Nhận xét về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, giáo sư Lê Trí Viễn viết: “Riêng về tả cảnh thì Nguyễn Du cũng theo truyền thống có sẵn trong văn học Trung Quốc cũng nh[r]
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
THÀNH PHỐ THANH HÓA
KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP THÀNH PHỐ
NĂM HỌC: 2014 – 2015
Đề thi gồm có: 01 trang Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề)
Ngày thi: 02 tháng 12 năm 2014
ĐỀ BÀI Bài 1 (2,0 điểm ):
Giải thích và phân tích giá trị biểu cảm của từ đi trong các câu thơ sau:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi(1) hết đời lòng mẹ vẫn theo con
(Con cò- Chế Lan Viên)
Ta đi(2)trọn kiếp con người Vẫn không đi(3) hết những lời mẹ ru.
( Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Nguyễn Duy)
Bài 2 (3,0 điểm) :
Cho câu chủ đề sau: “Nếu không có hình tượng nghệ thuật Con chó vàng
chắc chắn tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao không thể hay đến thế!”
Hãy phát triển câu chủ đề đã cho thành một đoạn văn nghị luận (Từ 12 đến
15 dòng)
Bài 3 (5,0 điểm) :
Cho đoạn văn sau:
“ Nổi bật trong những gương mặt của chương trình “ Vinh quang Việt Nam” là 9
người trong gia đình ông Nguyễn Phước Bửu Thanh đã hơn 130 lần tự nguyện
hiến 32.000cc máu để cứu sống hàng trăm người Hiện nay gia đình ông đã trở
thành “ ngân hàng máu sống” của bệnh viện Trung ương Huế Cả nhà ông có cả
ba nhóm máu A,B,O Khi có ai cần tiếp máu chỉ cần gọi điện thoại là gia đình ông
sẵn sàng” ( Theo báo người lao động)
Em hãy viết bài nghị luận ngắn nêu suy nghĩ của em về vấn đề đặt ra trong
đoạn văn trên?
Bài 4 (10 điểm) :
Nhận xét về nghệ thuật tả cảnh trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, giáo sư
Lê Trí Viễn viết: “Riêng về tả cảnh thì Nguyễn Du cũng theo truyền thống có sẵn
trong văn học Trung Quốc cũng như trong văn học Việt Nam: Cảnh xen vào tâm
trạng con người là để làm nổi bật tâm trạng ấy Nhiều khi lại không trực tiếp tả tâm
trạng nhân vật mà xuyên qua cảnh vật gợi lên tâm trạng ấy Chỗ đó là chỗ sở
trường nhất của Nguyễn Du”
Bằng những câu thơ, đoạn thơ trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du được
học trong chương trình Ngữ Văn lớp 9, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
(Hết)
Họ và tên thí sinh: Số báo danh: Phòng thi:
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI CẤP THÀNH PHỐ
Trang 2THÀNH PHỐ THANH HÓA NĂM HỌC: 2014 – 2015
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
I HƯỚNG DẪN CHUNG:
- Giám khảo chấm kĩ để đánh giá một cách đầy đủ, chính xác kiến thức xã hội,
kiến thức văn học và kĩ năng diễn đạt, lập luận trong bài làm của học sinh, tránh đếm ý
cho điểm.
- Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có tính định hướng Giám khảo
cần vận dụng linh hoạt, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí Đặc biệt khuyến khích
những bài viết có ý tưởng sáng tạo.
- Bài viết cần có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng thuyết phục Những
bài mắc quá nhiều các loại lỗi dùng từ, chính tả, đặc biệt là văn viết tối nghĩa thì không
cho quá nửa số điểm của mỗi câu.
- Chấm theo thang điểm 20 (câu 1: 2 điểm; câu 2: 3 điểm; câu 3: 5 điểm ; câu 4:
10,0điểm), cho điểm lẻ đến 0,25.
