1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tỉ lệ sa sút trí tuệ của bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu hỗ trợ của gia đình ở khoa lão tại bệnh viện đại học y dược thành phố hồ chí minh

99 29 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong một nghiên cứu ở HồngKông với gần 150 người chăm sóc các bệnh nhân SSTT chỉ có 8% có kiếnthức tốt về bệnh này, trong khi 92% chỉ biết một vài điều hoặc biết rất ít vềSSTT và 10% kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-CHIÊM THỊ NGỌC MINH

TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ CỦA BỆNH NHÂN CAO TUỔI

VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA GIA ĐÌNH

Ở KHOA LÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Nội khoa (Lão Khoa)

Mã số: 60 72 01 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hướng dẫn khoa học: TS THÂN HÀ NGỌC THỂ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

TÁC GIẢ

CHIÊM THỊ NGỌC MINH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm sa sút trí tuệ 3

1.2 Các nguyên nhân sa sút trí tuệ 3

1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ và sa sút trí tuệ 3

1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ 3

1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ 4

1.4 Các công cụ đánh giá 5

1.4.1 Tầm soát suy giảm nhận thức 5

1.4.2 Đánh giá suy giảm chức năng 6

1.5 Các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ 9

1.5.1 Dịch tễ 9

1.5.2 Tiền căn 10

1.6 Sơ lược một số nghiên cứu sa sút trí tuệ trên thế giới 11

1.7 Sơ lược một số nghiên cứu sa sút trí tuệ tại Việt Nam 13

1.8 Kiến thức về sa sút trí tuệ, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc 16

1.9 Đặc điểm khoa Lão bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh 20

Trang 4

Chương 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 25

Chương 3 – KẾT QUẢ 27

3.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu 27

3.1.1 Dịch tễ 27

3.1.2 Tiền căn 27

3.2 Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ 30

3.3 Mối liên quan giữa dịch tễ và tiền căn với sa sút trí tuệ 31

3.3.1 Dịch tễ 31

3.3.2 Tiền căn 33

3.4 Kiến thức về sa sút trí tuệ, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc 36

3.4.1 Kiến thức về sa sút trí tuệ 36

3.4.2 Gánh nặng khi chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 38

3.4.3 Nhu cầu hỗ trợ 39

Chương 4 – BÀN LUẬN 41

4.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu 41

4.1.1 Dịch tễ 41

4.1.2 Tiền căn 42

4.2 Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ 44

4.3 Mối liên quan giữa dịch tễ và tiền căn với sa sút trí tuệ 45

4.3.1 Dịch tễ 45

4.3.2 Tiền căn 48

Trang 5

4.4 Kiến thức về sa sút trí tuệ, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ

của người chăm sóc 54

4.4.1 Kiến thức về sa sút trí tuệ 54

4.4.2 Gánh nặng khi chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ 56

4.4.3 Nhu cầu hỗ trợ 57

KẾT LUẬN 59

KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi thu thập số liệu

Phụ lục 2: Danh sách bệnh nhân

Trang 6

DSM-5 : Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders (Phác

đồ chẩn đoán và thống kê những rối loạn tâm thần kinh, tái bảnlần 5)

HDL : High density lipoprotein (Lipoprotein tỉ trọng cao)

IADL : Instrumental Activities of Daily Living (Các hoạt động hữu ích

hàng ngày)LDL : Low density lipoprotein (Lipoprotein tỷ trọng thấp)

MCI : Mild Cognitive Impairment (Suy giảm nhận thức nhẹ)

MMSE : Mini Mental State Examination (Thang đánh giá nhận thức

ngắn gọn)ZBI : Zarit Burden Interview (Bảng phỏng vấn gánh nặng Zarit)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn nhận thức thần kinh nặng 4

Bảng 1.2: Tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ 5

Bảng 1.3: Thang đánh giá nhận thức ngắn gọn (MMSE) 7

Bảng 1.4: Các hoạt động hữu ích hằng ngày (IADL) 9

Bảng 1.5: Các mục trong bảng câu hỏi về kiến thức của người chăm sóc 19

Bảng 3.1: Đặc đểm tiền căn của dân số nghiên cứu 28

Bảng 3.2: Mối liên quan giữa tuổi và sa sút trí tuệ 31

Bảng 3.3: Mối liên quan giữa giới tính và sa sút trí tuệ 32

Bảng 3.4: Mối liên quan giữa tuổi và sa sút trí tuệ theo giới tính 32

Bảng 3.5: Mối liên quan giữa trình độ học vấn và sa sút trí tuệ 33

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa tiền căn tai biến mạch máu não và sa sút trí tuệ 33

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa tiền căn đái tháo đường và sa sút trí tuệ 34

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa tiền căn tăng huyết áp và sa sút trí tuệ 34

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa tiền căn bệnh tim và sa sút trí tuệ 35

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tiền căn rối loạn lipid máu và sa sút trí tuệ 35

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tiền căn ung thư và sa sút trí tuệ 36

Bảng 3.12: Kiến thức về sa sút trí tuệ của người chăm sóc 37

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu 26

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm giới tính 29

Biểu đồ 3.2: Đặc điểm nơi cư trú 29

Biểu đồ 3.3: Đặc điểm học vấn 29

Biểu đồ 3.4: Đặc điểm nhóm tuổi 30

Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức nhẹ 30

Biểu đồ 3.6: Câu hỏi đánh giá kiến thức của người chăm sóc 37

Biểu đồ 3.7: Mức độ căng thẳng và ảnh hưởng sức khỏe của người chăm sóc 38

Biểu đồ 3.8: Nhu cầu về các phương tiện thông tin 39

Biểu đồ 3.9: Nhu cầu về các đối tượng hỗ trợ 40

Biểu đồ 3.10: Nhu cầu về các loại dịch vụ hỗ trợ 40

Trang 9

Nghiên cứu phân tích tổng hợp của Martin Prince và cộng sự trên toàncầu (1980-2009) cho thấy tỉ lệ SSTT do mọi nguyên nhân ở người từ 60 tuổitrở lên là từ 5% đến 7% [49] Nghiên cứu này cũng ước lượng năm 2010 cókhoảng 35,6 triệu người SSTT trên thế giới và con số này sẽ tăng gấp đôi mỗi

20 năm, tức khoảng 66 triệu người vào năm 2030 và 115 triệu người vào năm

2050 Ở Việt Nam, năm 2011, Vũ Anh Nhị và cộng sự đã thực hiện nghiêncứu mô tả cắt ngang trên 2080 người ≥ 60 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh vớikết quả: tỉ lệ hiện mắc SSTT của người cao tuổi là 4,8% [4] Từ tháng 9/2010đến tháng 9/2012, Lê Văn Tuấn đã thực hiện nghiên cứu trên 1767 bệnh nhân

≥ 60 tuổi tại hai quận huyện Hà Nội ghi nhận: tỉ lệ hiện mắc SSTT của ngườicao tuổi là 4,24 % [16] Trong khi đó ở bệnh viện, con số này lại cao hơnnhiều Tác giả Tống Mai Trang nghiên cứu tỉ lệ suy giảm nhận thức và SSTT

ở bệnh nhân cao tuổi đái tháo đường tại khoa Nội Tiết bệnh viện Chợ Rẫynăm 2010 trên 129 bệnh nhân cho thấy tỉ lệ suy giảm nhận thức là 65,89% vàSSTT là 51,94% [15] Tuy nhiên, chúng ta chưa có nhiều số liệu về SSTT tạikhoa Lão trong bệnh viện, nơi tiếp nhận một lượng lớn các bệnh nhân caotuổi

