luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
o0o
ðÀO THỊ BÌNH AN
"ðÁNH GIÁ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HAI DÒNG LỢN VCN02 (LANDRACE) VÀ VCN05 (MEISHAN) QUA CÁC THẾ HỆ TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU, NUÔI GIỮ GIỐNG LỢN HẠT NHÂN TAM ðIỆP"
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Mã số : 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ ðÌNH TÔN
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp i
LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam ựoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng ựược sử dụng ựể bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam ựoan mọi sự giúp ựỡ cho việc thực hiện luận văn này ựã ựược cám ơn và các thông tin trắch dẫn trong luận văn ựã ựược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
đào Thị Bình An
Trang 3Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp ii
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin ựược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Vũ đình Tôn, người ựã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới lãnh ựạo, cán bộ kỹ thuật và các
cô, chú, anh, chị Trạm nghiên cứu, nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam điệp ựã giúp ựỡ tôi trong quá trình thực hiện ựề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, các thầy cô giáo trong Bộ môn Di truyền Ờ Giống vật nuôi Ờ Khoa Chăn nuôi và nuôi trồng Thủy sản ựã giúp ựỡ và ựóng góp nhiều
ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu thực hiện ựề tài
Lời cảm ơn chân thành tôi xin ựược gửi tới gia ựình, bạn bè, ựồng nghiệp những người luôn sát cánh bên tôi, ựộng viên giúp ựỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
đào Thị Bình An
Trang 4Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp iii
Trang 5Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp iv
Trang 6Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
: Hiệp phương sai di truyền theo bố : Hiệp phương sai di truyền theo mẹ : Hiệp phương sai theo môi trường : Cộng sự
: Di truyền cộng gộp : Khoảng cách lứa ñẻ : Khối lượng
: Số con sơ sinh sống : Số con cai sữa : Tuổi ñẻ lứa ñầu
: Hệ số lặp lại
Trang 7Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ðỒ
Trang 9Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nơng nghiệp 1
1 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay ở Việt Nam, chăn nuơi lợn chiếm vị trí quan trọng nhất trong ngành chăn nuơi Sản lượng thịt lợn chiếm tới 76% trong tổng sản lượng thịt
cả nước (Tổng cục thống kê, 2009) [32] Chăn nuơi lợn khơng những đáp ứng nhu cầu thịt trong nước mà cịn tham gia xuất khẩu Chăn nuơi lợn ngoại đang được đẩy mạnh ở các trang trại quốc doanh cũng như trang trại tư nhân, do chúng cĩ tốc độ tăng trưởng nhanh và tỉ lệ nạc cao, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng cũng như xuất khẩu
Thời gian gần đây, ngành chăn nuơi lợn ở nước ta cĩ nhiều chuyển biến tích cực về năng suất, chất lượng, qui mơ cũng như hình thức chăn nuơi Tốc
độ tăng đàn lợn mạnh, tổng đàn lợn cả nước tăng từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,9 triệu con năm 2006 và 27,6 triệu con năm 2009 ðặc biệt là sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng nhanh hơn số lượng đầu con, từ 1,51 triệu tấn năm 2001 tăng lên 2,50 triệu tấn năm 2006 và 2,90 triệu tấn năm 2009 Chất lượng giống đã được cải thiện một bước, nhiều giống mới cĩ năng suất và chất lượng cao được nhập khẩu vào Việt Nam Tỷ lệ lợn lai nuơi thịt tăng từ 60% năm 2001 lên 75% năm 2005, tỷ lệ thịt nạc từ khoảng 40 - 42% năm
2001 lên trên 46% năm 2006 (Tổng cục thống kê, 2009) [32]
Năm 1997, tập đồn PIC (Anh) đã đưa vào Việt Nam 5 dịng lợn cụ kỵ
cĩ năng suất sinh sản cao và chất lượng thịt tốt Tháng 7 năm 2001, các dịng lợn này được giao cho Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương quản lý và nuơi giữ Với đặc thù là các dịng lợn tổng hợp, các dịng này địi hỏi một chương trình nhân giống nghiêm ngặt nhằm đảm bảo được năng suất của các dịng ðể năng cao năng suất sinh sản, Trung tâm đã quan tâm đến tất cả các
Trang 10Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 2
khâu như: giống, thức ăn, thú y, chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý, Ầ Song giống là khâu ựược quan tâm hàng ựầu và là khâu quan trọng nhất Bởi vì, có ựàn giống tốt sẽ có ựược ựàn lợn thịt có tốc ựộ tăng trưởng nhanh, ựạt tỷ lệ nạc ở mức tối ựa của phẩm giống và giảm chi phắ thức thức ăn cho mỗi kg tăng trọng, ựáp ứng ựược nhu cầu của thị trường
Hiện nay ựã có rất nhiều công trình nghiên cứu ựánh giá năng suất sinh sản của ựàn nái tại Trạm nhưng việc ựánh giá năng suất sinh sản qua các thế
hệ còn nhiều hạn chế Với lý do ựó, chúng tôi tiến hành ựề tài: Ộđánh giá
năng suất sinh sản của hai dòng lợn VCN02 (Landrace) và VCN05 (Meishan) qua các thế hệ tại Trạm nghiên cứu, nuôi giữ giống lợn hạt nhân Tam điệpỢ
1.2 Mục ựắch của ựề tài
- đánh giá mức ựộ ổn ựịnh di truyền về khả năng sinh sản của hai dòng lợn cụ kỵ VCN02 và VCN05 tại cở sở nghiên cứu
- đánh giá nhân tố ảnh hưởng ựến năng suất sinh sản (giống, lứa, năm)
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 11Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 3
2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ðặc ñiểm sinh lý sinh sản của lợn
2.1.1 Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng
2.1.1.1 Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt ñầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Con vật ñến tuổi thành thục về tính có những biểu hiện sau:
trứng lần ñầu, con ñực sinh tinh trùng, tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai
- Các phản xạ sinh dục xuất hiện như con cái thì có biểu hiện ñộng dục, con ñực có phản xạ giao phối
Ở lợn cái sự thành thục về tính ñược ñánh dấu bằng hiện tượng ñộng dục lần ñầu Tuy vậy trong lần ñộng dục này hầu như lợn cái không chửa ñẻ
mà nó chỉ báo hiệu cho khả năng có thể sinh sản của lợn cái Tuổi thành thục
về tính có hệ số di truyền rất thấp Theo Banne Bonadona (1995) [3] cho biết : lợn cái thường thành thục về tính lúc 6 tháng tuổi Sau khi thành thục về tính thì biểu hiện ñộng dục lần thứ nhất thường không rõ ràng và tiếp sau ñó ở vào thời kì sau, dần ñi vào qui luật bình thường, ñây là một quá trình sinh lý ñặc biệt của lợn cái
