1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong thời kì đổi mới

21 139 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 57,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong thời kì đổi mới “lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững” . Nêu nhận thức , quan điểm của bản thân khi nghiên cứu quan điểm này của Đảng .

Trang 1

Bài tập lớn HỌC PHẦN : ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG

CỘNG SẢN VIỆT NAM.

CHỦ ĐỀ : Phân tích quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa , hiện đại hóa trong thời kì đổi mới : “lấy phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh và bền vững” Nêu nhận thức , quan điểm của bản thân khi nghiên cứu quan điểm này của Đảng

Sinh viên thực hiện :

Mã sinh viên :

Lớp chuyên ngành :

Trang 2

Lời mở đầu

Trong thời kì đổi mới hiện nay , có rất nhiều những quan điểm mới được đưa ra

để thực hiện công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước và những quan điểm này được phát triển bổ sung qua các kì đại hội Một quan điểm đóng vai trò hết sức

to lớn đó là “lấy và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Chủ trương đó đã , đang và sẽ tiếp tục khẳng định sự đúng đắn trong những bước đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Bác Hồ đã dạy chúng ta : “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” – đó là những tư tưởng chủ chốt cho toàn sự nghiệp cách mạng của Đảng ta Tất cả chính sách, chủ trương , đường lối của Đảng đều tập trung vào mục tiêu phát triển con người bền vững Tầm nhìn vĩ đại và sự sáng suốt của chủ tịch Hồ Chí minh đã đưa đường dẫn lối để ta xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam nhanh và vững bền

Quá trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa đã đưa Việt Nam dần hòa nhập vào trào lưu tiến bộ của thế giới Chính điều này đã đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với nguồn nhân lực , bên cạnh những kỹ năng , hay kiến thức chuyên môn , đòi hỏi người lao động phải có nhiều các kỹ năng khác như : kỹ năng làm việc nhóm , kỹ năng giao tiếp , trình độ ngoại ngữ ,… Để đưa Việt Nam ra thế giới hay để phát triển đất nước lên tầm cao mới , việc phát huy và sử dụng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta hiện nay là một điều hết sức cần thiết và cần có những sự quan tâm đúng mực

Bản thân là một sinh viên trường đại học Kinh tế Quốc dân , trong tương lai trở thành một đại diện của nguồn lực chất lượng cao của xã hội , chúng em tự cảm thấy bản thân cần phải nỗ lực phấn đấu hơn để đóng góp sức mình vào sự phát triển của đất nước.

Trang 3

A- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN ĐIỂM: “LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CHO ĐẤT NƯỚC”

Thứ nhất, C.Mác khẳng định nhờ hoạt động lao động, con người “tách”

khỏi thế giới động vật để trở thành con người theo đúng nghĩa , và "tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một cách hiện thực”  V.I Lênin cũng chỉ rõ rằng, con người là nhân tố quyết định, làm biến đổi thế giới bằng chính những hành động thực tiễn của mình Con người đã tích cực hoá năng lực tư duy của mình qua sự trừu tượng hoá, khái quát hoá, suy lý lôgíc để nắm bắt những quy luật vận động, phát triển của thế giới , từ đó,vận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn cải biến thế giới, phục vụ lợi ích của mình Biến tự nhiên hoang sơ đã trở thành tự nhiên nhân tạo, với những đặc tính mới Trong quá trình tác động vào

tự nhiên, mọi tố chất của con người hoàn thiện hơn như: thể chất, trí tuệ, tình cảm, tâm lý…trở thành một thực thể thống nhất giữa xã hội - văn hoá với tự nhiên - sinh học

Thứ hai, con người đóng vai trò là chủ thể hoạt động sáng tạo lịch sử.

Theo quan niệm duy vật về lịch sử, sự phát triển của xã hội loài người được

quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất V.I coi "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động".

Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ

đời sống loài người. Hoạt động sản xuất vật chất chính là sức mạnh để con

người và xã hội tồn tại Sức lao động của con người kết hợp với các công cụ, phương tiện sản xuất tác động ,cải biến tự nhiên để thoả mãn các nhu cầu của bản thân và xã hội Qua quá trình cách mạng tạo lập nên quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất tạo nên bước phát triển mới của phương thức sản xuất và của xã hội, con người đã "viết nên" lịch sử

Thứ ba, con người là nguồn lực vô tận quý giá nhất trong tất cả các

nguồn lực khác nhau cần có để phát triển xã hội Mặc dù các nguồn lực vật chất khác rất quan trọng , nhưng chúng lại hữu hạn ,không tái tạo được và không phát huy giá trị khi không kết hợp với nguồn lực con người Đặc biệt, trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh như ngày nay, lao động trí tuệ có ảnh hưởng quyết định đối với năng suất, chất lượng lao động và

do vậy, con người trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững

Như vậy, nguồn lực con người đóng vai trò then chốt trong lịch sử phát

triển của nhân loại. Một mặt, các nhân tố hợp thành cơ thể xã hội, con người

Trang 4

luôn đứng ở vị trí trung tâm; mặt khác, động lực thúc đẩy lịch sử xã hội phát

triển, con người là động lực cơ bản, quan trọng nhất và đóng vai trò quyết định.

2 Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong tiến trình phát triển đất nước

Tư tưởng về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tốquyết định thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phươngpháp lãnh đạo cách mạng của Hồ chí Minh Ham muốn duy nhất của Người là: “Đất nướcđược hoàn toàn độc lập, tự do Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành

Chính tư tưởng Hồ Chí Minh đã soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giànhhết thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

- Một là, nhân dân là chủ thể của lịch sử

- Hai là , cách mạng là sự nghiệp của nhân dân Nhân dân bao gồm mọi tầng lớp người trong xã hội cùng có chung một cuộc sống , một vận mệnh, , một tương lai, một truyền thống lịch sử ,tiền đồ, văn hóa, một nền văn minh Cho nên một nhiệm

vụ chung là cùng đứng lên bảo vệ Tổ quốc trước giặc ngoại xâm Khi đất nước hòa bình , nhân dân có chung một nhiệm vụ kiến quốc bảo vệ xây dựng giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn

-Ba là ,những việc cần làm để phát huy vai trò của nhân dân : xây dựng khối đại đoàn kết để phát huy sức mạnh của nhân dân “ Đoàn kết , đoàn kết , đại đoàn kết.Thành công , thành công , đại thành công” Thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân Phải phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm không ngừng nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân…

Đối với Bác , con người Việt Nam phải vừa “hồng” vừa “chuyên”

+ Hồng là đạo đức là phẩm chất, của người cách mạng: trung với nước, hiếu với dân; yêuthương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống chủnghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. 

+ Chuyên là sự thể hiện trí tuệ, là tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sựkhổ công học tập, rèn luyện để có tri thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thứcmình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội Tóm lại: để xây dựng đất nước giàu mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu phổ biến Quá trình này đòi hỏi phải có sự nỗ lực về kỹ năng, trí tuệ, , bản lĩnh của cả dântộc Vì vậy, chiến lược nâng cao chất lượng nhân lực cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vềcon người xã hội chủ nghĩa

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1 Thực tiễn Việt Nam, quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

Sau Cách mạng năm 1945, từ địa vị những người bị mất nước,những người dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước Không phân biệt giàu nghèo, trai gái, dân tộc, tôn giáo hễ là công dân Việt Nam đều có quyền bầu cử, lựa chọn ra những đại biểu xứng đáng có đức ,có tài để điều hành công việc Nhà nước Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tạo điều

Trang 5

kiện cho mọi người dân phát huy tài năng, trí tuệ đóng góp cho đất nước Ngay sau ngày Độc lập, Hồ Chí Minh đã phát động nhân dân thực hiện xoá nạn mù chữ Người quan niệm một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.

