởng của đột quỵ thay đổi tùy người và phụ thuộc vàoloại mạch máu bị tổn thương, nguồn gốc và bản chất của tắc mạch, vị trí giảiphẫu (vỏ não với dưới vỏ) và thể tích não bộ bị hư hại Nhồi máu não đơn ổ
có thể đủ để gây ra sa sút trí tuệ nếu nó ảnh hưởng đến phần quan trọng củanão Bất thường mạch máu nhỏ dẫn đến nhồi máu vi thể và thay đổi chất trắngcũng thường gặp trong rối loạn nhận nhận thức do mạch máu Nguyên nhânbất thường mạch máu nhỏ là do xơ vữa và thoái hóa mạch máu [71], [13].Những tổn thương mạch máu não có thể tác động qua lại với những tổnthương thoái hoá thần kinh để gây nên hội chứng SSTT ở những người mànhững tổn thương này không đủ để biểu hiện thành sa sút trí tuệ [72], [70]
1.9 Các nghiên cứu về gánh nặng và nhu cầu của người chăm sóc
1.9.1 Nghiên cứu về gánh nặng của người chăm sóc
Đối với BN SSTT, người chăm sóc có vai trò rất quan trọng đối vớichất lượng cuộc sống của họ Người chăm sóc cũng thường được coi là bệnhnhân thứ hai khi phải cân bằng việc chăm sóc với những nhu cầu khác nhưcông việc, quan hệ xã hội, việc nhà, chăm sóc con cái Họ có nguy cơ phảichịu nhiều gánh nặng, áp lực, trầm cảm và nhiều vấn đề sức khỏe [34]
Nghiên cứu của tác giả Etters [31] từ những tổng hợp tài liệu từ trungtâm điều dưỡng và chăm sóc từ năm 1996-2006 cho thấy việc chăm sóc bệnhnhân SSTT ảnh hưởng sức khỏe người chăm sóc và bệnh nhân sớm phải nhậpviện dưỡng lão Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến gánh nặng chăm sóc như vănhóa, giới tính, tính cách người chăm sóc, mối quan hệ với người bệnh
Trang 39Nghiên cứu của tác giả Sanders [77] trên 85 người chăm sóc tại Mỹnăm 2005 cho thấy 81% trả lời việc chăm sóc mang lại cả căng thẳng và lợiích, 19% cho rằng chỉ mang lại căng thẳng Căng thẳng của người chăm sóc là
do lo lắng, phải cân bằng nhiều nhu cầu khác và cảm thấy quá khả năng trongviệc chăm sóc Ngược lại, tinh thần trách nhiệm, ý thức cá nhân, kiến thứcchăm sóc giúp mang lại lợi ích
Theo nghiên cứu tại Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Mỹ La Tinh [67] trên
673 người chăm sóc của tác giả Prince cho kết quả thang điểm Zarit Burdendao động từ 17.1-27.9 (mức độ gánh nặng nhẹ - trung bình) Các yếu tố ảnhhưởng gánh nặng của người chăm sóc bao gồm rối loạn hành vi và tâm thần,giai đoạn bệnh, nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân.
Nghiên cứu tại Thái Lan năm 2010 của tác giả Muangpaisan [56] trên
88 người chăm sóc cho kết quả thang điểm đánh giá gánh nặng thể chất vàtinh thần chủ yếu dao động từ 0-2, gánh nặng về xã hội và tình cảm từ 0-1(thang điểm từ 0-4) Văn hóa, mối quan hệ với người bệnh, quan điểm sống,
hỗ trợ xã hội ảnh hưởng gánh nặng người chăm sóc
Tác giả Midori Nishio [53], nghiên cứu trên 274 người chăm sóc nam,điểm trung bình của thang điểm Zarit Burden là 32.8 (SD 17.4)
1.9.2 Nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc
Theo tác giả Thân Hà Ngọc Thể [7], 48,3% người chăm sóc muốn tiếpcận thông tin về SSTT thông qua phương tiện Tivi, 18% là qua báo chí,14,6% qua giáo dục cộng đồng
Kết quả nghiên cứu của tác giả Black [21] cho thấy hơn 85% ngườichăm sóc có nhu cầu được hỗ trợ và giáo dục về cách chăm sóc
Tác giả Lee [44] cho thấy người Hàn Quốc có ý thức trách nhiệm nhiềuhơn người Mỹ da trắng Điều này chứng tỏ văn hóa khác nhau giữa hai chủngtộc ảnh hưởng đến việc chăm sóc bệnh nhân
Trang 40Theo kết quả nghiên cứu của Henry[34] , tại Mỹ phần lớn bệnh nhân sasút trí tuệ sống tại cộng đồng(khoảng 70-81%) và khoảng 75% số này đượcchăm sóc bởi gia đình và bạn bè Một trong những khác biệt chính giữa cácnước phát triển và đang phát triển là người bệnh ở nước đang phát triển BNsống trong các hộ gia đình lớn có nhiều thế hệ.
Theo Midori Nishio [53], 13,5% BN SSTT cần sự hỗ trợ từ người khác.40% có nhu cầu ở viện dưỡng lão, 6.4% cần được chăm sóc đặc biệt Ngườichăm sóc có vấn đề về sức khỏe và xã hội, họ bị trầm cảm, căng thẳng, vàcảm thấy không hài lòng, và nhu cầu của họ không được đáp ứng người chămsóc không tìm kiếm được sự tư vấn hoặc hỗ trợ từ bạn bè hoặc những ngườikhác, và họ có thể bị cô lập
Từ kết quả của Muang Paisan [56], các nhu cầu của người chăm sóc từnhiều đến ít là:
1) Đào tạo về cách chăm sóc
2) Đường dây điện thoại tư vấn cách chăm sóc
3) Hệ thống đặc biệt tại bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân SSTT4) Mạng lưới kết nối giữa các người chăm sóc BN SSTT trong BV5) Cung cấp các tài liệu như sổ tay để giáo dục người chăm sóc
6) Nhà dưỡng lão hay trung tâm chăm sóc ban ngày
7) Những chuyến thăm tại nhà từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe8) Các tổ chức để gặp gỡ trao đổi kiến thức và kinh nghiệm chăm sócgiữa những người chăm sóc
9) Hỗ trợ cộng đồng cho các BN SSTT