1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả trám bít ống tủy chân răng của xi măng calcium silicate nghiên cứu in vitro

78 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả trám bít ống tủy chân răng của xi măng calcium silicate: Nghiên cứu in vitro
Tác giả Lý Nguyễn Bảo Khánh
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Trần Xuân Vĩnh
Trường học Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Răng-Hàm-Mặt
Thể loại Luận văn thạc sĩ y học
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc bít kín vùng chóp của ống tủy chân răng nhằm ngăn ngừa các vikhuẩn còn sót và các độc tố của chúng từ mô quanh chóp thấm vào chóp răng [40].Hiện nay, rất nhiều vật liệu cũng như phư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÝ NGUYỄN BẢO KHÁNH

HIỆU QUẢ TRÁM BÍT ỐNG TỦY CHÂN RĂNG

CỦA XI MĂNG CALCIUM SILICATE:

NGHIÊN CỨU IN VITRO

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÝ NGUYỄN BẢO KHÁNH

HIỆU QUẢ TRÁM BÍT ỐNG TỦY CHÂN RĂNG

CỦA XI MĂNG CALCIUM SILICATE:

NGHIÊN CỨU IN VITRO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêutrong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC HÌNH v

MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Xi măng nội nha 3

1.1.1 Xi măng nội nha với chất căn bản là oxyt kẽm – eugenol: 4

1.1.2 Xi măng nội nha với chất căn bản là nhựa polymer 5

1.1.3 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium hydroxide 6

1.1.4 Xi măng nội nha với chất căn bản là glass ionomer 7

1.1.5 Xi măng nội nha với chất căn bản là silicon 7

1.1.6 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium silicate 8

1.2 Các phương pháp đánh giá vi kẽ vùng chóp răng 9

1.2.1 Phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm 9

1.2.2 Phương pháp dịch chuyển chất lỏng 11

1.2.3 Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm 12

1.2.4 Phương pháp thấm nhập vi khuẩn và độc tố sinh ra từ vi khuẩn 12

1.3 Các nghiên cứu đánh giá vi kẽ vùng chóp răng 13

Chương 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Vật liệu nghiên cứu 15

2.2 Dụng cụ nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 17

2.3.2 Các bước thực hiện: 19

Trang 5

2.3.3 Các biến nghiên cứu 27

2.3.4 Xử lý số liệu và phân tích thống kê: 27

2.3.5 Kiểm soát sai lệch thông tin 27

Chương 3: KẾT QUẢ 30

3.1 Đặc điểm vùng chóp chân răng sau khi đã trám bít 31

3.2 Mức độ vi kẽ vùng chóp của các răng sau khi được trám bít ống tùy 34

3.3 Đặc điểm vi kẽ quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) 35

Chương 4: BÀN LUẬN 40

4.1 Phương pháp nghiên cứu 40

4.1.1 Mẫu nghiên cứu 40

4.1.2 Phương pháp trám bít ống tủy 40

4.1.3 Phương pháp đánh giá vi kẽ 42

4.2 Kết quả nghiên cứu 44

4.2.1 So sánh mức độ vi kẽ vùng chóp răng trám bít bằng hai loại xi măng CS mới và polymer 44

4.2.2 Đặc điểm vi kẽ quan sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM) 47

4.3 Một số hạn chế của đề tài 49

Chương 5: KẾT LUẬN 50

ĐỀ XUẤT 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH

Kính hiển vi điện tử quét : Scanning electron microscope

Phương pháp dịch chuyển chất lỏng : fluid filtration method

Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm : dye extraction method

Phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm : dye penetration method

Phương pháp thấm nhập vi khuẩn và độc tố sinh ra từ vi khuẩn: bacteria and toxininfiltration method

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thành phần của xi măng AH26 6Bảng 1.2 Thành phần của xi măng CS mới 8Bảng 2.3 Nồng độ các ion trong dung dịch SBF (mM/l) 15Bảng 3.4 So sánh trung bình vi kẽ giữa nhóm răng trám bít bằng xi măng CS mới

và polymer được khảo sát tại hai thời điểm 34Bảng 3.5 Mức độ vi kẽ cao nhất và thấp nhất ở từng nhóm răng 35

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ (%) răng có vi kẽ khi TBOT bằng xi măng CS mới và polymer

giữa hai thời điểm khảo sát 33

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Máy nội nha và bộ trâm ProTaper 17

Hình 2.2 Các nhóm răng nghiên cứu 19

Hình 2.3 Răng sau khi được TBOT 21

Hình 2.4 Kiểm tra trước và sau khi răng được TBOT 22

Hình 2.5 Các răng được sơn cách ly 24

Hình 2.6 Răng được ngâm trong dung dịch xanh methylene 2% 25

Hình 2.7 Kính hiển vi soi nổi (SZX10 Olympus) 26

Hình 2.8 Bộ kết nối với kính hiển vi Optikam B5 (Optika, Italia) 26

Hình 2.9 Đo mức độ thâm nhập phẩm nhuộm 27

Hình 3.10 Nhóm chứng âm và nhóm chứng dương 30

Hình 3.11 Không có sự thâm nhập xanh methylene (xi măng CS mới) 31

Hình 3.12 Không có sự thâm nhập xanh methylene (xi măng polymer) 31

Hình 3.13 Có sự thâm nhập xanh methylene (xi măng CS mới) 32

Hình 3.14 Có sự thâm nhập xanh methylene (xi măng polymer) 32

Hình 3.15 Thiết diện cắt ngang 1/3 chóp chân răng sau khi trám bít bằng xi măng CS mới (a) và polymer (b) được chụp bằng SEM 36

Hình 3.16 Hình ảnh không có vi kẽ khi trám bít bằng xi măng CS mới (a) và polymer (b) 37

Hình 3.17 Vi kẽ khi trám bít bằng xi măng CS mới (a) và polymer (b và c) 38

Hình 3.18 Giao diện giữa mô răng và xi măng CS mới 39

Trang 11

MỞ ĐẦU

Điều trị nội nha thành công liên quan đến tất cả các giai đoạn trong quá trìnhđiều trị bao gồm sửa soạn, tạo dạng và làm sạch ống tủy, trám bít ống tủy và cả giaiđoạn trám tạm giữa các lần hẹn hay trám kết thúc Trong đó, giai đoạn trám bít ốngtủy đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của điều trị nội nha Hệ thống ốngtủy phải được bít kín hoàn toàn để ngăn ngừa tái nhiễm khuẩn và vi kẽ bên trongống tủy Việc bít kín vùng chóp của ống tủy chân răng nhằm ngăn ngừa các vikhuẩn còn sót và các độc tố của chúng từ mô quanh chóp thấm vào chóp răng [40].Hiện nay, rất nhiều vật liệu cũng như phương pháp trám bít ống tủy đã được pháttriển nhằm làm tăng chất lượng của việc điều trị nội nha

Xi măng trám bít ống tủy được sử dụng để liên kết với côn gutta-perchahoặc các loại côn đặc khác để tạo nên một khối đồng nhất trong ống tủy chân răng

Có nhiều loại xi măng trám bít ống tủy được phân loại theo thành phần chính củachúng: oxyt kẽm – eugenol, calcium hydroxide Ca(OH)2, nhựa polymer, glassionomer, và silicon Trong đó, xi măng nội nha AH26 hay AH Plus (có chất căn bản

là nhựa polymer) thường được sử dụng như một vật liệu tham chiếu để so sánh vớicác loại xi măng mới [4]

