Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật sự rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…” mà sử gia Ngô Sĩ Liên từng xót xa, thì nếu chiêm nghiệm sâu sắc, chiến tranh cũng chỉ có thể t[r]
Trang 1Đừng để mất dần văn hóa làng
GS Tương Lai
Hà Nội ngàn năm
03:19' PM - Thứ hai, 20/04/2009
Trong sâu thẳm tâm thức người Việt, hình ảnh mái đình, cây đa luôn ở vào cung
bậc nhạy cảm nhất và có sức gợi nhớ mãnh liệt Bất cứ người Việt nào cũng có và
cần một vùng quê để yêu thương, để nhớ Thật bất hạnh cho ai đó không có được
một “vùng thương nhớ” ấy trong hoài niệm tuổi thơ Đã là hoài niệm thì cho dù
nơi ấy có cơ cực tủi nhục đến đâu, có xơ xác lam lũ thế nào, có để lại những dấu
ấn buồn đau đến mấy, thì vẫn có sức gọi dậy những vang bóng một thời đầy ắp
những kỉ niệm mông lung, ấm áp Về làng, ta về làng, hai tiếng giục giã đến nao
lòng những người vì cuộc mưu sinh, vì một sự nghiệp phải xa quê “Ai về làng
cũ hôm nay, Thư này đưa hộ cho thầy mẹ tôi Con đi mười mấy năm trời, Một
thân bé bỏng nửa đời gió sương…” (Nguyễn Bính).
Mà đã về làng thì làm sao có thể không nhớ, không thăm cái đình
“Trúc xinh trúc mọc bên đình, em xinh ” đấy là cái hồn cốt của làng đã được
thăng hoa trong cảm thức thẩm mĩ dân tộc với những hình tượng độc đáo xao
động lòng người chứ cái đình thường giữa một vị trí trang trọng trong ý thức của
dân làng “Cái đình là trung tâm của làng Làng nào cũng có đền thờ ông thần
hoàng Đình được cất cao ráo khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi phong
quang nhất”, Tô Hoài luận về “Cái đình làng” trong “Chuyện cũ Hà Nội” như
vậy
Trong “Việt Nam văn hóa sử cương” xuất bản năm 1938, học giả Đào Duy Anh
chỉ rõ: “Đối với dân làng, thần Thành Hoàng là biểu tượng của lịch sử, phong
tục, đạo đức pháp lệ cùng hi vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứ uy
quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn
thể có thống nhất và tổ chức chặt chịa”.
Ẩn chìm trong màn sương hư ảo của tín ngưỡng mang tính huyền bí là bóng dáng
của sức cố kết cộng đồng trong trong tâm lý làng xã dược thăng hoa, bụi thời
gian dần dà phong kín cái cốt lõi hiện thực của cuộc sống làng quê Trong dòng
chảy thời gian ấy, với bao biến thiên của lịch sử và những đảo lộn xã hội, cái làng
quê đã bị xáo động dữ dội, những tục lệ ấy rồi cũng nhạt nhòa, may mắn chỉ còn
gợi lại trong hồi ức của một lớp người nay đã ngày càng hiếm Tuy nhiên , dù có
chìm vào quên lãng, rồi đây lớp người “cổ lai hi” hôm nay đã không còn nữa, thì
hồi ức ấy vẫn còn đọng lại trong nền văn hóa làng vốn là nguồn sinh khí nuôi
dưỡng bản sắc văn hóa dân tộc
“Ngày qua ngày lại qua ngày Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng” Có người
cho rằng, cái quy luật tất yếu và phũ phàng của quá trình đô thị hóa, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa “ngày qua ngày lại qua ngày” dường như đã vùi dập không
thương tiếc nền văn hóa làng ấy Cho dù có muốn cưỡng lại cũng chỉ là những
Trang 2khát vọng Bởi thế, không không biết với việc Hà Nội mở rộng gấp nhiều lần,
“Ai khéo xoay ra phố nửa làng” (Tú Xương) thì người nông dân Thủ Đô với
“hương dồng gió nội bay đi ít nhiều” liệu có góp phần vào việc “nông thôn hóa
đô thi” của một Hà Nội văn minh, hiện đại đến đâu và rồi có dị ứng lại với nhữngcặn bã của văn minh đô thị?
Một câu hỏi đặt ra: Liệu có nhất thiết buộc phải đánh đổi một nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa dân tộc để đổi lấy một nông thôn tàn tạ, nham nhở, phố không ra phố, làng chẳng ra làng không? Câu hỏi đó như một điệp khúc buồn day dứt, cứ trở đi trở lại mãi khi bàn về vấn nạn nông
thôn, đặc biệt khi nói về văn hóa làng.
