luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
DƯƠNG ðỨC HỒNG TUẤN
HIỆN TRẠNG VÀ ðỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
KỸ THUẬT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA HỆ THỐNG TRỒNG TRỌT TẠI HUYỆN QUẾ VÕ,
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn
ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2010
Tác giả luận văn
Dương ðức Hồng Tuấn
Trang 3
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Viện ñào tạo sau ñại học; Bộ môn Hệ thống nông nghiệp - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội ñã giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Quế Võ; Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Bắc Ninh, UBND và bà con nông dân các xã Việt Hùng, ðại Xuân, Mộ ðạo - huyện Quế Võ, gia ñình và bạn bè, ñồng nghiệp ñã nhiệt tình ủng hộ, giúp ñỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả
Dương ðức Hồng Tuấn
Trang 4
4.1 ðặc ñiểm tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Quế Võ 46
4.1.2 ðiều kiện kinh tế - xã hội và hạ tầng cơ sở 56 4.1.3 Ảnh hưởng của ñiều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ñến phát triển
4.2 Thực trạng hệ thống trồng trọt tại huyện Quế Võ 70
Trang 54.2.1 Hệ thống cây trồng hàng năm của Quế Võ từ 2007 - 2009 70 4.2.2 Hiện trạng cây trồng, giống cây trồng năm 2009 73
4.2.5 Một số hệ thống trồng trọt chính của huyện Quế Võ 82
4.2.7 Những thuận lợi, khó khăn, thách thức nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 6LAI: Leaf Area Index (Chỉ số diện tích lá)
UBND: Uỷ ban nhân dân
Viện KHKTNNMN: Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam Viện lúa ðBSCL: Viện lúa ðồng bằng Sông Cửu
Trang 7DANH MỤC BẢNG
4.1 ðặc ñiểm một số yếu tố khí hậu thời tiết Huyện Quế Võ 47
4.3 Hiện trạng sử dụng ñất huyện Quế Võ năm 2009 54
4.5 Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế của huyện Quế Võ 56
4.7 Giá trị sản xuất trong ngành nông nghiệp, thuỷ sản 584.8 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành nông nghiệp, thuỷ sản 594.9 Diễn biến sản xuất trồng trọt của huyện Quế Võ 61
4.11 Sản xuất nuôi trồng thủy sản từ năm 2005 - 2009 644.12 Diễn biến cây trồng chính hàng năm từ năm 2007-2009 72
4.16 Hiện trạng sử dụng giống lúa huyện Quế Võ năm 2009 764.17 Hiện trạng sử dụng giống lúa chất lượng từ năm 2007 - 2009 784.18 ðầu tư phân bón cho các loại cây trồng trên năm 2009 794.19 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật năm 2009 814.20 Hệ thống trồng trọt chính trên các chân ñất 834.21 Hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng chính năm 2009 844.22 Hệ thống trồng trọt chính của huyện năm 2010 864.23 Hiệu quả kinh tế của một số công thức trồng trọt năm 2009 874.25 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm 91
Trang 84.25 Chỉ số diện tích lá và chất khô qua các giai ñoạn 924.26 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cácgiống lúa tẻ
4.27 Hiệu quả kinh tế của một số giống lúa thí nghiệm 954.28 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống thí nghiệm 964.29 Chỉ số diện tích lá và chất khô của giống thí nghiệm 974.30 Yếu tổ cấu thành năng suất và năng suất của các công thức 98
4.32 Hiệu quả kinh tế của cácgiống lúa thí nghiệm 100
Trang 9
DANH MỤC HÌNH
4.2 Diễn biến lượng mưa, bốc hơi và ñộ ẩm không khí 48
4.5 Cơ cấu giữa các ngành nông, lâm, ngư nghiệp năm 2009 60
4.7 Năng suất thực thu của các công thức thí nghiệm 98
Trang 10
1 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế chung của cả nước, kinh tế tỉnh Bắc Ninh cũng ñã và ñang phát triển với nhịp ñộ cao Tốc ñộ tăng GDP bình quân ñạt 14,56%/năm (giai ñoạn 2000 - 2008) Trong ñiều kiện công nghiệp, ñô thị phát triển nhanh, diện tích ñất nông nghiệp ñang bị giảm, song sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn phát triển khá Giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản tăng từ 1.646 tỷ ñồng (năm 2000) lên 2.297,6 tỷ ñồng (năm 2008), tốc
ñộ tăng bình quân thời kỳ 2000 - 2008 là 4,2%/năm [6]
Theo Quy hoạch nông nghiệp của tỉnh ñến năm 2020, diện tích ñất cho công nghiệp, ñô thị và hạ tầng khác sẽ tiếp tục tăng lên Vì vậy, dự kiến diện tích ñất nông nghiệp sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 35 nghìn ha, giảm 15 nghìn ha so với năm 2008 Lúa vẫn là cây trồng chính, diện tích trồng lúa sẽ tiếp tục giảm, nếu trong ñiều kiện sản xuất như hiện nay thì sản lượng lương thực có hạt sẽ giảm khoảng 148 nghìn tấn, riêng sản lượng thóc giảm khoảng
145 nghìn tấn Trong khi ñó, dân số của tỉnh ñược dự báo sẽ tăng thêm 173 nghìn người so với năm 2000 [3]
Như vậy, trong tương lai ñể ñáp ứng nhu cầu thị trường nông sản phẩm chỉ tỉnh riêng trong tỉnh vẫn phải tăng mạnh cả về số lượng và chất lượng Do
ñó, lời giải cho bài toàn về an ninh lượng thực và nâng cao thu nhập cho người nông dân là vấn ñề cần thiết và cấp bách
Quế Võ là huyện có diện tích ñất tự nhiên và ñất nông nghiệp lớn nhất
cả tỉnh, diện tích ñất tự nhiên 15.484,8 ha (chiếm 17% diện tích ñất tự nhiên của tỉnh), diện tích ñất nông nghiệp 9.567,09 ha (chiếm 61,8% diện tích ñất tự nhiên của huyện) Huyện có vị trí ñịa lý tiếp giáp thành phố Bắc Ninh, huyện Tiên Du, Gia Bình và các tỉnh Hải Dương, Bắc Giang là những thị trường sôi ñộng, có sức hút mạnh cả về kinh tế và chính trị Có tuyến ñường Quốc lộ 18
Trang 11chạy qua và nằm trên dòng chảy của 2 con sông Cầu và sông ðuống … ðồng thời, là huyện có dân số 142 nghìn người, mật ñộ dân số 917 người/km2, nguồn lao ñộng dồi dào, số người trong ñộ tuổi lao ñộng 87.484 người (chiếm 61,6%), nên huyện có nhiều ñiều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung và cho sản xuất nông sản hàng hoá nói riêng
Tại văn kiện ðại hội ðảng bộ huyện lần thứ XVII ñã ñề ra mục tiêu giai ñoạn 2010 - 2015: “Tốc ñộ tăng trưởng GDP bình quân tiếp tục tăng từ 14 - 15%/năm, trong ñó ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ 5 - 6% Cơ cấu các ngành kinh tế công nghiệp - TTCN và xây dựng cơ bản chiếm 55%; thương mại, dịch vụ 33%; nông lâm ngư nghiệp là 12% Hệ số sử dụng ñất ñạt 2,41 lần Năng suất lúa bình quân ñạt 64 - 65 tạ/ha Giá trị bình quân trên 1ha canh tác ñạt từ 82 - 85 triệu ñồng/năm Tổng sản lượng lương thực từ 81.459 tấn ñến 82.752 tấn ”
Tuy nhiên, ñể thực hiện mục tiêu Nghị quyết ðảng bộ huyện thì cần phải khai thác có hiệu quả các nguồn lợi tự nhiên, nhất là nguồn tài nguyên ñất, thông qua việc thâm canh tăng vụ, nâng cao hiệu quả ñầu tư và sử dụng ñất, trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng hệ thống cây trồng, ñánh giá tiềm năng ñất ñai, xem xét mức ñộ thích hợp của các loại hệ thống cây trồng và xây dựng các quy trình kỹ thuật trồng trọt phù hợp với ñiều kiện ñịa phương, ñể mang lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội của của huyện nói riêng và tỉnh nói chung
Nhằm ñánh giá ñược các yếu tố tác ñộng ñến sản xuất nông nghiệp, có các cơ sở cho việc ñề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp theo
hướng hiệu quả, bền vững, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài: “Hiện trạng
và ñề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của
hệ thống trồng trọt tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh”
Trang 121.2 Mục ựắch và yêu cầu
1.2.1 Mục ựắch