Những năm qua, kinh tế - xã hội Việt Nam ngày càng phát triển, năng suất lao động ngày càng cao, đời sống nhân dân được cải thiện Mọi người dân đều có thể tham giađóng góp ý kiến xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và kế hoạch phát triển kinh tế của từng địa phương, từng cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Mọi người dân được động viên để đóng góp tài năng trí tuệ, thay đổiquy trình sản xuất, thực hiện cải tiến kỹ thuật, nhằm tạo ra năng suất lao động để tănghiệu quả kinh tế cao

Việt Nam chú trọng vào giáo dục đào tạo , đưa tỉ lệ số người biết chữ từ 5% trước đây, tới nay đã đến 98% dân số biết chữ Trình độ dân trí đã có tiến bộ nhiều so với trước đây Nhiều tỉnh đã thực hiện xoá nạn mù chữ, phổ cập tiểu học hay trung học phổ thông cơ sở “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút nguồn đầu tư khác cho giáo dục; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp

lý Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn”Điều 61

Sau nhiều nỗ lực, hiện nay, tất cả các tỉnh, thành phố đều đạt phổ cập trung học cơ sở

và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; tất cả các địa phương trong cả nước đã được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi Việt Nam đã được UNESCO đánh giá xếp thứ 64/127 nước về phát triển giáo dục

Do trình độ học vấn của người Việt Nam được nâng lên, quan hệ xã hội, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng, cho nên, tính tích cực xã hội, tính tự chủ, sự năng động sáng tạo của con người Việt Nam đã được nâng lên so với trước đây

Nhìn chung, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo tới việc bồi dưỡng nguồn nhân lực của đất nước cả sức khoẻ, tri thức, năng lực, phẩm chất đạo đức; thực hiện cải cách bộ máy Nhà nước về mọi mặt; tạo điều kiện cho mỗi người phát huy được khả năng của mình đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Những hạn chế của việc phát huy nguồn lực con người còn tồn tại ở Việt Nam

 Công tác giáo dục ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Đó là sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, còn tồn tại khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa thành thị và nông thôn, vùng dân tộc thiểu số; việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh chưa được quan tâm đúng mức cả về nội dung và phương pháp Giáo dục phổ thông mới quan tâm nhiều đến “dạy chữ”, mà chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên; việc thi cử còn nặng về điểm số…

 Chất lượng nhân lực thấp trên các mặt thể lực, kỹ năng, thái độ lao động và quan hệ

xã hội Về mặt chất lượng, thực trạng nguồn lực nước ta hiện nay không thể không có

Trang 6

những lo ngại Lực lượng lao động ở nước ta hiện nay rất hạn chế về chất lượng, nhất

là về trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, kỹ năng lao động, thể lực và văn hoá lao động công nghiệp Đại bộ phận lao động nước ta chưa được đào tạo đầy đủ, số người được đào tạo mới chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn

 Lao động phổ thông dư thừa nhiều, lao động kỹ thuật thiếu, chuyên gia hiếm Nhìn chung nền kinh tế quốc dân còn thiếu nhiều lao động và cán bộ có tay nghề và trình

độ kỹ thuật, nghiệp vụ cao, đặc biệt là ở các thành phố lớn, nơi có nhiều cơ quan, doanh nghiệp, khu chế xuất - khu công nghiệp. 

 Chất lượng và hiệu quả đào tạo thấp Chất lượng giáo dục nói chung còn thấp, hiệu quả đào tạo chưa cao Một mặt chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực

và trên thế giới, nhất là về kỹ năng thực hành, năng lực giao tiếp, trình độ ngoại ngữ

và năng lực tự đào tạo tiếp tục; mặt khác chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế

-xã hội Nhà trường chưa chuẩn bị tốt cho sinh viên tốt nghiệp gia nhập thị trường lao động. 