Những tổn thương nặng nề trong chiến tranh, nhất là những vết thương trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức ở miền Bắc, với những năm 50 thế kỉ XX chưakịp bịt miệng, lên da non, thì những sai lầm của chủ nghĩ giáo điều duy ý chí trong việc áp đặt mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, rồi với việc hối hả thúc
đẩy quá trình tập thể hóa nông nghiệp với hợp tác xã bậc thấp rồi hợp tác xã
bậc cao, tiếp tục làm cho nó lở loét thêm, thúc đẩy sự biến dạng Và tàn tạ của nền văn hóa làng Và rồi, với tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đô thị hóa chưa có một định hướng hợp lý đã dẩy nhanh thêm quá trình tan rã và
biến dạng của nền văn hóa làng đó Không khéo lần công phá dữ dội của làn
sóng đô thị hóa và công nghiệp kì này, nếu không có một sự chuyển đổi về nhận thức và đường lối, sẽ là đòn trí mạng làm sụp đổ hẳn nền văn hóa làng Mà cần
nhớ rắng, làm sụp đổ hẳn nền văn hóa làng, tức là nhổ bật cái gốc của văn hóa
Việt nam với cấu trúc chặt chẽ của ba nhân tố: Văn hóa nhà, văn hóa làng và văn hóa nước, cái làm nên bản sắc của dân tộc Việt Nam.
Để cảm nhận được đầy đủ điều ấy, phải ngược dòng lịch sử mà hiểu ra rằng trong
Trang 3cái thế kẹt của vị thế địa chính trị “trứng nằm dưới đá” Việt nam muốn tồn tại và phát triển phải rèn cho mình bản lĩnh có cứng mới đứng được đầu gió, dám tự
khẳng định mình, sớm rèn luyện bản lĩnh “dám là mình” Không có phẩm chất
đó thì dân tộc này không thể tồn tại chứ chưa nói gì đến phát triển Biết bao lần
kẻ thù đã muốn biến nước ta thành quận huyện của chúng, thậm chí chỉ là một xứthuộc mẫu quốc ở tít tắp bên kia đại dương, xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới Để thực hiện phải tiêu diệt ý chí đề kháng được hun đúc trong nền văn hóa vốn là nguồn sức mạnh bất tận của dân tộc Việt Nam Kẻ thù không sao đồng hóađược dân tộc này vì chúng có thể chiếm giữ được nước (thủ đô, huyết mạch giao thông) song không sao chiếm được làng, không làm băng hoại được nền văn hóa làng Còn làng thì còn nước là sức sống bất tận của dân tộc ta Cốt lõi của sức sống đó là gì, chất xi măng gắn kết mọi con người trong cộng đồng dân tộc này là
gì, nếu không phải là văn hóa? Nói như Phạm Văn: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua được để không ngừng lớn mạnh”.
Những cơn binh lửa tàn phá thành tựu của nền văn hóa dân tộc khi… “sách vở đi đời Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn, thật sự rất khổ tâm về nỗi nét sai, chữ sót…” mà sử gia Ngô Sĩ Liên từng xót xa, thì nếu chiêm nghiệm sâu sắc,
chiến tranh cũng chỉ có thể tiêu hủy những thành tựu văn hóa vật thể và khi cơn binh lửa qua đi vẫn có thể trùng tu, xây dựng lại, còn những hủy hoại diễn ra từ sau những năm 50 thế kỉ XX trở lại đây, thì không chỉ những di sản văn hóa vật thể mà cùng với chúng những di sản văn hóa phi vật thể, đời sống tâm linh, nơi sâu thẳm của tâm hồn con người, có ý nghĩa khởi động, dẫn dắt ý nghĩ và hành động hướng thiện của con người đã bị xúc phạm dữ dội
Dường như chúng ta chưa thấy và không chịu thấy rằng, được đặt vào nơi phong quang nhất, trung tâm của làng, ngôi đình làng có ý nghĩa thiêng liêng trong đời
sống làng quê Cùng với ngôi đình làng, phải kể đến ngôi chùa làng Chùa làng,
đáp ứng một nhu cầu rất sâu đậm của đời sống thôn dã, là sự cân đối trở lại nét bất bình đẳng nặng nề trong sinh hoạt cộng đồng làng quê Nếu ở đình làng, ngoài những ngày sóc vọng lễ tiết có “hội làng mở giữa mùa thu” mà cả dân làng đều tụ hội thì thông thường, chốn đình trung chỉ dành cho các quan viên bàn
“việc làng”, người phụ nữ không can dự thì ngôi chùa làng là nơi dành cho các
họ, các cụ, các bà, các cô thôn nữ, và đương nhiên trẻ em được dắt theo
Đình làng, chùa làng, những biểu tượng văn hóa gần gũi, gắn bó với người nông dân, kể cả những người thành thị là gốc gác nông dân chính là báu vật quốc gia sát sườn với con người đang sống, đang thực hành công nghiệp hóa, đô thị hóa,
hiện đại hóa Trong một bài viết cảm động, tác giả của “Về nguồn”, nhà sư Thích Chơn Thiện đăng trên “Văn hóa Phật giáo” số 71 đã khẩn khoản: “Đất vua, chùa làng vốn là căn bản của Phật giáo, với số nông dân chiếm khoảng 70% dân
số cả nước, thế mà hình ảnh ngôi chùa làng, tiếng chuông thanh thản, đầm ấm…
đang trở nên hiếm hoi ở nông thôn Ước chi mỗi làng quê đều có đình, có chùa…
Trang 4Về làng cũng chính là về với tâm hồn dân tộc, với an bình, hạnh lạc Mong thay!