Thông qua kết quả nghiên cứu của ựề tài, ựánh giá ựược những thuận lợi và khó khăn Trên cơ sở ựó thực hiện thắ nghiệm so sánh giống và xác ựịnh liều lượng kali bón thắch hợp cho lúa chất lượng tại Quế Võ Từ ựó, ựề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống trồng trọt, tạo ựiều kiện tăng thu nhập cho nông dân tại ựịa phương, là tiền ựề cho sự phát triển kinh tế, xã hội
1.2.2 Yêu cầu
- đánh giá ựiều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác ựộng trực tiếp ựến sản xuất trồng trọt của huyện Quế Võ
- Phân tắch hiện trạng hệ thống trồng trọt của huyện Quế Võ
- đánh giá hiện trạng và hiệu quả sản xuất lúa chất lượng của vùng nghiên cứu
- đánh giá hiệu quả kinh tế của các hệ thống trồng trọt hiện có
- Thực hiện thắ nghiệm so sánh giống và phân bón kali cho lúa chất lượng
- đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống trồng trọt
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung cơ sở khoa học cũng như phương pháp luận về nghiên cứu và một số giải pháp phát triển hệ thống trồng trọt cho vùng nghiên cứu
- Việc thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật cho hệ thống trồng trọt ở huyện Quế Võ là một trong những cơ sở quan trọng trong việc xác ựịnh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp tại huyện Quế Võ và các vùng khác có ựiều kiện tương tự trên ựịa bàn tỉnh
Trang 131.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức, trình ñộ và hiệu quả sản xuất tại huyện Quế Võ ðồng thời, ñề xuất một số giải pháp phát kỹ thuật trên cơ sở hệ thống trồng trọt và nâng cao năng suất lúa chất lượng, từ
ñó có thể vận dụng nhân rộng ra những vùng có ñiều kiện canh tác tương tự
và tạo ñược hiệu quả kinh tế cho người sản xuất
- ðề tài ñược nghiên cứu ñầu tiên tại huyện Quế Võ, là cơ sở nâng cao hiệu quả sản xuất trồng trọt, góp phần thúc ñẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện ñại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Bắc Ninh
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các kháí niệm về hệ thống
Triết học tư duy ñã chỉ ra rằng: ðể nghiên cứu một hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội ta phải xem xét nó trong mối quan hệ với các hiện tượng khác, vì mọi hiện tượng ñều có mối quan hệ hữu cơ với nhau Mặt khác, mỗi hiện tượng ñều luôn nằm trong trạng thái biến ñổi và phát triển mà nguồn gốc và ñộng lực chủ yếu của hiện tượng ñó nằm trong bản thân sự vật Vì vậy, việc nghiên cứu một sự vật phải xem xét lý thuyết hệ thống là nền tảng phương pháp luận [37]
Cơ sở lý thuyết hệ thống ñã ñược Bertalanffy ñề xướng vào ñầu thế kỷ
XX, ñã ñược sử dụng như một cơ sở lý luận ñể giải quyết các vấn ñề phức tạp
và tổng hợp Trong những năm gần ñây, quan ñiểm về hệ thống ñược phát triển mạnh và áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực sinh học và nông nghiệp
* Hệ thống (Systems) là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác
nhau có quan hệ và tác ñộng qua lại Một hệ thống có thể xác ñịnh một tập hợp các ñối tượng hoặc các thuộc tính ñược liên kết bằng nhiều mối tương tác (Phạm Chí Thành, 1993) [34]
* Hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) là hệ thống thứ bậc
ñược lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người từ phạm vi cánh ñồng ñến nông trại, vùng, quốc gia và thế giới (Conway, 1987; Izak và Swift, 1994; Gallopin, 1994) ðiều quan trọng là thấy rõ các mối quan hệ ràng buộc giữa các mức phạm vi không gian khác nhau của hệ thống nông nghiệp Nghiên cứu phát triển hệ thống nông nghiệp là sự kết hợp nghiên cứu phát triển kỹ thuật nông nghiệp
vi mô ở mức ñộ nông trại với nghiên cứu chính sách phát triển nông nghiệp vĩ
mô ở mức ñộ vùng, quốc gia và thế giới Sự phát triển nông trại sẽ là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển nông nghiệp vùng và quốc gia Song sự phát triển
Trang 15ựó lại phụ thuộc và bị chi phối bởi các yếu tố ở các hệ thống cao hơn như: vùng, quốc gia và thế giới Nhất là trong sản xuất nông nghiệp mang tắnh hàng hoá cao như hiện nay (Nguyễn Tất Cảnh và CS, 2008)[7]
Theo đào Thế Tuấn (1989) [46], hệ thống nông nghiệp về thực chất
là sự thống nhất của hai hệ thống: (1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN)
là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao ựổi năng lượng, vật chất và thông tin với ngoại cảnh tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái (2) Hệ kinh tế - xã hội, chủ yếu là hoạt ựộng của con người trong sản xuất ựể tạo ra của cải vật chất của toàn xã hội
* Hệ thống canh tác (Farming systems) là là một hệ thống ựộc lập/ổn
ựịnh của những bố trắ sản xuất giữa các hoạt ựộng sản xuất của nông hộ do người nông dân quản lý, trong mối tương tác với các ựiều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với mục ựắch, nhu cầu và tiềm năng của nông dân (Nguyễn Tất Cảnh và CS, 2008) [7]
Theo Nguyễn Văn Luật (1990) [28] Hệ thống canh tác là tổ hợp cây trồng ựược bố trắ theo không gian và thời gian với hệ thống biện pháp kỹ thuật ựược thực hiện, nhằm ựạt năng suất cây trồng cao và nâng cao ựộ phì của ựất ựai Tác giả còn nhấn mạnh cây trồng phải ựược ựặt trong một không gian và thời gian nhất ựịnh, ựi ựôi với nó là các biện pháp kỹ thuật thắch ứng Sản xuất nông nghiệp luôn gắn với ựiều kiện tự nhiên và ựiều kiện kinh tế - xã hội Cây trồng là ựối tượng của sản xuất nông nghiệp và chịu sự tác ựộng trực tiếp của nhiều yếu tố trong tự nhiên cũng như các các yếu tố khác để phát triển nông nghiệp với tốc ựộ nhanh và vững chắc thì biện pháp kỹ thuật là giải pháp quan trọng nhằm tận dụng tối ựa các ựiều kiện tự nhiên, ựiều kiện kinh tế - xã hội ựể nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và thoả mãn nhu cầu của con người
Trang 16Theo Barkef, 1996 [51] Hệ thống canh tác là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và các kỹ thuật do một xã hội thực hiện
ựể thoả mãn các nhu cầu của họ Nó biểu hiện ựặc biệt sự tác ựộng qua lại giữa một hệ thống sinh học, sinh thái, môi trường tự nhiên và một bên là hệ thống xã hội văn hoá, qua các hoạt ựộng xuất phát từ những thành quả kỹ thuật, hệ thống nông nghiệp là một phạm trù rộng còn hệ thống canh tác là một tổ hợp cây trồng, trong không gian và thời gian của một vùng khắ hậu, thổ nhưỡng ựặc thù, trong một ựiều kiện kinh tế - xã hội nhất ựịnh
* Hệ thống trồng trọt (Cropping systems) là thành phần các giống và
loài cây ựược bố trắ trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội (Dufumier, 1997) [53]
Theo Nguyễn Duy Tắnh, 1995, [41], Hệ thống trồng trọt là hệ thống con và là trung tâm của HTCT, cấu trúc của nó quyết ựịnh sự hoạt ựộng của các hệ phụ khác như chăn nuôi, chế biến, ngành nghề Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một vấn ựề phức tạp vì nó liên quan ựến các yếu tố môi trường như ựất ựai, khắ hậu, sâu bệnh, mức ựầu tư phân bón, trình ựộ khoa học nông nghiệp và vấn ựề hiệu ứng hệ thống của hệ thống cây trồng Tuy nhiên, tất cả nghiên cứu trên ựều nhằm mục ựắch sử dụng có hiệu quả ựất ựai và nâng cao năng suất cây trồng Như vậy, ựặc ựiểm chung nhất của HTCT là bao gồm nhiều hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến tiếp thị, quản lý kinh tế, ựược bố trắ một cách có hệ thống, ổn ựịnh, phù hợp với mục tiêu của từng nông trại hay tiểu vùng nông nghiệp
* Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loại cây trồng ựược
bố trắ theo không gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp
lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội có sẵn (đào thế Tuấn, 1984) [44] Tác giả cho rằng: Bố trắ cây trồng hợp lý là biện pháp kỹ thuật, nhằm sắp xếp lại hoạt ựộng của hệ sinh thái
Trang 17Zandstra (1981) [50] cũng cho rằng hệ thống cây trồng ñó là thành phần các giống và loài cây ñược bố trí trong không gian và thời gian của một
hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội Hay hệ thống cây trồng là hoạt ñộng sản xuất cây trồng trong nông trại, bao gồm tất cả các hợp phần cần có ñể sản xuất một tổ hợp các cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý và sinh học cũng như kỹ thuật, lao ñộng và quản lý
2.1.2 Lý thuyết về hệ thống trồng trọt
Hệ thống trồng trọt bao gồm các thành phần các giống và loài cây ñược bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội (Dufumier, 1997) [53] Hay có thể nói hệ thống trồng trọt là một hệ thống gồm hệ thống cây trồng và hệ thống các biện pháp kỹ thuật ñi kèm nên khi nghiên cứu hệ thống trồng trọt trước hết phải nghiên cứu hệ thống cây trồng
Mối quan hệ giữa HTTT, HTCTr trong HTNN ñược biểu hiện qua sơ
ñồ sau [36]:
Sơ ñồ 1: Thành phần của hệ thống nông nghiệp
Trang 18Qua sơ ñồ trên có thể thấy HTNN, HTCTr, HTTT có mối quan hệ rất mật thiết với nhau Cũng nhiều ý kiến của nhiều tác giả ñều thống nhất cho rằng trong hệ thống nông nghiệp thì hệ thống trồng trọt là một hệ phụ trung tâm,
sự thay ñổi cũng như phát triển của HTTT sẽ quyết ñịnh xu hướng phát triển của HTNN, nên khi nói ñến nghiên cứu HTNN luôn gắn liền với nghiên cứu HTTT Trong hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng lại là trung tâm của nghiên cứu và kèm theo là hệ thống các biện pháp kỹ thuật Vì vậy, nghiên cứu, tác ñộng ñến
hệ thống cây trồng và thay ñổi các biện pháp kỹ thuật cũng là cải thiện hệ thống nông nghiệp
Nghiên cứu hệ thống trồng trọt nhằm bố trí lại các bộ phận trong hệ thống hoặc chuyển ñổi chúng ñể tăng hệ số sử dụng ñất, sử dụng ñất có hiệu quả hơn, tận dụng lợi thế của mỗi vùng sinh thái nông nghiệp cũng như sử dụng một cách có hiệu quả tiền vốn, lao ñộng và kỹ thuật ñể nâng cao giá trị sản xuất cũng như lợi nhuận trên một ñơn vị diện tích canh tác ñể tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững (Nguyễn Duy Tính,1995) [41]
Nghiên cứu hệ thống cây trồng ñã bắt ñầu từ năm 1975 ban ñầu chỉ có
4 nước, ñến thập kỷ 80 ñã mở rộng phạm vi hình thành mạng lưới có 16 nước tham gia và ñã tổ chức hội nghị ở Thái Lan vào năm 1981 Các nhà khoa học của các nước thành viên ñã thống nhất một số giải pháp trong chuyển ñổi cơ cấu cây trồng như sau:
- Tăng vụ, bằng các giống lúa ngắn ngày, thu hoạch trước mùa lũ
- Thử nghiệm tăng vụ cây màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, thâm canh, tăng vụ…
- Xác ñịnh hiệu quả của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế ñể phát triển công thức ñạt hiệu quả cao (Lý Nhạc và CS, 1987) [30]
Trang 192.1.3 Những yếu tố chi phối hệ thống trồng trọt và phương pháp tiếp cận
CS, 1987) [30]
Trong bố trí hệ thống cây trồng ñể xác ñịnh cây trồng trong một năm
có thể ñưa ra nhiệt ñộ của vùng, tổng nhiệt ñộ một vụ của cây trồng Nếu tính
cả thời gian làm ñất một vụ cây ưa lạnh cần khoảng 1800 - 20000C Cây ưa nóng cần khoảng 30000C Ở ñồng bằng Bắc Bộ một năm sản xuất hai vụ lúa - một vụ ñông thì cần tổng tích ôn 78000C (Lý Nhạc và CS, 1987) [30]
- Lượng mưa: Nước là yếu tố ñặc biệt quan trọng cho sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng Trong sản xuất nông nghiệp, lượng mưa cung cấp phần lớn cho cây trồng, ñặc biệt là ở những vùng không có hệ thống thuỷ lợi chủ ñộng ðể sản xuất cây trồng cây trồng có hiệu quả ñòi hỏi cần nắm chắc qui luật mưa ñể tận dụng khai thác, lựa chọn hệ thống cây trồng hợp lý (Trần ðức Hạnh, ðoàn Văn ðiếm, Nguyễn Văn Viết, 1997) [16]
- ðộ ẩm không khí: ðộ ẩm có liên quan ñến sinh trưởng, năng xuất cây trồng ðộ ẩm quá cao sự thoát hơi nước của cây trồng khó khăn, ñộ mở của khí khổng thu hẹp lại, lượng CO2 xâm nhập vào cây giảm xuống dẫn ñến làm
Trang 20giảm cường ựộ, giảm chất khô tắch luỹ, do ựó làm giảm năng xuất cây trồng
độ ẩm không khắ cao còn tạo ựiều kiện thuận lợi cho nhiều nấm bệnh, sâu hại phát triển (Trần đức Hạnh, đoàn Văn điếm, Nguyễn Văn Viết, 1997) [16]
Tác hại của ựộ ẩm quá thấp kèm theo nhiệt ựộ cao làm cho cây trồng phả thoát hơi nước nhiều, hô hấp tăng gây tiêu phắ chất khô, giảm năng xuất sinh học của cây độ ẩm không khắ thấp còn làm giảm sức sống của hạt phấn, cản trở qua trình thụ phấn của cây, do ựó làm giảm tỷ lệ hoa có ắch, tăng tỷ lệ lép dẫn ựến giảm lượng thu hoạch đó là trường hợp những ngày có gió tây nam (gió Lào) ở các tỉnh miền Bắc trung bộ và một phần đBSH (Trần đức Hạnh, đoàn Văn điếm, Nguyễn Văn Viết, 1997) [16]
- Ánh sáng: Cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ của cây Ánh sáng là yếu tố biến ựộng ảnh hưởng ựến năng xuất Cần phân biệt cây trồng theo yêu cầu về cường ựộ chiếu sáng, khả năng cung cấp ánh sáng từng thời gian trong năm ựể bố trắ hệ thống cây trồng cho phù hợp
Cây trồng phản ứng với cường ựộ bức xạ mà biểu hiện là số giờ nắng
và phản ứng quang chu kỳ là phản ứng của cây trồng ựối với thời gian chiếu sáng trong ngày
Căn cứ vào diễn biến của các yếu tố khắ hậu trong năm hoặc trong một thời kỳ, ựồng thời căn cứ vào yêu cầu về nhiệt ựộ, ẩm ựộ, lượng mưa, ánh sáng của từng loại cây trồng ựể bố trắ cơ cấu mùa vụ, cây trồng thắch hợp nhằm né tránh ựược các ựiều kiện bất thuận, phát huy ựược tiềm năng năg xuất của cây (Trần đức Hạnh, đoàn Văn điếm, Nguyễn Văn Viết, 1997) [16]
* Yếu tố ựất ựai
đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, là nguồn cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trồng điều kiện ựất ựai là một trong những căn cứ quan trọng sau ựiều kiện khắ hậu ựể bố trắ hệ thống cây trồng Hiểu ựược mối quan hệ giữa cây trồng với ựất thì sẽ dễ dàng xác ựịnh ựược cơ cấu cây trồng
Trang 21hợp lý ở một vùng nào ñó Tuỳ thụôc vào ñịa hình, chế ñộ nước, thành phần
lý tính và hoá tính của ñất ñể bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp
Thành phần cơ giới của ñất qui ñịnh tính chất của ñất như chế ñộ nước, chế ñộ không khí, nhiệt ñộ và dinh dưỡng Các cây trồng cạn như ngô, lạc, ñậu tương… thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên các loại ñất có thành phần cơ giới nhẹ (Phạm Bình Quyền và CS, 1992) [32] Hàm lượng chất dinh dưỡng trong ñất quyết ñịnh ñến năng suất cây trồng hơn là quyết ñịnh ñến tính thích ứng Tuy vậy, trong những loại cây trồng cũng có những loại cây ưa trồng trên những loại ñất có hàm lượng dinh dưỡng cao và có những cây chịu ñược hàm lượng dinh dưỡng thấp, ñất chua, mặn
* Các yếu tố kinh tế xã hội
Các yếu tố kinh tế xã hội chủ yếu ảnh hưởng ñến xây dựng hế thống cấy trồng hợp lý và hiệu quả kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lao ñộng, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế tập quán, kinh nghiệm sản xuất truyền thống
- Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt ñộng kinh tế Theo Nguyễn Thị Tân Lộc (1999) [27] do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần thiết phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng ñến chất lượng của các hoạt ñộng kinh tế và do ñó ñã làm xuất hiện phạm trù hiều quả kinh tế Vận dụng vào việc phát triển bền vững hệ thống cây trồng cho thấy cần phải tận dụng triệt ñể ñiều kiện tự nhiên ñể bố trí cơ cấu cây trồng, chủng loại cây trồng sao cho hợp lý trên một ñơn vị diện tích ðồng thời có thể tăng vụ, thay ñổi giống cây trồng hoặc tăng ñầu tư thâm canh… nhằm khai thác tối ña ñiều kiện tự nhiên
