1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống của những người nghiện heroin đang điều trị methadone tại trung tâm y tế cần giuộc tỉnh long an

103 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng cuộc sống của những người nghiện heroin đang điều trị methadone tại trung tâm y tế cần giuộc tỉnh long an
Tác giả Trần Thị Cẩm Thu
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Thiện Thuần
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Y Tế Công Cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ dịch vụ y tế
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ---TRẦN THỊ CẨM THU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN HEROIN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ CẦN GIU

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-TRẦN THỊ CẨM THU

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI NGHIỆN HEROIN ĐANG ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM Y TẾ CẦN

GIUỘC TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ DỊCH VỤ Y TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

BỘ Y GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

quả, số liệu thu thập được trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

PGS.TS Trần Thiện Thuần

Tác giả

Trần Thị Cẩm Thu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC BẢNG 3

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4

Mục tiêu chung 4

Mục tiêu cụ thể 4

Dàn ý nghiên cứu 6

Chương 1: TỔNG QUAN Y VĂN 7

1.1.Tình hình sử dụng Heroin 7

1.2.Một số khái niệm 8

1.2.1.Chất ma túy 8

1.2.2.Nghiện Heroin 9

1.2.3.Hậu quả do nghiện heroin 10

1.2.4.Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện heroin 10

1.3.Một số yếu tố liên quan tới người nghiện Heroin 10

1.3.1.Heroin là gì 10

1.3.2.Dược lý học 10

1.3.3.Cách sử dụng 10

1.3.4.Các hình thức sử dụng 10

1.4.Các phương pháp điều trị nghiện Heroin 13

1.5.Điều trị nghiện Heroin bằng thuốc methadone 15

1.6.Chất lượng cuộc sống 22

1.6.1.Khái niệm về chất lượng cuộc sống 22

1.6.2.Chất lượng cuộc sống của người nghiện Heroin 22

1.6.3.Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống của người nghiện Heroin 23

1.6.3 Thang đo chất lượng cuộc sống WHO – BREF và độ tin cậy 24

Trang 5

1.7.Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống tương tự 27

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 33

2.1.Thiết kế nghiên cứu 33

2.2.Đối tượng nghiên cứu 33

2.2.1.Dân số chọn mẫu 33

2.2.2.Dân số nghiên cứu 33

2.2.3.Cỡ mẫu 34

2.2.4.Kỹ thuật chọn mẫu 35

2.2.5.Tiêu chí chọn mẫu 36

2.3.Thu thập số liệu 37

2.3.1.Phương pháp thu thập số liệu 37

2.3.2.Công cụ thu thập số liệu 37

2.3.3.Liệt kê và định nghĩa biến số 38

2.4.Kiểm soát sai lệch 43

2.4.1.Kiểm soát sai lệch lựa chon 43

2.4.2.Kiểm soát sai lệch thông tin 43

2.5.Xử lý và phân tích số liệu 44

2.5.1.Nhập liệu và làm sạch số liệu 44

2.5.2.Phân tích số liệu 44

2.6.Vấn đề Y đức 45

2.7.Kế hoạch thực hiện 46

Chương 3: KẾT QUẢ DỰ KIẾN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1.1 Các đặc điểm mẫu nghiên cứu không thay đổi theo thời gian… 47 Bảng 3.1.2 Những đặc tính về kinh tế - xã hội như tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp thay đổi theo thời gian:……….……….48 Bảng 3.1.3 Các đặc tính về quá trình điều trị Methadone có thay đổi theo thời gian nghiên cứu……… 49

Bảng 3.2.1 Điểm chất lượng cuộc sống của từng nội dung theo từng thời điểm….50

Bảng 3.2.2 Điểm chất lượng sống của từng lĩnh vực theo từng thời điểm………… 52 Bảng3.2.3.1.Các yếu tố về dân số xã hội liên quan đến lĩnh vực sức khỏe thể chất:52 Bảng 3.2.3.2 Mối liên quan giữa lĩnh vực sức khỏe thể chất với các đặc điểm về quá trình điều trị………53 Bảng3.2.3.1 Mối liên quan về dân số xã hội đến lĩnh vực sức khỏe tinh thần:… 55 Bảng3.2.3.2 Mối liên quan giữa lĩnh vực sức khỏe tinh thần với các đặc điểm về quá trình điều trị……… 56 Bảng 3.2.4.1 Mối liên quan giữa lĩnh vực xã hội với các đặc điểm về dân số xã hội……… 58 Bảng 3.2.4.2 Mối liên quan giữa lĩnh vực xã hội với các đặc điểm về quá trình điều trị……… Bảng 3.2.4.1 Mối liên quan giữa lĩnh vực môi trường với các đặc điểm về dân số xã hội……… 60 Bảng 3.2.4.1 Mối liên quan giữa lĩnh vực môi trường với các đặc điểm về quá trình điều trị……… 62 Bảng 3.2.6 Mối liên quan giữa chất lượng sống chung với các đặc điểm về quá trình điều trị……… 63

Trang 8

TIẾNG ANH

(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)

chứng

suy giảm miễn dịch mắc phải ở người)

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiện Heroin rất nguy hiểm không những gây lệ thuộc cả thể chất vàtinh thần.[44] Người nghiện heroin có nguy cơ cao bệnh tật và tử vong Họ cóthể bị phụ thuộc Heroin trong nhiều năm, bị nghèo đói và sức khỏe kém, đặcbiệt là do dùng thuốc quá liều và tăng nguy cơ nhiễm vi rút suy giảm miễn dịch

ở người (HIV) và virus viêm gan C (HCV).[41]

Do vậy, trên thế giới, người ta đã phải triển khai các biện pháp giảm thiểutác hại, và tăng cường sự đáp ứng rộng rãi của cộng đồng giúp phòng ngừa vàđiều trị dựa vào cộng đồng để giải quyết được một phần tình trạng lệ thuộcheroin này, và giúp tránh được những nguy hại do lệ thuộc chất dạng thuốcphiện nói chung, đặc biệt giúp phòng ngừa dịch HIV có liên quan đến lạm dụngchất dạng thuốc phiện tại các nước có nguồn lực thấp như Việt Nam Điều trịduy trì bằng methadone (MMT, Methadone maintenance treatment) đã tỏ ra cóhiệu lực (efficacy) giúp cải thiện sức khỏe về mặt thể chất và tinh thần củanhững người đang nhận điều trị do bị lệ thuộc chất dạng thuốc phiện.[22, 39]Tại Việt Nam, Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằngthuốc Methadone chính thức triển khai thí điểm tại TP Hải Phòng và TP HồChí Minh từ năm 2008 Theo đánh giá của Bộ Y tế, kết quả đánh giá bước đầu

đã ghi nhận những kết quả tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân, giađình và xã hội [4]

Chương trình Methadone triển khai tại Việt Nam đã chứng minh tính hiệuquả sau khi triển khai thí điểm Điều trị bằng Methadone làm giảm đáng kể hành

vi sử dụng ma túy Trước khi tham gia điều trị, 100% bệnh nhân sử dụng heroinsau 6 tháng điều trị tỷ lệ này giảm xuống còn 14,05%, sau 12 tháng còn 9,05%

và sau 24 tháng chỉ còn 8,41% số bệnh nhân tiếp tục sử dụng ma túy Qua đó,đem lại nhiều lợi ích về an ninh, xã hội Tỷ lệ bệnh nhân vi phạm pháp luật đãgiảm từ 40,8% xuống còn 1,34% sau 24 tháng tham gia điều trị Tỷ lệ bệnh nhân