Trong những năm gần đây, các loại vật liệu có chất căn bản là calciumsilicate đã được giới thiệu và sử dụng phổ biến trong chữa răng và che tủy do nó cókhả năng bám dính cao, phóng thích ion canxi và hoạt tính sinh học Dựa trên cácđặc tính trên, một loại xi măng trám bít ống tủy mới có thành phần chính tricalciumsilicate đã được giới thiệu Loại xi măng calcium silicate mới này có khả năngphóng thích calcium hydroxide sau khi đông, hình thành pha calcium phosphate khitiếp xúc với dung dịch sinh lý, ít gây độc trên tế bào dây chằng nha chu và kíchthích các yếu tố tăng trưởng tạo máu và tạo xương, do đó xi măng calcium silicatemới có tính tương hợp sinh học cao [11]

Trang 12

Mặc dù đã có nhiều loại vật liệu được giới thiệu trên thị trường nhưng chưa

có một loại vật liệu nào đạt được sự bít kín hoàn toàn hệ thống ống tủy Theo Ingle

và Bakland, nguyên nhân thất bại thường gặp nhất trong điều trị nội nha (60%) là

do xuất hiện vi kẽ, không bít kín hoàn toàn ống tủy chân răng [33] Tình trạng vi kẽphụ thuộc vào nhiều yếu tố như kỹ thuật trám bít ống tủy, tính chất vật lý và hóahọc của vật liệu trám bít,… [3] Vì vậy, rất nhiều nghiên cứu về vi kẽ đã được thựchiện nhằm đánh giá hiệu quả trám bít ống tủy của các loại vật liệu, đặc biệt là đốivới những loại xi măng mới

Vì là vật liệu mới, nên hiện nay chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam cũngnhư chưa có nhiều nghiên cứu trên thế giới được thực hiện để đánh giá hiệu quảtrám bít ống tủy chân răng của xi măng calcium siliate mới này Với mong muốntìm hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng tôi thực hiện đề tài với câu hỏi nghiên cứu:

Có sự khác biệt về mức độ vi kẽ của các răng sau khi được trám bít ống tủybằng xi măng calcium silicate mới và polymer không?

Mục tiêu:

1 So sánh mức độ vi kẽ vùng chóp của các răng được trám bít bằng ximăng calcium silicate mới và xi măng polymer ở từng thời điểm 2 ngày

và 30 ngày sau khi trám bít ống tủy

2 Mô tả đặc điểm vị trí vi kẽ tại giao diện giữa mô răng và xi măng calciumsilicate mới với xi măng polymer bằng kính hiển vi điện tử quét

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Xi măng nội nha

Xi măng nội nha là các chất dùng để gắn kết các vật liệu trám bít ống tủy(côn bạc, côn gutta-percha) vào thành ống tủy Trước khi đông cứng, xi măng nộinha có thể làm trơn, chảy vào và trám bít các ống tủy phụ, nhánh bên và các lỗ chópphụ trong các phương pháp lèn [4]

Các đặc tính lý tưởng của xi măng nội nha theo Grossman [27]:

- Tương hợp sinh học, không kích thích mô quanh chóp: xi măng nội nhađông cứng nhờ phản ứng hóa học, những phản ứng này thường phóng thíchchất độc và tính độc này sẽ giảm nhiều sau khi xi măng nội nha đã đôngcứng Vài ngày sau khi trám bít thường gây phản ứng viêm quanh chóp tạmthời Phản ứng này xuất hiện tạo sự lành thương

- Không kích thích đáp ứng miễn dịch mô quanh chóp

- Không có khả năng sinh ung thư

Trang 14

- Thời gian làm việc thích hợp.

- Cản quang

- Kháng khuẩn

- Không hòa tan trong dịch mô

- Không làm đổi màu răng

- Dễ sử dụng: dễ trộn, dễ lấy ra khi cần

Các loại XMNN được phân loại theo nhiều cách khác nhau Theo Ingle [33],XMNN được phân loại theo thành phần chất căn bản như sau:

- XMNN với chất căn bản là oxyt kẽm – eugenol

- XMNN với chất căn bản là nhựa polymer

- XMNN với chất căn bản là calcium hydroxide

- XMNN với chất căn bản là glass ionomer

- XMNN với chất căn bản là silicon

- XMNN với chất căn bản là calcium silicate

1.1.1 Xi măng nội nha với chất căn bản là oxyt kẽm – eugenol:

Xi măng nội nha với thành phần hóa học là oxyt kẽm – eugenol là loại ximăng được sử dụng phổ biến nhất Thành phần chính bao gồm phần bột là oxyt kẽm

và phần lỏng là eugenol

Ưu điểm: loại xi măng này có cấu trúc vững ổn do đó nó dễ dàng lấp đầy cáckhoảng trống giữa côn gutta – percha và thành ống tủy Nó có tính sát khuẩn vàkhông bị co rút [3]

Trang 15

Nhược điểm: có thể tan được trong dung dịch của mô và có độc tính mộtphần Độc tính được cho là do eugenol dư ra khi mới trộn vật liệu Lượng eugenoltrong xi măng phóng thích giảm dần, do đó trong thời gian dài sau đó xi măngkhông còn gây độc tính Xi măng có công thức Rickert có thành phần bạc có thểlàm đen ngà răng [13].

Trước đây, việc đưa thêm formaldehyde vào xi măng ZOE rất phổ biến Tuynhiên, formaldehyde là một chất phụ gia nguy hiểm, vì nó góp phần vào tác độngđộc tính có sẵn của eugenol và ngăn cản hoặc làm chậm quá trình lành thương [40].Ngoài ra, có loại xi măng còn được thêm vào các loại thuốc chống viêm(dexamethasone, enoxolone, hydrocortisone, acid glycerhetinic) và thuốc khángsinh (trioxymethylen) Việc cho thêm thuốc đã gây nhiều tranh luận vì các phân tửnày làm tăng nguy cơ dị ứng và ảnh hưởng đến phản ứng viêm, một giai đoạn cầnthiết cho sự lành thương [4], [44]

1.1.2 Xi măng nội nha với chất căn bản là nhựa polymer

Đây là loại XMNN cao phân tử, có tính ổn định và có khả năng dán dính vàothành ống tủy, được trình bày dưới dạng bột và chất lỏng hoặc 2 ống bột nhão Gồmcác loại nhựa epoxy (Diglycidyl ether bisphenol – A) và các amin cùng chất phụ trợ[4]

Nổi tiếng nhất trong nhóm xi măng này là loạt sản phẩm AH Mẫu đầu tiênđược phát triển hơn 50 năm trước bởi Andre Schroeder tại Thụy Sĩ, sử dụng nhựabig-phenol và sử dụng methamine để trùng hợp Vì methamine (còn được biết như

là urotropin) phóng thích formaldehyde trong quá trình phản ứng, sau này các chấtthay thế được tìm thấy là là các amin có tác dụng trùng hợp mà không thành lậpformaldehyde

Các nhãn hiệu thương mại: AH26, AH Plus (Dentsply Maillerfer,Swizerland), Endorez (Ultradent), Acrosel (Septodont), Topseal (Maillerfer,Swizerland)

Trang 16

AH26 lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1957, là loại nhựa epoxy có độhòa tan thấp, có tính chảy và dính vào ngà, có thời gian làm việc 4,5 giờ và thờigian đông đặc 12 – 48 giờ.