 Có lúc chúng ta coi nhẹ tính nhân loại, đề cao quá mức tính giai cấp, không chú ý kế thừa những giá trị truyền thống dân tộc, chưa làm theo đúng tính quy luật mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra: chủ nghĩa xã hội là sự tiếp nối quá trình phát triển của nhân loại, phải biết tiếp thu những di sản của quá khứ một cách có chọn lọc, nâng lên tầm cao mới Dẫn tới sự phát triển khiếm khuyết về nhân cách trong không ít người Việt Nam Hạn chế trong sự hiểu biết về truyền thống văn hoá dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại trong nhiều người Việt Nam Điều đó làm cho văn hóa Việt Nam mờ nhạt khi đất nước ta hội nhập với thế giới

 Tình trạng quan liêu trong bộ máy nhà nước tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ởmột bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên rất nghiêm trọng đang làm giảm nhiệt tình, hăng say lao động, hạn chế sức sáng tạo trong một bộ phận những người lao động, tác động không nhỏ tới niềm tin và sự tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu trau dồi đạo đức cách mạng của các thế hệ trẻ hôm nay

 Thực trạng di cư tự do , bỏ nông thôn lên thành phố , bỏ nghề truyền thống gây lãng phí cho xã hội và gia đình Cơ cấu đào tạo giữa các ngành, giữa các bậc học chưa hợp

lý, do vậy dẫn tới tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ hiện nay Nhìn chung, việc đào tạo và sử dụng cán bộ ở nước ta hiện nay còn nhiều bất cập Tình trạng thiếu việc làm trong một bộ phận thanh niên đang tạo ra sức ép lớn cho xã hội

 Điều hướng sử dụng các nguồn lực ở nước ta còn nhiều hạn chế Khí hậu Việt Nam

có nhiều thuận lợi cho việc trồng các loại cây nông, công nghiệp vùng nhiệt đới, nhưng khai thác đất đai ở nước ta chưa đạt hiệu quả cao , trong khi đó sức lao động ở Việt Nam còn rất dồi dào Tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp đang gây ra sự lãng phí lớn về nguồn lực con người ở nước ta hiện nay

2 Thực tiễn thế giới:

Nhật Bản: Một đất nước Châu Á với xuất phát điểm nghèo đói, lạc hâu, nguồn tài nguyên nghèo nàn Chỉ trong vòng 30 năm từ cuối thế kỉ 19 đến đầu tế kỷ 20, Nhật Bản đã có 1 bước phát triển ngoạn

Trang 7

mục khiến cả thế giới phải thay đổi cách nhìn về đất nước nhỏ bé này:

- Vai trò người lãnh đạo: Minh Trị Thiên Hoàng nổi tiếng với cuộc Duy tân Minh Trị Ông biết sử dụng người tài, và luôn biết lắng nghe cận thần cũng như dân chúng, ông sở hữu tấm lòng bao dung và chăm chỉ, có rất nhiều ý tưởng Không thể không kể đến những chính sách cải cách làm thay đổi thần kì nước Nhật sau chiến tranh (1952-1973)

- Tinh thần Samurai tôi luyện trong tư tưởng con người Nhật Bản, trầm lặng , an nhiên Họ phải có đủ 3 yếu tố: trung thành, can đảm và danh dự Hơn nữa là lòng tín nghĩa và tự trọng Tinh thần Samurai đã ăn sâu vào tâm thức của xã hội Nó hiện diện trong mọi lĩnh vực và mọi thành phần xã hội như 1 tài nguyên vô giá Chính tài nguyên này tạo nên thành công cho công cuộc CNH-HĐH ở Nhật

- Nền giáo dục: Trong công cuộc CNH-HĐH, lãnh đạo Nhật Bản rất khôn ngoan khi xây dựng một nền giáo dục tuyệt đối Hình ảnh người lãnh đạo đất nước được suy tôn tối đa Tất cả ý chí, tinh thần, vật chất của quốc gia , của dân chúng đều dành cho sự phục vụ, hi sinh của người lãnh đạo Điều này ăn sâu trog tiềm thức Làm cho cuộc cải cách, đổi mới trở nên dễ dàng khi người dân cả nước đồng lòng.Tóm lại: Nhật Bản có chính sách cải cách kịp thời ,hợp lí Lãnh đạo đất nước sáng

suốt có hướng đi đúng đắn và mạnh dạn Nhân dân trong nước đồng lòng, chịukhó, cần cù, chất lượng cao, kỉ cương cao Nền giáo dục tiên tiến

Singapore:

Singapore với diện tích khá khiêm tốn, chỉ 660 km2, rộng hơn thành phố Hà Nội của