Mà thật ra, có người dân thành phố nào không có gốc gác nông thôn?
Nói về cái “gốc gác” nông thôn ấy, người viết bài này đã có dịp gợi lên trong mộtbài viết đã đăng trên Hà Nội ngàn năm về nét duyên dáng “phố” quyện vào nhau, trong “phố phái”, tên gọi quen thuộc một số sáng tác của danh họa Bùi Xuân Phái, báu vật của thủ đô Những ý niệm sâu lắng về đất nước: Nghèo, nhưng dám
là mình, từ một nền văn minh lúa nước của miền nhiệt đới gió mùa mà chủ động
và sáng tạo trong cách đi vào công nghiệp hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa để từ đó
mà không đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc Ấy thế mà, có người đã dõng dạc
tuyên bố: “Muốn hội nhập, phải thoát khỏi văn hóa làng xã” Cho nên, nói về
hiện tượng đáng buồn đã xảy ra trong sự kiện “Lễ hội phố hoa Hà Nội chào
mừng năm 2009 vừa rồi, người ta đã quy tất tội lỗi cho văn hóa làng! Rằng: “Xét
về mặt văn hóa, những hành động này phát xuất từ văn hóa nông thôn, văn hóa làng xã mà ra… lối sống của môi trường làng xã còn đậm chất ở nhiều người dân Hà Nội nên đã gây ra sự cố trong những lễ hội hoa vừa qua” Và rằng, “khi
mở cửa, chất nông thôn đi vào đô thị nhiều hơn chất quốc tế không bổ sung kịp, không nhiều bằng chất nông thôn” Từ đó mà đưa ra kết luận rất lạ lùng: “Người
ta bẻ hoa, giật hoa vì người ta coi đó là chuyện hồn nhiên Họ không thấy xấu
hổ, không biết mình thiếu văn hóa Đó là bản chất của văn hóa làng xã”.
Sao lại có thái độ khinh miệt với nông thôn và vô ơn làm vậy với người nông
dân? Đành rằng trong “Văn hóa làng” đã trầm tích những mặt tiêu cực của lối
sống tiểu nông đang là vật cản cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa, kiểu tư duy manh núm, vụn vặt tự trói mình trong lũy tre làng “ta về ta tắm ao ta”, dìm chết những khát vọng đổi mới, duy trì một tập quán trì trệ, bảo thủ Cũng trong bài viết này, xin chỉ nhắc lại mỗi một khái quát về “mười cái nhất” của người nông
Trang 5dân: Cống hiến nhiều nhất Hy sinh lớn nhất Được giúp kém nhất Bị đè nén thảm nhất Bị tước đoạt nặng nhất Cam chịu lâu dài nhất Tha thứ cao nhất Thích nghi tài giỏi nhất Năng động khôn ngoan nhất.
Thay vì sự vô ơn với nông dân và thái độ miệt thị nông thôn, đổ lỗi cho “bản chấtcủa văn hóa làng” đã gây nên những hiện tượng phản văn hóa, phải biết đau nỗi
đau của con người ở khía cạnh tập trung nhất thuộc tính người: Nỗi đau văn hóa.
Hơn thế, phải nhận cho ra nỗi đau văn hóa cũng chính là nỗi đau xã hội ở dạng phức tạp nhất, vừa cụ thể, lại vừa khái quát Mà đã là vết thương xã hội, vết thương văn hóa thì rất khó chữa, đúng hơn, phải chữa rất công phu Phòng bệnh không tốt để xảy ra rồi thì phải chữa trị rất lâu dài Ngay khi vết thương đã lên danon thì vẫn dễ tái phát Vì thế, cần phải có sự suy nghĩ nghiêm cẩn để phân tích
một cách đầy đủ về hiện tượng đáng buồn nói trên ở chiều sâu của những ẩn ức
dồn nén, rồi bộc phát ra trong hành vi Cái đó, thuật ngữ chuyên môn xã hội gọi
là tâm trạng xã hội Cho nên, cùng với dồn lực tập trung tháo gỡ những khó khăn
vè kinh tế, phải đặc biệt coi trọng phân tích tâm trạng xã hội, có như vậy mới đưa
ra được những giải pháp đúng, Trực tiếp, cụ thể, và cơ bản để giải quyết từ gốc chứ không phỉa cắt tỉa từ cái ngọn
Và vì văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu, nên cho dù trải qua những tàn phá thô bạo, những trấn áp nặng nề, trong sâu thẳm tâm linh của ngườidân nông dân, những nội dung văn hóa vô hình không dễ gì mất đi được Chúng vẫn được ủ kín trong mỗi con người nhất là các cụ già Và đấy là lý do giải thích
sự khởi sắc của một số lễ nghi, tập tục qua các hội làng quê Tuy không mất đi được, song những tổn thương thì rất khó hàn gắn Những tổn thương đó đang được trị liệu, song hành với những trị liệu đó, “văn hóa làng" đang đứng trước một thách đố còn quyết liệt hơn nhiều làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa công nghiệp Liệu có thể khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại những hình bóng quê hương, những ngôi đình, những ngôi chùa thân thiết sâu thẳm
trong tâm thức người Việt chỉ còn là những “Vang bóng một thời”? Không!