Bảng 1.1 Thành phần của xi măng AH26

1.1.3 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium hydroxide

Loại vật liệu này có hiệu quả khi sử dụng như là một chất bảo vệ tủy, che tủy

và băng thuốc ống tủy Calcium hydroxide còn được sử dụng để chế tạo xi măngtrám bít Sealapex (Kerr, USA) và Apexit (Ivoclar Vivadent, Liechtenstein) là haisản phẩm được dùng phổ biến nhất của nhóm xi măng này [44]

Xi măng nội nha calcium hydroxide được trình bày dưới dạng bột và chấtlỏng hoặc hai ống bột nhão Đây là loại xi măng có tính tương hợp sinh học tốt,gồm hai phần bằng nhau của axit carboxylic chứa nhựa poly methylene methylsalicylat và oxyt kẽm cùng một vài chất hỗ trợ Các XMNN với chất căn bản làcalcium hydroxide phóng thích ion Ca2+ và OH- đảm bảo độ kiềm của các mô kếcận [3] Điều này về mặt lâm sàng có tác dụng điều trị giúp tạo sự đóng kín chóprăng bằng một mô cứng tân tạo và tạo được một tác động kháng khuẩn đối vớinhững vi khuẩn chưa loại bỏ được trong quá trình sửa soạn Tuy nhiên, sự phóngthích này làm mất thể tích của vật liệu, tạo những khoảng trống trong khối vật liệu

và ảnh hưởng đến khả năng trám bít ống tủy Trên người, tỉ lệ thành công là 80%đối với những răng có tổn thương ở chóp (Caliskan và cộng sự, 1996) nhưng khôngkhác lắm so với xi măng oxyt kẽm – eugenol (Waltimo và cộng sự, 2001) [4]

Trang 17

1.1.4 Xi măng nội nha với chất căn bản là glass ionomer

Thành phần của vật liệu này gồm bột (chứa calcium- alumino-fluoro silicatekích thước từ 1µm - 25µm và chất cản quang), và phần lỏng (chứa axitpolycarboxylic) Xi măng này có ưu điểm là gắn kết tức thời vào lớp ngà răng vàphóng thích fluor, nhưng có bất lợi là nhạy cảm với độ ẩm và chậm đạt được nhữngtính chất cơ học Sự gắn kết xi măng với ngà răng tạo cho XMNN với chất căn bản

là glass ionomer có lợi thế chắc chắn hơn các loại xi măng khác Việc phóng thíchfluor làm cho xi măng có tính sát khuẩn tức thì (Coogan và cộng sự, 1999), và tínhchất này giảm dần theo thời gian Tác dụng này được ghi nhận trong 48 giờ(Shallhav và cộng sự, 1997) [4] Các nhãn hiệu thương mại gồm Ketac Endo, Zut,KT308, GIC Các nghiên cứu gần đây cho thấy GIC có hiện tượng vi kẽ và bị hòatan nhiều hơn các loại xi măng khác [30], [44]

1.1.5 Xi măng nội nha với chất căn bản là silicon

Lee Endo-Fill, Lee Pharmaceuticals, El Monte, CA, USA là công ty đầu tiênthử nghiệm việc sử dụng các đặc tính không thấm nước, ổn định về hóa học và dándính của vật liệu silicon trong nội nha [44]

RoekoSeal (Roeko, Langenau, Germany) là một XMNN có chất căn bản làpolydimethylsiloxane Các nghiên cứu in vitro so sánh RoekoSeal với xi măng ZOE(Sealapex) và XMNN có chất căn bản là Ca(OH)2 (Kerr’s Pulp Canal Sealer) chothấy xi măng này ít độc hơn và có tính hòa tan tương đương Nghiên cứu củaCobankara và cộng sự (2004) cho thấy xi măng này chống lại hiện tượng vi kẽ vùng

cổ răng và chóp răng không có sự khác biệt có ý nghĩa [16] Hiện nay, Roeko giớithiệu một phiên bản khác có tên là GuttaFlow Xi măng được trộn với bột gutta-percha để tạo thành một hệ thống trám bít được gọi là “2 trong 1” Tuy nhiên, cần

có thêm nhiều nghiên cứu về sản phẩm này để khẳng định hiệu quả trám bít ống tủy[30]

Trang 18

1.1.6 Xi măng nội nha với chất căn bản là calcium silicate

Vật liệu có thành phần chính là calcium silicate điển hình là MTA Đây làhỗn hợp của xi măng Porland và bismuth, có thành phần bột bao gồm dicalciumsilicate, tricalcium silicate, tricalcium aluminate và nước để trộn là nước cất MTA

đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực chữa răng nội nha như trám bít ống tủy,điều trị thủng sàn, che tủy, trám ngược…do nó có khả năng kích thích tái khoánghóa và bám dính cao vào mô răng

Năm 2015, một loại xi măng TBOT mới có chất căn bản là tricalcium silicate

đã được giới thiệu Xi măng CS mới (Septodont, Saint-Maur-des-Fossés, Pháp)chứa tricalcium silicate và zirconium oxide Đây là một vật liệu cải tiến, sử dụngcông nghệ silicate hoạt tính sinh học để tạo ra một vật liệu có thành phần calciumsilicate nguyên chất mà không chứa thành phần nhựa và monomer nên xi măngkhông bị co trong quá trình đông, cho phép dán dính chặt vào thành ống tủy chânrăng Đồng thời, loại xi măng này cũng không chứa eugenol, vì thế thích hợp với tất

cả các hệ thống dán, không gây nhuộm màu răng và ít nhạy cảm sau điều trị Chấtcản quang zirconium oxide có ưu điểm hơn so với bismuth oxide (trong MTA) làkhông ảnh hưởng đến khả năng hydrate hóa của xi măng, cải thiện tính đồng nhấtcủa hỗn hợp xi măng, tăng đặc tính cơ học của vật liệu và là một chất tương hợpsinh học tốt Thành phần chất lỏng của xi măng CS mới chủ yếu là nước, calciumchloride (chất gia tốc) và tác nhân giảm nước Xi măng CS mới có thời gian làmviệc khoảng 15 phút và thời gian đông đặc ít hơn 4 giờ Ngoài ra, vật liệu này có độ

pH cao, có thể lên đến hơn 11, tạo ra môi trường kiềm thuận lợi cho sự lành thương[11]

Bảng 1.2 Thành phần của xi măng CS mới

Tricalcium silicate

Calcium chlorideTác nhân giảm nướcZirconium oxyde

Povidone

Trang 19

Các nghiên cứu đánh giá tính chất sinh học của xi măng CS mới của các tác

giả Poggio C và cs (2017), Eldeniz AU và cs (2016), Camps J và cs (2015) đã ghi

nhận rằng đây là loại xi măng có hoạt tính sinh học tốt Nó không chỉ tương hợp invitro với tế bào dây chằng nha chu và nguyên bào sợi nướu người mà nó còn đượcchứng minh là kích thích tiết các yếu tố tăng trưởng tạo mạch và tạo xương lànhững điều kiện quan trọng cho sự tái tạo mô in vivo