Tác giả Sechegel và Sklener (1979) [31] thì cho rằng lợn Yorkshire có tuổi thành thục về tính là 250 ngày, ñạt khối lượng 90 kg và tương ứng với lợn Polan China, loại nhỏ thì tuổi thành thục về tính là 207 ngày, ñạt khối lượng 85 kg (Xuxoep, 1985) [51] Một tác giả khác nghiên cứu trên lợn Meishan cho thấy lợn cái hậu bị Meishan thành thục về tính 100 ngày, sớm
Trang 12Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 4
hơn lợn cái hậu bị Large White Tỷ lệ trứng rụng của lợn Meishan ở lần ựộng dục ựầu tiên thấp hơn so với lợn Large White (Bolet, Locatelli, 1986) [57]
2.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng ựến tuổi thành thục về tắnh
- Các yếu tố di truyền
Giống khác nhau thì sự thành thục về tắnh dục cũng khác nhau Sự thành thục về tắnh của gia súc nhỏ sớm hơn gia súc lớn Sự thành thục về tắnh
ở lợn cái ựược ựịnh nghĩa là thời ựiểm rụng trứng lần ựầu tiên và xảy ra lúc 3
- 4 tháng tuổi ựối với các giống lợn thành thục sớm (các giống lợn nội và một
số giống lợn Trung Quốc) và 6 - 7 tháng tuổi ựối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển (Rothschild và Bidanel, 1998) [87] Giống lợn Meishan có tuổi thành thục về tắnh sớm, năng suất sinh sản cao và chức năng làm mẹ tốt
đánh giá ảnh hưởng của giống ựối với năng suất sinh sản, nhiều tác giả cho biết lợn nái lai có tuổi thành thục về tắnh sớm hơn (11,3 ngày), tỷ lệ thụ thai cao hơn (2 - 4%), số trứng rụng lớn hơn (0,5 trứng), số con ựẻ ra/ổ (0,6 - 0,7 con)
và số con cai sữa/ổ (0,8 con) nhiều hơn so với nái thuần chủng Tỷ lệ nuôi sống lợn con ở nái lai cao hơn (5%) và khối lượng sơ sinh/ổ (1 kg), khối lượng 21 ngày/ổ (4,2 kg) cao hơn so với giống thuần (Gunsett và Robison, 1990) [66]
Trang 13Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 5
cho ăn hạn chế ñến lúc phối giống (chu kỳ ñộng dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ngày (khẩu phần 14% protein thô) ðiều chỉnh mức ăn ñể khối lượng ñạt
120 – 140 kg ở chu kỳ ñộng dục thứ 3 và ñược phối giống Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế ñộ Flushing, tăng lượng thức ăn từ 1 - 2,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn ñược nhiều hơn và tăng số trứng rụng từ 2 - 2,1 trứng/lợn nái/lần ñộng dục
+ Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng tới tuổi ñộng dục John R Diehl, 1996 [24] cho biết: ở những lợn cái hậu bị ñược sinh ra trong mùa ñông và mùa xuân thì ñộng dục lần ñầu chậm hơn lợn cái hậu bị ñược sinh ra trong các mùa khác trong năm Ngoài ra sự thành thục về tính bị chậm là do nhiệt ñộ trong ngày cao hay thấp hoặc ngày quá ngắn Do vậy cần tạo ñiều kiện ñể lợn cái hậu bị ñược sống trong ñiều kiện nhiệt ñộ không quá cao hoặc quá thấp Thời gian chiếu sáng là một phần ảnh hưởng của mùa vụ tới tuổi thành thục về tính Bóng tối hoàn toàn làm chậm thành thục so với ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
+ Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt ñến tính phát dục
Mật ñộ nuôi nhốt ảnh hưởng ñến sự thành thục về tính dục Những lợn cái hậu bị nuôi nhốt ñông trên một ñơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi ñộng dục Tuy nhiên việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị tách biệt ñàn trong thời kỳ phát triển cũng làm chậm sự thành thục về tính Như vậy ñối với lợn cái hậu bị cần ñược nuôi theo nhóm ở mật ñộ thích hợp thì sẽ không ảnh hưởng ñến sự phát triển tính dục Theo Phùng Thị Vân (2004) [50], thường xuyên dịch chuyển và xáo trộn các nhóm lợn cái có thể ảnh hưởng ñến sự phát dục của lợn cái
+ Ảnh hưởng của con ñực: sự kích thích của con ñực cũng ảnh hưởng ñến tuổi thành thục về tính dục của lợn cái hậu bị Nếu cách ly lợn cái hậu bị
Trang 14Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 6
(ngoài 5 tháng tuổi) khỏi lợn ñực sẽ dẫn ñến làm chậm sự thành thục về tính dục so với những cái hậu bị cùng lứa tuổi ñược tiếp xúc với lợn ñực Tuy nhiên, việc ñịnh thời gian tiếp xúc với lợn ñực tuổi lợn cái hậu bị lúc bắt ñầu cho tiếp xúc hoặc tuổi ñực giống cho tiếp xúc với lợn cái có ý nghĩa ñặc biệt quan trọng Vấn ñề này cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng trong một nhóm nhỏ của ñàn nái hậu bị chỉ cần cho lợn ñực tiếp xúc 10 - 15 phút/ngày, ý kiến khác lại cho rằng nếu cho tiếp xúc hạn chế với lợn ñực thì ñộng dục lần ñầu chậm hơn so với lợn nái ñược tiếp xúc hàng ngày
Theo Paul Hughes and James Tilton (1996) [80] nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn ñực 2 lần/ngày với thời gian 15 - 20 phút/lần thì kết quả 83% lợn nái (khối lượng trên 90 kg) ñộng dục lúc 165 ngày tuổi
Trong quá trình ñộng dục các nhân tố ngoại cảnh như ánh sáng, nhiệt
ñộ, thức ăn, mùi con ñực, tác ñộng vào vùng dưới ñồi (hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác ñộng lên thùy trước tuyến yên, làm tuyến này tổng
Trang 15Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 7
hợp và tiết ra FSH (Folliculo Stimulin Hormone), LH (Lutein Stimulin Hormone) tác ñộng lên tuyến sinh dục
Trong quá trình bao noãn phát dục và thành thục, tế bào hạt trên mặt thượng bì bao noãn tiết ra oestrogen chứa ñầy trong xoang bao noãn Hàm lượng oestrogen trong máu lúc này tăng từ 64 mg% ñến 112 mg%, từ ñó gây kích thích toàn thân, con vật có biểu hiện ñộng dục
Dưới tác dụng của oestrogen cơ quan sinh dục biến ñổi, tử cung hé mở,
âm ñạo xung huyết, niêm dịch ñặc keo dính, sừng tử cung và ống dẫn trứng tăng sinh, tạo ñiều kiện cho việc làm tổ của hợp tử sau này
Khi hàm lượng oestrogen tăng cao nhất sẽ tác ñộng lên tuyến yên làm tuyến này giảm tiết FSH và tăng tiết LH Khi trứng chín, hàm lượng FSH/LH ñạt tỷ lệ nhất ñịnh sẽ gây ra hiện tượng rụng trứng; sau khi trứng rụng, tại vị trí trứng rụng sẽ hình thành thể vàng và thể vàng sẽ tiết ra progesteron Trong trường hợp con cái không ñược thụ tinh sẽ chuyển sang giai ñoạn yên tĩnh Còn nếu con cái ñược thụ tinh - có chửa thì progesteron do thể vàng tiết ra ở những tháng chửa ñầu có tác dụng ức chế tuyến yên làm giảm tiết FSH, LH Lợn cái không ñộng dục trong suốt thời gian mang thai, ở những tháng có chửa sau, progesteron do nhau thai tiết ra sẽ thay thế dần progesteron do thể vàng tiết ra Như vậy, progesterron ñã có vai trò “an thai” Bình thường ở lợn cái mỗi lần rụng trứng kéo dài 4 - 6 giờ, ở lợn cái tơ quá trình này kéo dài hơn 10 giờ