Trang 10

Ở Việt Nam, hầu hết bệnh nhân SSTT được chăm sóc tại nhà Ngườichăm sóc có vai trò rất quan trọng đối với tình trạng sức khỏe của bệnh nhânSSTT Sự căng thẳng của người chăm sóc làm gia tăng độ nặng của bệnh,mức độ phụ thuộc chức năng, và các vấn đề hành vi của bệnh nhân [42] Tuynhiên, nhiều người chăm sóc cho biết họ không có đủ các kỹ năng và kiếnthức cần thiết để chăm sóc lâu dài cho người bị bệnh mạn tính vì vậy họ cảmthấy thiếu tự tin và không được chuẩn bị [37] Trong một nghiên cứu ở HồngKông với gần 150 người chăm sóc các bệnh nhân SSTT chỉ có 8% có kiếnthức tốt về bệnh này, trong khi 92% chỉ biết một vài điều hoặc biết rất ít vềSSTT và 10% không biết gì về bệnh lý này [30] Hiện nay, ở khoa Lão trongbệnh viện chưa có nhiều nghiên cứu về kiến thức của người chăm sóc cũngnhư về nhu cầu cần hỗ trợ của các gia đình có người thân SSTT.

Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này với mục tiêu sau:

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Khảo sát tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi và nhu cầu cần hỗ trợ của giađình bệnh nhân SSTT tại khoa Lão bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố HồChí Minh

MỤC TIÊU CHUYÊN BIỆT

1- Khảo sát tỉ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở bệnh nhân cao tuổi.2- Khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ và tiền căn với SSTT.3- Đánh giá kiến thức về SSTT, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của ngườichăm sóc bệnh nhân SSTT

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI NIỆM SA SÚT TRÍ TUỆ

SSTT là một hội chứng mắc phải với biểu hiện mất chức năng nhậnthức, thay đổi về hành vi và mất các chức năng xã hội [10]

1.2 NGUYÊN NHÂN SA SÚT TRÍ TUỆ: [9], [10]

- Vỏ não: bệnh Alzheimer, SSTT trán – thái dương, do rượu.

- Dưới vỏ não: SSTT do nhồi máu não nhiều ổ (chất trắng), bệnh ngoại

tháp (Parkinson), liệt trên nhân tiến triển, bệnh Huntington, não úng thủy áplực bình thường, SSTT liên quan AIDS

- Vỏ - dưới vỏ: SSTT do căn nguyên mạch máu, SSTT kèm thể Lewy,

thoái hóa vỏ não – hạch nền

- Lan tỏa: bệnh Prion bao gồm cả bệnh Creutzfeldt- Jakob.

- Các nguyên nhân khác: nguyên nhân chuyển hóa – nhiễm độc (suy

giáp, thiếu Vitamin B12, thuốc/ kim loại), nhiễm trùng (bao gồm giang maithần kinh, nhiễm HIV), chấn thương sọ não, u não, u màng não

1.3 TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ SUY GIẢM NHẬN THỨC NHẸ:

1.3.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán Sa sút trí tuệ: (xem bảng 1.1)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn DSM 5(Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th edition) để chẩnđoán SSTT Tiêu chuẩn này ra đời năm 2013 bởi Hội Tâm Thần Hoa Kỳ [34].Trong DSM 5, họ không dùng thuật ngữ SSTT Thay vào đó họ đưa ra thuậtngữ mới “Các rối loạn nhận thức thần kinh” (Neurocognitive Disorders) Rốiloạn nhận thức thần kinh là tình trạng giảm nhận thức không xuất hiện khi

Trang 12

sinh hoặc trong giai đoạn sớm của cuộc đời và vì vậy đặc trưng bởi sự giảmchức năng so với thời gian trước đây Rối loạn nhận thức thần kinh nặng(Major Neurocognitive Disorders) trong DSM 5 tương ứng với SSTT(Dementia) trong DSM IV nên chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ “Sa sút trítuệ” trong nghiên cứu để thuận tiện khi so sánh với các nghiên cứu khác.

1.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán Suy giảm nhận thức nhẹ: (xem bảng 1.2)

Trong DSM 5, Suy giảm nhận thức nhẹ (Mild Cognitive Impairment)tương đương với Rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ (Mild NeurocognitiveDisorders) nên chúng tôi vẫn sử dụng thuật ngữ “Suy giảm nhận thức nhẹ” đểthuận tiện khi so sánh với các nghiên cứu khác Thể này cuối cùng có nguy cơtiến triển thành Alzheimer hoặc các dạng SSTT khác

Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn nhận thức thần kinh nặng:

Bằng chứng của giảm nhận thức nặng so với trước đây ở một hoặcnhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, học tập

và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận - vận động hoặc nhận thức xã hội)dựa trên:

1- Sự giảm chức năng nhận thức nặng mà bản thân người bệnh hoặcmột người cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ phát hiệnvà

2- Một sự giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâmthần thần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng

Tình trạng giảm nhận thức cản trở sự độc lập của người bệnh trongcác hoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong các hoạtđộng hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men)

Giảm nhận thức không xảy ra trong bệnh cảnh sảng

Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảmnặng hoặc tâm thần phân liệt)

Trang 13

Bảng 1.2: Tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn nhận thức thần kinh nhẹ:

Bằng chứng của giảm nhận thức mức độ vừa so với trước đây ở mộthoặc nhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, họctập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận - vận động hoặc nhận thức xãhội) dựa trên :

1- Sự giảm chức năng nhận thức mức độ vừa mà bản thân người bệnhhoặc một người cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ pháthiện và

2- Một sự giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâmthần thần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng

Tình trạng giảm nhận thức không cản trở sự độc lập của người bệnhtrong các hoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong cáchoạt động hữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men)

Giảm nhận thức không nằm trong bệnh cảnh sảngGiảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảmnặng hoặc tâm thần phân liệt)

1.4 CÁC CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ:

1.4.1 Tầm soát suy giảm nhận thức: (xem bảng 1.3)

Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng thang điểm MMSE (Mini MentalState Examination) để tầm soát suy giảm nhận thức MMSE ra đời năm 1975bởi Marshall F Folstein, Susan E Folstein và Paul R McHugh [48] Nó baogồm 11 yếu tố, chỉ mất khoảng 5- 10 phút vì vậy cộng cụ này thường đượcdùng để tầm soát suy giảm nhận thức trên lâm sàng Thang đo này có 30 điểmđánh giá định hướng, trí nhớ tức thời, trí nhớ ngắn hạn, sự tập trung/tính toán,ngôn ngữ và chức năng định hình Điểm từ 26 trở lên là bình thường, từ 24đến dưới 26 có thể gợi ý giảm nhận thức nhẹ và dưới 24 cho thấy có tình

Trang 14

trạng suy giảm nhận thức phù hợp trong SSTT [42] Bên cạnh đó nghiên cứucủa tác giả Ivan Aprahamian ở những bệnh nhân mù chữ có và không có bệnhAlzheimer cho thấy điểm cắt 17,5 là hội đủ điều kiện để đánh giá người mùchữ có suy giảm nhận thức [39].