Trang 10

có các hành vi bán và cầm cố đồ đạc, nói dối hoặc thậm chí cưỡng ép người thân

để có tiền sử dụng ma túy giảm nhanh chóng từ 90% xuống còn 1,4% sau 12tháng điều trị [19, 30]

Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc bằng thuốc methadonebắt đầu được triển khai tại tỉnh Long An từ tháng 10 năm 2013 đến nay TỉnhLong An đã mở rộng chương trình từ cơ sở thí điểm đến nay có 3 cơ sở trên địabàn tỉnh bao gồm: Thành Phố Tân An, Đức Hòa và Cần Giuộc

Cần Giuộc là huyện phía đông của tỉnh Long An, diện tích tự nhiên là

giáp huyện Nhà Bè thuộc thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Huyện CầnĐước Tình hình nghiện heroin càng tăng, với những hậu quả nặng nề của việc

lệ thuộc heroin ngày càng nhiều, chi phí cai nghiện tốn kém vì thời gian điều trịkéo dài, trong khi đời sống người dân còn nhiều khó khăn Với vị trí thuận tiệngiao thông phòng khám methadone thuộc TTYT huyện Cần Giuộc được thànhlập từ tháng 6 năm 2014 đến nay đã đón nhận 167 người nghiện đến từ nhiềuhuyện khác nhau: Cần Đước, Bình Chánh, Nhà Bè… và hiện đang điều trị 152bệnh nhân Số bệnh nhân đến với chương trình ngày một gia tăng, tuy nhiênnguồn ngân sách cho công tác điều trị và dự phòng đang bị hạn chế vì dự án phichính phủ hỗ trợ ngân sách cho huyện này đang trong giai đoạn kết thúc Các cơ

sở điều trị nghiện heoin bằng thuốc methadone đã có một vài nghiên cứu về tỷ

lệ tuân thủ điều trị, chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, nghiên cứu của bệnh nhânnghiện Heroin chỉ dừng lại ở nghiên cứu cắt ngang mô tả tại một thời điểmkhông xác định định mối liên quan giữa chất lượng cuộc sống của những ngườinghiên heroin với việc tuân thủ điều trị, đặc điểm dân số học… Do đó chưa xácđịnh được các yếu tố thực sự có liên quan đến chất lượng cuốc sống [20, 32, 33]

Nghiên cứu đánh giá CLCS của bệnh nhân nghiện heroin đang điều trịmethadone tại TTYT Cần Giuộc là phù hợp với nhu cầu hiện tại Đồng thời kếtquả nghiên cứu sẽ xác định được một số yếu tố có thể tác động đến chất lượng

Trang 12

Câu hỏi nghiên cứu

Tuân thủ điều trị có làm tăng Điểm chất lượng cuộc sống của nhữngngười nghiện Heroin đang điều trị Methadone ở phòng khám Methadone huyệnCần Giuộc tỉnh Long An trong thời gian 3 tháng hay không?

nghiện Heroin đang điều trị Methadone tại TTYT huyện Cần Giuộc giữa thời

cứu)

kinh tế gia đình, hôn nhân, nghề nghiệp, học vấn, Tình trạng nhiễm HIV, HBV,HCV, lao, tác dụng phụ, nơi cư trú, thời gian điều trị Methadone

Trang 13

Điểm chất lượng cuộc sống

sau 3 tháng nghiên cứu T 3

Sử dụng:

Rượu/bia Thuốc lá

Quá trình điều trị methadone:

Trang 14

ma túy đang gây ra một mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh ở nhiều khu vựctrên thế giới về số người sử dụng ma túy, theo báo cáo của UNDOC toàn cầu

có từ 172 đến 250 triệu người từng sử dung ma túy trái phép ít nhất một lầntrong năm Trong đó, khoảng 143 đến 190 triệu người sử dụng cần sa; khoảng từ

15 đến 21 triệu người sử dụng ma túy có nguồn gốc từ thuốc phiện; 16 đến 21triệu người sử dụng cocaine; 16 đến 51 triệu người sử dụng dược chất ma túynhóm amphetamine; 12 đến 24 triệu người sử dụng ma túy tổng hợp estasy.Những con số trên đây là tính cả những người từng một lần thử qua ma túy ( cóthể chưa nghiện) còn về số người nghiện ma túy kinh niên, UNODC ước tínhvào khoảng 18 đến 38 triệu người Hằng năm có khoảng 200.000 người chết [4,

12, 26]

1.1.2.Tại Viêt Nam

Báo cáo tình hình ma túy năm 2011 tại Việt Nam cũng nêu rõ: lạm dụngcác chất từ thuốc phiện, đặc biệt là tiêm chích heroin vẫn đang là vấn đề bức xúc

ở Việt Nam, là nguyên nhân chính lây nhiễm HIV và gây nhiều hậu quả nghiêmtrọng đối với cộng động theo báo cáo số người ở Việt Nam tính đến năm 2014

Trang 15

có trên 143.000 người, trong đó số người sử dụng heroin chiếm 83,1% Trên 54

% người sử dụng heroin ở độ tuổi 30-45 [9, 10]

1.1.3 Tại Long An

Toàn tỉnh hiện đang quản lý 1.728 người nghiện ma túy (nam 1.686, nữ42), tăng 454 người nghiện so với năm 2013 (1.728/1.274 người) Trong đó,đang cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh 386người; trại tạm giam Công an tỉnh 09 người; ngoài xã hội 1.333 người (chiếm tỷ

lệ 77,14%) Toàn tỉnh hiện có 4.167 bệnh nhân nhiễm HIV, 2.421 bệnh nhânchuyển sang AIDS, 1.320 ca tử vong; số bệnh nhân còn sống đang quản lý là1.501, trong đó 1.351 bệnh nhân hiện sống ở địa phương và 150 bệnh nhân ởtrường, trại đóng trên địa bàn tỉnh Có 185/192 xã, phường, thị trấn phát hiệnbệnh nhân nhiễm HIV chiếm tỷ lệ 96,4% Toàn tỉnh hiện có 1.421 cơ sở kinhdoanh dịch vụ, trong đó 30% số cơ sở kinh doanh dịch vụ có nguy cơ dẫn đến tệnạn mại dâm và khoảng 1.600 nữ tiếp viên có hành vi mại dâm (chủ yếu làngười ngoài tỉnh) Nhằm thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống ma túy,mại dâm, HIV/AIDS, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể trên địabàn triển khai đồng bộ nhiều biện pháp và đã đạt được những kết quả rất tíchcực.[15]

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.2.1 Chất ma túy

Chất ma túy (CMT) là những chất gây nghiện, nếu sử dụng lặp lại nhiều lần

sẽ dẫn đến tình trạng lệ thuộc vào chất đó do tác động của chất đó tác động vào

hệ thống thần kinh trung ương Có nhiều cách phân loại CMT, phân loại theonguồn gốc CMT bao gồm các chất như:

- Chất tự nhiên (nhựa quả thuốc phiện, lá coca, cây cần sa)

- Chất bán tổng hợp (heroin)

- Chất tổng hợp (amphetamin, methamphetamin, LSD…)

Phân theo sự hợp pháp hay không hợp pháp bao gồm:

Trang 16

Heroin được người Anh tổng hợp từ morphin Ban đầu heroin được dùng đểchữa bệnh, cai nghiện thuốc phiện, tuy nhiên một thời gian sau người ta pháthiện ra heroin khi vào cơ thể phân hủy thành morphin và gây nghiện mạnh gấpnhiều lần so với morphin Chính vì thế heroin trở thành chất ma túy được sửdụng nhiều nhất và gây tác hại nhiều nhất cho loài người.