“Văn hóa làng” chính là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn Việt Nam, góp phần hun đúcnên bản sắc văn hóa dân tộc được vun đắp trong suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, không có cái gốc đó, không thể có bề dày văn hóa hôm nay Càng đi vào hiện đại, càng tiến sâu vào quá trình vào quá trình hội nhập quốc tế, càng phải biết gìn giữ, vun đắp cho cái gốc ấy Đã mất gốc thì làm sao phát triển, và cho dù kinh tế có tăng trưởng bao nhiêu mà văn hóa lại lai căng, mất gốc thì sự tăng trưởng đó có chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa
Đương nhiên giữ lấy cái gốc không phải như giữ một cổ vật dặt trong hòm kín của viện bảo tàng Để cho cái gốc ấy vững thì phải luôn được tưới tắm, vun xới,
bổ sung để làm phong phú hơn sức sống văn hóa Việt Nam Đó là tính chất toàn dân tộc mới mẻ hơn, đa dạng hơn trong chất con người thời đại qua tiến trình giao thoa và hội nhập văn hóa thế giới Chất văn hóa toàn dân tộc và hội nhập
văn hóa với thế giới Chất văn hóa toàn dân tộc và chất văn hóa con người
Trang 6toàn cầu đang nâng cao và làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc với sự hòa
quyện gắn bó giữa ba nhân tố: Nhà, làng và nước Văn hóa nhà (gia đình), văn
hóa làng cũng vì thế có những nội dung mới, phong phú hơn, đa dạng hơn Đấy
cũng là quá hiện đại hóa truyền thống và truyền thống hóa hiện đại
Đấy là chưa nói đến chuyện, vào những thập kỷ cuối thế kỷ XX bước sang thế kỷ
XXI thế giới càng nhận thức rõ chính văn hóa mới là động lực và sức mạnh của
phát triển Trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế, mỗi quốc gia lại phải lo gìn
giữ và phát triển trong một thế giới đa cực và đa dạng
Hãy nhìn vào ngôi đình làng, ngôi chùa làng, trừ một số ít được giữ gìn hoặc
đang được trùng tu, còn lại thì đang tàn tạ, tiêu điều, bằng nhận thức ấy mới thấy
cần phải trả lại cho chúng cái chức năng văn hóa trong đời sống tinh thần của
người Việt Nam Biết hiện đại hóa những tinh hoa của bản lĩnh văn hóa truyền
thống, nâng chúng lên một tầm mới trong sự nghiệp phát triển và hội nhập của
đất nước hôm nay chúng ta sẽ đến với thế giới bằng chính bản lĩnh của văn hóa
Việt Nam
Nguồn: Hà Nội ngàn năm
Trang chủ > Suy ngẫm > Về luân lý và giá trị > Mỹ học
PHỎNG VẤN NGHỆ SĨ NHƯ HUY
“Cần biết tiếp nhận những cái khác mình!”
Nguyễn Vinh thực hiện
Sài Gòn Tiếp Thị
03:00' PM - Thứ hai, 20/04/2009
Qua các dự án mà tôi thực hiện, tham gia, hoặc chứng kiến, một số trong
những câu hỏi tôi thấy công chúng luôn đặt ra, đó là vậy, ý nghĩa của tác
phẩm này là thế nào? Tại sao nghệ thuật lại phải như thế? hay, để nhại lại
chính tên của cuốn sách, “thế (này) mà (dám) gọi là nghệ thuật ư?”
Như Huy, dịch giả cuốn Thế mà là nghệ thuật ư? (NXB Tri thức vừa phát hành)
cho biết Và dưới đây là bài trao đổi của phóng viên SGTT với ông về các vấn đề
chính mà cuốn sách triết học nghệ thuật này nêu ra như một chìa khoá giúp bạn
đọc tiếp cận cuốn sách
Là dịch giả bản dịch tiếng Việt, cũng là người viết bình luận, và người thực hành
nghệ thuật đương đại, xin ông cho biết những lý thuyết được đề cập trong cuốn
sách này có độ cần thiết thế nào đối với đời sống nghệ thuật trong bối cảnh Việt
Nam hiện nay?
Theo tôi, bất cứ ai đặt ra câu hỏi kiểu: “thế (này) mà (dám) gọi là nghệ thuật ư?”
thì trong óc họ đều đã có sẵn một khái niệm thế-nào-là-nghệ-thuật theo ý họ Và
câu hỏi trên có lẽ chỉ là hậu quả của cuộc xung đột giữa khái niệm về nghệ thuật
mà họ cho là đúng, với những gì đang hiện ra trước mắt họ, mà có lẽ vì chưa hiểu
Trang 7rõ, họ cho là không phải nghệ thuật.