Năm 2005, tác giả Nguyễn Kinh Quốc thuộc bộ môn Nội Thần KinhĐại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh đã dịch và chuẩn hóa sang tiếngViệt [6] Hiện nay, thang điểm MMSE là một công cụ hữu ích cho việc sànglọc SSTT Nó đưa ra một cách đánh giá nhanh toàn bộ chức năng nhận thức.Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng thang điểm này chỉ đơn thuần là mộtcông cụ sàng lọc và không đánh giá nhiều thông số tâm thần kinh quan trọng,cũng không giúp phân biệt các thể SSTT khác nhau [3]

1.4.2 Đánh giá suy giảm chức năng: (xem bảng 1.4)

Chúng tôi dùng thang hoạt động hữu ích hàng ngày Lawton gồm cótám mục (Lawton Instrumental Activities of Daily Living scale- IADL) đểđánh giá tình trạng giảm chức năng của bệnh nhân [60] Các mục này baogồm sử dụng điện thoại, đi mua sắm, nấu ăn, giữ nhà, giặt đồ, đi lại bằngphương tiện giao thông, thuốc men và quản lý tài chính Các hoạt động hữuích hàng ngày dùng để đánh giá mức độ độc lập của bệnh nhân Nếu một bệnhnhân cần giúp đỡ ở bất kỳ mục nào trong các hoạt động hữu ích hàng ngày, cónghĩa họ bị giảm chức năng

Trang 15

Bảng 1.3: Thang đánh giá nhận thức ngắn gọn (MMSE)

Định

hướng

Hôm nay ngày mấy? (Dương lịch hoặc âm lịch) /1

Thứ mấy? /1

Tháng mấy? /1

Năm nào? /1

Mùa gì? (nắng hoặc mưa, xuân hạ thu đông) /1

Chúng ta đang ở chỗ này là chỗ nào ? (ở bệnh viện, tên) /1

Khoa lầu gì? /1

Tỉnh/ Thành phố? /1

Miền nào? (Nam, Trung, Bắc) /1

Nước nào? /1

Ghi nhớ Nói tên 3 vật (mỗi vật 1 giây) sau đó yêu cầu bệnh nhân lặp lại (1 điểm cho 1 từ đúng) Con mèo /1 Cây lúa /1 Đồng xu /1 Sự tập trung chú ý và tính toán Làm phép trừ 7 100- 7= ? (93) /1

93- 7= ? (86) /1

86- 7= ? (79) /1

79- 7= ? (72) /1

72- 7= ? (65) /1 Nếu bệnh nhân không làm toán được thì yêu cầu

bệnh nhân đánh vần ngược chữ KHÔNG

Trang 16

Mục Câu hỏi Điểm

/1

Yêu cầu bệnh nhân vẽ lại hình ngũ giác giao nhau /1

TỔNG ĐIỂM /30

Trang 17

Bảng 1.4: Các hoạt động hữu ích hàng ngày (IADL) Bệnh nhân có khả năng tự làm được các việc: Có Không

Nhiều nghiên cứu dựa trên dân số lớn cho thấy không có sự khác biệtgiới tính trong tỷ lệ mắc SSTT Ở tuổi ≥90, tỉ lệ SSTT do mọi nguyên nhân ở

nữ cao hơn nam Tỷ lệ mắc SSTT mạch máu ở nam giới cao hơn so với nữgiới ở mọi nhóm tuổi [22], [32]

Mù chữ là một yếu tố nguy cơ không thể chối cãi đối với SSTT Nó ảnhhưởng đến kết quả của hầu hết các bài kiểm tra nhận thức Nhiều yếu tố khác

có thể được liên kết với các tỷ lệ SSTT cao trong mù chữ: dự trữ nhận thứcthấp, kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh mạch máu não kém, khó khăn trong

Trang 18

việc đánh giá nhận thức, và khả năng đáp ứng kém của các xét nghiệm bệnhhọc thần kinh cho dân số đặc biệt này Các xét nghiệm chức năng phải đi đôivới kiểm tra nhận thức để cải thiện độ chính xác chẩn đoán [57].

cơ độc lập làm tăng tỉ lệ SSTT Thứ hai, có thể có một ảnh hưởng gián tiếpcủa bệnh mạch máu; tổn thương mạch máu trong não có thể tạo điều kiện dẫnđến các thoái hóa thần kinh Thứ ba, các yếu tố mạch máu có thể trực tiếp ảnhhưởng đến sự phát triển của bệnh Alzheimer bằng cách gây ra cái chết của tếbào thần kinh, và sự tích tụ mảng bám và đám rối (Các dấu hiệu bệnh lý củabệnh Azheimer) [58]

Cả ung thư và SSTT được coi là bệnh của người lớn tuổi với dự đoán là

sẽ có sự trùng lắp đáng kể của hai tình trạng này Tuy nhiên, dường như cómột mối liên hệ ngược giữa hai tỉ lệ khi hai tình trạng này cùng xảy ra Tỷ lệSSTT xuất hiện thấp hơn ở những người có tiền căn ung thư Có một sốnghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng cho thấy tỷ lệ ung thư xuất hiện thấphơn ở những bệnh nhân được chẩn đoán có tiền căn SSTT, đặc biệt là bệnhAlzheimer, so với các nhóm chứng tương ứng với nhận thức còn nguyên vẹn

và ngược lại, tỷ lệ SSTT xuất hiện thấp hơn ở những bệnh nhân đã được chẩnđoán có ung thư Liên kết di truyền giữa thoái hóa thần kinh và tăng sinh tếbào đã được đề xuất, nhưng các nghiên cứu dựa vào dân số cũng cho thấy

Trang 19

rằng tình trạng chưa được chuẩn đoán cũng có thể là nguyên nhân giải thíchcho mối liên hệ ngược này [40], [53], [54] Các cá nhân với bệnh ung thư vàSSTT đặt ra những thách thức cho nhân viên y tế do có sự suy yếu khả năngđưa ra quyết định, giao tiếp kém và khó theo dõi sau điều trị [44].

1.6 SƠ LƯỢC MỘT SỐ NGHIÊN CỨU SA SÚT TRÍ TUỆ TRÊN THẾ GIỚI

Ở Anh, năm 1992, Clare Bowler và cộng sự thực hiện nghiên cứu mô tảcắt ngang trên 153 bệnh nhân ≥ 60 tuổi (tuổi trung bình 80,6 ± 7,2; nữ giới54,2%) tại đơn vị Lão khoa bệnh viện Leicester Kết quả: 11,1% bệnh nhân bịsảng, 26,8% có SSTT và 9,2% bị trầm cảm Tác giả ghi nhận 56,9% cáctrường hợp được xác định bởi y tá, 55,5% là do bác sĩ chẩn đoán; khi kết hợpchẩn đoán của y tá với bác sĩ thì khả năng phát hiện bệnh lên đến 75% Điềunày nói lên rằng khả năng phát hiện các rối loạn tâm thần trong dân số có thểđược cải thiện nếu các bác sĩ và y tá cùng chú ý về vấn đề này khi đánh giábệnh nhân [31]

Ở Thụy Sĩ, từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2004, Dina Zekry và cộng sự

đã thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu trên 349 bệnh nhân ≥ 75 tuổi (tuổitrung bình 85,2 ± 6,7; nữ giới 76%) tại bệnh viện Lão khoa và phục hồi chứcnăng Kết quả: 161 (46,1%) bệnh nhân có nhận thức bình thường, 37 (10,6%)

có suy giảm nhận thức nhẹ và 151 (43,3%) có SSTT Tác giả kết luận rằngtrong nhóm bệnh nhân rất cao tuổi, mức độ đa bệnh ở các bệnh nhân SSTT,suy giảm nhận thức và không suy giảm nhận thức là như nhau, nhưng bệnhnhân SSTT có tình trạng dinh dưỡng và chức năng kém hơn [33]