1.2.2 Nghiện heroin

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO):[20]

 Nghiện heroin là tình trạng lệ thuộc về mặt Tâm thần, hoặc thể chất hoặc

cả hai, khi một người sử dụng heroin lặp lại theo chu kỳ, hoặc sử dụng kéo dàiliên tục chất heroin và tình trạng lệ thuộc này làm thay đổi cách ứng xử, bắtbuộc người dùng luôn cảm thấy bức bách phải dùng heroin lại để có được cáchiệu ứng heroin về mặt Tâm thần và thoát khỏi sự khó chịu, vật vã do heroin gâynên

 Nghiện ma túy: là thèm muốn bất thường, kéo dài, không kiểm soát đượcđối với các chất ma tuý được viện cớ tìm kiếm sự khoái cảm hoặc một hiệu quảgiảm động hoặc tăng động gây hậu quả về tâm thần và xã hội 43

 Dung nạp: Là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất được biểu hiệnbằng sự cần thiết phải tăng liều để đạt được cùng hiệu quả

 Sự phụ thuộc về cơ thể: Là sự đòi hỏi của cơ thể liên quan tới việc đưavào đều đặc một chất hóa học ngoại sinh cần thiết để duy trì sự cân bằng của cơthể Sự phụ thuộc này được biểu hiện bằng hội chứng cai hay hội chứng thiếuthuốc khi ngừng hoặc giảm đáng kể liều đang sử dụng

Trang 17

 Sự phụ thuộc vào tinh thần: Được đặc trưng bởi một xung động sử dụngchất ma túy theo cách chu kỳ hoặc liên tục với một mục đích tìm kiếm khoáicảm hoặc làm giảm căng thẳng

 Sự nhiễm độc hệ TKTU cấp: một trạng thái bệnh lý nhất thời tiếp theo sauviệc sử dụng rượu hoặc chất tác động tâm thần khác, dẫn đến các rối loạn ý thức,nhận thức, tri giác, cảm xúc hay hành vi hoặc các chức năng và đáp ứng sinh lýkhác

 Biểu hiện lâm sàng nghiện CDTP: Morphin, heroin và các chế phẩm của

nó tác động chủ yếu trên hệ TKTU và Ruột đồng thời tác động như là chất đồngvận với receptor muy và cũng có ái lực với receptor delta và kappa đưa đến hậuquả: giảm đau, ngủ gà, thay đổi khí sắc, ức chế hô hấp, giảm nhu động ruột,buồn nôn, nôn, rối loạn chức năng nội tiết và hệ TKTV, gây khoái cảm(euphoria).[11, 14] [25]

1.2.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện heroin

Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10).[5] (phần các rốiloạn Tâm thần) từ F10- F19, ít nhất phải có 3 trong 6 triệu chứng sau trong vòngmột năm trở lại đây:

- Thèm muốn mãnh liệt dùng heroin (lệ thuộc về mặt Tâm thần)

- Mất khả năng kiểm soát việc dùng heroin

- Ngừng sử dụng heroin sẽ xuất hiện hội chứng cai (lệ thuộc về mặt thể chất)

- Liều heroin sử dụng ngày càng tăng (trạng thái dung nạp cao)

- Luôn tìm cách, tìm cho bằng được heroin, xao nhãng nhiệm vụ và các thích thúkhác

- Biết tác hại nặng nề nhưng vẫn tiếp tục sử dụng heroin

1.3.MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI NGHIỆN HEROIN

1.3.1.Khái niệm Heroin

- Nằm trong nhóm dẫn chất gây nghiện dạng thuốc phiện

- Tên hóa học: diacetylmorphine

- Được chiết xuất từ nhựa của cây hoa thuốc phiện

Trang 18

- Heroin nguyên chất hơn còn gọi là bột màu trắng, có vị đắng

- Dạng kém nguyên chất hơn còn gọi là “cơm đen”, là chất màu nâu, đen

- Ảnh hưởng đến hệ viền gây ra thay đổi trạng thái cảm xúc

- Morphin được tạo ra trong quá trình chuyển hóa heroin

- Heroin -> monoacetylmorphine(MAM) -> morphin

- Heroin và MAM xâm nhập vào não dễ dàng, vì vậy có tác động rất nhanh

- Heroin được đào thải qua nước tiểu dưới dạng morphin tự do và kết hợp

- Các chất chuyển hóa của heroin xuất hiện trong nước tiểu trong vòng khoảng 48giờ sau khi sử dụng

1.3.3 Tác dụng của heroin[3]

Heroin dược sử dụng bằng nhiều cách

- Tiêm vào tỉnh mạch

- Hút

- Hít dạng bột qua đường mũi

- Sử dụng riêng heroin hoặc pha trộn với các loại chất gây nghiện khác

Tác dụng của heroin

- Tác dụng tức thời: cảm giác sung sướng, giảm đau, giảm cảm giác đói vàham muốn tình dục, nguồn ngủ, có thể buồn nôn và nôn nhất là ở những

Trang 19

người mới sử dụng, nhịp thở và mạch chậm hơn, giảm huyết áp, đồng tử

co nhỏ, da nóng đỏ ngứa, khô miệng, khô da và mắt

1.3.4.Các hình thức sử dụng ma túy:

- Sử dụng thỉnh thoảng (occasional)

- Lạm dụng (abus)

- Sử dụng thường xuyên (nghiện: dependence)

Nghiên nhân nghiện ma túy:

- Đa nguyên nhân

1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN HEROIN

1.4.1 Điều trị cắt cơn nghiện heroin [4, 13]

 Cai khô (khan)

Người nghiện mức độ nhẹ và vừa có thể tự giảm dần liều heroin đang dùng, rồitiến tới cắt hoàn toàn

 Cắt cơn nghiện bằng các thuốc hướng thần

Ngày 23/6/1995 Bộ Y tế ban hành “hướng dẫn điều trị nghiện heroin bằng cácthuốc hướng thần”

 Cắt cơn nghiện bằng catapressan (clonidine)

Tăng cường hoạt động ức chế trên thụ thể alpha 2, ức chế dẫn truyềnnoradrenaline giúp cơ thể trở về trạng thái cân bằng và mất hội chứng cai

 Cắt cơn nghiện bằng methadone

Trang 20

- Ngày thứ 2 bằng tổng liều của ngày đầu.