1.2 Các phương pháp đánh giá vi kẽ vùng chóp răng

1.2.1 Phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm

Phương pháp này được Grossman báo cáo lần đầu tiên vào năm 1939, sửdụng nhiều loại phẩm nhuộm khác nhau để ngâm răng như: eosin, xanh methylene,mực tàu, xanh ánh procion, và các loại thuốc nhuộm khác… Đây là phương pháp dễthực hiện nên được sử dụng rộng rãi nhất [1], [3] Hiện tượng mao dẫn đóng vai tròquan trọng trong phương pháp đánh giá vi kẽ vùng chóp thụ động này, chóp răngđược ngâm chìm vào phẩm nhuộm và phẩm nhuộm sẽ thâm nhập vào bất kỳ khoảng

hở nào giữa thành ống tủy và vật liệu trám bít [8]

Kích thước hạt phân tử, độ pH và khả năng phản ứng hóa học của phẩmnhuộm có thể ảnh hưởng đến mức độ thâm nhập [5] Nhiều nghiên cứu đã sử dụngxanh methylene làm phẩm nhuộm [1], [2], [10] bởi vì giá thành rẻ, dễ thao tác, cókhả năng nhuộm màu cao và trọng lượng phân tử thấp hơn cả độc tố của vi khuẩn.Xanh methylene được xem là có độ vi thấm tương đương với axit butyric, một sảnphẩm chuyển hóa của vi khuẩn có độ thâm nhập cao hơn mực tàu Phẩm nhuộm này

có bất lợi là bị hòa tan trong quá trình khử khoáng và làm trong suốt răng, hơn nữa,trong một vài trường hợp khó có thể quan sát điểm thâm nhập sâu nhất [49] Barthel

và cs cho rằng kích thước phân tử của phẩm nhuộm có thể không phù hợp với kíchthước của vi kẽ [8]

Mực tàu có đường kính phân tử nhỏ hơn hoặc bằng 3µm, cũng được sử dụngtrong nhiều nghiên cứu, khi không chắc chắn rằng vi khuẩn thâm nhập vào khoảng

Trang 20

hở trong ống tủy nơi mà phẩm nhuộm không thể thâm nhập được Do đó, phẩmnhuộm này có thể không thay thế phân tử của dịch từ mô nha chu, dẫn đến kết quảdương tính giả trong quá trình đánh giá vi kẽ [56] Sau thời gian ngâm phẩmnhuộm, răng sẽ được cắt theo chiều dọc, chiều ngang hoặc làm trong suốt và ghinhận lại mức độ thâm nhập của phẩm nhuộm.

Phương pháp cắt dọc răng có thể quan sát vật liệu trám bít được bộc lộ và bất

kỳ sự thâm nhập phẩm nhuộm vào vật liệu và tại diện tiếp xúc giữa thành ống tủy

và vật liệu [6] Ahlberg và cs đề nghị một biến thể khác của phương pháp này làchân răng được mài mòn đến khi nhìn thấy vi kẽ qua một lớp ngà mỏng, do đó giảmnguy cơ phẩm nhuộm bị hòa tan trong khi cắt răng [6] Phương pháp này cũng cungcấp thông tin về vi kẽ đáng tin cậy hơn phương pháp cắt ngang hay làm trong răng.Nhược điểm của phương pháp cắt dọc răng là chọn ngẫu nhiên mặt phẳng cắt vàđường cắt có thể không đi qua vị trí mà phẩm nhuộm thâm nhập sâu nhất, vì thế dẫnđến sai lệch kết quả [10] Theo Ahlberg và cs và Martin và cs, cắt ngang chân răng

sẽ làm mất một phần mô ngà và phẩm nhuộm [6], [40] Vì vậy, phương pháp nàychỉ cho phép xác định có hay không có sự thâm nhập phẩm nhuộm trên mỗi lát cắt

Phương pháp làm trong suốt răng được Okumura giới thiệu năm 1927 Răngđược làm trong suốt sau quá trình khử khoáng, khử nước và ngâm trong dung dịchmethyl salicylate Răng sau khi được làm trong suốt sẽ cung cấp hình ảnh ba chiều

về giải phẫu hệ thống ống tủy mà không làm mất mô răng, cho phép quan sát vùng

có vi kẽ dễ dàng hơn Phương pháp này đơn giản, nhanh, được thực hiện với cácchất liệu có độc tố thấp và không đòi hỏi thiết bị phức tạp [49] Martin và cs đưa rakết luận rằng phương pháp làm trong suốt răng dễ quan sát hệ thống ống tủy bên vàống tủy phụ hơn, phản ánh rỏ ràng mối quan hệ giữa vật liệu trám bít và chóp chânrăng [40] Đồng thời, phương pháp này chính xác hơn phương pháp cắt ngang trongviệc phát hiện vi kẽ chóp răng cũng như cho phép quan sát vi kẽ đến 1/10 mm,trong khi phương pháp cắt ngang chỉ phát hiện có hay không có vi kẽ xảy ra trênmỗi lát cắt Tuy nhiên, Malvar và cs cho rằng khi áp dụng phương pháp này cho

Trang 21

một vài mẫu răng không được khoáng hóa đầy đủ sẽ làm giảm độ trong suốt củamẫu sau cùng [56] Youngson và cs cho rằng phương pháp này không xác địnhđược mức độ thâm nhập của phẩm nhuộm [56].

Phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp thâm nhậpphẩm nhuộm vì không làm phá hủy mẫu, do đó cho phép đánh giá việc trám bít cảphần chóp và thân răng sau khoảng thời gian dài Hơn nữa, các kết quả được ghinhận tự động, vì thế thực hiện được các đo lường định lượng và tránh sai số; kết quảchính xác, các mức độ nhỏ cũng được ghi nhận [42], [46] Phương pháp này pháthiện các khoảng trống dọc theo ống tủy nhạy hơn phương pháp thâm nhập phẩmnhuộm [56] Độ nhạy của hệ thống này được xác định bằng sự thay đổi áp lực hayđường kính của ống mao dẫn Tuy nhiên, theo Pommel, Camps, vật liệu và phươngpháp được sử dụng trong phương pháp này không được chuẩn hóa, ví áp lực được

sử dụng nằm trong khoảng 10 đến 20 psi, và thời gian đo lường từ 1 phút đến 3 giờ[46] Điều này làm thay đổi kết quả, bởi vì mức độ thấm nhập thấp hơn tương quanvới thời gian ghi nhận lâu hơn, và kết quả ghi nhận sẽ cao hơn khi sử dụng áp lựccao hơn Vì vậy, nhiều các thông số khác nhau có thể làm thay đổi giá trị của thửnghiệm như đường kính ống mao dẫn, thời gian đo lường, áp lực đặt vào, phải được

đề cập trong phần vật liệu và phương pháp nghiên cứu [46]

Trang 22

1.2.3 Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm

Trong phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm hay hòa tan phẩm nhuộm, răngđược hòa tan trong axit để lấy sạch phẩm nhuộm ở diện tiếp xúc và mật độ quanghọc của dung dịch được đo bằng máy đo quang phổ Kỹ thuật này nhanh và có thểthực hiện với thiết bị có sẵn ở hầu hết các trường đại học [10]