Ở Helsinki – Phần Lan, năm 2004, Laurila JV và cộng sự đã thực hiệnnghiên cứu mô tả cắt ngang trên 219 bệnh nhân ≥ 70 tuổi (59,4% > 85 tuổi;

nữ giới 71,7%) tại 2 bệnh viện Lão khoa Kết quả: 88 (40,2%) bệnh nhân cóSSTT Trong đó, 70/88 (79,5%) bệnh nhân được ghi nhận có suy giảm nhận

Trang 20

thức trong hồ sơ bệnh án, 42/88 (47,7%) bệnh nhân đã được kiểm tra lâmsàng nhận thức, 47/88 (53,4%) đã được chẩn đoán lâm sàng SSTT Các nhànghiên cứu chẩn đoán 77 (35,2%) bệnh nhân bị sảng nhưng chỉ 31/77 (40,3%)trường hợp được ghi nhận trong hồ sơ y tế Trong đó, 64/77 (83,1%) trườnghợp có dấu hiệu của sự nhầm lẫn đã được ghi lại trong các ghi chú của y tá.Tác giả kết luận rằng thiếu sót trong chẩn đoán có thể dẫn đến việc bỏ sótđiều trị đối với 2 bệnh lý này [43].

Ở miền Bắc Luân Đôn - Anh, từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2007,Elizabeth L Sampson và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiền cứutrên 617 bệnh nhân ≥ 70 tuổi (nữ giới 59%) tại khoa cấp cứu của một bệnhviện đa khoa Kết quả: 42,4% bệnh nhân có SSTT (chỉ một nửa được chẩnđoán trước nhập viện) Ở nam giới trong độ tuổi 70-79, tỷ lệ SSTT là 16,4%,

tỷ lệ này tăng lên đến 48,8% ở những người trên 90 Ở nữ giới, 29,6% bệnhnhân tuổi từ 70-79 bị SSTT, tỷ lệ này lên đến 75% ở độ tuổi trên 90 Nhiễmtrùng tiểu và viêm phổi là nguyên nhân chính khi nhập viện của 41,3% sốngười bị SSTT Đây cũng là nguyên nhân làm tăng đáng kể tỷ lệ tử vong với24% số người có suy giảm nhận thức nặng chết trong thời gian nằm viện Tácgiả kết luận rằng tỷ lệ SSTT gia tăng sẽ tác động đến các bệnh viện, đặc biệt

là khoa cấp cứu Cần phải bổ sung nguồn lực cho các dịch vụ chăm sóc giảmnhẹ và trung gian, các dịch vụ liên kết với sức khỏe tâm thần [36]

Ở Queensland - Úc, từ năm 2008 đến năm 2010, Travers C và cộng sự

đã thực hiện nghiên cứu đoàn hệ quan sát tiền cứu trên 493 bệnh nhân ≥ 70tuổi tại 4 bệnh viện cấp cứu Kết quả: 145 (29,4%) bệnh nhân có suy giảmnhận thức, trong đó có 102 (20,7% tổng số) có SSTT Tỷ lệ này tăng lên đến47,4% ở độ tuổi ≥ 90 Tỷ lệ sảng khi nhập viện là 9,7% (23,5% ở bệnh nhânSSTT), và tỷ lệ xuất hiện biến cố sảng sau khi nhập viện là 7,6% (14,7% ởbệnh nhân SSTT) Ở những bệnh nhân lớn tuổi nhập viện cấp tính có sự phổ

Trang 21

biến của bệnh mất trí nhớ và sảng và có khả năng gia tăng với già hóa dân số.

Do đó các thiết kế, biên chế và quy trình của bệnh viện cần được điều chỉnhcho phù hợp để đáp ứng nhu cầu của những bệnh nhân này [62]

Ở Ai-len, từ tháng 5/2012 đến tháng 2/2013, Suzanne Timmons vàcộng sự thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 598 bệnh nhân ≥ 70 tuổi(nữ giới 51,2%) tại 6 bệnh viện đa khoa của tỉnh Cork Kết quả: 25% bệnhnhân bị SSTT (trong các bệnh viện công tỉ lệ này là 29%), có sự khác nhau về

tỉ lệ giữa các bệnh viện (P <0,001) Bệnh nhân SSTT thường lớn tuổi, suyyếu, đa bệnh, suy dinh dưỡng và suy giảm chức năng nhiều hơn (P <0,001).Tình trạng sảng khi nhập viện thường gặp ở bệnh nhân SSTT (57%) Tác giảcũng kết luận rằng SSTT thường gặp ở người lớn tuổi nhập viện cấp cứutrong các bệnh viện nông thôn, là nơi ít có các dịch vụ y tế Hầu hết bệnhnhân SSTT không được chẩn đoán trước đó (chỉ 35,6% được chẩn đoán trướcđó) Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng cần phải đánh giá nhận thức ở ngườicao tuổi khi nhập viện [61]

Ở miền Nam Thái Lan, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2014, VeragiatSiriporn và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 bệnhnhân cao tuổi tại khoa ngoại trú của một bệnh viện tâm thần Kết quả: 52%bệnh nhân có SSTT Trong đó, 52,9% bệnh nhân SSTT có các triệu chứngtâm thần kinh, bao gồm hành vi kích động về đêm (54,8%), trầm cảm(51,9%), và lo âu (48,1%) Các yếu tố có liên quan với SSTT là tuổi già, mức

độ giáo dục thấp và thiếu hoạt động xã hội Do đó, khi đánh giá và điều trịSSTT cần chú ý đến các triệu chứng tâm thần kinh và các yếu tố nguy cơ Cầnthiết lập các hoạt động thích hợp tập trung vào cá nhân và hoàn cảnh gia đìnhcủa họ [65]

Trang 22

1.7 SƠ LƯỢC MỘT SỐ NGHIÊN CỨU SA SÚT TRÍ TUỆ TẠI VIỆT NAM

Năm 2009, Nguyễn Thanh Vân đã thực hiện nghiên cứu bệnh chứngtrên 208 bệnh nhân ≥ 60 tuổi tại bệnh viện Hữu Nghị (khoa Nội A và khoaThần Kinh) và viện Lão khoa Quốc gia (Trung tâm nghiên cứu trí nhớ) Kếtquả: Tỷ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ sau nhồi máu não cao hơn khácbiệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (P= 0,001) SSTT sau nhồi máunão gây tổn thương chức năng thị giác không gian nhiều nhất (60%) Tuổicao, học vấn thấp, nhồi máu não, tăng huyết áp, tổn thương xơ vữa động mạchcảnh là những yếu tố nguy cơ của SSTT Trong đó trên 80 tuổi, tổn thương xơvữa động mạch cảnh là những yếu tố nguy cơ độc lập của SSTT [17]