- Ngày thứ 3 trở đi thì giảm liều, mỗi lần giảm 5 mg Khi liều methadone còn 20

mg thì có thể ngừng hẳn methadone và chuyển qua dùng catapressan

 Cắt cơn nghiện bằng phương pháp điện châm

Thực hiện theo quyết định số 5467/2003/QĐ-BYT ngày 21/10/2003 vềviệc ban hành “hướng dẫn áp dụng phương pháp điện châm điều trị hỗ trợ cainghiện ma túy”

1.4.2 Điều trị chống tái nghiện heroin

 Điều trị tại trung tâm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

Việc cai nghiện heroin tại trung tâm và cộng đồng được thực hiện theonghị định số 96/2012/NĐ-CP và các văn bản có liên quan.[13]

 Các mô hình tại cộng đồng

- Mô hình cai nghiện tại cộng đồng và quản lý sau cai của tỉnh Sơn La

- Mô hình cai nghiện theo cụm xã cho đồng bào dân tộc vùng cao ở tỉnhLào Cai Mô hình trung tâm cai nghiện cấp huyện

- Mô hình các câu lạc bộ giúp đỡ những người nghiện, cai nghiện và táihòa nhập cộng đồng “Các câu lạc bộ sau cai”

 Điều trị thay thế bằng buprenorphine, LAMP.[12, 17]

- Buprenorphine là một chất đồng vận một phần với CDTP (đồng vận ở liềuthấp, đối vận ở liều cao), có tác dụng giảm đau

- Điều trị thay thế bằng LAMP (Levo Alpha Acetyl Methadone)

Trang 21

+ LAAM có tác dụng kéo dài, hấp thu hoàn toàn qua đường uống, tác dụng nhưmethadone Lợi ích của LAMP là tác dụng kéo dài hơn methadone nên chỉ cầnuống 3 lần/ tuần thay vì uống 7 lần /tuần trong liệu trình methadone

 Điều trị bằng chất đối vận với opioid (naltrexone)

Naltrexone là chất đối vận với các chất dạng thuốc phiện, được Martin

sử dụng từ năm 1973 Liệu pháp dùng chất đối vận với các CDTP bằngnaltrexone bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam tại Viện sức khỏe Tâm thần, bệnhviện Bạch Mai, bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng và một số cơ sở khác

 Điều trị nghiện heroin bằng liệu pháp tâm lý

Trong phức bộ điều trị nghiện, liệu pháp tâm lý (LPTL) đóng vai trò vôcùng quan trọng và là một liệu pháp không thể thiếu Liệu pháp ám thị Liệupháp thư giãn luyện tập Liệu pháp hành vi- nhận thức Liệu pháp gia đình Liệupháp nâng đỡ Các nhóm tự lực (self-help)

 Điều trị thay thế bằng methadone

Phương pháp điều trị thay thế có nghĩa là thay thế nghiện một chất mạnhbằng một chất nhẹ hơn, thay thế sử dụng bất hợp pháp một chất gây nghiệnthành sử dụng hợp pháp một chất gây nghiện có kiểm soát

Methadone là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như cácCDTP khác (đồng vận) nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương vàkhông gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán hủy dài (trung bình là 24giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứngcai Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài

1.5 Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone:

1.5.1 Khái niệm:

Điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone là một điều trịlâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạngsiro nên giúp dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan

Trang 22

B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động vàtái hoà nhập cộng đồng

1.5.2 Mục đích của điều trị thay thế các CDTP bằng thuốc Methadone:

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiệncác CDTP bằng thuốc methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau:

• Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan

B, C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều cácCDTP và hoạt động tội phạm

• Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP

• Cải thiện sức khỏe và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộcsống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội

1.5.3 Dƣợc lực học của Methadone:

Methadone là một chất đồng vận với các CDTP, tác động chủ yếu trên cácthụ thể muy (μ) ở não Tương tự như các CDTP khác, methadone có tác dụnggiảm đau, giảm ho, yên dịu, giảm hô hấp và gây nghiện nhưng gây khoái cảmyếu

Trang 23

• Thời gian bán hủy trung bình 24 giờ

• Đặc tính dược động học của methadone thay đổi theo từng người nghiện

Chuyển hóa:

• Chuyển hóa chủ yếu ở gan thông qua men cytochrome P450

• Chất chuyển hóa của methadone không có tác dụng

Thải trừ:

• Thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, ngoài ra còn qua phân, mồ hôi và nướcbọt

• Độ thanh thải ở thận giảm khi pH nước tiểu tăng

Tác dụng không mong muốn:

• Các tác dụng không mong muốn phổ biến của methadone bao gồm táobón, khô miệng và tăng tiết mồ hôi Các triệu chứng: rối loạn giấc ngủ, buồnnôn, nôn, giãn mạch và gây ngứa, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, chứng vú to ởđàn ông, rối loạn chức năng tình dục, giữ nước, tăng cân ít gặp hơn và có thểkhông liên quan đến Methadone

• Hầu hết những người nghiện CDTP có ít tác dụng không mong muốn, tuynhiên triệu chứng táo bón, rối loạn chức năng tình dục, tăng tiết mồ hôi, có thểvẫn tồn tại trong quá trình điều trị

Chỉ định: Điều trị thay thế nghiện các CDTP bất hợp pháp.

Trang 24

Tƣ vấn điều trị:

Tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội đóng vai trò quan trọng trong điều trị thaythế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone nhằm mục đích tăng cường ý thứctrách nhiệm, tuân thủ điều trị, dự phòng tái nghiện, hướng tới lối sống lànhmạnh và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng

Tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội bao gồm: tư vấn cá nhân; tư vấn và giáodục nhóm; tư vấn cho gia đình và nhóm hỗ trợ đồng đẳng trước, trong và sauquá trình điều trị

Tư vấn và hỗ trợ tâm lý xã hội cần dựa trên cơ sở tự nguyện Tư vấn viênphải được đào tạo về tư vấn điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone

• Hàng tuần cơ sở điều trị phải thảo luận, đánh giá những bệnh nhân chưa

ổn định hoặc có diễn biến đặc biệt

Các giai đoạn điều trị:

• Giai đoạn dò liều: Thường là 2 tuần đầu điều trị

• Giai đoạn điều chỉnh liều: từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thểkéo dài từ 1 đến 3 tháng

• Giai đoạn điều trị duy trì: liều duy trì (liều có hiệu quả tối ưu):

Là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây khoái cảm củaheroin (hết thèm nhớ heroin)

Liều hiệu quả tối ưu khác nhau ở từng người bệnh, một số bệnh lý đồngdiễn, tình trạng đặc biệt (có thai, đa nghiện) và sử dụng các thuốc cótương tác với methadone

Trang 25

Liều duy trì thông thường: 60 - 120mg/ngày

Liều duy trì thấp nhất 15 mg/ngày; Liều cao nhất có thể lên tới 200-300mg/ngày Cá biệt có những người bệnh liều cao hơn 300mg/ngày

• Tiêu chuẩn đánh giá liều duy trì là phù hợp: liều điều trị duy trì là phù hợpkhi người bệnh có những dấu hiệu sau:

1.6 CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA NGƯỜI NGHIỆN HEROIN

1.6.1 Chất lượng sống là gì?

Theo tổ chức Y tế thế giới: CLS là nhận thức của mỗi cá nhân về vị trí củamình trong cuộc sống, phù hợp về bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà cánhân đó đang sống cũng như trong mối quan hệ đối với những thước đo, nhữngmục đích, những kì vọng và các mối quan hệ xã hội [2, 11, 16, 40, 42]

Trang 26

1.6.2 Chất lượng sống của người nghiện heroin

Sức khoẻ là một trạng thái thoải mái về thể chất, Tâm thần và xã hội,cuộc sống đó được đặt trong một điều kiện sống cụ thể, sức khoẻ không chỉ đơnthuần không có bệnh tật mà các vấn đề xã hội và an sinh cũng phải tốt và thoải

đa chiều bao gồm các lĩnh vực thể chất, tâm thần và xã hội Những tiến bộ về ykhoa và y tế công cộng đã đưa đến những phương pháp điều trị bệnh tốt hơn vàlàm giảm tỷ lệ tử vong, do đó, cũng là điều hợp lý khi những người đo lường kếtquả sức khỏe bắt đầu đánh giá sức khỏe của con người không chỉ trên cơ sở bảotồn mạng sống, mà còn là nâng cao chất lượng cuộc sống của họ

Nghiện heroin đã được xem là một bệnh mạn tính, vì thế những ngườinghiện heroin đang mắc một bệnh mạn tính, vì là bệnh mạn tính nên phải điềutrị lâu dài trong nhiều năm Đối với người nghiện, không chỉ đối diện với nhữngvấn đề về thể chất mà người nghiện heroin phải gánh chịu, ngoài ra ngườinghiện còn phải chịu áp lực của sự kỳ thị trong xã hội, học tập, khả năng tìmviệc làm, tái hoà nhập với cộng đồng sau khi điều trị

1.6.3 Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống:

Hầu hết các công cụ đánh giá CLCS đều được thiết kế dưới dạng bộ câuhỏi Cách xây dựng và đánh giá thang điểm tương ứng gồm nhiều khía cạnh(multidimensional) và nhiều mức độ (multilayered)

Điều này có nghĩa là giá trị thực của CLCS không thể đo trực tiếp mà cóthể đo lường gián tiếp bằng cách hỏi một loạt các câu hỏi đơn lẻ, sau đó nhóm

Trang 27

Các thang đo CLCS được chia làm 2 nhóm chính là:

Công cụ đo lường tổng quát: là những công cụ được thiết kế để đo

lường cho tình trạng sức khỏe của dân số chung Các công cụ này được áp dụng

đo lường trong các dạng khác nhau của bệnh, khuyết tật, suy giảm và các phươngpháp điều trị

Bảng 1.1 Một số công cụ đo lường CLCS tổng quát

1 World Health Orgnization Quality Of Life 100

The Quality Of Life abbreviated Questionnaire

Medical Qutcomes Study-derivedquality of life

Sickness Impact Profile

WHOQOL-BREFMOS

Công cụ đo lường cho bệnh cụ thể: là những công cụ được thiết kế để

đo lường cho các đối tượng đã có một bệnh cụ thể Những công cụ này đủ nhạy

Trang 28

1.6.4 Thang đo chất lượng cuộc sống WHO – BREF và độ tin cậy:

Chất lượng cuộc sống (quality of life) là số đo được dùng để đánh giá sứckhỏe của con người bao gồm các yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội Hiện nay,

có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng để đo chất lượng sống của con người, mộttrong những công cụ đó là WHOQOL-BREF đã được WHO xây dựng và pháttriển từ năm 1991, xuất phát từ thang đo WHOQOL-100 Thang đo WHOQOL-

100 cho phép đánh giá chi tiết từng khía cạnh cá nhân liên quan đến chất lượngcuộc sống, tuy nhiên trên thực tế được đánh giá là khá dài và không phù hợptrong một số trường hợp nhất định Chính vì vậy công cụ WHOQOL-BREF đãđược phát triển và được đánh giá là một phiên bản ngắn hơn của thiết bị gốc,thuận tiện hơn để sử dụng trong các nghiên cứu lớn hoặc các thử nghiệm lâmsàng bao gồm 26 câu hỏi, giúp đo lường các lĩnh vực sau: sức khỏe thể chất, sứckhỏe tâm lý, các mối quan hệ xã hội và môi trường.[18]

Bảng 1.2 Các lĩnh vực được đo lường bằng công cụ WHO – BREF [20]

Đau và khó chịu Ngủ và nghỉ ngơi Công suất làm việc

Trang 29

Cảm xúc tích cực Lòng tự trọng Tâm linh / Tôn giáo / Tín ngưỡng cá nhân Suy nghĩ, học tập, trí nhớ và sự tập trung

Các mối quan hệ xã hội

và cá nhân: 3 câu gồm

Q20, Q21 và Q22

Hỗ trợ xã hội Hoạt động tình dục

Môi trường: 8 câu gồm

Q8, Q9, Q12, Q13,

Q14, Q23, Q24 và Q25

Tự do, an toàn về thể chất và \an ninh

Y tế và chăm sóc xã hội: khả năng tiếp cận

và chất lượng Môi trường gia đình

Cơ hội để thu thập thông tin và kỹ năng mới Tham gia và cơ hội cho các hoạt động vui chơi giải trí

Môi trường vật lý (không khí, tiếng ồn, giao thông)

Đi lại

Trên thế giới cũng có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện để xác địnhtính tin cậy và giá trị của công cụ trên Điển hình là nghiên cứu xác định độ tincậy và hiệu lực bộ công cụ WHOQOL-BREF của Gail Low Đây là một nghiêncứu cắt ngang thu thập tại 20 quốc gia tham gia vào việc nghiên cứu WHOQOL-OLD Dòng 2003 Các mẫu nghiên cứu gồm 4.593 người trưởng thành tuổi trungbình, 72.10 tuổi (phạm vi = 60 đến 100 năm tuổi); 42,8% là nữ Các WHOQOL-BREF đo chất lượng cuộc sống và sức khỏe hài lòng Bộ câu hỏi đánh giá tới sựthay đổi về thể chất, tâm lý xã hội, và sự phát triển tâm lý Độ tin cậy nhất trongnghiên cứu này là 0,86 cho toàn bộ công cụ, và 0,81 đối với sự thay đổi về thể

Trang 30

chất, 0,74 và 0,81 cho thể chất và tâm lý, tương ứng Các WHOQOL-BREF làmột phiên bản ngắn của WHOQOL-100 được thiết kế để đo QOL chung các nềnvăn hóa Nó đã được dịch sang 50 ngôn ngữ Quy mô bao gồm bốn lĩnh vực: vật

lý, tâm lý, các mối quan hệ xã hội và môi trường Mỗi mục được ghi trên 5 điểmLikert quy mô liên quan đến hai tuần qua, và điểm số cao hơn chỉ ra QOL caohơn Giá trị hệ số Cronbach alpha cho các lĩnh vực vật lý, tâm lý, xã hội và môitrường WHOQOL-BREF là 0,86, 0,79, 0,63, 0,83 và tương ứng có độ tin cậytốt.[38]