II HƯỚNG D N C TH :Ẫ Ụ Ể
*Giải thích nghĩa của từ đi trong mỗi câu:
-Đi (1) và (2) đều có nghĩa là sống(sống hết đời, sống trọn kiếp con
người)Đi (3) có nghĩa là hiểu, biết, đền đáp( không hiểu hết , không thể đền
đáp được công lao to lớn của mẹ)
0,5
* Phân tích giá trị biểu cảm:
- Chế Lan Viên dùng từ đi mà không dùng từ sống Bởi vì từ đi vừa gợi ra hình
tượng con đường đời dằng dặc, gian khó, đắng cay của mẹ, vừa gợi cảm xúc
động lòng người Dù con đã lớn nhưng suốt đời trọn kiếp mẹ vẫn theo con , che
chở, chia sẻ cùng con
0,5
- Nguyễn Duy sử dụng liên tiếp hai từ đi trong câu thơ Nhưng mỗi từ đi
mang một giá trị biểu cảm khác Từ đi 2) mở ra trước mắt người đọc con
đường đời của mỗi kiếp người (một trăm năm) mà vẫn chưa đi hết mấy lời
mẹ ru Từ đi (3)tạo ra sự đối lập trọn kiếp/mấy lời, có nghĩa là cả cuộc đời đi
nhiều, hiểu biết nhiều nhưng chưa chắc hiểu hết những uẩn ức, gửi gắm
trong mấy lời ru của mẹ, chưa thể hiểu hết cuộc đời, tình yêu thương của mẹ
dành cho mình Từ đi (3) còn chất chứa một sự hối hận và lòng biết ơn sâu
sắc đối với mẹ
1,0
- Về hình thức:
Viết được một đoạn văn nghị luận có lập luận chặt chẽ thuyết phục, có câu
chủ đề đã cho (Có thể đứng đầu hoặc cuối đoạn văn) Có độ dài tối đa 15
dòng Không mắc lỗi cơ bản về chính tả, ngữ pháp, câu văn sáng gọn
1,0
- Về nội dung: Triển khai được nội dung câu chủ đề với các ý chính:
Chi tiết Con chó Vàng làm cho câu chuyện hay vì:
+ Nó là một hình tượng nghệ thuật, tác giả đã dùng con vật để khắc họa chân
dung nhân vật lão Hạc
+ Con chó Vàng giúp ta hình dung đầy đủ, sâu sắc hơn về Lão Hạc
+ Con chó Vàng làm cho ranh giới của sự phân đẳng người - vật không còn
2,0
0,5
1,0 0,5
Trang 3Đảm bảo một văn bản nghị luận có bố cục rõ ràng, hợp lí; tổ chức sắp xếp hệ
thống các ý một cách lôgic, lập luận chặt chẽ; diễn đạt trôi chảy, mạch lạc;
chữ viết rõ ràng, cẩn thận; không quá năm lỗi chính tả, không mắc lỗi dùng
từ cơ bản…
Yêu cầu về kiến thức 4.5
+ Những thông tin bài báo đưa ra khiến chúng ta ngạc nhiên, khâm phục:9
người, 130 lần và 32000cc máu, gia đình ấy đã trở thành địa chỉ vàng –ngân
hàng máu sống Đó là chiến công của người anh hùng, là nghĩa cử cao đẹp
trong cuộc sống thời bình
0,5
+ Máu là nhu cầu cấp thiết chữa bệnh cứu người, thực tế lượng máu trong
các bệnh viện không đủ đáp ứng Hiến máu là công việc âm thầm đem lại sự
sống, niềm vui và hạnh phúc cho con người Những việc làm của gia đình
ông Bửu Thanh là vô cùng cao quý, xứng đáng được vinh danh