Số lượng trứng rụng phụ thuộc vào giống, tuổi, nồng ñộ hormon GRH (Gonandotropine Releasing Hormone) Do số trứng rụng ở 2 buồng trứng là không ñều nhau, nên trong quá trình mang thai khoảng 23% số trứng phải di ñộng ñể số lượng thai ở 2 bên sừng tử cung như nhau, tạo ñiều kiện tốt cho quá trình phát triển của bào thai Trong thời gian ñộng dục nếu trứng và tinh trùng gặp nhau ở vị trí thích hợp tại 1/3 phía trên ống dẫn trứng sẽ diễn ra sự thụ tinh và hợp tử ñược hình thành Sau khi ñược hình thành hợp tử sẽ di
Trang 16Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 8
chuyển về làm tổ ở sừng tử cung và phát triển thành thai Thời gian mang thai
ở lợn nái thường là 114 ngày
Sau khi cai sữa cho lợn con khoảng 7 ngày thì con mẹ ñộng dục trở lại, thời gian này có thể dao ñộng từ 5 - 12 ngày Biết ñược ñặc ñiểm sinh lý này giúp cho việc phát hiện ñộng dục kịp thời và phối giống ñúng thời ñiểm, sẽ góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái
2.2 Khả năng sinh sản của lợn nái
2.2.1 Các tham số di truyền ñối với các chỉ tiêu sinh sản
2.2.1.1 Hệ số di truyền
- Khái niệm về hệ số di truyền
Hệ số di truyền là một trong những thành phần quan trọng trong chọc lọc giống Hệ số di truyền là tỉ lệ của phần do bản chất di truyền qui ñịnh trong việc tạo nên giá trị kiểu hình Hệ số di truyền ñược Wright S ñề cập ñến
từ năm 1921 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [38], giá trị kiểu hình (P) của bất kì một tính trạng nào ñó ñều chịu ảnh hưởng bởi 2 yếu tố di truyền (G) và môi trường (E) tác ñộng ñến tính trạng quy ñịnh theo công thức:
P = G + E
Hệ số di truyền ñược trình bày theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp:
- Hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng biểu thị bằng tỉ lệ giữa phương sai của giá trị kiểu gen và phương sai của giá trị kiểu hình Hệ số di truyền theo nghĩa
ñược biểu diễn bằng công thức sau:
Trang 17Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 9
- VD: phương sai của sai lệch trội
- VI: phương sai của sai lệch át gen
tính di truyền của tính trạng vì hai thành phần hiệu ứng sai lệch trội (D) và
nghĩa rộng ít ñược sử dụng trong công tác giống
- Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp là tỉ lệ giữa phương sai giá trị DTCG và
VA
Trong ñó:
- VA: phương sai giá trị DTCG
- VP: phương sai giá trị kiểu hình
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp quyết ñịnh mức ñộ giống khác nhau
tác chọn lọc giống vật nuôi
- Phương pháp xác ñịnh hệ số di truyền
Hệ số di truyền có thể xác ñịnh theo nhiều phương pháp như: Phương pháp hồi quy ñời con theo bố và mẹ, phương pháp phân tích anh chị em, phương pháp quần thể, phương pháp tương quan, phương pháp phân tích
Trang 18Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 10
phương sai… Trong thực tế phương pháp thường ñược sử dụng là phương pháp tương quan và phương pháp phân tích phương sai
- Giá trị của hệ số di truyền
Hệ số di truyền biểu thị khả năng di truyền của tính trạng: Hệ số di truyền của mỗi tính trạng càng lớn khả năng di truyền của tính trạng ñó càng
ðộ lớn của hệ số di truyền: Hệ số di truyền ñược biểu thị bằng số thập phân từ 0,0 ñến 1,0 hoặc tỉ lệ phần trăm từ 0% ñến 100% Thường người ta
của môi trường Các tính trạng sinh sản của lợn như số con sơ sinh sống, số
- Các nhân tố ảnh hưởng ñến hệ số di truyền
truyền của một tính trạng ñược quyết ñịnh bởi các hiệu ứng của các gen
quần thể (giống, dòng, gia ñình) và mức ñộ chọn lọc: Quần thể ñã ñược duy trì lâu dài, tiến hành chọn lọc với cường ñộ cao sẽ làm cho quần thể ñồng nhất về mặt di truyền của tính trạng chọn lọc, dẫn ñến làm giảm phương sai của giá trị
lại, một quần thể mới ñược hình thành và chưa ñược chọn lọc hoặc chọn lọc với cường ñộ thấp thì quần thể kém ñồng nhất về mặt di truyền và phương sai
Trang 19Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nơng nghiệp 11
trường: Trong phương sai của giá trị kiểu hình cĩ phương sai của sai lệch mơi
các con vật sống trong mơi trường đồng nhất, trong đĩ chúng được ăn cùng một số lượng và chất lượng thức ăn, ở cùng một loại chuồng trại, chăm sĩc theo cùng một qui trình kỹ thuật, thời tiết khí hậu giống nhau thì VE giảm do
- Ứng dụng của hệ số di truyền trong cơng tác giống
Hệ số di truyền được ứng dụng rộng rãi trong sinh học nĩi chung và trong cơng tác giống vật nuơi nĩi riêng, một số ứng dụng chính của hệ số di truyền như sau:
+ Hệ số di truyền quyết định phương pháp chọn lọc
trường, đặc biệt là là phần nuơi dưỡng, đồng thời kết hợp với chọn lọc theo
lọc thuần chủng thấp cịn hiệu quả tạp giao lại cao, vì vậy nên chú trọng việc
chọn lọc gia đình, đặc biệt phương pháp BLUP cần phải được sử dụng Bên
cao dùng phương pháp chọn lọc cá thể, kết hợp cải tiến điều kiện mơi trường
thuần chủng cao, cịn hiệu quả tạp giao lại thấp Vì vậy, nên chú trọng vào việc chọn lọc thuần chủng để nâng cao năng suất
+ Dự đốn giá trị DTCG và năng suất đời con
Hệ số di truyền giúp cho việc dự đốn giá trị DTCG của các con giống Theo quan điểm về di truyền số lượng, vì hiệp phương sai giữa A và E bằng
Trang 20Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nơng nghiệp 12
khơng nên hệ số tương quan giữa giá trị DTCG và giá trị kiểu hình bằng căn
giữa giá trị DTCG và giá trị kiểu hình Tương quan này gọi là độ chính xác của dự đốn và cho biết mức độ tin cậy về giá trị dự đốn về kiểu gen Hệ số
di truyền giúp cho việc dự đốn năng suất ở đời con theo cơng thức:
- Pbố-mẹ: trung bình năng suất của bố và mẹ
- S: ly sai chọn lọc
+ Xác định hiệu quả chọn lọc
Hiệu quả chọn lọc là sự chênh lệch về giá trị kiểu hình giữa đời con của
bố mẹ được chọn lọc với tồn bộ quần thể thuộc thế hệ bố mẹ trước chọn lọc,
đĩ chính là giá trị DTCG của đời bố mẹ Phương pháp chọn lọc càng chính xác thì hiệu quả chọn lọc càng cao, do đĩ hiệu quả chọn lọc cũng được sử
hiệu quả chọn lọc theo cơng thức:
- σP: độ lệch tiêu chuẩn về giá trị kiểu hình
+ Xác định tiến bộ di truyền và khuynh hướng di truyền