Tại Việt Nam tính tin cậy và giá trị của thang đo WHOQOL-BREF đãđược thể hiện qua nghiên cứu “Mức độ tin cậy và tính giá trị của WHOQOL-BREF ở nữ sinh viên điều dưỡng: Một nghiên cứu dẫn đường” do tác giả Tô GiaKiên và cộng sự thực hiện tại Khoa điều dưỡng- Kỹ thuật y học- Đại học y dượcTPHCM Kết quả nghiên cứu cho thấy bộ câu hỏi WHOQOL-BREF bằng tiếngViệt có hệ số Cronbach„s Alpha (độ tin cậy) lần 1 của nghiên cứu là 0,85 và lần

2 là 0,89 cho thấy mức độ tin cậy của bộ câu hỏi là tốt (alpha>0,8).[1, 8, 11]

Ngoài ra tính giá trị của thang đo WHOQOL-BREF mới đây cũng đượcthể hiện qua nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai nghiên cứu “chấtlượng cuộc sống bệnh nhân điều trị methadone tại phòng khám methadone quận

6 TP Hồ Chí Minh Tiến hành đánh giá hệ số Cronbach‟s Alpha để cho thấy bộcông cụ này có tính giá trị Kết quả phân tích cho thấy hệ số Cronbach‟s Alphacủa từng lĩnh vực đều cao, cụ thể sức khỏe thể chất là 0,8, sức khỏe tinh thần là0,7, quan hệ xã hội là 0,6, môi trường sống là 0,8 Kết quả phân tích cho thấy hệ

số Cronbach‟s Alpha đạt 0,9 cho toàn bộ bộ câu hỏi [11]

Kết quả từ các nghiên cứu trên cho thấy độ tin cậy và tính giá trị củaWHOQoL-BREF đã được đánh giá tại rất nhiều nơi trên thế giới Các kết quảđều cho bộ công cụ này có độ tin cậy và tính giá trị tốt để có thể được dùng đánhgiá chất lượng cuộc sống của người nghiện heroin Hơn nữa đây là bộ công cụ

được WHO khuyến cáo sử dụng Do đó, bộ công cụ WHOQOL-BREF sẽ

Trang 31

được chọn để đánh giá chất lượng cuộc sống của người nghiện heroin trong nghiên cứu này.

1.6 Một số nghiên cứu về chất lượng cuộc sống ở người nghiện Heroin

1.6.1 Nghiên cứu nước ngoài

Vào năm 2008, Peng-Wei Wang và cộng sự nghiên cứu trên 242 người

nghiện heroin có và không có nhiễm HIV được điều trị Methadone tại các phòngkhám methadone ở miền Nam Đài Loan So sánh giữa kết quả điều trị trước vàsau khi MMT trong người sử dụng heroin có và không nhiễm HIV Trong nhữngngười tham gia không bị nhiễm HIV, mức độ nghiêm trọng của sự lệ thuộcheroin, gây hại do sử dụng heroin và các triệu chứng trầm cảm và tỷ lệ sử dụngheroin hiện giảm đáng kể trong thời gian 3 tháng MMT; thêm vào đó, tất cả bốnlĩnh vực QOL cải thiện đáng kể trong thời gian 3 tháng MMT Trong nhữngngười tham gia bị nhiễm HIV, mức độ nghiêm trọng của sự lệ thuộc heroin vàtác hại của việc sử dụng heroin đã được cải thiện đáng kể sau 3 tháng MMT; tỷ

lệ sử dụng heroin cũng giảm đáng kể Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng của cáctriệu chứng trầm cảm và các cấp độ của tất cả bốn lĩnh vực QOL không được cảithiện đáng kể trong những người tham gia bị nhiễm HIV sau 3 tháng MMT.[33] Tuy đây là một nghiên cứu theo dõi nhưng chưa cho chúng ta thấy đượcyếu tố nào có thể cải thiện chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu

Lin Xiao và cộng sự nghiên cứu chất lượng cuộc sống trong điều trịMethadone (MMT) bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện trong 3 tháng điều trị Kếtquả cho thấy sự thay đổi của chất lượng cuộc sống và số điểm subscale của bệnhnhân ngoại trú nhận MMT lúc bắt đầu điều trị, ngày 30 và ngày 90 Kiểm địnhANOVA cho dữ liệu đo lường lặp đi lặp lại cho thấy, điểm số chất lượng cuộcsống bệnh nhân ngoại trú tại các phòng khám MMT khác nhau giữa các ngày 1,

30 và 90 ( F = 469,15, P <0,05) Chất lượng cuộc sống điểm vào ngày 30 là cao hơn so với ngày 1 ( F = 550,44, P <0,05), và chỉ có một sự gia tăng nhỏ được đo

từ ngày 30 đến ngày 90 ( F = 191,34, P = 0,05) Điều này cho thấy MMT là hữu

ích trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ngoại trú tại các

Trang 32

bệnh viện, đặc biệt là trong những tháng đầu tiên Điểm số subscale sức khỏe thể

chất tăng từ ngày 1 đến ngày 30 ( F = 191,71, P <0,05), và từ ngày 30 đến ngày

90 ( F = 6,32, P <0,05) chỉ ra rằng sức khỏe của bệnh nhân ngoại trú nhận MMT

được cải thiện dần khoảng thời gian ba tháng Điểm số của sức khỏe tâm thần

tăng lên đáng kể từ ngày 1 đến ngày 30 ( F = 324,65, P <0,05), và cũng đã làm như vậy từ ngày 30 đến ngày 90 ( F = 5,77, P <0,05) Điểm số subscale cho mối

quan hệ gia đình và hỗ trợ xã hội của bệnh nhân ngoại trú trên 30 ngày được cải

thiện trong ngày 1 ( F = 163,54,P <0,05) Đây là subscale chỉ để đăng ký giảm

từ ngày 30 đến ngày 90, mặc dù sự sụt giảm này là không đáng kể ( F= 0,85, P > 0,05) Điểm số subscale vào ngày 30 là cao hơn nhiều so với ngày 1 ( F = 124,34, P <0,05); Tuy nhiên, không có thay đổi đáng kể giữa ngày 30 và ngày 90 ( F = 1,55, P > 0,05), chỉ ra rằng điều kiện sống bệnh nhân ngoại trú 'cải

thiện nhanh chóng trong tháng đầu tiên và sau đó duy trì ổn định trong 2 tháng

sau Sự hài lòng với cuộc sống, cải thiện đáng kể trong tháng đầu tiên ( F = 226,34, P <0,05), và chỉ có một cải tiến nhỏ giữa ngày 30 và ngày 90 ( F = 0,86, P > 0,05).[18]

Nghiên cứu của Ying-Chun Chou và cộng sự về cải thiện chất lượng cuộc

sống ở những bệnh nhân điều trị Methadone tại miền Bắc Đài Loan, một nghiêncứu theo dõi dọc với 553 bệnh nhân nghiện heroin từ 4 phòng khám methadone