Việt Nam một chút.Chỉ mất khoảng 30 phút đi xe máy là ddaxx có thể thăm tuan hết

cả quốc gia Dân số khoảng 5 triệu người Hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên Năm 1960, GDP của Singapore chỉ là 0,7 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu ngườichỉ là 427 đô-la Mỹ/ năm Thế mà Singapore hiện nay đã là nước có thu nhập bìnhquân đầu người lớn thứ 2 ở châu Á, sau Nhật Bản và nằm trong hàng các nước tiêntiến, văn minh, giàu có nhất trên thế giới

Kinh nghiệm đầu tiên và quan trọng nhất có thể thấy được là đảng PAP của ông Lý Quang Diệu tập hợp được rất nhiều người tài, người có học vấn cao Đơn cử Tổng bí thư Lý Quang Diệu tốt nghiệp ngành luật ở trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh năm 1949, khi ông 26 tuổi Đất nước Singapore không những tìm tòi và sử dụng người tài trong công dân Singapore, mà còn thu hút nhân tài từ nước khác đến Người tài đến Singapore làm việc, được định cư lâu dài, và được gia nhập quốc tịch

Singapore dễ dàng

Chủ trương thu hút sinh viên quốc tế đến học tập, Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại, các ngành nghề đào tạo

đa dạng… Nhà nước Singapore chỉ đầu tư vào rất ít trường công lập để có chất lượng mẫu mực, có chính sách tín dụng thích hợp để thu hút đào tạo nhân tài Đối với khối ngoài công lập, Chính phủ tạo điều kiện để phát triển, khuyến

Trang 8

khích việc liên thông, liên kết với nước ngoài, mời gọi các đại học quốc tế đặt chi nhánh…

Ngoài ra, ở Singapore còn chú trọng mở rộng hệ thống các trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo năng lực chuyên môn và các trung tâm nghiên cứu ứng dụng, từ cấp nhà nước đến các ngành và công ty

Sau cuộc suy thoái kinh tế năm 1985, Singapore bắt đầu áp dụng hệ thống lương linh hoạt Theo đó, cơ cấu tiền lương công chức được tạo ra từ những thành phần có thể điều chỉnh dựa trên hiệu suất của nền kinh tế, mà không ảnh hưởng xấu tới khoản thu nhập mang về gia đình Hình thức của hệ thống lương công vụ linh hoạt mới bao gồm: Lương cơ bản; thưởng hiệu suất; khen thưởng tăng trưởng; thưởng giữa năm hoặc cuối năm và tiền thưởng hàng năm khác Cùng với đó, Chính phủ Singapore luôn tuân thủ việc trả lương tương xứng vớihiệu quả làm việc

Đài Loan

Đầu tư nhiều vốn cho giáo dục ở, có tầm nhìn chiến lược sâu xa và toàn

diện cho sự nâng cao chất lượng của nguồn lực con người là điều mà Đài Loanluôn quan tâm, ưu tiên và cũng như chú trọng hàng đầu Vì thế mà nguồn nhânlực của Đài Loan có trình độ và năng lực làm việc rất tốt Con người với cácphẩm chất và đức tính truyền thống vốn có như: cần cù, chăm chỉ, hiếu học, cótrách nhiệm,…lại gắn với việc chính phủ biết sử dụng nguồn lực này, biết nângcao các giá trị tích cực và tốt đẹp của con người đã dẫn đến một quá trình côngnghiệp hóa thành công

Trong năm thập niên qua, Đài Loan đã thay đổi từ đất nước có nền kinh

tế nông nghiệp chậm phát triển chuyển thành một quốc gia công nghiệp pháttriển Vào khoảng thập niên 1960, dựa vào việc có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp có kĩ thuật hiện đại, tiên tiến được đưa vào Đài Loan

và đất nước này nhanh chóng trở thành một trong những nước xuất khẩu chính các loại máy móc điện tử và thiết bị điện