Theo Camps và Pashley, không có mối tương quan giữa phương pháp thâmnhập phẩm nhuộm và phương pháp dịch chuyển chất lỏng và phương pháp loại bỏphẩm nhuộm trong việc phát hiện vi kẽ [10] Phương pháp dịch chuyển chất lỏngcho kết quả tương đương với phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm vì cả hai cách nàyđều quan tâm đến trạng thái có khoảng trống giữa vật liệu trám bít và chân răng Cảhai phương pháp này đều dựa trên sự đo lường định lượng của dung dịch chảy quacác mặt tiếp xúc Phương pháp loại bỏ phẩm nhuộm cho thấy có thuận lợi hơnphương pháp dịch chuyển chất lỏng, bởi vì mức độ thâm nhập có khuynh hướnggiảm theo thời gian, như nước thấm không đều theo mọi hướng đến khi đạt đượctrạng thái cân bằng [56]

1.2.4 Phương pháp thấm nhập vi khuẩn và độc tố sinh ra từ vi khuẩn

Theo Timpawat và cs, việc sử dụng vi khuẩn để nghiên cứu vi kẽ (chủ yếu ởvùng thân răng) phù hợp hơn về mặt lâm sàng và sinh học so với phương pháp thâmnhập phẩm nhuộm [53] Nhiều dòng vi khuẩn được sử dụng để nghiên cứu vi kẽ và

có nhiều kết quả mâu thuẫn, vì các phương pháp này phụ thuộc vào loại vi khuẩn sửdụng Ngoài ra, nếu XMNN có hoạt tính kháng khuẩn thì không thể thực hiện đượcphương pháp này [49] Hệ thống này bao gồm hai phần phía đầu chóp răng và phíathân răng của mỗi mẫu được chia ra rõ rệt Tính đục của dịch ở phần chóp răng làdấu hiệu đầu tiên giúp xác định nhiễm khuẩn [56]

Những nghiên cứu vi khuẩn là nghiên cứu định tính hơn là định lượng Nếuchỉ có một vi khuẩn đi qua ống tủy chân răng sau khi được trám bít, nó có thể tăngsinh và làm đục dung dịch Khả năng vi khuẩn còn sống thay đổi hình dạng và kích

Trang 23

thước, và di chuyển chủ động, tăng sinh trong ống tủy chân răng đóng vai trò quantrọng, cũng như không có bất kỳ dung dịch phẩm nhuộm nào có thể thay thế [56].

1.3 Các nghiên cứu đánh giá vi kẽ vùng chóp răng

Nghiên cứu của Saeedeh Sadr và cs (2015), thực hiện trên 70 răng một chânđánh giá vi kẽ khi trám bít ống tủy bằng kỹ thuật một côn với các loại XMNN khácnhau: AH26, GIC, ZOE Các răng được chia thành 3 nhóm thử nghiệm (mỗi nhóm

20 răng) và 2 nhóm chứng âm và chứng dương Vi kẽ được đánh giá bằng phươngpháp thâm nhập phẩm nhuộm Kết quả cho thấy AH26 có khả năng trám bít tốt hơn

cả vì số lượng vi kẽ ở nhóm này thấp nhất (p<0,05) Tuy nhiên sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê ở nhóm trám bằng GIC và ZOE [47]

Raqueli Viapiana và cs (2013), khảo sát giao diện giữa ngà răng và 5 loại ximăng trám bít ống tủy: xi măng AH Plus, xi măng Portland chứa micro-zirconiumoxide, nano-zirconium oxide, micro-niobium oxide, nano-niobium oxide Giao diệngiữa ngà răng và các loại XMNN được đánh giá bằng chất đánh dấu huỳnh quang,đặc tính hóa học của giao diện ngà – xi măng được khảo sát bằng kính hiển vi điện

tử quét Kết quả cho thấy không có sự xâm nhập của chất đánh dấu huỳnh quangvào giao diện giữa ngà răng và các loại xi măng thực nghiệm Các loại xi măng trámbít ống tủy có khả năng xâm nhập vào ống ngà cao hơn ở phần thân và 1/3 giữachân răng [57]

S Sevimay và A Kalayci (2005), đánh giá khả năng trám bít ống tủy và đápứng với ngà răng của hai loại XMNN dựa trên nền nhựa Nghiên cứu được thựchiện trên 55 răng cửa hàm trên được chia là hai nhóm (mỗi nhóm 25 răng) và 5 răngcòn lại lại làm nhóm chứng Các răng được sửa soạn và trám bít với côn gutta-percha và xi măng AH Plus hoặc EndoRez Trong mỗi nhóm thử nghiệm, 20 răngđược dùng để đánh giá vi kẽ bằng phương pháp thâm nhập phẩm nhuộm xanhmethylene 2% trong 7 ngày; 5 răng còn lại được quan sát dưới kính hiển vi điện tửquét Kết quả cho thấy giá trị trung bình của vi kẽ khác biệt có ý nghĩa thống kê

Trang 24

giữa 2 nhóm thử nghiệm (p<0,01) Khi quan sát trên kính hiển vi điện tử quét, cảhai loại xi măng đều có đáp ứng với ngà răng ở phía thân và 1/3 giữa chân răng tốthơn 1/3 chóp Ở 1/3 chóp, AH Plus đáp ứng với ngà tốt hơn EndoRez Tóm lại, ximăng AH Plus có khả năng trám bít ống tủy và đáp ứng với ngà răng tốt hơnEndoRez [50].

Viapiana R và cs (2015), đánh giá khả năng trám bít của xi măng CS và AHPlus Nghiên cứu thực hiện trên 20 răng cối nhỏ hàm dưới với ba phương pháp:chụp cắt lớp, đánh dấu huỳnh quang và dịch chuyển chất lỏng Kết quả cho thấymức độ vi kẽ của nhóm răng được trám bít bằng xi măng CS và AH Plus khác biệtkhông có ý nghĩa thống kê khi đánh giá bằng phương pháp đánh dấu huỳnh quang

và dịch chuyển chất lỏng Khi sử dụng phương pháp chụp cắt lớp, mức độ vi kẽ củanhóm răng trám bít bằng xi măng CS cao hơn có ý nghĩa so với nhóm răng đượctrám bít bằng xi măng AH Plus Tác giả còn ghi nhận các phương pháp có sự tươngquan yếu [58]

Trang 25

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện trên 50 răng cối nhỏ hàm dưới của người đãnhổ Tiêu chuẩn chọn mẫu:

 Răng còn thân răng nguyên vẹn,

 Chân răng đã đóng chóp,

 Răng có 1 ống tủy

Tiêu chuẩn loại trừ:

 Răng đã điều trị tủy,

 Ống tủy bị vôi hóa

- Xi măng nội nha CS

- Xi măng nội nha có thành phần chính là polymer

- Nước muối sinh lý (Mekophar,Việt Nam)

- Dung dịch SBF: là dung dịch giả dịch thể người, có thành phần các iontương tự như máu trong cơ thể con người (được pha chế tại phòng thínghiệm sinh học phân tử, ĐH Y Dược TP HCM) Thành phần ion trongdung dịch được thể hiện như sau [37]:

Bảng 2.3 Nồng độ các ion trong dung dịch SBF (mM/l)

Trang 26

- Nước cất (Mekophar, Việt Nam).