Nhìn từ góc độ này, tôi cho rằng cuốn sách Thế mà là nghệ thuật ư?, trong hoàn cảnh Việt Nam, là vô cùng có ích bởi nó đã đề nghị cả một chuyến du hành thú
vị, từ chiều sâu – qua sự phát triển của các lý thuyết nghệ thuật, không chỉ ở Âu
Mỹ, mà còn ở các khu vực khác của thế giới, phương Đông hay châu Phi – cho tới chiều rộng – qua mọi biến cố về mặt văn hoá, chính trị và xã hội là tiền đề chocác cuộc thay đổi mô hình trong việc quan niệm về nghệ thuật Chính chuyến du hành vô tiền khoáng hậu này, tôi nghĩ sẽ giúp chúng ta nhận thấy rằng, theo sự phát triển của loài người, từ thời Hy Lạp cổ đại cho tới nay, đã có vô số khái niệm về nghệ thuật khác nhau, do chịu sự tác động từ các thay đổi về nền tảng triết học, thẩm mỹ, hoàn cảnh xã hội hay văn hoá khác nhau, đã và đang xuất hiện Và cũng chính những kiến thức về các khái niệm nghệ thuật khác nhau mà cuốn sách này, theo một phong cách rất gọn gàng và dễ hiểu, không đến mức triệttiêu được tất cả các câu hỏi như nêu trên, mà chuyển hướng nó, thành ra, ví dụ
như: “vậy ngoài khái niệm nghệ thuật của ta, thì còn có thêm những khái niệm nghệ thuật nào khác nữa?”, “liệu việc dùng khái niệm nghệ thuật này để cắt nghĩa một thực hành nghệ thuật thuộc khái niệm khác có là thoả đáng không?” hay “phải chăng khi coi các thực hành của những nghệ sĩ đương đại là lười biếng, lừa dối, hay các bài viết diễn giải là “văn vở”, thì lúc đó chính ta đang có chút bất công với họ?” Trong môi trường tiếp nhận nghệ thuật tại Việt Nam ngày
nay, với kinh nghiệm chủ quan của mình, tôi nghĩ dạng câu hỏi sau này là vô cùng cần thiết
Và cũng vì lý do này, tôi cho rằng những cuốn sách như cuốn sách này là rất cần thiết cho chúng ta
Trong cuốn sách này, Cynthia Freeland nhiều lần tham chiếu quan điểm nghệ thuật của John Dewey và Danto – cho nghệ thuật như một tiến trình dấn thân về nhận thức và đặt ra vấn đề văn cảnh, hay xa hơn là tính “nới rộng về nhận thức” (Irwin) Và một cách can đảm, cuốn sách hướng đến sự mở rộng (bao dung) phạm vi quan niệm nghệ thuật, giải trung tâm/không thừa nhận các định nghĩa kiểu tất định luận, hay các phương pháp dựa trên thiên kiến dẫn đến tự hạn hẹp trong cách nhìn, tư duy… Nhưng chính nó lại nhấn mạnh yếu tố cần phải có sự thông diễn, diễn giải… Có gì mâu thuẫn ở đây?
Thật ra đây là một cuốn sách có chủ đề rất rộng, mà cả bản thân John Dewey, triết gia đặt vấn đề nghệ thuật như sự trải nghiệm, Danto, triết gia đặt vấn đề đánhgiá nghệ thuật dựa trên văn cảnh lý thuyết, nghệ sĩ, Robert Irwin, người coi nghệ thuật là công cụ nới rộng nhận thức, hay bản thân chủ đề làm thế nào diễn giải nghệ thuật qua ví dụ của sự khó khăn khi tìm cách diễn giải bức tranh ba tấm của Francis Bacon hoặc bức tranh Las Meninas của Velazquez, đều chỉ là các ví dụ rất sinh động cho một bức tranh toàn cảnh và phong nhiêu về lịch sử cũng như sựbình đẳng của các khái niệm nghệ thuật dùng để đánh giá nghệ thuật từ cổ chí kim Có lẽ đây chính là nguyên nhân làm cho cuốn sách này có một giọng điệu
Trang 8“đa nguyên” và làm cho anh cảm thấy có đôi chút mâu thuẫn nào chăng? Tuy
nhiên, như anh thấy, trong môi trường Việt Nam hiện nay, nhiều người có nhận
định rằng trong phạm vi thế giới nghệ thuật có sự tồn tại đồng hiện của rất nhiều
khuynh hướng sáng tác và tiếp nhận khác nhau Nên việc có một bức tranh toàn
cảnh (dù sơ phác) về các lý thuyết hay khái niệm nghệ thuật khác nhau, để từ đó
rút ra các hành xử cho mình, cả trong thực hành nghệ thuật – làm cho nghệ thuật
của bản thân trở nên đa dạng hơn, lẫn trong việc tiếp nhận nghệ thuật – chấp nhận
được những cái khác mình, hẳn là điều rất cần thiết cho chúng ta!