Tháng 1/2008 đến tháng 1/2010, Phạm Thắng và cộng sự đã thực hiệnnghiên cứu bệnh chứng trên 242 bệnh nhân ≥ 60 tuổi (tuổi trung bình nhómbệnh 70,44 ± 9,37, tuổi trung bình nhóm chứng 70,68 ± 7,46; nữ giới 58,7%)tại bệnh viện Lão khoa Trung ương Tác giả kết luận rằng các yếu tố nguy cơmạch máu làm tăng nguy cơ mắc SSTT bao gồm tăng huyết áp, bệnh tim (suytim, rung nhĩ, bệnh van tim), tổn thương xơ vữa động mạch ngoại vi (độngmạch cảnh và động mạch chi dưới), đái tháo đường và rối loạn đường huyếtđói, rối loạn lipid máu, tăng nồng độ CRP huyết thanh, tăng nồng độHomocysteine huyết thanh Các yếu tố làm giảm nguy cơ mắc SSTT bao gồmhọc vấn cao (học từ đại học trở lên), thường xuyên tham gia các hoạt động thểlực và các hoạt động liên quan đến nhận thức Bệnh nhân SSTT có nồng độβA1-42 và tỷ lệ Aβ 42/Aβ40 trong dịch não tủy giảm; tau protein toàn phầntrong dịch não tủy tăng cao rõ rệt so với nhóm chứng [8]

Năm 2010, Tống Mai Trang đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngangtrên 129 bệnh nhân tiểu đường ≥ 60 tuổi (tuổi trung bình 71,15 ± 7,22; nữ giới66,67%) tại khoa Nội Tiết bệnh viện Chợ Rẫy Kết quả: tỉ lệ suy giảm nhận

Trang 23

thức là 65,89%, trong đó 51,94% SSTT và 15,95% suy giảm nhận thức nhẹ.Trên những bệnh nhân tiểu đường lớn tuổi phải nhập viện, suy giảm nhậnthức và SSTT chiếm tỉ lệ khá cao Tình trạng suy giảm nhận thức liên quanđến nhiều yếu tố điều trị, đời sống tinh thần, học vấn và tuổi tác Cần phải tậptrung đánh giá để phát hiện sớm và điều trị suy giảm nhận thức cũng nhưSSTT ở người tiểu đường lớn tuổi [14].

Năm 2011, Vũ Anh Nhị và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắtngang trên 2080 người ≥ 60 tuổi (74,6% ≥ 65 tuổi; nữ giới 68,2%) tại thànhphố Hồ Chí Minh Kết quả: tỉ lệ hiện mắc SSTT của người cao tuổi là 4,8%

Tỉ lệ hiện mắc bệnh Alzheimer chiếm tỉ lệ cao nhất 2,1%, SSTT hỗn hợp1,5%, SSTT mạch máu 1,1%, và các thể khác 0,1% Các yếu tố liên quan củaSSTT là tuổi cao, trình độ học vấn thấp, tiền căn đái tháo đường, và tiền cănđột quỵ não [4]

Từ tháng 9/2010 đến tháng 9/2012, Lê Văn Tuấn đã thực hiện nghiêncứu trên 1767 bệnh nhân ≥ 60 tuổi (72,9% ≥ 65 tuổi; nữ giới 55,9%) tại haiquận huyện Hà Nội với thiết kế 2 giai đoạn (giai đoạn 1: mô tả cắt ngang; giaiđoạn 2: bệnh chứng) Kết quả: tỉ lệ hiện mắc SSTT của người cao tuổi là4,24% Tác giả kết luận các yếu tố nguy cơ độc lập của SSTT bao gồm taibiến mạch máu não, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu toàn phần, đái tháođường, học vấn thấp, không hoạt động xã hội, không hoạt động thể lực, chế

độ dinh dưỡng không hợp lý, và uống rượu [16]

Tháng 8/2013 - 3/2014, Nguyễn Thị Kim Thoa đã thực hiện nghiên cứu

mô tả cắt ngang trên 103 bệnh nhân sau đột quỵ từ 34-80 tuổi (tuổi trung bình56,72 ± 9,78; nữ giới 35%) tại phòng khám Nội Thần Kinh bệnh viện ChợRẫy và khoa Bệnh lý mạch máu não bệnh viện 115 Kết quả: tỉ lệ suy giảmnhận thức mạch máu chung là 66%, suy giảm nhận thức mạch máu khôngSSTT là 24,3% và SSTT mạch máu là 41,7% Suy giảm nhận thức chiếm tỉ lệ

Trang 24

cao sau đột quỵ Các yếu tố tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng nghềnghiệp trước đột quỵ, các yếu tố nguy cơ mạch máu (đái tháo đường, rungnhĩ), bệnh nhân tổn thương não bán cầu trái, mất ngôn ngữ có liên quan vớitình trạng SSTT sau đột quỵ [12].

Từ tháng 4-8/2015, Thân Hà Ngọc Thể và cộng sự đã thực hiện nghiêncứu mô tả cắt ngang trên 367 người ≥ 60 tuổi (tuổi trung bình 77,5 ± 9,2; nữgiới 59,7%) tại các khoa Lão ở 03 bệnh viện Nguyễn Trãi, Nhân Dân GiaĐịnh và Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh Kết quả ghi nhận tỉ lệSSTT ở các khoa Lão là 24,2% nhưng đại đa số người chăm sóc có kiến thứcthấp về SSTT (92,1%) Hơn một nửa số người chăm sóc nghĩ rằng họ khôngbiết cách chăm sóc người SSTT (50,6%) Phần lớn người chăm sóc muốn học

về bệnh này thông qua ti vi (48,3%), báo chí (18%) và giáo dục cộng đồng(14,6%) [11]

1.8 KIẾN THỨC VỀ SSTT, GÁNH NẶNG VÀ NHU CẦU HỖ TRỢ CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC

Ước tính có khoảng 36 triệu người SSTT trên toàn thế giới năm 2010,tăng gần gấp đôi mỗi 20 năm, khoảng 66 triệu người vào năm 2030 và lên đến

115 triệu người năm 2050 [20], [50] Người bị SSTT có nhu cầu chăm sóc caohơn từ người thân trong gia đình, nhu cầu hỗ trợ từ xã hội Việc nhận được sự

hỗ trợ tốt từ gia đình và xã hội có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đến chấtlượng của cuộc sống của người nhận chăm sóc Tuy nhiên, người chăm sócbệnh nhân SSTT thường gặp nhiều khó khăn trong việc cân bằng giữa chămsóc người bệnh với những nhu cầu của họ như chăm sóc con cái, nghề nghiệp

và các mối quan hệ Họ có nguy cơ cao bị gánh nặng, stress, trầm cảm vànhững vấn đề sức khỏe khác [27]

Có nhiều yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng lên người chăm sóc Gánhnặng của người chăm sóc liên quan đến mức độ suy giảm khả năng cùng với

Trang 25

các rối loạn hành vi của người bệnh Việc chăm sóc bệnh nhân SSTT căngthẳng hơn nhiều so với chăm sóc những người bị tàn tật về thể xác [46].Người chăm sóc phải đối mặt với rất nhiều trở ngại vì họ vừa phải chăm sócbệnh nhân vừa phải cân bằng các yêu cầu khác như nuôi nấng, chăm sóc concái và các mối quan hệ khác Họ có nguy cơ cao đối với gánh nặng, sang chấntâm lý, trầm cảm và vấn đề sức khỏe khác Ước đoán từ 46% đến 83% ngườichăm sóc bệnh nhân SSTT bị trầm cảm khi chăm sóc [19].