0,5
- Hiến máu-cho đi những giọt máu quý giá- tức là cứu người bệnh thoát khỏi
cái chết, đem đến cho bao người sự sống
0,5
- Hiến máu tự nguyện – một việc làm thiết thực giàu ý nghĩa nhân văn:
Những con người không mảy may suy nghĩ, tính toán thiệt hơn cho sức khỏe
bản thân Chỉ có sự đồng cảm, sẻ chia với những người xung quanh mới có
thể làm được công việc ấy
0.5
- Hiến máu cứu người là việc làm cần thiết vì cộng đồng Những con người,
những cuộc đời bình dị đã và đang sẵn sàng chia sẻ sự sống với cộng đồng
0,25
- Hiến máu nhân đạo chính là nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sự tiếp nối truyền
thống đạo đức, lẽ sống của ông cha “lá lành đùm lá rách” “thương người như
thể thương thân” Đó chính là lẽ sống cần được tôn vinh, học tập
0,5
- Phê phán những người sống vô cảm, dửng dưng trước nỗi đau của đồng
loại và chỉ nghĩ đến bản thân
0,25
- Những việc làm của gia đình giúp tuổi tre ý thức sâu sắc hơn về lẽ sống: “
Sống là cho”
0.25
+ Hiến máu nhân đạo được tuổi trẻ nhiệt tình tham gia Phương châm sống “
tuổi trẻ hành động vì an sinh xã hội” ngày càng được tuyên truyền, hưởng
ứng rộng rãi Nhiều cuộc vận động hiến máu nhân đạo đã thu được nhứng
kết quả đáng mừng Trong đó thanh niên giữ vai trò nòng cốt
0,25
+ Suy nghĩ của bản thân:Thấy mình hạnh phúc vì được chia sẻ, thấy cuộc
sống thật ý nghĩa
0,25
+ Tấm gương gia đình ông Bửu Thanh xứng đáng được ca ngợi, tôn vinh,
được mọi người biết đến và nhân rộng trong cộng đồng
0,25
1 Yêu cầu về kĩ năng:
HS viết được văn bản nghị luận có lập luận logic chặt chẽ, bố cục mạch
lạc, văn phong trong sáng, thuyết phục, chữ viết sạch đẹp, không mắc lỗi cơ
bản chính tả, ngữ pháp
1,0
2.1 - Giới thiệu tác giả tác phẩm và vấn đề nghị luận
- Trích dẫn ý kiến
1,0
Trang 42.2 Giải thích khái quát về vấn đề :
- Ý kiến đã khẳng định tài năng tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong truyện Kiều
của Nguyễn Du Tài năng đó đã trở thành sở trường năng khiếu đáng bậc
thầy của thi nhân Đây là ý kiến đúng vì nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là thông
qua việc tả cảnh để bộc lộ tâm trạng của con người - một thủ pháp truyền
thống của văn học cổ phương Đông (Văn học Trung Quốc cũng như trong
văn học Việt Nam) Truyện Kiều của Nguyễn Du đã ảnh hưởng sâu đậm và
vận dụng tài tình, sáng tạo
- Trong truyện Kiều ta ít gặp nhà thơ chỉ tả cảnh đơn thuần, tả bức tranh
thiện nhiên để gợi lên tâm trạng: Cảnh xen vào gợi lên tâm trạng ấy.