Nguồn: Sài Gòn Tiếp Thị
Trong xu hướng tiến hóa của xã hội, vai trò của tri thức và trí thức ngày càng
quan trọng hơn Bài viết thứ hai của Giáo sư Nguyễn Ngọc Lanh trong chủ đề
thảo luận " Trí thức Việt Nam" phân tích một số nhận thức về vai trò của tri thức.
>> Xem bài trước : Suy nghĩ về khái niệm trí thức
Tiến hoá xã hội
Thời kỳ mông muội, con người vừa tách khỏi thú vật nên không chịu thua con
thú nào về mức sử dụng cơ bắp, do vậy cũng không chịu kém chúng về mức vất
vả, nhọc nhằn Lao động chân tay là độc tôn, được đề cao tuyệt đối Đứng đầu bộ
lạc phải là người nổi trội về sức mạnh cơ bắp Trong truyện cổ tích, các anh hùng
càng phải có sức mạnh cơ bắp – là thứ mọi người ao ước, tôn thờ Anh hùng cổ
tích dẫu có phép thần thì chung qui cũng chỉ để phát huy loại sức mạnh gân cốt
này Đức Thánh Gióng dùng roi sắt quật rồi nhổ cả bụi tre phang vào giặc Ân,
còn con ngựa sắt phải hét ra lửa đốt kẻ thù, thậm chí nó phải biết bay để mang
ngài lên trời! Toàn là sức cơ bắp
Con người khác con vật là có hai tay, lại được điều khiển bằng bộ não đã phát
triển cao, nên bàn tay ngày càng khéo léo Nhưng điều quan trọng hơn là, nhờ bộ
não, con người thu được kinh nghiệm (con vật chưa chịu kém) và tạo ra tri thức
(con vật đành thua) Và đây là mới chính là nguyên nhân cốt lõi và vĩnh hằng của
tiến bộ xã hội Mọi nguyên nhân khác, nếu có, chỉ là phụ và tạm Quá nhấn mạnh
những nguyên nhân phụ sẽ gặp rắc rối không chỉ về nhận thức
Khi một bộ lạc chuyển sang cử một người già đứng đầu thay vì cử một thanh niên
cường tráng, thì có thể nói con người đã bắt đầu nhận ra ưu thế của lao động trí
óc Cố nhiên, ban đầu khối tri thức trong xã hội chưa đủ lớn và lớn rất chậm thì
kinh nghiệm vẫn tạm thời quan trọng hơn tri thức Trong xã hội nông nghiệp,
Trang 9điều này tồn tại rất lâu dài, đến nay vẫn thể hiện ở phong tục thờ cúng tổ tiên, trong đó mọi việc lớn trong gia đình đều được trình báo và xin ý kiến “người càng già, càng tốt” – chính là tổ tiên nhiều đời, nên nhiều kinh nghiệm
Xã hội càng công nghiệp hoá (đồng nghĩa với tăng khối tri thức và giảm giá trị của kinh nghiệm) thì việc vái tổ để “xin ý kiến” sẽ giảm mà chủ yếu để tỏ lòng biết ơn Do vậy, từ khi xã hội tạo được lớp người “chuyên sản xuất tri thức” thì tốc độ tiến hoá biến đổi về chất: các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật cứ ngày càng dồn dập
Nếu khả năng sáng tạo của bộ não là vô hạn thì trí nhớ lại hữu hạn, do vậy trước sau con người cũng phải tạo ra chữ viết để khối tri thức và kinh nghiệm lưu tạm thời trong não (là tài sản cá nhân) được lưu lại lâu dài trong sách vở (thành tài sảnchung)
Con người “ngộ” ra rằng tri thức thật quan trọng; do vậy từ khi có chữ, xã hội bắtđầu có trường lớp khiến số người lao động kỹ thuật và trí óc tăng nhanh, đẩy hiệuquả lao động của xã hội còn tăng nhanh hơn nữa Dường như chúng ta tri ân chưa
đủ mức đối với người tạo ra chữ quốc ngữ, thậm chí còn “xét” xem có đáng tri ânhay không
Trí thức trong liên minh
Hôm nay, ai cũng nhận ra sự khác biệt về chất giữa lao động của nông dân, công nhân và trí thức, nhưng hôm qua thì chưa chắc
Có thời, chúng ta nêu cao khẩu hiệu “tất cả cho sản xuất” và chia lao động thành hai loại: trực tiếp sản xuất (công nhân, nông dân) và gián tiếp (trí thức, gồm cả văn nghệ sĩ) Để gạt hẳn trí thức về phía “không sản xuất”, chúng ta nhấn mạnh là
“sản xuất ra của cải vật chất” Thế thì nếu có liên minh, trước hết phải là liên minh công – nông, sau đó mới “xét” để xem liệu trí thức đã cải tạo đủ mức để được tham gia hay không
Bác nông dân dùng cuốc bổ xuống đất thì năng suất rất thấp, nhưng số mồ hôi và calo tiêu thụ lại rất cao; do đó, thu nhập đã thấp lại chủ yếu dùng để ăn, phục hồi sức cơ bắp Trong khi đó chú công nhân lái máy cày thì năng suất khác hẳn, ít vất
vả hơn, mà thu nhập cao hơn (có dành khoản chi cho học tập của bản thân và con cái)
Một câu hỏi ắt được đặt ra: ai dạy anh công nhân cách lái máy cày, ai sáng tạo cáimáy cày kia? Thực ra, câu hỏi này đã bị đặt ra rất muộn; và khi có câu trả lời thì chúng ta bắt đầu có khối liên minh công – nông – trí Nhưng thực chất “liên minh” này là thế nào?