ðặc ñiểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất ña dạng, ngoài cây tròng chủ yếu cần bố trí những cây trồng bổ sung ñể tận dụng các nguồn lợi tự nhiên của vùng và cơ sở sản xuất Tóm lại về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng thoả mãn các ñiều kiện: (I) ñảm bảo các yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản
Trang 22phẩm hàng hoá cao; (II) ñảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên; (III) ñảm bảo thu hút lao ñộng và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế; (IV) ñảm bảo chất lượng và giá trị hàng hoá cao hơn cây trồng cũ; (V) khi ñánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng có thể dựa vào một số chỉ tiêu như: Năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lãi của các sản phẩm hàng hoá Việc ñánh giá này rất phức tạp do giá trị sản phẩm luôn biến ñộng theo thị trường
- Thị Trường: Thị trường không phải chỉ do cạnh tranh ñiều khiển mà còn do sự hợp tác và tương trợ lẫn nhau Theo Nguyễn Cúc, ðặng Thị Lợi (2007) [8] ñiều kiện ñể hình thành thị trường cần có các yếu tố sau: (i) ñối tượng trao ñổi hàng hoá, dịch vụ; (ii) ñối tượng tham gia trao ñổi là người mua, người bán; (iii) ñiều kiện ñển thực hiện trao ñổi là khả năng thanh toán, ñịa ñiểm trao ñổi; (iv) có thể chế hoặc tập tục ñể ñảm bảo hoạt ñộng mua bán ñược an toàn, nhanh chóng
Kinh tế thị trường là một mô kinh tế vần ñộng, phát triển dựa trên cơ sở qui luật của thị trường trong ñó quan hệ hàng hoá - tiền tệ trở thành phổ biến
và bao quát toàn bộ các lĩnh vực hoạt ñộng kinh tế (Nguyễn Cúc, ðặng Thị Lợi, 2007) [8] Thị trường là ñộng lực thúc ñẩy cải tiến HTCT hợp lý Theo
cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ các vấn ñề: Trồng cây gì? Trồng cây như thế nào? Và sản phẩm của chúng cung cấp ở ñâu? Cho ai? Thông qua sự vận ñộng của giá cả, thị trường có tác dụng ñịnh hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào ñể ñáp ứng ñược nhu cầu của xã hội và thu ñược kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất ñiều chỉnh qui mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay ñổi giống cây trồng, mùa vụ cho phù hợp với ñiều kiện thị trường Thị trường có tác dụng ñiều chỉnh HTCT, chuyển dịch theo hướng ngày càng ñạt hiệu quả cao hơn Cải tiến HTCT chính là ñiều kiện và yêu cầu ñể mở rộng thị trường Thị trường là ñộng lực thúc ñẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn
Trang 23chế là nếu ựể cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn ựến mất cân ựối ở một giai ựoạn, một thời ựiểm nào ựó Vì vậy, cần có những chắnh sách của nhà nước ựiều tiết kinh tế vĩ mô ựể phát huy mặt tắch cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường
Hiện nay, thị trường nông thôn ựang phát triển với sự tham gia tắch cực của tư thương, kể cả mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngày càng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt ựộng của các hợp tác xã chế biến và tiêu thụ nông sản Nếu các hợp tác xã nắm ựược 30% khối lượng hàng hoá thì tư thương sẽ mất ựộc quyền trong buôn bán (đào Thế Tuấn, 1997) [47]
- Chắnh sách: để thúc ựẩy quá trình chuyển ựổi hệ thống cây trồng một cách có căn cứ khoa học, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn và xu thế phát triển của xã hội cần có chắnh sách về khoa học - công nghệ ựể thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên ựồng ruộng của người nông dân những
mô hình chuyển ựổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả ựồng thời chuyễn giao các tiến bộ kỹ thuật cho nông dân nhằm nhân rộng mô hình Bên cạnh ựó, cũng cần có những cơ chế chắnh sách về tài chắnh ựể hỗ trợ cho người nông dân khi mới bắt ựầu thực hiện việc chuyển ựổi hệ thống cây trồng cũng như chắnh sách khen thưởng ựể khuyến khắch những hộ, ựịa phương chuyển ựổi hệ thống cây trồng thành công, có hiệu quả (đào Thế Tuấn, 1997) [47]
* Những yếu tố về khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác: Các yếu tố như ựiều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng cũng khác nhau, với yêu cầu giống cây, con khác nhau ựòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán canh tác, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng ựịa phương có ảnh hưởng trực tiếp ựến hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và phát triển các hệ thống nông hộ nông thôn
- Các tiến bộ khoa học - công nghệ: Nhờ có công nghệ mà các yếu tố sản xuất như lao ựộng, ựất ựai, sinh vật, máy móc và thời tiết khắ hậu kinh tế kết hợp với nhau ựể tạo ra sản phẩm nông nghiệp Trong thực tế sản xuất những hộ
Trang 24tiếp cận với tiến bộ kỹ thuật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám ñầu tư và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp họ giàu lên nhanh chóng Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật làm thay ñổi hẳn sản xuất hàng hoá
FAO(1992) [56] ñưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác Cho ñây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp, cộng ñồng nông thôn trên cơ sở bền vững, việc nghiên cứu chuyển ñổi cơ cấu sản xuất ngành trồng trọt phải ñược bắt ñầu từ phân tích hệ thống canh tác truyền thống
Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là một nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho các tiếp cận ñơn lẻ Xuất phát ñiểm của hệ thống canh tác là nhìn nhận cả nông trại như một hệ thống:
Phân tích toàn bộ hạn chế và tiềm năng
Trang 25Xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên, những thay đổi cần thiết được thể chế vào chính sách
Thử nghiệm trên thực tế đồng ruộng, hoặc mơ phỏng các hiệu ứng của
nĩ bằng các mơ hình hố trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đĩ tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả hiện tại trên quy mơ tồn nơng trại từ đĩ đề xuất hướng cải tiến phát triển của nơng trại trong thời gian tới
Theo tài liệu dẫn của Phạm Chí Thành và CS (1996) [36] cho kết quả trong nghiên cứu hệ thống nơng nghiệp được thực hiện theo các bước sau:
- Mơ tả nhanh điểm nghiên cứu, bao gồm phương pháp khơng dùng phiếu điều tra
- Phương pháp thu thập thơng tin từ nơng dân am hiểu cơng việc (KIP)
- Phương pháp thu thập, phân tích và đánhgiá thơng tin (SWOT)
- Thu thập thơng tin, xác định, chuẩn đốn những hạn chế, trở ngại (phương pháp ABC và phương pháp WEB)
- Xây dựng bản đồ mặt cắt trong mơ tả hệ sinh thái nơng nghiệp và mơ
tả hoạt động sản xuất nơng hộ
- Khảo sát và chuẩn đốn (những nguyên lý và thực hành)
Sau khi thu thập thơng tin, phải tiến hành xử lý, phân tích số liệu, trình bày kết quả các cuộc điều tra, khảo sát
Cũng theo Phạm Chí Thành và CS (1996) [36] đã cĩ đúc kết các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu cơ cấu cây trồng bao gồm:
- Tiếp cận từ dưới lên trên (bottm - up) là dùng phương pháp quan sát phân tích tìm điểm ách tắc của hệ thống để xác định phương pháp can thiệp thích hợp cĩ hiệu quả Trước đây, thường dùng phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này tỏ ra khơng hiệu quả vì nhà nghiên cứu khống thấy được hết các điều kiện của nơng dân, do đĩ giải pháp đề xuất thường khơng phù hợp và được thay thế bằng phương pháp đánh giá nơng thơn cĩ sự tham gia của nơng dân (PRA)
Trang 26- Tiếp cận hệ thống (System approach): ðây là phương pháp nghiên cứu dùng ñể xét các vấn ñề trên quan ñiểm hệ thống, nó giúp cho sự hiểu biết giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật hiện tượng
- Tiếp cận hệ theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp lên cao: Phương pháp này coi trọng phân tích ñộng thái của sự phát triển cơ cấu cây trồng trong lịch sử Vì qua ñó, sẽ xác ñịnh ñược sự phát triển của hệ thống trong tương lai, ñồng thời giúp cho việc giải quyết các trở ngại phù hợp với hướng phát triển ñó
Năm 1981, Zandstra H.G [50] ñã ñề xuất một phương pháp nghiên cứu
hệ thống trồng trọt của nông trại Các tác giả ñã chỉ rõ: sản lượng hàng năm trên một ñơn vị diện tích ñất có thể tăng lên bằng cách cải thiện năng suất cây trồng hoặc trồng tăng thêm các cây trồng khác trong năm Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là tìm kiếm những giải pháp ñể tăng sản lượng bằng cả hai cách
Phương pháp nghiên cứu hệ thống trồng trọt về sau ñược Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới hệ thống cây trồng châu Á (Asian Cropping System Network - ACSN) sử dụng và phát triển [55] Quá trình nghiên cứu liên quan ñến một loạt các hoạt ñộng trong nông trại Tổ chức thực hiện theo các bước sau:
(1) Chọn ñiểm: ñịa ñiểm nghiên cứu là một hoặc vài loại ñất Tiêu chí ñể chọn ñiểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, ñại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn ñiểm nghiên cứu ñược Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn
(2) Mô tả ñiểm: ñiểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ ñược mô tả về ñặc ñiểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng cơ cấu cây trồng cần phải ñược ñánh giá
(3) Thiết kế hệ thống trồng trọt: các mô hình cây trồng ñược thiết kế trên những ñặc ñiểm của ñiểm nghiên cứu, nhằm ñạt ñược sản lượng, lợi nhuận cao, ổn ñịnh và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 27(4) Thử nghiệm cây trồng mới: cây trồng ựược thử nghiệm trên ruộng nông dân, nhằm xác ựịnh khả năng thắch nghi và ổn ựịnh của chúng Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học, hiệu quả sử dụng ựất, yêu cầu về tài nguyên (lao ựộng, vật tư và hiệu quả kinh tế)
(5) đánh giá sản xuất thử: những mô hình trồng trọt có năng suất và hiệu quả ựược xác ựịnh dựa trên kết quả thử nghiệm, sau ựó ựược ựưa vào sản xuất thử nhằm ựánh giá khả năng thắch nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở qui mô lớn hơn
(6) Chương trình sản xuất: sau khi xác ựịnh những hệ thống trồng trọt thắch hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến nông với sự giúp ựỡ của chắnh quyền, xây dựng chương trình quảng
bá, thực hiện chương trình sản xuất
Mạng lưới hệ thống cây trồng châu Á khi ựưa ra hướng dẫn quá trình thiết kế và thử nghiệm hệ thống cây trồng cũng chỉ rằng ỘNghiên cứu hệ thống cây trồng cải tiến cho một vùng bao gồm cả thâm canh, thay thế cây trồng năng suất thấp và ựưa vào những kỹ thuật thâm canh cải tiến Ở những nơi kỹ thuật thâm canh còn hạn chế hoặc chưa có sẵn, các nhà nghiên cứu hệ thống cây trồng sẽ thực hiện các thử nghiệm ựơn giản trên ruộng của nông dân ỘInternational Rice Research InstituteỢ [57]
2.1.4 Hệ thống với các biện pháp kỹ thuật
Như ựã nói, nghiên cứu về hệ thống trồng trọt là nghiên cứu hệ thống cây trồng và kèm theo là hệ thống các biện pháp kỹ thuật Theo tác giả Phạm Chắ Thành, 1996 [35] cho rằng việc phát triển trồng trọt trong thời gian tới chủ yếu dựa vào Ộhiệu ứng hệ thốngỢ bằng cách bố trắ lại hệ thống cây trồng thắch hợp với ựiều kiện ựất ựai, chế ựộ khắ hậu, chế ựộ nước khác nhau, ựồng thời phải ựa dạng sản xuất trồng trọt Cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tổng hợp nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên và lao ựộng, sử dụng hiệu quả vốn ựầu tư
Trang 28Theo Lý Nhạc và CS (1987) [30] biện pháp kỹ thuật nông nghiệp căn cứ vào chế ựộ luân canh mà xác ựịnh nội dung của mình như thuỷ lợi, bón phân, làm ựất, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hạiẦ ựều căn cứ vào loại cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống ựể xây dựng các biện pháp kỹ thuật cụ thể cho suốt cả chu kỳ luân canh
Lê Minh Toán, 1988 [43] nghiên cứu cải tiến cơ cấu cây trồng là tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản bằng cách áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào hệ thống cây trồng hiện tại hoặc ựưa ra những
hệ thống cây trồng mới Hướng vào các hợp phần tự nhiên, sinh học kỹ thuật, lao ựộng, quản lý, thị trường ựể phát triển cơ cấu cây trồng trong những ựiều kiện mới nhằm ựem lại hiệu quả kinh tế cao nhất
đào Thế Tuấn, 1986 [45] cho rằng nhiệm vụ của ngành trồng trọt Việt Nam là phải tìm ra mọi biện pháp bảo vệ năng suất cây trồng Có hai khả năng ựẩy mạnh sản xuất trồng trọt là:
- Thâm canh ở những vùng sinh thái khó khăn, chú trọng vấn ựề giống
và chế ựộ bón phân thắch hợp
- Tăng vụ ở những vùng sinh thái thuận lợi nhất như trồng cây vụ ựông
và thực hiện biện pháp hữu hiệu là bố trắ cây trồng thắch hợp với ựiều kiện khắ hậu, ựất ựai, chế ựộ nước và thời vụ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững
* Một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng
- Sử dụng giống năng suất, chất lượng cao, chống chịu ngoại cảnh tốt
Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có ựặc ựiểm kinh tế, sinh học
và các tắnh trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng sinh thái giống nhau và ựiều kiện kỹ thuật phù hợp Vì vậy, giống cây trồng phải mang tắnh khu vực hoá, tắnh di truyền ựồng nhất và không ngừng thoả mãn nhu cầu của con người (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [17]
Theo Trương đắch, 1993 [9]; Vũ Tuyên Hoàng, 1994 [19] việc phát
Trang 29triển giống cây trồng là vấn ñề cốt lõi của hệ thống canh tác Những năm gần ñây các giống mới ra ñời ñóng góp ñáng kể vào việc nâng cao năng suất cây trồng Mỗi giống cây trồng phù hợp với từng ñiều kiện của từng ñịa phương, chính vì thế việc sử dụng giống cây trồng cần phải ñi ñôi với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp như: kỹ thuật canh tác góp phần ñáng kể vào việc nâng cao năng suất, phẩm chất và sản lượng lương thực
Bằng các phương pháp chọn tạo giống lúa khác nhau, các nhà chọn tạo giống lúa trên thế giới và trong nước ñã tạo ra ñược hàng loạt giống lúa mới Những giống lúa mới này góp phần làm phong phú bộ giống lúa, làm tăng năng suất và sản lượng lúa trên thế giới Nó ñóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ði ñôi với việc nghiên cứu các giống mới thì công tác thử nghiệm, khảo nghiệm ñóng vai trò then chốt nhằm ñánh giá chính xác khả năng phát triển ngoài sản xuất
Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần ðức Viên
1993 [34] cho rằng ở nước ta và các nước ñang phát triển ñã áp dụng chiến lược dựa chủ yếu trên thành tựu “cách mạng xanh” nhằm vào một số sản phẩm của nông nghiệp quan trọng như lúa, ngô bằng cách tập trung ñầu tư vào việc chọn tạo giống có năng suất cao, ñầu tư thuỷ lợi, bón phân và phòng chống dịch hại
- Sử dụng phân bón cân ñối và hợp lý
Theo Lê Văn Tiềm, 1992 [42] mật ñộ trồng cao và chế ñộ bón phân thích hợp là các biện pháp kỹ thuật quan trọng làm cho quần thể cây trồng phát triển mạnh
Võ Minh Kha, 2003 [23] cho rằng: Hệ thống sử dụng phân bón phối hợp cân ñối có thể hiểu là sự phối hợp hoàn hảo giữa các thành tố trong hệ thống nông nghiệp với kỹ thuật bón phân ñể cung cấp cân ñối chất dinh dưỡng cho cây trồng nhằm ñạt 5 mục tiêu sau:
(1) ðạt năng suất cây trồng mong muốn;
Trang 30(2) ðạt chất lượng sản phẩm mong muốn;
(3) Tăng thu nhập cho người sản xuất;
(4) Hồi phục, làm tăng ñộ phì nhiêu cho ñất và bảo vệ môi trường; (5) Ứng dụng sát với ñiều kiện thị trường
Như vậy, bón phân hợp lý thực chất là tìm ra cách thoả mãn tốt nhất mối quan hệ tương hỗ giữa các nguyên tố cần thiết ñối với cây trồng Bón phân hợp lý là tìm ra khoảng cách ngắn nhất bù lại lượng chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy ñi cùng với tiêu hao dinh dưỡng trong quá trình sản xuất Muốn thâm canh cây trồng cần phải bón các loại phân và ñáp ứng ñầy ñủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây, việc sử dụng phân hợp lý là biện pháp duy trì, bồi dưỡng, cải tạo và phục hồi nhanh chóng có hiệu quả nhất ñặc biệt là ở những ñất nghèo dinh dưỡng hoặc ñã bị thoái hoá trong quá trình trồng trọt
Hiện nay diện tích ñất nông nghiệp không tăng mà còn có xu hướng giảm do ñất ñược sử dụng vào nhiều mục ñích khác, trong khi ñó nhu cầu lương thực không giảm Vì vậy, ñể ñảm bảo an toàn lương thực thì phải tăng năng suất cây trồng và sử dụng phân hoá học là 1 giải pháp hữu hiệu ñể tăng năng suất Do ñó có thể thấy rằng nhu cầu sử dụng phân hoá học ngày càng tăng trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Nhưng việc sử dụng phân bón cân ñối, hợp lý là vấn ñề không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp canh tác nông nghiệp ñể tăng năng suất, phẩm chất cây trồng, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi trường
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Zandstra H.G (1981) [50] ñã dẫn số liệu của FAO cho thấy dân số thế giới ngày càng tăng, và ñể ñảm bảo nhu cầu nông sản ngày càng tăng phải thực hiện ba giải pháp là mở rộng diện tích, tăng năng suất và ña dạng hóa cây trồng Trong ñó, giải pháp thâm canh và ña dạng hóa ñược coi là quan trọng
Từ thế kỷ thứ VIII ñến thế kỷ XVIII, trong suốt 1000 năm chế ñộ
Trang 31luân canh phổ biến trong nông nghiệp châu Âu là chế ựộ luân canh 3 khu
và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống canh tác: Ngũ cốc - ngũ cốc và
bỏ hoá Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ ựạt 5 - 6 tạ/ha và ựến thế kỷ thứ XVIII năng suất chỉ ựạt 7 - 8 tạ/ha Sau khi tìm ra châu Mỹ, một
số cây trồng ựược di thực từ châu Mỹ vào châu Âu như khoai tây, ngô cùng với việc phát triển một số cây họ ựậu ựã tạo ựiều kiện cho việc hình thành hệ canh tác mới đó là chế ựộ luân canh 4 vụ, 4 năm Chế ựộ luân canh này ựánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nông nghiệp của châu Âu, năng suất ngũ cốc tăng gấp 2 lần so với chế ựộ luân canh cũ và sản lượng lương thực, thực phẩm trên một ha canh tác tăng gấp
4 lần (do cây có củ, cây có quả ựược ựưa thêm vào hệ thống cây trồng) Chế ựộ luân canh mới bắt ựầu ựược áp dụng rộng rãi và ựem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh và sau ựó lan rộng ra các nước Bỉ, Hà Lan, đức, Pháp và các nước Tây Âu (Dẫn theo Lý Nhạc và CS, 1987) [30]
Hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 quốc gia trồng và sản xuất lúa gạo, trong ựó tập trung nhiều ở các nước châu Á, 85 % sản lượng lúa trên thế giới phụ thuộc vào 8 nước ở châu Á: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn độ, Inựônêxia, Banglades, Myanmar và Nhật Bản (Dẫn theo Trần Văn đạt (2007) [14]
Zandstra H.G (1981) [50] khẳng ựịnh xen canh gối vụ có tác dụng tăng tổng sản lượng của các cây trồng cạn, ựã tạo ra chế ựộ che phủ ựất tốt hơn, tận dụng ựược bức xạ mặt trời trong suốt thời gian sinh trưởng Các hệ thống cây trồng ựã ựược thực hiện: ngô - lúa; lúa - ựậu xanh; lúa - lúa mì; lúa - rau; lúa - lúa mì - ngô
Châu Á ựược coi là cái nôi của lúa gạo do sản xuất cũng như tiêu thụ chiếm tới trên 90% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới, nơi ựã diễn ra cuộc
ỘCách mạng xanhỢ giữa thế kỷ XX, ở ựây ựã lai tạo ra nhiều giống lúa nước ngắn ngày, năng suất cao, nhờ vậy ựã góp phần thành công trong việc chuyển
Trang 32ựổi cơ cấu cây trồng và cơ cấu mùa vụ theo hướng sản xuất lúa hàng hóa ở nhiều quốc gia Sự nổi bật của vùng này có ảnh hưởng quyết ựịnh vào tương lai cũng như quá khứ của tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cũng ở ựây các chế ựộ xen canh gối vụ truyền thống ựã ựược chú ý nghiên cứu phát triển Năm 1960, Hàn Quốc, đài Loan ựã ựạt chỉ số thâm canh tăng vụ 1,5 và 1,8 lần Cũng thời kỳ này, các nhà nghiên cứu của IRRI
ựã thấy rằng các giống lúa mới kiểu thấp cây, tiềm năng năng suất cao chỉ có thể giải quyết vấn ựề lương thực trong phạm vi hạn chế Vậy từ những năm ựầu thập kỷ 70 họ ựã nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng cả vùng và lấy cây lúa làm trọng tâm, tăng cường cây họ ựậu, cây màu, cây trồng cạn Các chế ựộ trồng xen, trồng gối ngày càng ựược chú ý nghiên cứu (Dẫn theo Bùi Huy đáp, 1993) [13]
Ở những khu vực ựất bằng, nông dân châu Á ựã sử dụng nhiều hệ canh tác Những hệ canh tác này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai lang, ngô, ựậu ) Nói chung hệ thống cây trồng luân canh giữa chế ựộ cây trồng nước và chế ựộ cây trồng cạn, giữa cây lương thực
và cây họ ựậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian có hiệu quả cao (Dẫn theo Hoàng Văn đức, 1992) [15]
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học của các nước châu Á ựã ựi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên ựất lúa theo hướng lấy cây lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, chế
ựộ xen canh, gối vụ ngày càng ựược chú ý nghiên cứu Ở châu Á hình thành
ỘMạng lưới hệ canh tác châu ÁỢ- một tổ chức hợp tác nghiên cứu giữa IRRI với nhiều quốc gia trong vùng, nhằm giải quyết 3 vấn ựề:
+ Tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày ựể thu hoạch trước mùa mưa lũ; + Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh tăng vụ;
+ Xác ựịnh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc
Trang 33phục những yếu tố hạn chế ựể phát triển công thức ựạt hiệu quả cao (Dẫn theo
Lý Nhạc và CS, 1987) [30]
Trung Quốc từ những năm 1980, ở khu vực phắa Nam ựã thắ nghiệm xây dựng nền nông nghiệp sinh thái ở Xiaoliang, một vùng ựồi cuả Quảng đông bị sa mạc hoá, xói mòn mạnh, nhiệt ựộ mặt ựất cao, trước ựây người
ta trồng bạch ựàn nhưng ựều không thành công Cuối cùng ựã chọn ựã hệ thống cây trồng theo hướng ựa dạng hoá và trồng nhiều tầng ựã thu ựược thành công Trên ựất lúa hai vụ thuộc vùng núi phắa nam thường ựược canh tác 2 hoặc 3 vụ với hệ thống cây trồng là: lúa - lúa mì - khoai tây; lạc - ựậu tương - lúa mì Trên ựất lúa một vụ thuộc vùng cao nguyên (gồm tỉnh Vân Nam, Quế Châu, Tứ Xuyên và Tây Tạng), thường canh tác với hệ thống cây trồng là lúa luân canh với cây trồng cạn
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng ựã xác ựịnh hệ thống cây trồng hợp lý trên các vùng ựất 2 vụ, hệ thống phổ biến là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì hoặc ựậu Hà Lan, cải, khoai tây
Ở miền Bắc Ấn độ có tổng số nhiệt ựộ cả năm 9.0000C, có 3 - 4 tháng nhiệt ựộ dưới 200C Từ xưa ựến nay nhân dân vẫn có tập quán trồng 2 vụ/năm trên ựất có tưới ựó là, cây xứ lạnh (lúa mỳ, ựại mạch, ựậu ựỗ mùa ựông, cải dầu, khoai tây) và một số cây xứ nóng (lúa, ngô) Gần ựây ựã xác ựịnh nhiều công thức 3 vụ tiến bộ trên năm như: lúa - lúa - lúa mì; ngô - khoai tây - cải dầu; ngô - khoai tây - lúa mì, công thức 4 vụ trên năm là ựậu xanh (hay kê) - ngô - khoai tây (cải dầu) - lúa mì
Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp với Ấn độ năm
1960-1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp ựã kết luận ỘHệ thống trồng trọt dành ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ cốc (2 vụ lúa nước hoặc 1 vụ lúa và một vụ lúa mì) ựưa thêm vào một vụ ựậu ựỗ ựã ựáp ứng ựược 3 mục tiêu khai thác tối ưu tiềm năng ựất ựai, ảnh hưởng tắch cực ựến ựộ phì nhiêu của ựất trồng và ựảm
Trang 34bảo lợi ắch của người nông dânỢ (Dẫn theo Bùi Huy đáp, 1985) [11]
Ở Philippin là nước nhiệt ựới, tổng số nhiệt ựộ 98000C, không có tháng nào dưới 200C, từ trước ựến nay nhân dân vẫn có tập quán làm 2 vụ cây xứ nóng ở ựất có nước tưới, nay nhờ có giống cây trồng ngắn ngày ựã xác ựịnh có thể trồng 3 - 4 vụ/năm đưa cây trồng cạn vào hệ thống luân canh như: lúa- lúa- ựậu tương hoặc lúa- khoai tây- ựậu tương- ngô ựường, ựều cho kết quả tốt
Chương trình SALT của Philippines ựã khảo nghiệm có kết quả với
hệ thống cây trồng và biện pháp canh tác như sau: cây hàng năm và cây lâu năm ựược trồng thành băng xen kẽ rộng từ 4 - 5 m, các loại cây họ ựậu cố ựịnh ựạm ựược trồng thành hai hàng dày theo ựường ựồng mức ựể tạo thành hàng rào Khi những cây hàng rào cao 1,5 - 2 m người ta ựốn ựể lại
40 cm gốc, cành lá dùng ựể rải lên băng tạo lớp che phủ và giữ ẩm, chống xói mòn Cây lâu năm thường là cây cà phê, cao su, cam (Dẫn theo Hoàng Văn đức, 1992) [15]
Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế ựã góp nhiều thành tựu về cơ cấu giống lúa Ở Thái Lan, trong ựiều kiện thiếu nước, từ hệ thống canh tác hai vụ lúa hiệu quả thấp vì chi phắ nước tưới quá lớn, công thức sản xuất ựộc canh lúa ảnh hưởng xấu ựến kết cấu ựất nên ựã ựược thay bằng mô hình ựậu tương xuân - lúa mùa làm cho hiệu quả kinh tế gấp ựôi, ựộ phì ựất tăng lên rõ rệt
Ở Thái Lan có nhiều tiến bộ kỹ thuật góp phần phát triển hệ thống cây trồng Trồng kết hợp giữa cây lương thực và cây họ ựậu trên ựất dốc giúp cho năng suất cây trồng tăng 2 lần Những công thức luân canh trên hệ thống canh tác 3 vụ ựất lúa ựược trồng ở Phayou gồm: Hành - lúa - ựậu tương; đậu xanh
- lúa - ựậu tương; đậu xanh - lúa - lúa mỳ; Ngô ựông - lúa - lúa mỳ; đậu xanh
- lúa - khoai tây; Hệ thống canh tác 2 vụ trên ựất lúa nên dùng công thức: ựậu xanh - lúa ; ngô ựông - lúa (Dẫn theo Nguyễn Xuân Mai, 1998) [29]
Trong ựiều kiện thiếu nước, một hệ thống cây trồng lúa xuân - lúa mùa ắt mang lại hiệu quả vì chi phắ tiền nước qúa lớn, cộng thêm sự ựộc
Trang 35canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu ñến chế ñộ ñất Bằng việc dịch cây lúa xuân sang cây lạc làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng lên ñáng kể, diện tích tăng gấp ñôi, hiệu quả kinh tế tăng gấp rưỡi, ñộ phì ñất ñược tăng lên rõ rệt ðây là một thành công lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan (Tejwani V.L - Chun K.Lai Indonesia, 1992) [58]
Khi nghiên cứu các mô hình luân canh cây trồng FAO (1970) [54] cho rằng, luân canh có 4 lợi ích sau:
- Các cây trồng khác nhau sẽ hấp thu dinh dưỡng từ ñất khác nhau
- Chúng có bộ rễ khác nhau nên hấp thu dinh dưỡng ở các ñộ sâu khác nhau
- Cây trồng tận dụng ñược chất khoáng trong ñất
- Cây trồng có thể bổ sung dinh dưỡng cho nhau nên ñất ñỡ nghèo dinh dưỡng hơn
Các nghiên cứu ở Indonesia 1975 - 1976 ñã thí nghiệm thành công các
mô hình tăng vụ và ña dạng hóa cây trồng ở ñất có tưới 10 tháng, 7 tháng và 5 tháng Các mô hình chọn thử nghiệm như: 3 vụ lúa; 2 vụ lúa; 1 vụ lúa - 1 vụ màu; 2 vụ lúa 1 vụ màu (màu chủ yếu là ñậu ñỗ, rau và ngô)
Nhật Bản là nước có ñiều kiện sản xuất nông nghiệp không thuân lợi,
vì thế ñã nghiên cứu và ñề ra chính sách quan trọng, xây dựng những chương trình với mục tiêu như: (1) an toàn về lương thực; (2) cải tạo ruộng ñất; (3) ổn ñịnh thị trường nông sản trong nước; (4) ñẩy mạnh công tác khuyên nông; (5) một số giải pháp kỹ thuật trong sản xuất; (6) cải cách nông thôn
Ngoài ra các nhà khoa học Nhật Bản ñã ñề ra 4 tiêu chuẩn khi xây dựng
hệ thống nông nghiệp là: (1) phối hợp giữa cây trồng với vật nuôi; (2) phối hợp giữa kỹ thuật trồng trọt và kỹ thuật chăn nuôi gia súc; (3) tăng cường ñộ lao ñộng, vốn ñầu tư, tổ chức sản xuất và sản phẩm làm ra; (4) sản phẩm mang tính chất hàng hoá cao Nhờ vậy mà Nhật Bản trở thành một nước có nền nông nghiệp phát triển hàng ñầu thế giới (Dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995 [41])
Trang 36Một số nước ở khu vực ựông nam Á ựã có nhiều công trình nghiên cứu
về hệ thống nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, kết quả nghiên cứu ựã góp phần nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng Những mô hình thử nghiệm có 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 2 vụ lúa - 1 vụ màu, 1 vụ lúa - 1 vụ màu ựã ựược áp dụng và nhân ra diện rộng, các cây màu chủ yếu là cây họ ựậu, các loại rau, ngô
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Lịch sử phát triển của nước ta gắn liền với hoạt ựộng sản xuất nông nghiệp Nền nông nghiệp nước ta từ những thời kỳ xa xưa cũng ựã có một hệ thống cây trồng khá phong phú và ựược phát sinh từ rất sớm với lịch sử dân tộc Trong cuốn ỘVân ựài loại ngữỢ, tác giả Lê Quý đôn - một học giả nổi tiếng của Việt Nam ựã ghi chép nhiều về các giống lúa tẻ, lúa nếp mà dân ta thường gieo cấy từ thời tiền Lê (980-1005) (Bùi Huy đáp, 1985) [12]
Thời Pháp thuộc, nhiều giống cây trồng như cà fê, cam quýt, chè, cao suẦ ựã ựược tuyển chọn và ựưa vào sản xuất tại nhiều vùng khác nhau Tuy nhiên, ở Việt Nam cây lúa vẫn ựóng vai trò chắnh (Mai Văn Quyền, 1996 [33]
Theo đỗ Ánh và CS, 1992 [1], sau ngày giải phóng (1954) các nhà khoa học ựã tạo ựược nhiều vùng thâm canh thông qua một loạt các giải pháp
về giống, phân bón, thuỷ lợi và bảo vệ thực vật
Tuy nhiên, những nghiên cứu tại Việt Nam về hệ thống cây trồng mới nói riêng hay hệ thống canh tác nói chung ựã ựược các nhà khoa học Nông nghiệp Việt Nam bắt ựầu nghiên cứu ngay từ ựầu những năm 1960
Năm 1960, đào Thế Tuấn ựã cùng các nhà nghiên cứu khoa học của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu cây lúa vụ xuân với các giống ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao và tập ựoàn cây vụ ựông vào chân ựất hai vụ lúa, ựưa cây màu vụ xuân vào chân ựất vụ mùa, ựã tạo nên bước chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực thực phẩm ở vùng ựồng
Trang 37bằng sông Hồng (đBSH)
Các nhà khoa học miền Bắc ựã dày công nghiên cứu ựưa vụ lúa xuân thành vụ sản xuất chắnh Hệ thống canh tác lúa xuân ựã xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1965 như ở xã Phú Thạch, Ứng Hoà Năm 1971 diện tắch lúa xuân ựã vượt diện tắch lúa chiêm, có nơi diện tắch lúa xuân chiếm 60 - 65% diện tắch lúa chiêm Năm 1970 nhờ chuyển vụ mạnh năng suất lúa chiêm xuân toàn miền Bắc ựược nâng lên 19,73 tạ/ha so với năng suất lúa chiêm năm 1960 - 1969 là 13,6 ựến 18,94 tạ/ha Năm 1985 năng suất chung của miền Bắc ựược nâng lên 31,9 tạ/ha điển hình là tỉnh Thái Bình, bình quân năng suất
48 tạ/ha, đan Phượng 55 tạ/ha Có những hợp tác xã ựạt năng suất cao như: Hợp tác xã Vũ Thắng 70 tạ/ha, Trực đông - Hải Hậu ựạt 72 tạ/ha (Dẫn theo Nguyễn Xuân Mai, 1998) [29]
Cùng thời gian nghiên cứu vụ xuân các nhà khoa học nông nghiệp miền Bắc ựã tiến hành nghiên cứu vụ ựông cho các vùng sinh thái với mô hình canh tác 3 vụ/năm: 2 vụ lúa - 1 vụ ựông hoặc lúa - màu - vụ ựông
Vụ ựông ở miền Bắc Việt Nam là vụ thắch hợp với cây trồng cạn trong mùa khô Vụ ựông thắch hợp với các loại cây trồng ngắn ngày có nguồn gốc ôn ựới như khoai tây, hành tây, bắp cải, su hào, súp lơ và một số cây trồng khác như thuốc lá, khoai lang, ngô, ựậu tương Ầ
Dương Hữu Tuyền (1990) [48] khi nghiên cứu hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/năm ở vùng lúa ựồng bằng sông Hồng ựã cho thấy: ựồng bằng sông Hồng
có thể trồng 3 - 4 vụ/năm khi trồng 3 vụ không nên ựộc canh 3 vụ lúa mà nên
bố trắ 2 vụ lúa 1 vụ màu hay 2 vụ màu 1 vụ lúa, trong ựó có thể 2 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện ựược ở những chân ruộng ựất có thành phần cơ giới nhẹ, tưới tiêu chủ ựộng và dồi dào lao ựộng
Nguyễn Duy Tắnh (1995) [41] cho rằng, hầu hết các diện tắch canh tác
có nước tưới ựược sử dụng ựể trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày
Trang 38được sử dụng theo công thức luân canh phổ biến sau
- Một vụ lúa/năm (một vụ lúa mùa bỏ hoá một vụ chiêm)
- Hai vụ lúa/năm (lúa chiêm - lúa mùa)
- Ba vụ /năm (hai vụ lúa - 1 vụ màu (lúa chiêm - lúa mùa - vụ ựông) Gần ựây xuất hiện một số công thức luân canh 4 vụ/năm: Lúa xuân- lúa
hè thu - lúa mùa - vụ ựông và công thức lúa - cá - cây ăn quảẦ Tuy nhiên, hai công thức này chiếm tỷ lệ diện tắch chưa nhiều
Khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng trên ựất canh tác chủ yếu nhờ nước trời ở miền Bắc, Bùi Huy đáp (1993) [13] ựã ựề xuất cơ cấu cây trồng là 2 vụ màu ựông và xuân rồi sản xuất lúa tiếp chân, trong vụ xuân trồng các loại cây màu có thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau tuỳ theo trồng lúa mùa sớm hay mùa chắnh vụ đây là chế ựộ canh tác có thể sử dụng triệt ựể tiềm năng của các loại ựất cao hạn cấy 1 vụ lúa mùa chờ nước trời Trên chân ựất chuyên màu của vùng ựất bãi ven sông, hệ thống cây trồng ựem lại hiệu quả kinh tế cao là ngô thu ựông (rau màu thu ựông) - ngô xuân (ựậu tương, rau ựậu các loạiẦ) Ngay sau khi nước rút tiến hành trồng ngô thu ựông (hoặc rau ựậu sớm), sau ựó trồng ngô xuân (hoặc ựậu tương, rau ựậu các loại)
Các tiến bộ kỹ thuật mới gần ựây ựược nhiều tác giả nghiên cứu trên nhiều vùng sinh thái khác nhau
Phạm Tiến Dũng và CS (2001) [10] khi nghiên cứu tại Hòa Bình cho thấy, ựể góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững cần tăng cường các loại cây trồng có khả năng cải tạo ựất như: ựậu tương, lạc bằng cách tăng vụ, trồng xen
Nguyễn Thế Hùng (2001) [21] ựã tìm hiểu hệ thống trồng trọt trên vùng ựất bạc mầu tại xã đồng Tiến huyện Phổ Yên, Thái Nguyên chỉ ra rằng: nông dân ựã ựem ra khỏi ruộng một lượng chất hữu cơ khá lớn (16 - 25 tấn /ha/năm) tình trạng này kéo dài sẽ làm cho ựất nghèo kiệt Các nông hộ ựầu tư phân bón cao, khả năng giữ dinh dưỡng của ựất bạc mầu kém nên bị rửa trôi
Trang 39nhiều gây ô nhiễm môi trường mà lại làm tăng chi phí sản xuất
Lê Thế Hoàng (1995) [18] khi nghiên cứu chuyển ñổi cơ cấu cây trồng trên ñịa bàn huyện Việt Yên, Hà Bắc ñã ñề nghị: trên ñất lúa các công thức luân canh có hiệu quả cao là Lúa xuân - Lúa mùa - ðậu cô bơ; Lúa xuân - Lúa mùa - Bí xanh; Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai tây; Lúa xuân - Lúa mùa - Khoai lang; Lúa xuân - Lúa mùa - Cà chua Trên ñất mầu tác giả ñề nghị các công thức: Lạc xuân - ðậu tương hè thu - Bí ngô nhật bản; Lạc xuân - ðậu tương
hè thu - Dưa chuột ñông; Lạc xuân - ðậu tương hè thu - Rau ăn lá…
Bên cạnh những nghiên cứu trên còn rất nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị lý luận và thực tiễn cao, là cơ sở cho việc hoàn thiện, phát triển hệ thông nông nghiệp Việt Nam hiệu quả, bền vững
ðối với nước ta, trong hệ thống nông nghiệp thì cây lúa vẫn là cây trồng chính chiếm diện tích lớn nhất, là một trong những cây trồng quan trọng hàng ñầu Với khoảng 70% dân số Việt Nam tham gia trồng lúa gạo Hầu hết nông dân vẫn coi công việc trồng lúa ñem lại nguồn thu nhập chính Trên thị trường Quốc tế thì Việt Nam luôn là nước xếp hạng nhất nhì về xuất khẩu gạo
và ñây cũng là lợi thế lớn của nước ta, ñem lại nguồn doanh thu ñáng kể cho nền kinh tế quốc dân Vì vậy, trong nhiều nghiên cứu về cải tiến hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng, thay ñổi công thức luân canh, cơ cấu cây trồng, thì những nghiên cứu tập trung vào việc cải tiến nâng cao năng suất, chất lượng lúa gạo vẫn ñược ñặc biệt quan tâm
* Một số thành tựu nghiên cứu, ứng dụng về giống lúa chất lượng
- Những thành tựu nghiên cứu, ứng dụng
Trong thập niên 1980 và 1990, nghiên cứu lúa gạo trên thế giới chủ yếu tập trung vào các giống lúa có năng suất cao Ngày nay, khi ñời sống người dân ngày ñược nâng cao, nhu cầu gạo chất lượng cao ngày càng tăng, vì vậy, việc nghiên cứu chọn tạo các giống lúa chất lượng cao ngày càng ñược các nhà khoa học quan tâm nhiều hơn
Trang 40Bằng các phương pháp chọn tạo giống lúa khác nhau, các nhà chọn tạo giống lúa trên thế giới và trong nước ñã tạo ra ñược hàng loạt giống lúa mới Những giống lúa mới này góp phần làm phong phú bộ giống lúa, làm tăng năng suất và sản lượng lúa trên thế giới Nó ñóng vai trò quan trọng trong sản
xuất nông nghiệp
Trong năm 1970, IRRI ñã ñưa ra những dòng lúa mới chín sớm như: IR8, IR747B2-6, các dòng chống bệnh bạc lá như: IR497-84-3 và IR498-1-
88, dòng chống sâu ñục thân: IR747B2-6
Các nhà chọn tạo giống lúa trên thế giới cũng ñã quan tâm ñến chất lượng nấu nướng ñối với các giống lúa cải tiến Tuy nhiên, kết quả chọn tạo giống, giống lúa tẻ thơm chất lượng thường ñạt thấp vì hầu hết các giống mang gen chống chịu sâu bệnh ñều có hàm lượng amylose cao và nhiệt hóa hồ thấp Giống lúa IR64 là giống lúa tẻ cải tiến có hạt dài, gạo trong, hàm lượng amylose cao và nhiệt hóa hồ trung bình, ñược gieo trồng rộng rãi ở châu Á Hiện nay, có hàng loạt các giống lúa cải tiến ñược chọn tạo, có tiềm năng, năng suất cao, chất lượng gạo tốt ñang ñược mở rộng trong sản xuất như: IR29723, IR42, IR50,…
Ấn ðộ, Bangladesh, Pakistan là các nước có nguồn gen lúa chất lượng phong phú, ñáng chú ý nhất là giống lúa Basmati 370 Hiện nay các nước này ñang tích cực thực hiện chương trình cải tiến giống lúa, tạo ra những giống mới có năng suất, chất lượng cao và mang gen chất lượng của giống Basmati
Ở Việt Nam, cùng với xu thế phát triển kinh tế chung của ñất nước, sản xuất lúa ñang trở thành vấn ñề thời sự cấp bách về năng suất cũng như chất lượng lúa gạo Thực tế sản xuất hiện nay, các giống lúa cao sản ngắn ngày, chịu thâm canh ñang ngày càng ñược ứng dụng rộng rãi, một ñiều kiện thuận lợi giúp người nông dân thâm canh tăng vụ Do ñó, mục tiêu nghiên cứu hiện nay không chỉ là thâm canh tăng năng suất mà phải từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng lúa gạo ñể phục vụ xuất khẩu Cho nên tiếp tục sản xuất và xuất khẩu gạo chất lượng thấp sẽ ñồng nghĩa với giảm hiệu quả