- Dung dịch bơm rửa NaClO 2,5% (được pha chế tại khoa Răng Hàm Mặt,

ĐH Y Dược TP HCM)

- GlydeTM TM FILE PREP (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Côn giấy (Dentsply Asia, Hong Kong)

- Gutta – percha ProTaper (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Xi măng trám GIC (GC Corporation, Tokyo, Japan)

- Dung dịch xanh methylene 2% (Công ty dược phẩm OPC, Việt Nam)

- Sơn móng tay (Prosper – Nail Polish)

- Dung dịch tẩy sơn móng tay chứa aceton (Công ty TNHH Mỹ PhẩmThanh Bình, Việt Nam)

2.2 Dụng cụ nghiên cứu

- Máy cạo vôi P5 (Booster-Satelec)

- Máy khoan tốc độ chậm (Marathon SMT Saeyang Microtech, Korea)

- Dĩa cắt kim cương (NTI-Kahla GmbH & Co, Germany)

- Mũi khoan Endo Access và Endo-Z (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Mũi khoan Gate – Glidden (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Trâm giũa K số 10, 15, 30 (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Bộ trâm giũa bằng máy ProTaper (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Máy nội nha Wave-oneTM (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

- Thước nội nha (Dentsply, Maillefer, Switzerland)

Trang 27

- Ống chích bơm rửa 10cc và kim số 27.

- Kính hiển vi soi nổi (SZX10 Olympus, Japan)

- Camera kết nối với máy tính có phần mềm chụp ảnh (Optika B5)

- Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopy – SEM vớiEDS model Jeol/ JSM- 6480LV (Japan), phòng thí nghiệm Công nghệNano, Đại học Quốc gia TP.HCM)

- Máy chụp X-quang quanh chóp (khu tiền lâm sàng, khoa Răng Hàm Mặt,Đại học Y Dược TP.HCM)

Hình 2.1 Máy nội nha và bộ trâm ProTaper

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Thực nghiệm thống kê mô tả

Mẫu nghiên cứu gồm 50 răng cối nhỏ hàm dưới Các răng được xác địnhchiều dài làm việc với trâm K số 10 hoặc 15, sau đó tạo dạng ống tủy với hệ thốngProTaper Chọn ngẫu nhiên 4 răng làm nhóm chứng âm và dương (mỗi nhóm gồm 2răng), 46 răng còn lại chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm, mỗi nhóm 23 răng:

Trang 28

Nhóm 1: trám bít với xi măng polymer, chia ngẫu nhiên làm 3 nhóm nhỏ:

- Nhóm 1A (10 răng): đánh giá sự thâm nhập phẩm nhuộm sau 2 ngày

- Nhóm 1B (10 răng): đánh giá sự thâm nhập phẩm nhuộm sau 30 ngày

- Nhóm 1C (3 răng): đánh giá giao diện giữa xi măng và thành ngà răng; ximăng và côn gutta-percha sau 30 ngày ngâm trong dung dịch SBF

Nhóm 2: trám bít với xi măng CS mới, chia làm 3 nhóm nhỏ:

- Nhóm 2A (10 răng): đánh giá sự thâm nhập phẩm nhuộm sau 2 ngày

- Nhóm 2B (10 răng): đánh giá sự thâm nhập phẩm nhuộm sau 30 ngày

- Nhóm 2C (3 răng): đánh giá giao diện giữa xi măng và thành ngà răng; ximăng và côn gutta-percha sau 30 ngày ngâm trong dung dịch SBF

Hai nhóm chứng: không trám bít ống tủy

- Nhóm chứng dương: không trám bít ống tủy, trám buồng tủy bằng ximăng trám GIC sau đó sơn cách ly bằng sơn móng tay cách chóp 2mm.Nhóm chứng này nhằm chứng minh phẩm nhuộm chỉ có thể xâm nhập vàotrong ống tủy qua lỗ chóp chân răng

- Nhóm chứng âm: không trám bít ống tủy, trám buồng tủy bằng xi măngtrám GIC sau đó sơn cách ly bằng sơn móng tay toàn bộ răng (phủ kínchóp răng) Nhóm chứng này nhằm chứng minh khả năng cách ly của sơnmóng tay

Trang 29

Hình 2.2 Các nhóm răng nghiên cứu

2.3.2 Các bước thực hiện:

2.3.2.1 Chọn răng và bảo quản răng:

- Chọn răng: 50 răng cối nhỏ hàm dưới có một ống tủy thẳng Chụp phimquanh chóp để xác định răng chưa điều trị tủy và không bị vôi hóa ốngtủy

- Bảo quản răng: sau khi nhổ, răng được cạo vôi (nếu có) và lấy sạch mômềm còn dính trên bề mặt chân răng, chú ý không gây tổn hại bề mặtnày, ngâm trong dung dịch nước muối 0,9%, thay dung dịch mỗi 24 giờ,bảo quản ở nhiệt độ phòng, thời gian bảo quản không quá 2 tháng

2.3.2.2 Sửa soạn ống tủy:

- Mở đường vào ống tủy bằng mũi khoan Endo Access và Endo – Z

- Xác định chiều dài làm việc: dùng trâm số 10 hay 15 đưa vào ống tủy chođến khi nhìn thấy đầu trâm ngay lỗ chóp răng Đo chiều dài trâm và trừ đi0,5mm (chiều dài làm việc trên lâm sàng)

Trang 30

- Sửa soạn bằng trâm ProTaper Universal quay máy với phương pháp bướctới Thiết lập chương trình trên WaveOneTM Endo Motor dùng cho trâmProTaper Universal:

 Trâm S1: mô men xoắn 3.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm S2: mô men xoắn 1.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F1: mô men xoắn 1.5 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F2: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F3: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F3: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F4: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phút

 Trâm F5: mô men xoắn 2.0 Ncm, tốc độ quay 250 vòng/phútDùng trâm K số 10 hoặc15 thông suốt ống tủy Sử dụng trâm ProTaper S1đưa vào ống tủy, sửa soạn với động tác quét và làm rộng ống tủy không quá chiềudài trâm K số 15 thăm dò ban đầu (khoảng 2/3 chiều dài ống tủy chân răng), sau đósửa soạn tới đúng chiều dài làm việc Rút dụng cụ ra khỏi ống tủy và bơm rửa.Tương tự, sửa soạn ống tủy tới đúng chiều dài làm việc bằng trâm S2 với động tácquét, trâm F1, F2, F3, F4, F5 với động tác lên xuống thụ động Động tác đưa trâmxuống nhẹ nhàng không áp lực, nếu cảm giác bị chặt thì rút nhẹ trâm lên rồi sau đómới đưa xuống tiếp Sau mỗi lần thay dụng cụ và khi kết thúc quá trình sửa soạn,thực hiện bơm rửa với NaOCl 2,5%, lau sạch các rãnh trâm bằng gạc ẩm

Trong quá trình sửa soạn:

+ Dùng Glyde phủ lên trâm làm chất bôi trơn

+ Bơm rửa ống tủy bằng dung dịch NaClO 2,5% giữa mỗi lần thay trâm vàkhi kết thúc quá trình sửa soạn ống tủy

Trang 31

Sửa soạn xi măng trám bít:

Trộn xi măng polymer và CS mới theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Kỹ thuật trám bít ống tủy một côn:

- Thử côn gutta – percha ProTaper cỡ F5 đến hết chiều dài làm việc

- Lau khô ống tủy bằng côn giấy, đưa xi măng trám bít vào thành ống tủybằng trâm K-file 30

- Phủ một lớp xi măng mỏng lên côn và đưa côn đến chiều dài làm việc

- Cắt phần côn gutta – percha dư bằng cây cắt côn hơ nóng

- Trám buồng tủy bằng vật liệu trám GIC

Hình 2.3 Răng sau khi được TBOT

Trang 32

2.3.2.4 Chụp phim kiểm tra và lưu giữ mẫu.

Chụp hai phim quanh chóp theo hai hướng ngoài – trong và gần – xa cho tất

cả răng đã được trám bít ống tủy để đánh giá ống tủy được trám kín theo ba chiềutrong không gian

Đánh giá sự trám kín ống tủy trên phim X quang quanh chóp và phân loạimẫu răng đủ tiêu chuẩn và không đủ tiêu chuẩn trám kín ống tủy, bước này do chínhngười nghiên cứu thực hiện:

- Mẫu răng đủ tiêu chuẩn: trên phim X quang quanh chóp có hình ảnh ốngtủy thuôn đều, cản quang đồng nhất

- Mẫu răng không đủ tiêu chuẩn: trên phim X quang quanh chóp có hìnhảnh ống tủy bị khấc, cản quang không đồng nhất, có vùng thấu quanggiữa khối vật liệu trám bít và thành ống tủy Các mẫu răng không đủ tiêuchuẩn bị loại bỏ và được thay thế

Hình 2.4 Kiểm tra trước và sau khi răng được TBOT

Lưu giữ mẫu ở nhiệt độ phòng trong 2 ngày, đảm bảo xi măng trám bít ốngtủy đông cứng hoàn toàn

Trang 33

2.3.2.5 Bảo quản răng trong dung dịch SBF

Sau khi lưu giữ mẫu 2 ngày để xi măng đông cứng hoàn toàn, các răng ởnhóm 1B, 1C, 2B, 2C được ngâm trong dung dịch SBF trong 30 ngày

- Đối với nhóm chứng âm, sơn 3 lớp hết toàn bộ răng (phủ kín chóp răng)

- Đối với nhóm chứng dương, sơn 3 lớp cách chóp 2 mm

- Sau 2 giờ quét sơn móng tay, ngâm các răng vào dung dịch phẩm nhuộmxanh methylene 2% trong 2 ngày

- Sau 2 ngày, các răng ở nhóm chứng âm và dương, 1A và 2A được lấy rakhỏi dung dịch phẩm nhuộm, loại bỏ lớp sơn bằng dung dịch có chứaaceton và rửa dưới vòi nước 5 phút để loại bỏ phẩm nhuộm bám trên bềmặt chân răng, sau đó thổi khô răng

Sau 30 ngày, 10 răng ở nhóm 1B và 10 răng ở nhóm 2B được lấy ngẫu nhiên

ra khỏi dung dịch SBF và thực hiện các bước nhuộm màu tương tự với nhóm răng1A và 2A

Trang 34

Hình 2.5 Các răng được sơn cách ly

Trang 35

Hình 2.6 Răng được ngâm trong dung dịch xanh methylene 2% 2.3.2.7 Chia chân răng theo chiều dọc:

Dùng đĩa cắt kim cương cắt dọc răng theo hướng ngoài trong, song song vớitrục chân răng sao cho qua trung tâm chân răng và cắt ngang qua lỗ chóp răng

2.3.2.8 Đo mức thâm nhập phẩm nhuộm

Mức thâm nhập phẩm nhuộm qua vùng chóp răng sau khi TBOT 2 ngày và

30 ngày được quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi soi nổi độ phóng đại × 10 lầnvới bộ kết nối kính hiển vi Optikam B5

Sử dụng phần mềm Imagej để đo mức thâm nhập phẩm nhuộm vào trong ốngtủy từ phía chóp ở cả hai nửa cắt của chân răng Chọn giá trị lớn hơn là độ thâmnhập phẩm nhuộm của răng

Trang 36

- Khoảng cách thâm nhập màu: được xác định bằng khoảng cách từ đầu tậncùng của khối vật liệu trám bít đến vị trí thâm nhập sâu nhất của phẩmnhuộm về phía thân răng.

- Việc đo đạc được thực hiện bởi hai quan sát viên có kinh nghiệm

- Đơn vị đo tính bằng mm

Hình 2.7 Kính hiển vi soi nổi (SZX10 Olympus)

Hình 2.8 Bộ kết nối với kính hiển vi Optikam B5(Optika, Italia)

Trang 37

Hình 2.9 Đo khoảng cách thâm nhập phẩm nhuộm 2.3.2.9 Quan sát giao diện giữa khối vật liệu trám bít với thành ngà răng.

Sau 30 ngày, các răng ở nhóm 1C và 2C được lấy ra khỏi dung dịch SBF, cắtngang thân răng tại vị trí 1/3 chóp bằng đĩa cắt kim cương và đánh bóng bằng giấynhám nước có độ mịn tăng dần: 1200, 1500, 2000 bằng máy LaboPol-5 của hãngStruers® Sau đó, mẫu được quan sát dưới kính hiển vi điện tử quét (SEM)

2.3.3 Các biến nghiên cứu

Mức độ vi kẽ: là khoảng cách thâm nhập màu, được xác định bằng khoảngcách từ đầu tận cùng của khối vật liệu trám bít đến vị trí thâm nhập sâu nhất củaphẩm nhuộm về phía thân răng Đơn vị đo tính bằng mm

2.3.4 Xử lý số liệu và phân tích thống kê:

Ghi nhận số liệu và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0

2.3.5 Kiểm soát sai lệch thông tin

Các răng nghiên cứu được chia nhóm ngẫu nhiên

Mức độ thâm nhập phẩm nhuộm được đo đạc theo kiểu “mù”, thực hiện bởihai quan sát viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực nội nha Hai quan sát viên thực hiệnviệc đo mẫu độc lập nhau và ghi nhận kết quả vào phiếu theo mã số của mẫu Sau

Khoảng cách thâm nhập phẩm nhuộm

Trang 38

khi thu thập số liệu, tiến hành phép kiểm tương quan nội lớp để đánh giá tươngquan kết quả giữa hai quan sát viên trong mỗi lần đo Giá trị tương quan: k > 0,95cho thấy không có sự khác biệt về kết quả đo giữa hai quan sát viên (phụ lục 9).