Mọi học sinh Việt Nam đều phải trả lời được: Đó là khối liên minh do công –
Trang 10nông làm nòng cốt, trong đó công nhân là giai cấp lãnh đạo, nông dân là đồng minh tin cậy và lâu dài của công nhân, kết hợp với trí thức Nếu học sinh nào nói
rõ “đây là trí thức XHCN” (ý nói đã được cải tạo) sẽ được thưởng điểm
Trí thức hoá công nhân
Muốn mọi nông dân cũng sử dụng máy móc (tức là biến họ thành công nhân nông nghiệp, để họ đỡ vất vả) là ý đồ tốt đẹp, nhưng không thể thực hiện bằng kêu gọi, hoặc phát động phong trào thực hiện khẩu hiệu “công nhân hoá nông dân” - vì đó là ảo tưởng Nó ảo tưởng như thuở nào chúng ta “phát động” nông dân phá bờ ruộng để hàng chục người trong hợp tác xã nông nghiệp có thể cùng cuốc đất trên một thửa đất
Cách thực hiện ý đồ phải là công nghiệp hoá đất nước ở trình độ cao (mà quá trình này không thể ngắn, không ít gian khổ) chứ không thể bằng khẩu hiệu hay phong trào
Nền kinh tế tri thức còn cho phép mọi công nhân làm việc như trí thức; ví dụ, dùng máy vi tính để cắt gọt kim loại, điều khiển robot cày ruộng, sản xuất hàng hoá cao cấp Nhưng có được nền kinh tế tri thức càng không dễ
Do vậy, từ bao năm nay tôi đã cố mà vẫn không hiểu nổi cái khẩu hiệu ồn ào một thời: “trí thức hoá công nhân” (và cả “công nhân hoá trí thức”) trong khi nền kinh
tế nước ta còn dựa vào lao động thủ công là chính!
Anh chị em công nhân nào muốn học tập để thành lao động trí óc thì rất đáng khuyến khích, vì đó là quyền Nhưng việc đề khẩu hiệu và thực hiện bằng phát động phong trào thì lại khác
Còn khác hơn nữa, khi đất nước, gia đình và bản thân tốn bao công sức mới đào tạo được một trí thức, thì lại muốn đông đảo trí thức phải “công nhân hoá”
Các nền văn minh: Vài vấn đề còn thảo luận
Trang 11Xu hướng đánh giá sự tiến hoá xã hội bằng trình độ văn minh xuất phát từ quan điểm coi tri thức là động lực quan trọng nhất của sự tiến hoá Hiện nay, người ta thừa nhận nhân loại đã trải qua các thời kỳ: mông muội (hàng triệu năm); văn minh nông nghiệp (hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn năm); văn minh công nghiệp - ứng với chế độ tư bản giai đoạn đầu; văn minh hậu công nghiệp và văn minh tri thức – giai đoạn hiện nay
Cũng có khi con người phải dùng bạo lực cách mạng để giải quyết bế tắc trong quá trình tiến hoá xã hội – đó là khi sản xuất bị đình đốn Thực chất, đình đốn sảnxuất có nguyên nhân sâu xa từ hoạt động sáng tạo tri thức bị kìm hãm, lớp trí thức không có môi trường tự do cần thiết để sáng tạo Tuy nhiên, các cuộc cách mạng nhằm thay đổi chế độ sẽ ngày càng giảm bạo lực, rồi không đổ máu, tiến tới ôn hoà, tranh thủ sự đồng thuận, mà sự biến đổi xã hội vẫn không kém sâu sắc
Các nền văn minh ngày càng ngắn lại để chuyển sang nền văn minh mới mà nguyên nhân vẫn là khối tri thức tích luỹ với tốc độ ngày càng nhanh Câu nói
“một ngày bằng 20 năm” chúng ta đã từng nghe nhiều để chỉ thời đại ngày nay Chế độ tư bản (ứng với văn minh công nghiệp) sẽ ngắn hơn chế độ phong kiến (ứng với văn minh nông nghiệp) và càng ngắn hơn thời kỳ mông muội
Chế độ tư bản, về nguyên tắc, không thể tồn tại quá thời gian lịch sử cho phép vì
nó cũng chẳng ít khuyết tật không sửa nổi Nhưng nó mới trải có 500 năm, vẫn đang hoàn thiện, vẫn đang có đóng góp (ví dụ, khởi tạo ra nền văn minh tri thức),
do vậy chưa thể suy tàn ngay - như tôi vẫn cầu khẩn
Một sai lầm lớn (nên hậu quả không nhỏ chút nào): Đó là dự đoán quá sớm thời điểm cáo chung của chế độ này Đó là sự “tiến thẳng” và triệt để “bỏ qua” chế độ
Trang 12tư bản đầy đau khổ (giống như cách đây 80 năm Lênin đã từng sai và phải sửa)