ở miền Bắc Đài Loan Có thể kết luận rằng việc duy trì điều trị methadone cảithiện chất lượng cuộc sống ở những người nghiện heroin điều trị bằngmethadone trong các lĩnh vực quan hệ tâm lý và xã hội số điểm trung bình cao

nhất là trong lĩnh vực thể chất (58,53; SD = 15,51) và điểm trung bình thấp nhất

là trong lĩnh vực tinh thần (49,89; SD  = 16,64).Tương tự như vậy, lúc 6 tháng,

số điểm trung bình cao nhất là trong lĩnh vực thể chất (60,13; SD  = 14,68) và thấp nhất là trong lĩnh vực tinh thần (53,19; SD  = 17.15) Kết quả từ các biện

pháp lặp đi lặp lại các phân tích phương sai của đường cơ sở và 6 tháng theo dõicho thấy, tuổi tác, giáo dục, giới tính, độ tuổi sử dụng heroin đầu tiên, liềumethadone và ngày trong MMT trước khi nghiên cứu đã không liên quan đáng

Trang 33

kể với sự thay đổi của chất lượng cuộc sống Kết quả cho thấy mức tăng trungbình lớn nhất lúc 6 tháng theo dõi là trong lĩnh vực tinh thần (3.3) và ít nhất làtrong lĩnh vực xã hội (1,06) Cải tiến đáng kể đã được tìm thấy trong lĩnh vực

tinh thần, F (1, 284) = 3.66, p <0,01, và các lĩnh vực môi trường, F (1, 284) = 2.68, p  <0,01.[44]

Đánh giá về thái độ niềm tin đối với điều trị Methadon giữa 329 người sửdụng heroin đang cai nghiện tại trung tâm cai nghiện và 112 đang điều trịMethadone tại phòng khám Ningbo, Trung Quốc của Yu Liu, Longhui Li vàWenhua Zhou nhằm khám phá thái độ niềm tin của họ đối với điều trịMethadone Nghiên cứu chứng minh rằng những người đang điều trị Methadone

có thái độ tích cực nhiều hơn nhóm sử dụng heroin đang cai nghiện.[28]

Nghiên cứu của tác giả Yen và cộng sự nghiên cứu mối tương quan củaCLS của người nghiện heroin và người không nghiện ở Đài Loan cho thấy có sựkhác biệt giữa CLS giữa 2 nhóm Nhóm sử dụng heroin có CLS kém hơn trongcác lĩnh vực, thể chất, tâm lý, xã hội so với nhóm không sử dụng heroin [43, 45]

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại Kemanshash, Iran vào năm

2013 Của Martin BK, Jalilian F, Alavijie MM, Ashtarian H, Mahboubi M,Afsar A Tổng cộng có 762 người nam nghiện chất dạng thuốc phiện được điềutrị methadone tại Trung tâm cai nghiện đã được chọn ngẫu nhiên vào nghiêncứu SF-12, cho thấy cung cấp hỗ trợ xã hội có thể là kết quả có lợi cho việcnâng cao chất lượng cuộc sống ở những người nghiện heroin điều trị bằngMethadone.[29] Tuy nhiên đây chỉ là nghiện cứu cắt ngang chưa cho chúng tathấy được mối liên quan thật sự của kết quả trên

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nghiện Heroin đang điều trịmethadone và các yếu tố liên quan Nghiên cứu của Deng CF với 216 bệnh nhân nghiệnheroin đang điều trị methadone tại tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc cho thấy bệnh nhân cóđiểm chất lượng cuộc sống 12,06 +/- 3,73, các mối quan hệ tâm lý, chức năng môitrường tương ứng với tuổi, thời gian nghiện, tình trạng công việc, mối quan hệ gia đình,tần xuất hoạt động tình dục, sử dụng thuốc an thần, niềm tin vào điều trị, thời gian điều

Trang 34

trị, cách sử dụng các loại thuốc được theo dõi trong 3 tháng có ảnh hưởng đến chấtlượng cuộc sống (P < 0,05).[6, 24]

1.7.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai tại trung tâm Y tế Quận

6 TP Hồ Chí Minh năm 2014 nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnhnhân điều trị Methadone tại Trung tâm Y tế Quận 6 TP Hồ Chí Minh năm 2014.Kết quả nghiên cứu cho thấy:

• Theo cảm nhận của đối tượng tham gia nghiên cứu thì điểm chất lượng sốngnói chung của họ trung bình khoảng 3,2 ± 0,6 và mức độ hài lòng về sức khỏenói chung có điểm trung bình là 3,3 ± 0,7

• Khoảng 25% đối tượng tham gia nghiên cứu tự nhận định rằng mình có chấtlượng sống nói chung là rất tốt hay tốt Bên cạnh đó cũng có khoảng 7% chorằng chất lượng sống nói chung của mình ở mức kém hay rất kém

• Theo cảm nhận của bản thân thì có khoảng 33% người hài lòng hay rất hàilòng về sức khỏe nói chung nhưng cũng có khoảng 9% cho rằng họ không hàilòng với sức khỏe nói chung của mình

• Trong các nội dung của thang đo chất lượng sống theo WHOQoL-BREF thìnội dung hỏi về đau đớn, khó chịu ảnh hưởng đến công việc hay nội dung hỏi vềnhững cảm xúc tiêu cực là 2 nội dung có điểm trung bình cao nhất, nhưng nộidung hỏi về hỗ trợ y tế lại có điểm trung bình thấp nhất.[11]

Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thùy Linh đã cho thấy đều trị methadonegiúp cho nam giới NCMT nhiễm HIV đước bắt đầu điều trị ARV sớm hơn Mặc

bệnh nhân có điều trị Methadone cao gấp 1,5 lần nhóm không methadone Điềunày cho thấy các bệnh nhân đều đăng ký chăm sóc khi tình trạng sức khỏe gầntương đương nhau, nhưng việc điều trị Methadone giúp bệnh nhân thường xuyên

Trang 35

tiếp cận cơ sở y tế và được theo dõi tình trạng sức khỏe của mình tốt hơn nên bắt

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Thị Huỳnh, Nguyễn Thị

Minh Tâm, Phan Thu Hương, Phạm Đức Mạnh, Nguyễn Đắc Vinh,Vũ ĐứcLong, Nguyền Quỳnh Mai, Lương Ngọc Khuê, Trần Quang Trung,Nguyễn VănThành, Phạm Thị Vân Hạnh, Nguyễn Minh Tuấn là một nghiên cứu được tiếnhành trên 966 bệnh nhân tại sáu phòng khám methadone tại Hải Phòng vàTpHCM Các kết quả lâm sàng của nghiên cứu (liều điều trị và thay đổi liềudùng trong điều trị, đặc điểm lâm sàng và triệu chứng cai nghiện) được ghi nhậnqua hồ sơ bệnh án

Chỉ số hành vi đã được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấn cá nhântrước khi điều trị, ở các thời điểm 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng sau điều trị Việc

sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu đã được giám sát thông qua thửnghiệm nước tiểu và nhóm nghiên cứu đã thu thập mẫu máu để xét nghiệm HIV,viêm gan B và viêm gan C trước khi điều trị và sau sáu tháng Nhóm nghiên cứucũng đã tiến hành đo lường chất lượng cuộc sống bằng các công cụ phát triểncủa WHO (WHOQoL-BREF).[10]

Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng 70% những người tham gia trả lờirằng chất lượng cuộc sống của họ ở mức trung bình trong khi 10,9% đánh giáchất lượng cuộc sống là “xấu” và 1,5% là “rất xấu” Điểm số trung bình cho sứckhỏe thể chất của những đối tượng tham gia vào nghiên cứu trước khi điều trị là

68, mức cao nhất trong bốn loại liên quan đến chất lượng cuộc sống Điểm trungbình khác là 56,1 đối với sức khỏe tâm thần, 53,0 đối với yếu tố xã hội và 58,9cho yếu tố môi trường Theo thời gian, chất lượng cuộc sống được cải thiệnđáng kể cho bệnh nhân.Trước khi điều trị, chỉ có 16% số người tham gia chobiết chất lượng cuộc sống của họ là “tốt” hoặc “rất tốt” nhưng tại thời điểm chíntháng, tỉ lệ này là 52% Tỷ lệ bệnh nhân “hài lòng với sức khỏe của họ” cũngtăng từ 31% trước khi điều trị lên khoảng 60% trong khi điều trị

Trang 36

Theo nghiên cứu cắt ngang của tác giả Nguyễn Văn Trình tại Bệnh việnTâm thần Đà Nẵng Kết quả điểm trung bình của 4 lĩnh vực trong chất lượngsống của các đối tượng sẽ được đối chiếu với thang điểm 0-100 trong từng lĩnhvực tương ứng ta sẽ có điểm của lĩnh vực đó, số điểm đó tương ứng với chấtlượng sống của đối tượng từng lĩnh vực Tỷ lệ các đối tượng nghiên cứu không cótrầm cảm, không lo âu chiếm tỷ lệ cao 68,3% Các đối tượng nghiên cứu có điểmxung động là 67,66 ± 7,79 điểm Điểm lòng tự trọng của các đối tượng nghiêncứu là 15,35 ± 2,70.Chất lượng sống cả 4 lĩnh vực sức khoẻ thể chất, tâm lý,quan hệ xã hội, môi trường của các đối tượng cai nghiện heroin đều ở dưới mứctrung bình.[14]

1.7 Tổng quan địa điểm nghiên cứu

Trang 37

Sơ lƣợc về địa điểm nghiên cứu

Huyện Cần Giuộc là huyện thuộc vùng hạ nằm ở phía Đông Nam của tỉnhLong An, phía Bắc giáp huyện Bình Chánh – TP Hồ Chí Minh; phía Đông giáphuyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ TP HCM; Địa hình của huyện thấp và bằngphẳng, mang đặc trưng chung của Đồng bằng Sông Cửu Long Có sự khác biệt

rõ nét về thổ nhưỡng giữa vùng thượng và vùng hạ Dân số trung bình của huyện

hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển nông nghiệp đa dạng với các loạisản phẩm chủ lực như lương thực, rau xanh, thủy sản nước mặn Là cửa ngõgiao lưu hàng hóa của huyện, của tỉnh, huyện có khả năng đầu tư từ thành phố

Hồ Chí Minh Tuy nhiên nằm trong vùng ngoại vi thành phố Hồ Chí Minh nên

tệ nạn xã hội trên địa bàn còn khá nhiều

Về mạng lưới y tế, huyện Cần Giuộc có bệnh viện Đa khoa khu vực thựchiện công tác điều trị và Trung tâm y tế dự phòng thực hiện công tác dự phòng

Trang 38

về y tế gồm 7 khoa chuyên môn (kiểm soát dịch bệnh, an toàn vệ sinh thựcphẩm, y tế công cộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, liên chuyên khoa: lao – tâmthần – da liễu, dược, cận lâm sàng) và 17 trạm y tế xã thị trấn

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu môt tả theo dõi dọc.

Nghiên cứu theo dõi dọc được thực hiện nhằm đánh giá hiệu số điểm chất

đến chất lượng sống theo thời gian nghiên cứu ở nghững người nghiện Heroinđang điều trị Methadone tại phòng khám Methadone thuộc Trung tâm Y tế CầnGiuộc từ tháng 12/2015 đến tháng 4/2016 Đối tượng tham gia nghiên cứu sẽđược theo dõi và đánh giá tình trạng sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống

2.2 Đối tượng nghiên cứu

2.2.1 Dân số mục tiêu và dân số chọn mẫu

Bệnh nhân nghiện Heroin đang điều trị Methadone tại Trung tâm Y tếCần Giuộc tỉnh Long An

2.2.2 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo Twisk để tính cỡ mẫu cho nghiêncứu theo dõi dọc nhằm so sánh điểm chất lượng cuộc sống trung bình giữa 2 lầnkhảo sát, Trong đó: [34]

+ α : xác suất sai lầm loại I (α = 0,05)

+ β: Xác xuất sai lầm loại II (β = 0,2)

Trang 39

+ σ: Độ lệch chuẩn trong dân số

+T: Số lần khảo sát (T = 2)

+ ρ: Hệ số tương quan giữa 2 lần đo (ρ = 0,38 )

+ v: Sai số ước lượng giữa 2 lần khảo sát (hiệu số của điểm chất lượng sống trungbình)

Dựa theo nghiên cứu thực hiện vào năm 2013 của Nguyễn Thị Hoàng Maitrên những người nghiện Heroin đang điều trị methadone (MMT) tại Quận 6,nghiên cứu của Ying-Chin-Chun Chou và cộng sự về cải thiện chất lượng cuộcsống ở những bệnh nhân điều trị Methadone tại miền Bắc Đài Loan ta tính được cỡmẫu như bảng dưới đây:

trung bình

Độ lệch chuẩn Trung bình

Trang 40

2.2.3 Phương pháp chọn mẫu

Lấy mẫu toàn bộ Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện chọn tất cảnhững bệnh nhân đang điều trị Methadone tại phòng khám Methadone trựcthuộc Trung tâm y tế Cần Giuộc Nhà nghiên cứu sẽ tiếp cận với bệnh nhânđang điều trị Methadone thỏa tiêu chí chọn mẫu và giải thích mục đích nghiêncứu Đối tượng sau khi hiểu rõ mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia sẽ đượcchọn vào mẫu nghiên cứu

- Bệnh nhân không biết chữ và từ chối tham gia NC

2.2.5 Kiểm soát sai lệch chọn lựa

Tuân thủ đúng tiêu chí chọn vào và tiêu chí loại ra Nhà nghiên cứu sẽtiếp cận với bệnh nhân, giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu, hạn chế tối đa tỷ lệ từchối tham gia Nghiên cứu chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi tự điền nên để tránh sailệch thông tin chúng tôi sẽ loại ra những ngừời không biết chữ, tuy nhiên theokhảo sát sơ bộ của chúng tôi số người không biết chữ rất ít nên việc loại ranhững người này kết quả sẽ không bị ảnh hưởng

2.3 Thu thập dữ kiện:

Công cụ thu thập dữ kiện

• Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn gồm:

Phần 1: Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu

Phần 2: Thông tin về tình trạng sử dụng thuốc gây nghiện

Phần 3: Thông tin về việc điều trị Methadone

Ngày đăng: 12/04/2021, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w