Trang 39

Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

1C

30ngày(SBF)

NHÓM CHỨNG

(+)2

(-)2

2A

2ngày

2B

30ngày(SBF)

2C

30ngày(SBF)

Xanhmethylene SEM

Ngày đăng: 12/04/2021, 21:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Khoa (2010), “Ảnh hưởng của Laser Diode bước song 980 nm lên khả năng dán kín của vật liệu trám bít ống tủy”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2010, Đại học Y Dược Tp HCM, tr. 41- 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Laser Diode bước song 980 nm lênkhả năng dán kín của vật liệu trám bít ống tủy”, "Tuyển tập các công trìnhnghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2010
Tác giả: Phạm Văn Khoa
Năm: 2010
2. Nguyễn Kim Ngọc, Hoàng Tử Hùng (2006), “Ảnh hưởng của hai hình thức bơm rửa đối với khả năng trám bít hệ thống ống tủy, nghiên cứu in vitro”, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2006, Đại học Y Dược Tp HCM, tr. 59-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hai hình thứcbơm rửa đối với khả năng trám bít hệ thống ống tủy, nghiên cứu in vitro”,"Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học răng hàm mặt 2006
Tác giả: Nguyễn Kim Ngọc, Hoàng Tử Hùng
Năm: 2006
3. Trần Thị Anh Thư, Nguyễn Thị Kim Anh (2012), “Đánh giá vi kẽ vùng chóp răng, so sánh giữa hai phương pháp trám bít ống tủy, nghiên cứu in vitro”, Tạp chí y học thực hành, tập 16 (2), tr.203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá vi kẽ vùng chóprăng, so sánh giữa hai phương pháp trám bít ống tủy, nghiên cứu in vitro”,"Tạp chí y học thực hành
Tác giả: Trần Thị Anh Thư, Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2012
4. Nguyễn Thị Thanh Vân (2005), “Tổng quan về xi măng nội nha”, Cập nhật nha khoa 2006, tr. 32-44.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về xi măng nội nha”, "Cập nhậtnha khoa 2006
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Vân
Năm: 2005
5. Abarca AM, Bustos A, Navia M (2001), “ A comparition of capical sealing and extrustion between Thermafil and lateral condensation technique”, J Endod, 27 (11), pp. 670-672 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparition of capical sealingand extrustion between Thermafil and lateral condensation technique”, "JEndod
Tác giả: Abarca AM, Bustos A, Navia M
Năm: 2001
6. Ahlberg KMF, Assavanop P, Tay WM (1995), “A comparison of the apical dye penetration patterns shown by methylen blue and India ink in rootfilled teeth”, Int Endo J, 28, pp. 30-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparison of the apicaldye penetration patterns shown by methylen blue and India ink in rootfilledteeth”, "Int Endo J
Tác giả: Ahlberg KMF, Assavanop P, Tay WM
Năm: 1995
7. Ayar LR, Love RM (2004), “Shaping ability of Profile and K3 rotary Ni-Ti instruments when used in a variable tip sequence in simulated curved root canals”, Int Endod J, 37, pp. 593-601 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Shaping ability of Profile and K3 rotary Ni-Tiinstruments when used in a variable tip sequence in simulated curved rootcanals”, "Int Endod J
Tác giả: Ayar LR, Love RM
Năm: 2004
8. Barthel CR, Moshonov J, Shuping G, Ortavik D (1999), “Bacterial leakage versus dye leakage in obturated root canal”, Int Endo J, 32, pp. 370-375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacterial leakageversus dye leakage in obturated root canal”, "Int Endo J
Tác giả: Barthel CR, Moshonov J, Shuping G, Ortavik D
Năm: 1999
10. Camps J, Pasley D (2003), “Reliability of the dye penetration studies”, J Endo, 29, pp. 592-594 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reliability of the dye penetration studies”, "J Endo
Tác giả: Camps J, Pasley D
Năm: 2003
11. Camps J, Jeaneau C, El Ayachi I, Laurent P, About I (2015), “Bioactivity of a Calcium Silicate-based Endodontic Cement (BioRoot RCS): Interactions with Human Periodontal Ligament Cells In Vitro”, J Endod, 41(9), pp. 1463- 1473 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bioactivity of aCalcium Silicate-based Endodontic Cement (BioRoot RCS): Interactionswith Human Periodontal Ligament Cells In Vitro”, "J Endod
Tác giả: Camps J, Jeaneau C, El Ayachi I, Laurent P, About I
Năm: 2015
12. Camilleri J, Sorrentino F, Damidot D (2013), “Investigation of the hydration and bioactivity of radiopacifided tricalcium silicate cement, Biodentine and MTA Angelus”, Dent Mater, 29 (5), pp. 580 – 593 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investigation of the hydrationand bioactivity of radiopacifided tricalcium silicate cement, Biodentine andMTA Angelus”, "Dent Mater
Tác giả: Camilleri J, Sorrentino F, Damidot D
Năm: 2013
13. Carrotte P (2004), “Endodontics: Part 5. Basic instruments and materials for root canal treatment”, Br Dent J, 197 (8), pp. 455-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Endodontics: Part 5. Basic instruments and materials forroot canal treatment”, "Br Dent J
Tác giả: Carrotte P
Năm: 2004
14. Clauder T, Baumann MA (2004), “ProTaper NT system”, Dent Clin North Am, 48 (1), pp. 87-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ProTaper NT system”, "Dent Clin NorthAm
Tác giả: Clauder T, Baumann MA
Năm: 2004
15. Cleghon BM, Christie WH, Dong CC (2007), “The root and root canal morphology of the human mandibular first premolar: a literature review”, J Endod, 33 (5), pp. 509-516 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The root and root canalmorphology of the human mandibular first premolar: a literature review
Tác giả: Cleghon BM, Christie WH, Dong CC
Năm: 2007
16. Çobankara FK, Adanir N, Belli S (2004), “Evaluation of the influence of smear layer on the apical and coronal sealing ability of two sealers”, J Endod, 30, pp. 406-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of the influence ofsmear layer on the apical and coronal sealing ability of two sealers”, "JEndod
Tác giả: Çobankara FK, Adanir N, Belli S
Năm: 2004
17. Cole AS, Eastoe JE (1988), “Biochemistry and oral biology”, London: Wright, 2, pp. 452-467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biochemistry and oral biology”, "London: Wright
Tác giả: Cole AS, Eastoe JE
Năm: 1988
18. Dandakis C, Kaliva M, Lambrianidis T, Kosti E (2005), “An in vitro comparison of the sealing ability of three endodontic sealers used in canals with iatrogenic enlargement of the apical constriction”, J Endod, 31, pp. 190- 193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An in vitrocomparison of the sealing ability of three endodontic sealers used in canalswith iatrogenic enlargement of the apical constriction”, "J Endod
Tác giả: Dandakis C, Kaliva M, Lambrianidis T, Kosti E
Năm: 2005
19. De Almeida WA, Leonardo MR, Tanomaru Filho M, Silva LAB (2000),“Evalution of apical sealing of three endodontic sealers”, Int Edod J, 33, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evalution of apical sealing of three endodontic sealers”, "Int Edod J
Tác giả: De Almeida WA, Leonardo MR, Tanomaru Filho M, Silva LAB
Năm: 2000
20. De Gee AJ, Wu MK, Wesselink PR (1994), “Sealing properties of Ketac – Endo glass ionomer cement and AH26 root canal sealers”, Int Endod J, 27, pp. 239-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sealing properties of Ketac –Endo glass ionomer cement and AH26 root canal sealers”, "Int Endod J
Tác giả: De Gee AJ, Wu MK, Wesselink PR
Năm: 1994
21. Dickson SS, Peter DD (1993), “Leakage evaluation with and without vacuum of two gutta – percha fill techniques”, J Endod, 19, pp. 398-304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Leakage evaluation with and without vacuumof two gutta – percha fill techniques”, "J Endod
Tác giả: Dickson SS, Peter DD
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w