Sai nhỏ thì nhan nhản, ví dụ khi chúng ta chọn học sinh công nông trình độ tiểu
học bổ túc 2 năm (để “bỏ qua” cấp 2), tiến thẳng lên đại học (Y Hà Nội), may là
phần lớn họ thành lãnh đạo trong ngành y tế mà rất ít trực tiếp chữa bệnh
Có người đã tính thử - dựa vào độ dài của các chế độ và nền văn minh trước nó -
để dự đoán chế độ tư bản còn phát huy tác dụng tích cực và tồn tại bao lâu nữa
Kết quả: khá lâu đấy Có thể nền văn minh tri thức đủ thời gian kịp hình thành
- Thứ tư, 17/12/2008
Trong cuộc sống hàng ngày, ai mà chả mong mình được sống trong tình yêu và hạnh phúc
Lời chúc muôn thuở của con người mãi mãi vẫn là chúc nhau mạnh khỏe, thành đạt và hạnh
phúc Thế nhưng thử hỏi tình yêu là gì, hạnh phúc là gì, vì sao con người lại chúc nhau và
mong mỏi thiết tha đến thế? Biết bao thế hệ từ xưa đến nay đã lao động sáng tạo, đã cống hiến
hy sinh cho quyền lợi cao quý và tình yêu hạnh phúc của con người
Trang 13Các bản tuyên ngôn nổi tiếng trên thế giới này đều khẳng định Độc lập chủ quyền và bình đẳng của các quốc gia dân tộc, quyền của nhân dân, quyền của con người được sống, được tự do và mưu cầu hạnh phúc Đó
là những quyền lợi thiêng liêng, tạo hoá vốn
đã ban cho con người như vậy Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định điều đó và cònchỉ rõ: Đất nước độc lập mà nhân dân không được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc lập
ấy chẳng có nghĩa lý gì Hạnh phúc quả là khát vọng lớn lao, là mục đích cuối cùng mà tất cả các dân tộc và tất cả mọi người đều hướng tới
Nhưng con đường để mưu cầu hạnh phúc của mỗi dân tộc, của mỗi người lại khác nhau Có người đã vươn tới đỉnh cao của vinh quang hạnh phúc, có người chỉ thấy hạnh phúc thoáng qua, có người suốt đời đi tìm hạnh phúc mà chưa thấy, có người đi tìm hạnh phúc nhưng con đường lại dẫn dấn bất hạnh Vậy con đường nào dẫn tới hạnh phúc đích thực cho con người, đóquả là một câu hỏi lớn, nhưng lại rất thiết thực trong cuộc sống hàng ngày
Sống trong thời kỳ đổi mới và mở cửa của đất nước, trong cơ chế thị trường và xu thế toàn cầu hoá; do kết quả phát triển kinh tế xã hội, nhờ những thành quả tiến bộ của khoa học công nghệ cuộc sống đang có rất nhiều điều đáng mừng, mà ai cũng có thể cảm nhận được: Nhờ các phương tiện thông tin hiện đầu con người ngồi ở trong phòng có thể xem trực tiếp, trao đổi, hiểu biết tình hình cả đất nước và cả thế giới Mức sống và chất lượng cuộc sống đang thay đổi nhanh chóng, rộng mở, kỳ diệu và nhiều lần hơn xưa Cuộc sống và con người ngày càng đáng yêu, đáng sống biết bao!
Song cuộc sống cũng đang đặt ra các vấn đề: Các hiện tượng xuống cấp về đạo đức, lối sống, các tệ nạn xã hội, chủ nghĩa cá nhân thực dụng, phân hoá giàu nghèo, việc coi nhẹ những giá trị truyền thống xã hội nhân văn, nạn ô nhiễm môi trưởng, phá vỡ cân bằng sinh thái đã gây
ra những bức xúc bất bình trong xã hội, làm giảm mất đi niềm vui, tình yêu và hạnh phúc của con người, giảm niềm tin về tương lai hạnh phúc trong cuộc sống
Cuộc sống là tổng thể những hoạt động trong đời sống của con người và xã hội Cuộc sống hiện nay đang đứng trước cả thời cơ vận hội lớn và nguy cơ thử thách đan xen nhau
Những tiêu chuẩn, giá trị về tình yêu và hạnh phúc của con người sẽ có gì thay đổi, điều gì phải giữ gìn bảo vệ, điều gì phải đổi mới, để con người và xã hội hiện đại sống hạnh phúc hơn xưa Để chúng ta luôn luôn khẳng định: cái quý nhất của con người là cuộc sống! Cái đẹp chính là cuộc sống! Cây đời mãi mãi xanh tươi! Tôi viết những dòng chữ này hoàn toàn là do những thực tế thôi thúc hàng ngày ở chính ngay gia đình, họ hàng, cơ quan, làng xóm, quê hương, đất nước mình