Nghĩa là: Cảnh chỉ là phương tiện thể hiện mục đích chính là miêu tả tâm
trạng con người Đó là năng khiếu sở trường của Nguyễn Du mà các tài bút
văn học trung đại khôn sánh
1,0
0,5
0,5
2.3 Chứng minh qua một số đoạn trích:
* Tài năng sở trường tả cảnh ngụ tình: “Cảnh xen vào trong tâm trạng … gợi
lên tâm trạng ấy” của Nguyễn Du thể hiện:
- 6 câu cuối của đoạn trích Cảnh ngày xuân:
+ Bức tranh thiên nhiên ở đây là bức tranh chiều tà khi tan lễ hội Nét đặc
sắc của nghệ thuật tả cảnh là sử dụng từ láy: tà tà, thơ thẩn, thanh thanh,
nao nao, nho nhỏ, vừa gợi được bức tranh chiều tà thanh dịu, cảnh vật đẹp
nhưng không còn bát ngát trong sáng, không khí cũng không còn đông vui
náo nức rộn ràng
+ Tuy không trực tiếp tả tâm trạng nhưng xuyên qua bức tranh thiên nhiên ấy
để làm nổi bật tâm trạng Kiều: Vừa bâng khuâng lặng buồn tiếc nuối vì cảnh
lễ hội tan, vừa dự báo những sự kiện sắp xảy ra với Kiều
- 6 câu thơ đầu của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích:
+ Bức tranh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích là một không gian bao la, mênh
mông, hoang vắng đến rợn người của bốn bề bát ngát xa trông, non xa,
trăng gần
+ Cảnh vật tầng tầng lớp lớp của cát vàng, cồn nọ, bụi hồng, dặm kia
=> Bức tranh thiên nhiên ấy đã xen vào cảnh vật để làm nổi bật tâm trạng cô
đơn, lẻ loi, tủi nhục, nhớ thương, của Kiều
* Tài năng sở trường tả cảnh ngụ tình: Cảnh xen vào gợi lên tâm trạng ấy
của Nguyễn Du đặc biệt thể hiện ở 8 câu thơ cuối của đoạn trích Kiều ở lầu
Ngưng Bích:
- Cảnh ở đây được miêu tả rất khái quát, mang tính ước lệ nhưng cũng thật
cụ thể, chân thực Thời gian chung cho cảnh vật là chiều hôm (cái phông gợi
buồn người lữ thứ) Hình ảnh cửa bể, cánh buồm, ngọn nước mới sa, hoa
trôi, nội cỏ, chân mây, mặt đất, gió, sóng, kết hợp với màu sắc xanh xanh
và âm thanh tiếng sóng ầm ầm và không gian xa xa, chân mây mặt đất cùng
trạng thái trôi man mác, rầu rầu, Tất cả tạo nên hình bóng thiên nhiên
sống động nhưng không nhằm tả thiên nhiên mà tả tâm trạng
1,5
0,75
0,75
1,5
0,75 0,75
3,0
1,5
- Nét đặc sắc của đoạn thơ tả cảnh ngụ tình này là ở bút lực thiên tài của
Nguyễn Du bằng việc kết hợp các điệp từ buồn trông, từ láy thấp thoáng, xa
xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm và nghệ thuật nhân hóa tiếng sóng
kêu cùng các hình ảnh ẩn dụ: cánh buồm hoa trôi, nội cỏ, chân mây, mặt đất,
gió cuốn, tiếng sóng, Tất cả mỗi hình ảnh, mỗi từ ngữ miêu tả thiên nhiên
đồng thời là một ẩn dụ về tâm trạng số phận nàng Kiều Kiều buồn đau, lo sợ
1,5
Trang 5hãi hùng, tương lai mờ mịt bế tắc, chao đảo, nghiêng đổ đến tuyệt vọng
=> Mỗi câu mỗi cảnh, mỗi cảnh mỗi tình, tình buồn ngày một lan tỏa sâu rộng, chồng chất khiến lòng người không khỏi xót xa, thương cảm cho kiếp tài hoa bạc mệnh Đây chính là cảnh xen vào tâm trạng để gợi tên tâm trạng ấy
2.4 Đánh giá chung
- Trong Truyện Kiều cảnh và tình luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau Với quan niệm thẩm mĩ truyền thống của phương Đông, Nguyễn Du luôn lấy khung cảnh thiên nhiên làm nền cho hoạt động nội tâm nhân vật Tính chất truyền thống ấy thể hiện qua sự chi phối nội tâm với cảnh vật qua bút pháp phác họa và khái quát qua hình tượng và ngôn ngữ ước lệ
- Một yếu tố quan trọng làm nên bậc thầy tả cảnh ngụ tình là tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên và sự đồng cảm sâu sắc với số phận tâm tư con người
=> Bút pháp tả cảnh ngụ tình góp phần làm nên giá trị nhân văn của tác phẩm để tác phẩm sống mãi trong trái tim độc giả
1,0
0,5
0,5
Hết