Phần lớn người chăm sóc cho biết có các vấn đề về sức khỏe thể lực vàgiảm sút sức khỏe chung so với nhóm không phải chăm sóc bệnh nhân.Những người có những vấn đề tâm lý và căng thẳng nhiều hơn sẽ có sức khỏethể lực kém và nguy cơ tử vong cao hơn Người chăm sóc thường thiếu sựgiao tiếp và trợ giúp từ xã hội và có cảm giác bị cách ly xã hội, phải hy sinhcác đam mê và sở thích giải trí, giảm bớt thời gian dành cho bạn bè và giađình, từ bỏ hoặc giảm việc làm [46] Người chăm sóc do phải hy sinh nhiềuhơn các mối tương tác xã hội nên sẽ có các dấu hiệu tâm lý tiêu cực hơn

Bản phỏng vấn gánh nặng chăm sóc của Zarit (Zarit BurdenInterview/ZBI) là bộ công cụ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới để đolường gánh nặng của người chăm sóc Bộ công cụ ZBI được phát triểnbởi Zarit và cộng sự năm 1980 [59], được chứng minh có độ tin cậy cao và

đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu qua nhiều nghiên cứu đánh giágánh nặng của người chăm sóc bệnh nhân SSTT [46], [59]

Bảng phỏng vấn gánh nặng Zarit (Zarit Burden Interview) được sửdụng nhiều trong đánh giá mức độ căng thẳng của người chăm sóc gồm:

- Người bệnh đòi hỏi phục vụ nhiều hơn nhu cầu

- Không có thời gian dành cho bản thân

- Căng thẳng giữa chăm sóc nguời bệnh và thực hiện các nghĩa vụ vớigia đình

Trang 26

- Rắc rối vì hành vi của nguời bệnh

- Bực bội khi ở cạnh nguời bệnh

- Người bệnh làm ảnh huởng xấu tới mối quan hệ với các thành viênkhác

- Lo lắng vì những nguy cơ sẽ xảy ra với bệnh nhân

- Cảm thấy người bệnh bị phụ thuộc vào mình

- Căng thẳng khi ở bên người bệnh

- Sức khỏe bị giảm sút

- Cuộc sống riêng tư bị giảm bớt

- Cuộc sống xã hội bị giảm bớt

- Cảm thấy bất tiện khi bạn bè đến thăm bệnh nhân

- Nguời bệnh trông đợi chăm sóc nếu chỉ có thể nhờ một nguời chămsóc duy nhất

- Không đủ tiền dể chăm sóc người bệnh

- Không thể chăm sóc nguời bệnh lâu hơn nữa

- Mất kiểm soát cuộc sống bản thân do phải chăm sóc bệnh nhân

- Mong muốn nguời khác chăm sóc hộ

- Không chắc chắn về những gì đã làm cho bệnh nhân

- Cần làm nhiều hơn nữa cho bệnh nhân

- Có thể chăm sóc bệnh nhân tốt hơn nữa

- Cảm thấy gánh nặng chăm sóc bệnh nhân thế nào

Khi tiến hành phỏng vấn người chăm sóc, hỏi lần lượt 22 câu hỏi.Người chăm sóc trả lời từng câu hỏi bằng cách cho điểm dựa trên thang điểmLikert 5 mức độ (0 = không bao giờ, 1 = hiếm khi, 2 = thỉnh thoảng, 3 = kháthường xuyên, 4 = luôn luôn) [64]

Tổng điểm nằm trong khoảng từ 0 đến 88 điểm với các mức: từ 0 đến

20 điểm: không có hoặc có gánh nặng nhẹ; 21 đến 40 điểm: gánh nặng mức

Trang 27

độ trung bình; 41 đến 60 điểm: gánh nặng nghiêm trọng; 61 đến 88 điểm:gánh nặng rất nghiêm trọng.

Tuy nhiên, bộ phỏng vấn Zarit có nhiều câu hỏi mang tính chất riêng tưkhiến người chăm sóc không muốn trả lời Do đó chúng tôi chỉ chọn 2 câutrong số 22 câu để khảo sát mức độ căng thẳng và ảnh hưởng đến sức khỏecủa người chăm sóc

Theo Patricia McParland và cộng sự, kiến thức về SSTT là một yếu tốảnh hưởng đến gánh nặng của người chăm sóc [52] Nghiên cứu của tác giảSchindler cho thấy những người chăm sóc có kiến thức nhận thức cao thì ít bịgánh nặng hơn người có kiến thức nhận thức thấp [55] Chúng tôi sử dụngbảng câu hỏi trong nghiên cứu về Kiến thức và Thái độ về SSTT của BắcIreland (2010) để đánh giá kiến thức của người chăm sóc SSTT [52] Có 7mục với hai lựa chọn trong mỗi mục là đúng hoặc sai Trả lời đúng từ 4 câutrở xuống được xếp kiến thức thấp, trả lời đúng 5 câu xếp kiến thức trungbình và từ 6 câu trở lên xếp kiến thức cao (xem bảng 1.5) Theo kết quả củanghiên cứu ở Bắc Ireland, kiến thức trung bình là 35%, kiến thức cao là 25%,tuỳ thuộc vào tuổi và trình độ học vấn của người chăm sóc, tỉ lệ nghịch vớigánh nặng chăm sóc

Bảng 1.5: Các mục trong bảng câu hỏi về kiến thức của người chăm sóc

SSTT là một bệnh của não

SSTT có thể điều trị khỏi

Có thuốc có thể giúp ích trong điều trị SSTT

Có nhiều loại SSTT

SSTT là một phần của tuổi già bình thường

SSTT là tên khác của Alzheimer

Những người có chế độ ăn tốt và tập thể dục ít bị SSTT hơn

ĐúngSaiĐúngĐúngSaiSaiĐúng

Trang 28

Việc chăm sóc các bệnh nhân cao tuổi bị SSTT gây gánh nặng cực kỳlớn về thể chất, tâm lý, đời sống xã hội và kinh tế của người chăm sóc So vớinhững bệnh nhân không SSTT thì các bệnh nhân có SSTT thường lớn tuổihơn, phải uống nhiều thuốc và cần các nhu cầu như đi lại, phục vụ các bữa ăn

và quản lý thuốc men [24] Các dịch vụ hỗ trợ sẽ giúp giảm bớt căng thẳng vàgánh nặng cho người chăm sóc Trong phần hỏi về nhu cầu hỗ trợ, chúng tôihình thành 4 câu hỏi Câu đầu tiên hỏi người chăm sóc “Bạn có nhu cầu cần

hỗ trợ không?” với 2 lựa chọn “có” và “không” Để tìm hiểu về nhu cầu thôngtin của người chăm sóc chúng tôi đưa ra câu hỏi “Bạn muốn học vềSSTT/Alzheimer thông qua phương tiện nào?” với các câu trả lời gợi ý là

“giáo dục cộng đồng”, “khóa huấn luyện”, “tivi”, “báo chí”, “tờ rơi” Theo tácgiả Lê Văn Tuấn, các đối tượng người thân, người thuê, người làm công tác

xã hội là những đối tượng được xem là thường xuyên, trực tiếp tiếp xúc vàchăm sóc người cao tuổi tại hộ gia đình [16] Do đó, ở câu thứ ba, chúng tôihỏi người chăm sóc muốn đối tượng nào hỗ trợ cho họ với bốn lựa chọnngười thân, hàng xóm, người thuê, người làm công tác xã hội Câu hỏi thứ tưhỏi về loại dịch vụ hỗ trợ với 3 lựa chọn nhà dưỡng lão, chăm sóc ban ngày,thuê người chăm sóc tại nhà