II- Phân tích nội dung ý kiến

1 Định nghĩa nguồn lực con người

Vấn đề con người, nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con người đã được các nhà tư tưởng nói chung, các nhà triết học nói riêng đề cập nhiều trong các tác phẩm của mình Tuy nhiên,

chỉ đến năm 1848, khi C.Mác và Ph.Ăngghen xuất bản tác

Trang 9

phẩm: “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” - tác phẩm gối đầu giường của những người mácxít chân chính thì vấn đề này mới được xem xét một cách thấu đáo và triệt để Hai ông khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”

Thay thế xã hội tư sản cũ ở đây chính là sự ra đời của chế độ xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội -

xã hội chủ nghĩa Đây chính là môi trường thuận lợi, là điều kiện tiên quyết, là “bầu không khí vô trùng” cho sự phát triển tự do của con người và xã hội loài người

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “vô luận việc gì

cũng đều do con người làm ra ” Con người và công việc đối với con người được coi là quốc sách hàng đầu trong tư tưởng Hồ Chí Minh và được Người căn dặn trong Di chúc viết

tay tháng 5-1968 rằng: “Đầu tiên là công việc đối với con người”

Từ “con người” được Bác gạch chân bằng bút màu đỏ và đây cũng

là vấn đề được Người viết dài nhất, gần 2 trang trong 4 trang của bản di chúc viết tay năm 1968

Hiện nay, có rất nhiều các quan niệm khác nhau về phát

triển nguồn lực con người Có ý kiến cho rằng: nguồn lực con người chính là nguồn nhân lực, ý kiến khác lại cho rằng: nguồn lực con người chỉ là một thành tố trong nội hàm khái niệm nguồn nhân lực. 

Chẳng hạn, theo thuyết lao động thì nguồn nhân lực được

phân thành hai nghĩa: Nghĩa rộng của nguồn nhân lực là nơi cung cấp sức lao động cho nền sản xuất xã hội Nghĩa hẹp của nguồn nhân lực là khả năng lao động xã hội, gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động tham gia vào các quá trình sản xuất của xã hội, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thầnđược huy động vào quá trình lao động

nguồn nhân lực là lực lượng lao động, là tổng thể các tiềm năng lao động của con người của một quốc gia đã được chuẩn

bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 

toàn bộ vốn con người gồm: thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề

nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong

Trang 10

quá trình sản xuất, kinh doanh hay một hoạt động nào đó Nhưthế, nguồn nhân lực được xem như một nguồn lực bên cạnh các nguồn vốn vật chất khác và đầu tư cho con người được đặt lên hàng đầu, ưu tiên đầu tư cho con người là ưu tiên đầu tư cho phát triển và là nguồn cội cho sự phát triển bền vững. 

(UNESCO), cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là làm cho

toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước

con người” và “nguồn nhân lực” có ý nghĩa tương đồng. 

Định nghĩa về nguồn nhân lực, theo Liên Hợp quốc: “Nguồn

nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nănglực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”

 Quan điểm của Nicholas Henry cho rằng: “Nguồn nhân lực

là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”

Có ý kiến lại cho rằng, cần phân biệt khái niệm nguồn

nhân lực với các khái niệm giống gần gũi với nó như: dân

số, sức lao động, nguồn lao động, lực lượng lao động, tiềm năng lao động,

 Theo từ điển Tiếng Việt, sức lao động “là năng lực lao động củacon người bao gồm thể lực và trí lực” Như thế, sức lao động tồn tại trong cơ thể sống của một con người, có thể mang ra vận dụng để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, thỏa mãn nhu cầu của chính bản thân cá nhân người lao động Đồng thời,tạo ra giá trị cho người có sức lao động, cho xã hội và giá trị sử dụng cho người tiêu dùng Lực lượng lao động là số lượng và chất lượng những người lao động được tính theo các tiêu chuẩntrung bình về khả năng lao động có thể sử dụng

Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Hành vi lịch sử đầu tiên của con người và xã hội loài người chính là hoạt động lao động sản xuất nhằm tạo ra các giá trị của cải vật chất

và tinh thần Đồng thời, thông qua quá trình đó, con người cải tạo chính bản thân mình Trong tác phẩm: “Luận cương về Phoi ơ bắc” C.Mác đã viết: “Bản chất con người không phải là một cái

Ngày đăng: 12/04/2021, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w