Tiến bộ di truyền là hiệu quả chọn lọc trong một đơn vị thời gian (thường tính là năm) được xác định theo cơng thức:
∆g = R/L = iσPh2/L
Trang 21Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 13
Trong ñó: - ∆g: tiến bộ di truyền
- R: hiệu quả chọn lọc
- L: khoảng cách thế hệ
Hệ số di truyền của một số tính trạng liên quan ñến khả năng sinh sản
ở lợn (bảng 2.1)
Bảng 2.1 Hệ số di truyến ñối với một số chỉ tiêu sinh sản
Số con ñẻ ra/ lứa
Số con cai sữa/ ổ
Khối lượng của ổ lúc cai sữa
Trang 22Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 14
2.2.1.2 Hệ số tương quan và hệ số tương quan di truyền
- Khái niệm hệ số tương quan
Hệ số tương quan là hệ số biểu thị mối quan hệ giữa hai hay nhiều tính trạng với nhau Có ba loại hệ số tương quan, ñó là: tương quan kiểu hình (rP); tương quan di truyền (rA) và tương quan môi trường (rE)
- Tương quan kiểu hình (rP) là mối quan hệ giữa các giá trị kiểu hình của các tính trạng với nhau Tương quan kiểu hình ñược xác ñịnh từ các ñại lượng ño ñược của hai hay nhiều tính trạng trên các cá thể của quần thể Biết ñược giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường ñối với cả hai tính trạng có thể tính ñược tương quan giữa giá trị kiểu gen và tương quan giữa các sai lệch môi trường Từ ñó, có thể ñánh giá một cách ñộc lập các nguyên nhân di truyền và môi trường của sự tương quan
- Tương quan di truyền (rA) là mối tương quan giữa các tính trạng do chính các gen quy ñịnh cùng tác ñộng lên chúng Mối tương quan di truyền này thể hiện rõ bản chất một gen ñồng thời ñiều khiển hai hay nhiều tính trạng, song cũng có thể do hai hệ thống gen liên kết ñiều khiển cả hai hay nhiều tính trạng mà ta ñang nghiên cứu Ví dụ, gen làm tăng tốc ñộ lớn sẽ làm tăng cả thể vóc và khối lượng gia súc, do ñó chúng sẽ gây ra mối tương quan
di truyền giữa hai loại tính trạng này Khi một gen ñồng thời cùng làm tăng hay làm giảm cả hai tính trạng thì mối quan hệ ñó cùng chiều nhau và mối tương quan di truyền ñó là tương quan thuận Trong khi ñó, một số gen có thể làm tính trạng này tăng nhưng lại làm giảm tính trạng khác thì mối tương quan di truyền giữa hai tính trạng ñó ngược chiều nhau và hệ số tương quan
ñó là tương quan nghịch
- Tương quan môi trường (rE) là mối tương quan tạo thành do hiệu ứng của các yếu tố môi trường ñối với hai hoặc nhiều tính trạng Thí dụ, ảnh hưởng của thức ăn, chế ñộ quản lý, … với thể vóc, khối lượng, năng suất sữa
Trang 23Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 15
của con vật Các yếu tố môi trường có thể làm tăng hoặc giảm ñồng thời cả hai tính trạng (tương quan thuận), cũng có thể làm tăng tính trạng này nhưng lại làm giảm tính trạng khác (tương quan nghịch)
Tương quan kiểu hình, tương quan di truyền và tương quan môi trường
có thể khác nhau cả về ñộ lớn và cả về dấu Hầu hết, ba hệ số tương quan này ñều có chung ñộ lớn và dấu Song, cũng có lúc giữa các cặp tính trạng khác nhau, tương quan di truyền cao nhưng tương quan kiểu hình và môi trường có thể cùng cao, cùng thấp hoặc cao thấp khác nhau
Như vậy, tương quan di truyền và môi trường kết hợp với nhau tạo thành tương quan kiểu hình Nếu cả hai tính trạng có hệ số di truyền thấp thì tương quan kiểu hình ñược quyết ñịnh chủ yếu do tương quan môi trường, song nếu chúng có hệ số di truyền cao thì thấy rằng ñộ lớn và thậm chí dấu của tương quan di truyền không thể chỉ ñược quyết ñịnh bởi riêng tương quan kiểu hình Trong công tác chọn lọc giống vật nuôi nói chung, chăn nuôi lợn nói riêng, trong các mối tương quan, tương quan di truyền là quan trọng nhất
- Phương pháp tính hệ số tương quan di truyền
Hệ số tương quan di truyền có thể ñược tính theo ba phương pháp: Phương pháp phản ứng tương quan, phương pháp quan hệ tương quan và phương pháp phân tích phương sai
- Tính chất của hệ số tương quan
Khoảng xác ñịnh của hệ số tương quan di truyền: Hệ số tương quan bao giờ cũng nằm trong khoảng từ -1 ñến +1: -1≤ r ≤ +1
Chiều của hệ số tương quan di truyền: Hệ số tương quan biểu thị chiều hướng tương quan: hệ số tương quan mang dấu dương biểu thị hai tính trạng
có mối tương quan thuận Hệ số tương quan mang dấu âm biểu thị khi hai tính trạng có mối tương quan nghịch Trong trường hợp này, khi một gen tác ñộng làm tăng tính trạng này thì ñồng thời làm giảm tính trạng kia
Trang 24Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 16
Mức ñộ chặt chẽ của hệ số tương quan di truyền: Giá trị tuyệt ñối của
hệ số tương quan biểu thị mức ñộ tương quan, giá trị này càng lớn, mức ñộ tương quan càng chặt chẽ và ngược lại mức ñộ tương quan càng ít chặt chẽ
- Ứng dụng của hệ số tương quan
Giá trị của hệ số tương quan di truyền cho ta biết chiều hướng và mức
ñộ tương quan về mặt di truyền giữa hai tính trạng Vì vậy, hệ số tương quan
di truyền ñược ứng dụng rộng rãi trong chăn nuôi, ñặc biệt trong công tác chọn lọc giống
+ Mức ñộ ảnh hưởng của các tính trạng khác khi chọn lọc một tính trạng nào ñó Hệ số tương quan di truyền cho biết ñược ảnh hưởng của việc chọn lọc một tính trạng nào ñó ở ñời bố mẹ tới các tính trạng khác ở ñời con Khi chọn lọc nâng cao sản lượng sữa dê thì ở ñời con tỉ lệ mỡ sữa giảm ñi vì tương quan di truyền giữa hai tính trạng ñó là nghịch
+ Chọn lọc gián tiếp: căn cứ hệ số tương quan di truyền có thể chọn lọc một hay một số tính trạng nào ñó ñể cải thiện những tính trạng khác khó hoặc không thể chọn lọc ñược
+ Xác ñịnh mức ñộ ảnh hưởng của môi trường: Do có mối tương tác giữa kiểu gen và môi trường, một tính trạng ñược ño lường trong hai môi trường khác nhau ñược coi là hai tính trạng Trên cơ sở ñó, có thể tính ñược
hệ số tương quan di truyền giữa chúng Nếu hệ số tương quan di truyền tính ñược là cao thì chứng tỏ rằng phản ứng của con vật nuôi ñối với hai môi trường khác nhau là giống nhau thì có thể nuôi con vật ñó trong cả hai môi trường Nếu hệ số tương quan di truyền thấp, chứng tỏ rằng phản ứng của con vật ñối với hai môi trường là không giống nhau, con vật chỉ thích ứng với một môi trường nhất ñịnh
Một số kết quả ñã ñược ñược công bố (Các chỉ tiêu sinh sản có mối quan hệ với nhau, ñộ lớn của hệ số là khác nhau và tuỳ thuộc vào kết quả
Trang 25Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 17
nghiên cứu)
Bảng 2.2 Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn
Hệ số tương quan kiểu gen
Số con ñẻ
ra sống và
số con cai sữa
2.2.2 Các chỉ tiêu ñánh giá năng suất sinh sản của lợn nái
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, hiệu quả của chăn nuôi ñược ñánh giá bằng số lợn con cai sữa/nái/năm và tổng khối lượng lợn con cai sữa/nái/năm Hai chỉ tiêu này phụ thuộc vào tuổi thành thục về tính, tỷ lệ thụ thai, số con ñẻ
ra, số lứa ñẻ/năm, tỷ lệ nuôi sống lợn con theo mẹ, sản lượng sữa của mẹ, kỹ thuật nuôi dưỡng chăm sóc Do vậy việc cải tiến ñể nâng cao số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa là một trong những biện pháp làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản nói chung và sản xuất lợn
Trang 26Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 18
con nói riêng Bên cạnh ựó nhất thiết phải làm giảm khoảng cách giữa 2 lứa
ựẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con và làm giảm số ngày ựộng dục lại sau cai sữa của lợn mẹ ở những lứa kế tiếp
Các tác giả Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [35] cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi lợn hiện ựại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất ra trong 1 năm là chỉ tiêu ựánh giá ựúng ựắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ tiêu này ựược tắnh chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn nái (từ lứa ựẻ 1 ựến lứa ựẻ cuối cùng) Cũng theo tác giả trên, các thành phần cấu thành chỉ tiêu số lợn con cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi ựẻ lứa ựầu và thời gian
bú sữa tới khi thụ thai lứa sau
Trần đình Miên (1997) [27] cho biết việc tắnh toán khả năng sinh sản của lợn nái cần xét ựến các chỉ tiêu như chu kỳ ựộng dục, tuổi thành thục về tắnh, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa và số con ựẻ ra/lứa
H.A.M Vander Steen (1986) [95] cho rằng sức sinh của lợn nái bao gồm các chỉ tiêu về tuổi ựộng dục lần ựầu, tỷ lệ thụ thai, số con/ổ và thời gian
từ khi cai sữa ựến ựộng dục lại, phối giống có kết quả
đỗ Thị Thoa (1998) [39] (dịch từ báo cáo của Harman, 1994) thì cho biết các ựặc tắnh sinh sản cần ở lợn nái gồm: tuổi ựẻ lứa ựầu, số con ựẻ ra còn sống, số con cai sữa, khoảng cách lứa ựẻ, thời gian cai sữa và theo tác giả số con cai sữa/nái/năm của lợn Large White là 21,2, lợn Landrace Pháp 21,2 và lợn Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con
Theo tiêu chuẩn nhà nước (TCVN - 1280 - 81, 3879 - 54, 3900 - 84, ngày 1/1/1995) [42], các chỉ tiêu giám ựịnh về khả năng sinh sản của lợn nái nuôi tại các cơ sở công nghiệp lợn giống nhà nước như sau:
- Số con ựẻ ra sống/lứa (con)
- Khối lượng 21 ngày tuổi/lứa (kg)
- Khối lượng con sữa /lứa (kg)
Trang 27Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 19
- Tuổi ñẻ lứa ñầu (với lợn ñẻ lứa 1) (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ (ngày)
Thông thường các chỉ tiêu sau thường ñược ñề cập tới ñể ñánh giá khả năng sinh sản của lợn nái:
- Tuổi phối giống lần ñầu ñối với lợn nái ñẻ lứa ñầu (ngày)
- Tuổi ñẻ lứa ñầu ñối với lợn nái ñẻ lứa ñầu (ngày)
- Số con ñẻ ra/ổ (con)
- Số con ñẻ ra còn sống/ổ (con)
- Số con ñẻ ra chết/ổ (con)
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg)
- Khối lượng sơ sinh/con (kg)
- Số con ñể nuôi/ổ (con)
- Số con 21 ngày tuổi/ổ (con)
- Khối lượng 21 ngày/con (kg)
- Khối lượng 21 ngày/ổ (kg)
- Số con cai sữa/ổ (con)
- Khối lượng cai sữa/ổ (kg)
- Khối lượng cai sữa/con (kg)
- Thời gian cai sữa (ngày)
- Thời gian phối giống có chửa sau cai sữa (ngày)
- Khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ (ngày)
- Số lứa ñẻ/nái/năm
- Số con cai sữa/nái/năm (con)
Trang 28Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 20
2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái
2.2.3.1 Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (ðặng Vũ Bình, 1999) [5]
Theo Legault (trích từ Rothschild và cs, 1998) [78], căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn ñược chia làm bốn nhóm chính như sau:
- Các giống ña dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng ñược xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, ñặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (ñiển hình là Meishan) có khả năng sinh sản ñặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống ñịa phương có ñặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
- Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống ña dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con,
tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace
và Large White (Blasco và cs,1995) [55]
Giống Meishan (Trung Quốc) có khả năng sinh sản ñặc biệt cao, ñạt 14-18 lợn sơ sinh, trên 12 lợn con cai sữa/ổ ở lứa ñẻ thứ 3 ñến lứa ñẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998) [43] Người ta ñã không phát hiện thấy trong quần thể lợn Meishan có kiểu gen halothan nn Trong khi ñó, các giống chuyên dụng
“dòng bố” như Pietrain và Landrace Bỉ có khả năng sinh sản bình thường
Trang 29Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 21
song rất nhạy cảm với stress do tần số gen halothan nn cao
Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái ða số các tính trạng về năng suất sinh sản của lợn nái ñều có hệ số di truyền thấp (Schimitten, 1989) [89]
2.2.3.2 Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng
Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt ñộng sống của cơ thể, nó ñóng vai trò quyết ñịnh trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
+ Ảnh hưởng của protein
Lợn nái ngoại khẩu phần ăn thường chiếm từ 15 - 17% protein, tùy thuộc vào thể trạng và các giai ñoạn Nếu cung cấp thừa hay thiếu protein ñều ảnh hưởng tới sinh sản của lợn nái Nếu thiếu ở giai ñoạn mang thai sẽ làm khối lượng sơ sinh thấp, số con ñẻ ra ít, thể trạng yếu ớt Ở giai ñoạn nuôi con
sẽ ảnh hưởng ñến số lượng và chất lượng sữa từ ñó ảnh hưởng ñến khả năng nuôi con của lợn mẹ Nếu cung cấp protein thừa ở giai ñoạn mang thai sẽ làm tăng tỷ lệ thai chết, gây lãng phí protein, không ñem lại hiệu quả kinh tế Hàm lượng protein có trong khẩu phần thức ăn tùy thuộc vào từng giai ñoạn nuôi dưỡng của lợn nái Theo tiêu chuẩn Việt Nam (1994) thì hàm lượng protein trong thức ăn ñối với lợn nái chửa là 14%, ñối với nái nuôi con là 16% Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993), hàm lượng protein thu nhận hang ngày ñối với nái chửa là 248 gam/con/ngày, ñối với nái nuôi con là 812 gam/con/ngày
+ Ảnh hưởng của năng lượng
Việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai ñoạn
có ý nghĩa rất quan trọng, vừa ñảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao ñược năng suất sinh sản Cung cấp thừa năng lượng trong thời gian mang thai
Trang 30Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 22
sẽ làm cho lợn nái béo gây chết phôi, ñẻ khó và sau khi ñẻ sẽ kém ăn làm giảm khả năng tiết sữa ñặc biệt là sữa ñầu, từ ñó ảnh hưởng ñến sức sống cũng như sự phát triển của ñàn con Mặt khác làm cho lợn con có tỷ lệ ỉa chảy cao do sữa nhiễm mỡ Nếu cung cấp thiếu năng lượng cho lợn nái trong giai ñoạn mang thai sẽ làm cho lợn nái quá gầy, không ñảm bảo cho quá trình sinh trưởng, phát triển của thai Nếu thiếu trầm trọng có thể dẫn ñến tiêu thai, sẩy thai Nhu cầu năng lượng phù hợp cho nái ngoại và lợn nái lai ngoại là 3000 -
3100 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Khẩu phần ăn cho lợn nái chửa kỳ I là 1,8 - 2,5 kg/nái/ngày Lợn nái chửa kỳ II là 2,5 - 3 kg/con/ngày Nái nuôi con trung bình là từ 4,5 - 5 kg/con/ngày
+ Ảnh hưởng của khoáng chất
Khoáng chất cũng là yếu tố cần thiết ñảm bảo sự sống bình thường cho lợn mẹ Lợn nái thiếu Ca, P, nguyên nhân là do trong khẩu phần ăn thiếu Ca, hoặc thiếu Vitamin D Trong khẩu phần thức ăn của lợn nái không những phải cung cấp ñầy ñủ Ca và P mà phải cung cấp ñầy ñủ Vitamin D và có sự cân bằng giữa Ca và P, ñiều này rất cần thiết cho quá trình hấp thu Ca và P Thiếu
Ca và P ảnh hưởng rất lớn tới lợn nái, ñặc biệt trong giai ñoạn mang thai, trong giai ñoạn mang thai lợn mẹ cần rất nhiều Ca và P ñể cung cấp cho quá trình tạo mô xương của bào thai, khi bị thiếu cơ thể mẹ huy ñộng Ca và P trong các mô xương ra, do ñó hệ xương của cơ thể mẹ bị loãng và yếu dẫn ñến lúc ñẻ và sau ñẻ lợn nái dễ bị bại liệt Ngược lại nếu thừa Ca và P cũng ảnh hưởng ñến lợn nái và gây ra một số bệnh như sỏi thận, gây lắng ñọng Ca
ở phủ tạng, … Theo tiêu chuẩn của Nhật Bản (1993) thì nhu cầu Ca, P hàng ngày cho lợn nái như sau: ñối với lợn nái chửa cần lượng Ca, P tương ứng là 14,9 - 11,9 gam ðối với nái nuôi con cần lượng Ca, P tương ứng là 40,6 - 32,5 gam
Trang 31Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 23
+ Ảnh hưởng của khoáng vi lượng (Cu, Fe, Zn )
Theo tiêu chuẩn Nhật Bản (1993) thì lợn nái cần 150 mg Fe, 99 mg Zn
và 9,9 mg Cu, còn lợn nái nuôi con cần một lượng tương ứng là 443 mg Fe;
271 mg Zn; 27,1 mg Mn
+ Ảnh hưởng của vitamin
Các vitamin A, D, B1, C, E … sẽ ảnh hưởng trực tiếp ñến sức khỏe ñàn lợn như: hiện tượng chết phôi, chết thai, trứng rụng ít dẫn ñến số con ñẻ ra ít, lợn con ñẻ ra còi cọc, lợn nái sẽ bị bại liệt trước và sau ñẻ, chất lượng sữa và
số lượng sữa cũng kém
Nếu bổ sung vitamin thừa cũng là liều thuốc ñộc cho cơ thể Ví dụ, thừa vitamin A sẽ gây ảnh hưởng hấp thu vitamin E làm cho lợn không ñộng dục hay ñộng dục kém, thai phát triển kém
2.2.3.3 Ảnh hưởng của yếu tố tuổi và khối lượng phối giống lần ñầu
ðể tiến hành phối giống lần ñầu thì lợn cái hậu bị phải thành thục cả về tính và thể vóc Tuổi ñẻ lứa ñầu và khối lượng phối giống lần ñầu quá sớm hay quá muộn, quá thấp hay quá cao ñều ảnh hưởng ñến năng suất sinh sản của lợn nái Nếu lợn hậu bị ñưa vào khai thác quá sớm có thể cơ thể phát triển chưa hoàn thiện nên số trứng rụng ít, tỷ lệ thụ thai kém Hơn nữa nó còn ảnh hưởng ñến phát triển thể chất, thể vóc sau này Nếu lợn hậu bị ñưa vào khai thác muộn
sẽ làm giảm thời gian sử dụng con nái dẫn ñến giảm hiệu quả kinh tế
Schimitten (1989) [89] ñã kiểm tra 23.2665 nái hậu bị có khối lượng kết thúc kiểm tra ñạt 101 kg, tăng khối lượng trong thời gian nuôi ñạt 532
tháng tuổi và khối lượng 90 – 100 kg
Strack (1990) [94] nghiên cứu ở Cộng hòa liên bang ðức kết quả cho
Trang 32Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 24
thấy lợn thành thục sớm nhất ở 4 – 5 tháng tuổi, nếu khả năng tăng khối lượng trong thời gian nuôi là 500 g/ngày thì ở 175 – 200 ngày tuổi ñạt 85 – 100 kg
sẽ ñộng dục lần ñầu, sau 21 ngày muộn hơn ở khối lượng 100 – 120 kg sẽ ñộng dục lần 2 và cho phối giống
2.2.3.4 Ảnh hưởng của số trứng rụng
Trứng ñược sản xuất ra từ buồng trứng sau khi rụng xuống trứng sẽ ñến
tử cung chờ thụ tinh, số trứng rụng nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng số con sinh ra Như vậy, số trứng rụng trong một chu kỳ ñộng dục là giới hạn cao nhất của số con ñẻ ra trong một lứa, trong thực tế mỗi lợn nái ñẻ trên dưới 10 con ñiều ñó chứng tỏ số trứng rụng sẽ nhiều hơn số con ñẻ ra
Rapael, Dioz Motila, (1971) [31] cho biết: sự rụng trứng ở lợn nái trưởng thành xảy ra sau 20 - 29 giờ tính từ khi bắt ñầu ñộng dục, còn ở lợn hậu bị thời ñiểm này chậm hơn 25 - 32 giờ
Novikov (1979) [28] cho rằng số trứng rụng xảy ra ở ngày thứ 2 của chu kỳ ñộng dục, lợn nái tơ là từ 24 - 30 giờ còn lợn nái trưởng thành là 20 -
24 giờ tính từ khi bắt ñầu ñộng dục
Tác giả Perry (1954) [81] cho thấy số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 trung bình số trứng rụng của lợn nái là 15 - 20 Mỗi chu
kỳ ñộng dục của lợn có thể rụng 15 - 20 trứng có khi ñến 40 trứng, trong ñó buồng trứng bên trái thường rụng nhiều trứng hơn (Trần Cừ và cs 1975) [10]
Hệ số cận huyết cũng ảnh hưởng ñến số trứng rụng, theo Sterward (1975) [92], khi hệ số cận huyết tăng lên 10% thì số trứng rụng sẽ giảm ñi 0,6 - 1,7
2.2.3.5 Ảnh hưởng của thời ñiểm phối và phương thức phối giống
Tỷ lệ thụ tinh của các trứng rụng trong chu kỳ ñộng dục của lợn nái chủ yếu phụ thuộc vào thời ñiểm phối giống Trong ñiều kiện bình thường tỷ lệ
Trang 33Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 25
thụ tinh là 90 - 100% nếu số trứng rụng ở mức bình thường và tỷ lệ thụ tinh sẽ không ảnh hưởng gì tới sự phát triển của các trứng ñã ñược thụ tinh (Self, 1956) [90]; (Hancock, 1961) [67] Song nếu số trứng rụng quá mức bình thường thì tỷ lệ trứng phát triển bình thường ngay sau khi thụ tinh sẽ giảm ñi, tức là tỷ lệ con ñẻ ra/số trứng rụng sẽ giảm thấp khi số trứng rụng tăng lên (Cunningham, 1979) [61]
Thời ñiểm phối giống thích hợp nhất không phải có khoảng cách dài
mà chỉ ở một biên ñộ thời gian nhất ñịnh Thời gian ñộng dục kéo dài 5-7 ngày, nhưng thời gian chịu ñực chỉ khoảng 2,5 ngày Muốn nâng tỷ lệ thụ thai phải nắm ñược thời ñiểm rụng trứng và quãng thời gian trứng rụng, phối tinh quá sớm hoặc quá muộn ñều dẫn ñến kết quả thụ tinh không cao
Thời ñiểm phối giống từ 24 - 30 giờ kể từ khi con cái chịu ñực là thích hợp nhất (Schlegel và Sklener, 1979) [32]
Nguyễn Thiện (1998) [36] ñã tổng kết công trình nghiên cứu xác ñịnh thời ñiểm rụng trứng và thụ tinh thích hợp nhất: phối giống tại các thời ñiểm:
18, 24, 30, 36 và 42 giờ kể từ khi con vật bắt ñầu chịu ñực tỷ lệ thụ thai lần lượt là 80%, 100%, 100%, 80%, 70% và số con ñẻ ra tương ứng là: 8,20; 11,80; 10,50; 9,80; 7,80 con và tác giả ñã ñi ñến kết luận thời ñiểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 - 30 tính từ giờ chịu ñực ñầu tiên, giao ñộng từ 15 -
45 giờ ðể có kết quả cao, cần phối giống cho lợn nái bằng phương thức phối kép (2 lần), lần sau cách lần trước 10 - 12 giờ trong ngày hoặc cuối ngày hôm trước và ñầu ngày hôm sau (Phạm Hữu Doanh, ðinh Hồng Luận 1985) [14]
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ thai, có 2 phương pháp phối giống là phương pháp phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo Lee và cs (1995) [60], tỷ lệ thụ thai của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là 92,3 và 94,4% Số con ñẻ ra của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là 10,64 và 11,48 con
Trang 34Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 26
2.2.3.6 Ảnh hưởng của lứa ñẻ
Lứa ñẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái Khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp nhất ở lứa ñẻ thứ nhất, ñạt cao nhất ở lứa ñẻ thứ 3, 4,
5 và sau ñó gần như là ổn ñịnh hoặc hơi giảm khi lứa ñẻ tăng lên Số con ñẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ ñến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4, 5 tuổi Lợn
ñẻ lứa ñầu tiên thường có số con ñẻ ra, khối lượng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa ñẻ sau
2.2.3.7 Ảnh hưởng của thời gian nuôi con của lợn nái
Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa ñẻ và qua ñó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm
Theo Hughes và cs (1980) [71] nhận ñịnh rằng mặc dù cai sữa ở 8 tuần tuổi là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng ñến số lứa ñẻ/nái/năm Trong trường hợp này số lứa ñẻ chỉ ñạt 1,8 - 2,0 lứa, nhưng nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể ñạt 2,5 lứa/nái/năm với chi phí rất rẻ, lợn con ít bệnh
ðể rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con ñường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con Muốn vậy vấn ñề quan trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi ñể ñến ngày thứ 30 lợn con có thể sống ñộc lập không cần sữa mẹ (Lê Hải, 1981) [21]
Hiện nay trên thế giới, lợn con ñược cai sữa ở 23 - 28 ngày tuổi Ở Úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi (Hilda Meo và Gordon, 1997) [70]
2.2.3.8 Ảnh hưởng của số con trong ổ
Năng suất của ñàn lợn nái ñược xác ñịnh bởi chỉ tiêu số lợn con ñược cai sữa/nái/năm Do ñó, số con trên ổ là tính trạng năng suất sinh sản rất quan
Trang 35Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 27
trọng (Lê Xuân Cương, 1986) [11] Người ta thường quan tâm ñến các chỉ tiêu số con trong ổ là:
- Số con ñẻ ra
- Số con ñẻ ra còn sống
- Số con cai sữa
Trương Văn ða, Lê Thanh Hải (1987) [12] nghiên cứu ở Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh: số con sơ sinh của lợn nái Yorkshire là 9,12 - 9,88 con, số con cai sữa là 8,88 - 9,64 con/lứa, có khoảng 3 - 5% lợn con chết khi
sơ sinh bao gồm do khó ñẻ và lợn con chết trong giai ñoạn chửa ñẻ cuối cùng
Tác giả Ridgon (1974) [83] ñưa ra mục tiêu phấn ñấu cho mỗi ổ ñẻ là 10 -
12 lợn con còn sống và 9,6 - 10,5 lợn con cai sữa Tỷ lệ chết dưới 10 - 13%
2.2.3.9 Ảnh hưởng của thời gian ñộng dục trở lại sau cai sữa
Thời gian ñộng dục trở lại sau cai sữa không giống nhau giữa các giống Theo Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [35], cai sữa sớm không
ñi liền với ñộng dục sớm và ngược lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ cai sữa tới ngày ñộng dục càng dài, rụng trứng ít Cai sữa vào 10 ngày có thời gian ñộng dục trở lại là 14,7 ngày; cai sữa 28 ngày ñộng dục trở lại sau 12,20 ngày, cai sữa 50 ngày thì ñộng dục trở lại 6 ngày và số trứng rụng 15 - 16 trứng Tác giả cho rằng tốt nhất là cai sữa lợn con từ 21 - 28 ngày tuổi
2.2.3.10 Ảnh hưởng của yếu tố mùa vụ
ðối với lợn ngoại, ñiều kiện khí hậu thời tiết mùa vụ (nhiệt ñộ, ẩm ñộ, ánh sáng ) ảnh hưởng rất lớn ñến sức sinh sản của lợn nái Nhiệt ñộ thích
thụ thai và tăng tỷ lệ chết phôi Do ñó vào mùa hè tỷ lệ thụ thai thấp và số con
Trang 36Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nơng nghiệp 28
thì tỷ lệ lợn con chết do lạnh và tiêu chảy cao hơn Như vậy tỷ lệ nuơi sống lợn con sẽ thấp hơn bình thường
Ngồi những yếu tố cơ bản trên làm ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái thì cịn cĩ một số yếu tố khác như: chăm sĩc lợn mẹ sau cai sữa, cơng tác thú y, kiểu chuồng trại
2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngồi nước
2.3.1 Các dịng lợn cụ kỵ của tập đồn PIC
Các dịng lợn PIC được đưa vào Việt Nam năm 1997 nuơi tại Trạm nghiên cứu, nuơi giữ giống lợn hạt nhân Tam ðiệp thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phương – Viện Chăn nuơi gồm :
- Dịng L95 (VCN05) : là dịng Meishan tổng hợp, màu trắng, phối với đực dịng L06 sản xuất lợn nái ơng bà C1230 Dịng L95 được tạo ra ở Anh từ kết quả lai tạo giữa các giống lợn Yorkshire và Meishan của Trung Quốc
- Dịng L06 (VCN02) : là dịng Landrace tổng hợp, phối với đực dịng L11 sản xuất lợn nái ơng bà C1050
- Dịng L11 (VCN01) : là dịng Yorkshire tổng hợp, phối với đực dịng L06 sản xuất lợn nái ơng bà C1050 và phối với đực L64 để sản xuất đực cuối cùng 402
- Dịng L19 (VCN03) : là dịng Duroc tổng hợp, màu trắng chuyên sản xuất lợn đực để phối giống với lợn nái ơng bà sản xuất lợn nái bố mẹ Dịng L19 được tạo ra tại Anh từ 2 giống lợn Duroc và Yorkshire Lợn cĩ màu lơng
da trắng, thân hình phát triển cân đối, bốn chân tương đối vững chắc
- Dịng L64 (VCN04) : là dịng Pietrain tổng hợp dùng để phối với lợn cái dịng L11 để sản xuất đực cuối cùng 402 ðực 402 chuyên dùng phối với lợn nái bố mẹ để sản xuất lợn thương phẩm 4 và 5 giống
Trang 37Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 29
2.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam ñã có rất nhiều công trình nghiên cứu về khả năng sinh sản
của lợn nái ngoại thuần chủng, lợn nái lai trong các năm Sau ñây là một số
nghiên cứu ñã công bố :
Kết quả nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học và tính năng sản xuất của một số
giống lợn ngoại của tác giả Phạm Hữu Doanh và các cs (1995 ) [15] cho biết :
Bảng 2.3 Năng suất sinh sản của một số giống lợn ngoại
Giống
Chỉ tiêu
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Yorkshire và
Landarce cũng ñược thể hiện ở thông báo của ðặng Vũ Bình (1999) [5]: lợn
Yorkshire tuổi ñẻ lứa ñầu là 418 ngày tuổi, số con ñẻ ra còn sống 9,77 con/ổ,
số con 21 ngày tuổi là 8,61 con/ổ, số con 35 ngày tuổi là 8,15 con/ổ và khối
lượng lúc 35 ngày tuổi là 8,09 kg, lợn Landrace các chỉ tiêu tương ứng là 9,86
con/ổ, 8,68 con/ổ, 8,22 con/ổ và 8,2 kg ðồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng số
con ñẻ ra/lứa ñạt giá trị thấp nhất ở lứa 1, sau ñó tăng dần lên, ổn ñịnh và có
khuynh hướng giảm ở lứa thứ 6
Trang 38Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Ờ Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 30
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1998) [46] về khả năng sinh sản của giống lợn Landrace cho biết, trên 140 ổ ựẻ trung bình ựạt 8,66 con sơ sinh còn sống/ổ với khối lượng sơ sinh bình quân 1,42 kg/con Số con sơ sinh ựạt cao nhất là dòng lợn Landrace Nhật (9,02 con) và thấp nhất là dòng Landrace Bỉ (8,04 con) Dòng Landrace Bỉ ựẻ con có khối lượng sơ sinh cao nhất (1,54 kg/con) và thấp nhất ở Landrace Nhật (1,29 kg/con) Khả năng tiết sữa bình quân 31,5 kg và không có biểu hiện sai khác ựáng kể giữa 3 dòng Landrace Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa bình quân ựạt 76,5 kg, dòng Landrace Cuba cao hơn hai dòng Landrace Nhật, Bỉ nhưng không ựáng kể Khối lượng trung bình lợn con cai sữa của dòng Landrace Bỉ cao nhất 12,72 kg/con Kết quả theo dõi trên 122 ổ ựẻ lợn đại Bạch có số con sơ sinh trung bình còn sống là 8,62 con, khối lượng trung bình lợn con sơ sinh là 1,29 kg Riêng dòng đại Bạch Cuba ựạt 8,40 con, dòng đại Bạch Nhật ựạt 1,29 con, thấp hơn so với dòng đại Bạch Bỉ (11,54 con) Cũng nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire, Trịnh Xuân Lương (1998) [26] ựã ựưa ra kết quả: số con ựẻ ra còn sống là 11,50 ổ 0,12, khối lượng toàn ổ sơ sinh ựạt 11,5
kg và khi cai sữa ở 50,80 ngày khối lượng toàn ổ cai sữa là 149,35 ổ 2,73 kg,
số con cai sữa: 10,30 ổ 0,20 con Như vậy khi cai sữa ở 50,8 ngày thì trung bình 1 lợn con ựạt 14,5 kg/con
Hiện nay nước ta ựã ựạt ựược một số tiến bộ kỹ thuật quan trọng trong chăn nuôi, trong ựó kỹ thuật lai kinh tế lợn là một trong những kỹ thuật quan trọng nhất Vài năm trở lại ựây chúng ta ựã tiếp thu ựược kỹ thuật lai tạo tiên tiến của Anh quốc dựa trên cơ sở các giống lợn có tiềm năng năng suất sinh sản và khả năng cho thịt cao : Pietrain, Duroc, Meishan, Landrace Kết quả của việc áp dụng các công thức lai giữa các giống trên ựã tạo ra ựược những giống lợn thương phẩm nuôi thịt có năng suất và chất lượng thịt cao
đàn lợn thịt của nước ta hiện nay có khoảng 67% là lợn lai kinh tế Trong
Trang 39Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 31
ñó, ñàn lợn nái ở Miền Nam chiếm khoảng 65 - 70%, nhưng ñàn lợn nái ở Miền Bắc chỉ chiếm 30 - 35% Do ñó cần phát triển nhanh ñàn lợn ở Miền Bắc cả về
số và chất lượng bằng cách khuyến khích nhân nhanh các mô hình chăn nuôi tiên tiến, các cơ sở giống của Trung ương và các tỉnh cần ñảm bảo cung cấp ñủ, nhanh các giống bố mẹ ñể sản xuất lợn thương phẩm nuôi thịt nhiều máu ngoại ñạt năng suất cao, chất lượng tốt ñồng thời có hiệu quả về kinh tế
2.3.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các giống lợn Yorkshire, Landrace, Duroc ñược nuôi phổ biến ở tất
cả các nước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu ñiểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt ở Liên Xô (cũ) lợn Yorkshire chiếm 85% còn ở Châu Âu chiếm khoảng 54% Năm 1960 tỷ lệ Landrace trong cơ cấu ñàn lợn Cộng hòa Dân chủ ðức là 56,5% Chính vì vậy
mà cho ñến nay có rất nhiều nghiên cứu và thông báo về khả năng sinh sản của 2 giống lợn Yorkshire và Landrace White và cs (1991) [98] ñã nghiên cứu trên lợn Yorkshire cho thấy: tuổi ñộng dục lần ñầu là 201 ngày số con ñẻ
ra còn sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ổ
Stoikov và cs (1996) [93] ñã tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn Yorkshire và Landrace có nguồn gốc khác nhau ñược nuôi ở Bungari cho biết số con ñẻ ra/ổ ở các giống là khác nhau Cụ thể là lợn Yorkshire Anh 9,7 con/ổ, Yorkshire Thụy ðiển 10,6 con/ổ, Yorkshire Ba lan 10,5 con, Landrace Anh là 9,8 con, Landrace Bungari 10 con, Landrace Bỉ là 8,5 con/ổ Theo Lê Thanh Hải và ctv (1997) [22] thì ở Pháp số con ñẻ ra còn sống/ổ của giống Yorkshire năm 1991 là 11,4, năm 1992 là 11,5 Ở Landrace số liệu tương ứng là 11,7 và 12 con Ở Anh lợn Landrace có số con ñẻ ra còn sống/ổ
là 10,82 con và lợn Yorkshire là 10,73 con
Trang 40Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 32
Nghiên cứu trên 4 nhóm lợn nái Large White (LW) x Landrace (L): L x Pietrain, LW x LW; L x L, Radovie (1998) [81] ñã công bố tỷ lệ ñẻ trên 4 nhóm lần lượt là 89,4; 76,5; 81,2 và 83,3%, số con ñẻ ra là 9,67, 9,15, 10,81
và 10,47 con, khối lượng toàn ổ sơ sinh ñạt 12,29; 11,31; 13,44 và 13,40 kg,
tỷ lệ hao hụt từ sơ sinh ñến cai sữa là 7,49; 23,48; 12,64 và 6,58%
Ngoài ra, các giống lợn ngoại mà ñặc biệt là 2 giống lợn Yorkshire và Landrace là nguyên liệu ñược sử dụng trong nhiều chương trình lai Hybrid tạo
ra các con lai Hybrids như Kemboroy (Anh), Costiwol (Anh), Ahip, Khip (Hungari), Hypor (Hà Lan)