1.9 ĐẶC ĐIỂM KHOA LÃO BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mỗi ngày, khoa Lão bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh cókhoảng 40 bệnh nhân Trong đó, ngoài điều trị cho bệnh nhân là người caotuổi, tại đây còn là nơi chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư Vì vậy,việc khảo sát gánh nặng và nhu cầu của người chăm sóc được thực hiện trênmột tỉ lệ khá lớn những bệnh nhân vừa có sa sút trí tuệ vừa có bệnh ung thư đikèm Đây cũng là đặc điểm khác biệt riêng của khoa Lão bệnh viện Đại học YDược TP Hồ Chí Minh so với các nghiên cứu được thực hiện ở nơi khác

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Dân số nghiên cứu: bệnh nhân đang điều trị tại khoa Lão

Dân số chọn mẫu: tất cả bệnh nhân đã nhập vào khoa Lão

Tiêu chuẩn chọn bệnh: bệnh nhân ≥ 60 tuổi

Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bị sảng, yếu liệt, run nặng, giảm thính –thị lực nặng, thoái hóa khớp nặng, tiền căn tâm thần (trầm cảm, tâm thần phânliệt), không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả

- Địa điểm: Khoa Lão – Chăm sóc giảm nhẹ bệnh viện Đại Học Y

Dược Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2015 đến tháng

4/2016

- Cách chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện.

- Cỡ mẫu tính theo công thức:

Trang 30

- Phương pháp thu thập số liệu: phỏng vấn bệnh nhân và người chăm

sóc, các yếu tố dịch tễ và tiền căn được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án và giấy raviện

- Công cụ thu thập số liệu: bảng thu thập số liệu.

- Các biến số thu thập bao gồm:

Tuổi: biến số định lượng không liên tục, đơn vị tính là tuổi Phân thành

3 nhóm: 60-69, 70-79, ≥80

Giới: biến số định tính có 2 giá trị: nam và nữ.

Nơi cư trú: biến số định tính có 2 giá trị: thành phố Hồ Chí Minh và

tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh: bao gồm tất cả các quận, huyện trực thuộcthành phố Hồ Chí Minh Tỉnh: bao gồm các tỉnh thành khác trong cả nước

Trình độ học vấn: biến số định tính có 2 giá trị: mù chữ và không mù

chữ Mù chữ: không thể đọc hoặc viết Không mù chữ: có thể đọc và viếtđược [5], [39]

Tiền căn tai biến mạch máu não: biến số định tính có 2 giá trị: có và

không Bệnh nhân được xem là có tiền căn tai biến mạch máo não khi đã đượcchẩn đoán và điều trị tai biến mạch máu não trước đó Bệnh nhân được xem làkhông có tiền căn tai biến mạch máu não khi không có chẩn đoán và điều trịtai biến mạch máu não trước đó

Tiền căn đái tháo đường: biến số định tính có 2 giá trị: có và không.

Bệnh nhân được xem là có tiền căn đái tháo đường khi đã được chẩn đoán vàđiều trị trước đó Bệnh nhân được xem là không có tiền căn đái tháo đườngkhi không có chẩn đoán và điều trị đái tháo đường trước đó

Tiền căn tăng huyết áp: biến số định tính có 2 giá trị: có và không.

Bệnh nhân được xem là có tiền căn tăng huyết áp khi đã được chẩn đoán vàđiều trị trước đó Bệnh nhân được xem là không có tiền căn tăng huyết áp khikhông có chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp trước đó

Trang 31

Tiền căn bệnh tim: các bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, bệnh van

tim, rung nhĩ, suy tim được chúng tôi gọi chung là bệnh tim trong nghiên cứu.Đây là biến số định tính có 2 giá trị: có và không Bệnh nhân được xem là cótiền căn bệnh tim khi đã được chẩn đoán và điều trị bệnh tim trước đó Bệnhnhân được xem là không có tiền căn bệnh tim khi không có chẩn đoán và điềutrị bệnh tim trước đó

Tiền căn rối loạn lipid máu: biến số định tính có 2 giá trị: có và

không Bệnh nhân được xem là có tiền căn rối loạn lipid máu khi đã đượcchẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu trước đó Bệnh nhân được xem làkhông có tiền căn rối loạn lipid máu khi không ghi nhận có rối loạn lipid máutrước đó

Tiền căn ung thư: biến số định tính có 2 giá trị: có và không Bệnh

nhân được xem là có tiền căn ung thư khi đã được chẩn đoán và điều trị ungthư trước đó Bệnh nhân được xem là không có tiền căn ung thư khi không cóchẩn đoán và điều trị ung thư trước đó

Tiền căn SSTT: biến số định tính có 2 giá trị: có và không Bệnh nhân

được xem là có tiền căn SSTT khi đã được chẩn đoán và điều trị SSTT trước

đó Bệnh nhân được xem là không có tiền căn SSTT khi không có chẩn đoán

và điều trị SSTT trước đó

Suy giảm nhận thức: biến số định tính có 2 giá trị: có và không Bệnh

nhân được xem là có suy giảm nhận thức khi bệnh nhân có điểm MMSE < 24(đối với bệnh nhân mù chữ là < 18) Bệnh nhân được xem là không có suygiảm nhận thức khi bệnh nhân có điểm MMSE ≥ 24 (đối với bệnh nhân mùchữ là ≥ 18)

Suy giảm chức năng: biến số định tính có 2 giá trị: có và không Bệnh

nhân được xem là có suy giảm chức năng khi bệnh nhân cần sự giúp đỡ ở bất

cứ mục nào trong các hoạt động hữu ích hàng ngày (IADL) Bệnh nhân được

Trang 32

xem là không có suy giảm chức năng khi bệnh nhân không cần sự giúp đỡ ởbất cứ mục nào trong các hoạt động hữu ích hàng ngày (IADL).

Suy giảm nhận thức nhẹ: biến số định tính với 2 giá trị: có và không.

Bệnh nhân được xem là có suy giảm nhận thức nhẹ khi bệnh nhân có suygiảm nhận thức và không có suy giảm chức năng Bệnh nhân được xem làkhông có suy giảm nhận thức nhẹ khi bệnh nhân không có suy giảm nhậnthức

Sa sút trí tuệ: biến số định tính với 2 giá trị: có và không Bệnh nhân

được xem là có SSTT khi bệnh nhân có suy giảm nhận thức và có suy giảmchức năng Bệnh nhân được xem là không có SSTT khi bệnh nhân có suygiảm nhận thức nhẹ hoặc không có suy giảm nhận thức

Kiến thức về SSTT: biến định tính với 3 giá trị: thấp, trung bình, cao.

Thấp: trả lời đúng từ 4 câu trở xuống

Trung bình: trả lời đúng 5 câu

Cao: trả lời đúng từ 6 câu trở lên

Gánh nặng của người chăm sóc:

“Bạn có cảm thấy căng thẳng khi chăm sóc bệnh nhân không?” và

“Bạn có cảm thấy việc chăm sóc bệnh nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của bạnkhông?” là các biến định tính với 5 giá trị: không bao giờ, hiếm khi, thỉnhthoảng, thường xuyên, gần như luôn luôn

Trang 33

“Bạn cần đối tượng nào hỗ trợ chăm sóc bệnh nhân?” là biến định tính

có 4 giá trị: người thân, hàng xóm, người thuê, người làm công tác xã hội’

“Bạn muốn loại dịch vụ hỗ trợ nào?” là biến định tính với 4 giá trị: nhàdưỡng lão, chăm sóc ban ngày, thuê người chăm sóc tại nhà, khác

- Các bước thực hiện trên một bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và

tiêu chuẩn loại trừ:(xem sơ đồ 1.1)

Bước 1: tầm soát suy giảm nhận thức Chúng tôi dùng thang MMSE

tìm ra các bệnh nhân có điểm <24 nếu bệnh nhân biết chữ hoặc <18 nếu bệnhnhân mù chữ

Bước 2: đánh giá suy giảm chức năng theo thang điểm hoạt động chức

năng IADL

Bước 3: xác định chẩn đoán suy giảm nhận thức nhẹ hay SSTT dựa vào

tiêu chuẩn DSM 5 Bệnh nhân bị SSTT khi có suy giảm chức năng theoIADL Ngược lại, nếu bệnh nhân không có suy giảm chức năng thì thuộcnhóm suy giảm nhận thức nhẹ

Bước 4: ở những bệnh nhân đã xác định có SSTT, chúng tôi tiến hành

phỏng vấn người chăm sóc để đánh giá kiến thức về SSTT và nhu cầu hỗ trợ.Nếu không gặp được người chăm sóc, chúng tôi sẽ phỏng vấn qua điện thoại

2.3 ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này chỉ phỏng vấn bệnh nhân và người chăm sóc Không

có bất cứ sự can thiệp nào

Người tham gia nghiên cứu được giải thích rõ lý do và tự nguyện thamgia nghiên cứu theo phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu

2.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU

Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0

Các biến số định tính được mô tả theo tỷ lệ phần trăm

Trang 34

Các biến số định lượng được mô tả dưới dạng trị số trung bình cộng trừ

độ lệch chuẩn

Trong phân tích thống kê tìm mối liên quan giữa biến độc lập và phụthuộc, kiểm định Chi bình phương (2) được dùng cho biến số định tính,kiểm định T-student được dùng cho biến số định lượng, kiểm định Fisherđược dùng trong trường hợp cỡ mẫu nhỏ không dùng được 2 Kết quả sosánh khác nhau có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu

Đánh giá kiến thức, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc

Ko giảm chức năng

IADL=0 Suy giảm nhận

Đánh giá kiến thức, gánh nặng và nhu cầu hỗ trợ của người chăm sóc

Ko giảm chức năng

IADL=0 Suy giảm nhận

thức nhẹ

Không suy giảm nhận thức

Phân tích số liệu

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ

Qua khảo sát 230 bệnh nhân cao tuổi thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh và loạitrừ bệnh từ tháng 4/2015 đến tháng 4/2016, chúng tôi ghi nhận kết quả theomục tiêu như sau:

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA DÂN SỐ NGHIÊN CỨU:

3.1.1 Dịch tễ:

3.1.1.1 Tuổi: (xem biểu đồ 3.4)

Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 73,4 ± 8,94 (nhỏ nhất: 60, lớnnhất: 101) Tỉ lệ bệnh nhân trong các nhóm tuổi 60-69, 70-79, ≥80 lần lượt là37,8% (87 người), 37% (85 người), 25,2% (58 người)

3.1.1.2 Giới: (xem biểu đồ 3.1)

Trong tổng số 230 người tham gia nghiên cứu, tỉ lệ nữ giới chiếm49,6% (114 người) và nam giới là 50,4% (116 người)

3.1.1.3 Nơi cư trú: (xem biểu đồ 3.2)

Chúng tôi ghi nhận có 72 người (31,3%) cư trú tại thành phố Hồ ChíMinh và 158 người (68,7%) cư trú ở tỉnh

3.1.1.4 Học vấn: (xem biểu đồ 3.3)

Số lượng mù chữ trong nghiên cứu là 42 người (18,3 %), số lượngkhông mù chữ 188 người (81,7%)

3.1.2 Tiền căn: (xem bảng 3.1)

3.1.2.1 Tai biến mạch máu não:

Có 12 người (5,2%) có tiền căn tai biến mạch máu não

Trang 36

Có 41 người (17,8%) có tiền căn bệnh tim

3.1.2.5 Rối loạn lipid máu:

Có 22 người (9,6%) có tiền căn rối loạn lipid máu

3.1.2.6 Ung thư:

Có 142 người (61,7%) có tiền căn ung thư

3.1.2.7 SSTT:

Có 10 người (4,3%) có tiền căn SSTT

Bảng 3.1: Đặc điểm tiền căn của dân số nghiên cứu Tiền căn Số lượng (người) Tỉ lệ (%)

Tai biến mạch máu não 12 5,2Đái tháo đường 47 20,4Tăng huyết áp 92 40Bệnh tim 41 17,8Rối loạn lipid máu 22 9,6Ung thư 142 61,7

Trang 37

Biểu đồ 3.1: Đặc điểm giới tính

Biểu đồ 3.2: Đặc điểm nơi cƣ trú

Biểu đồ 3.3: Đặc điểm học vấn

Trang 38

Biểu đồ 3.4: Đặc điểm nhóm tuổi

3.2 TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ SUY GIẢM NHẬN THỨC NHẸ:

Trong tổng số 230 người được đưa vào khảo sát, kết quả có 121 ngườikhông SGNT (52,6%), 109 người (47,4%) có suy giảm nhận thức với 62người có SSTT (27% tổng số), 47 người có SGNTN (20,4% tổng số) (xembiểu đồ 3.5)

Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ Sa sút trí tuệ và Suy giảm nhận thức nhẹ

Trang 39

3.3 MỐI LIÊN QUAN GIỮA DỊCH TỄ VÀ TIỀN CĂN VỚI SA SÚT TRÍ TUỆ:

3.3.1 Dịch tễ:

3.3.1.1 Tuổi:

Nhóm tuổi ≥80 có tỉ lệ SSTT cao nhất (44,8%) Nhóm tuổi 60-69 có tỉ

lệ SSTT thấp nhất (13,8%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,0005).Tuổi trung bình của nhóm có SSTT (78,08 ± 9,895) lớn hơn tuổi trung bìnhcủa nhóm không có SSTT (71,68 ± 7,923) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê(p<0,000001) (xem bảng 3.2)

Bảng 3.2: Mối liên quan giữa tuổi và SSTT Tuổi SSTT (N = 62) Không SSTT (N = 168) Kiểm định, p

Tuổi trung

bình 78,08 ± 9,895 71,68 ± 7,923

T test,p<0,000001

Nhóm

tuổi

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%)

60-69 12 13,8 75 86,2

2,p<0,0005

Trang 40

Bảng 3.3: Mối liên quan giữa giới tính và SSTT

Giới

tính

SSTT (N = 62)

Không SSTT (N = 168) Kiểm

định p <

0,0005

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%)

Số lượng (người)

Tỉ lệ (%)

Nữ 43 37,7 71 62,3

2Nam 19 16,4 97 83,6

Bảng 3.4: Mối liên quan giữa tuổi và SSTT theo giới tính Nhóm

tuổi

SSTT (N = 62)

Không SSTT (N = 168) Kiểm định, p

Nữ Số lượng

(người) Tỉ lệ (%)

Số lượng (người) Tỉ lệ (%)

2,p<0,000160-69 6 15 34 85

70-79 19 40,4 28 59,6

≥80 18 66,7 9 33,3

Nam

2,p>0,05

60-69 6 12,8 41 87,2

70-79 5 13,2 33 86,8

≥80 8 25,8 23 74,2

Ngày đăng: 12/04/2021, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm