1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã, từ thực tiễn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

104 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã, từ thực tiễn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Đức Đán
Trường học Học viện Hành chính Quốc gia
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ phân tích trên thì: Địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC

TƢ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ, TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGUYỄN THỊ KIM ANH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC

TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ, TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 60 38 01 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ ĐỨC ĐÁN

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

với đề tài: “Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp

xã, từ thực tiễn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” là công trình nghiên

cứu khoa học độc lập của tôi, được hoàn thành sau quá trình học tập và nghiên cứu thực trạng, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Vũ Đức Đán

Các lập luận, phân tích, đánh giá được đưa ra trên quan điểm cá nhân sau khi nghiên cứu

Luận văn không sao chép, không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố nào

Thừa Thiên Huế, ngày tháng 9 năm 2018

Học viên

Nguyễn Thị Kim Anh

Trang 4

L? i C? m ? n

Trước hết, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, cùng tập thể các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ

và cán bộ của Học viện đã tận t nh truyền đạt những kiến thức khoa học quý báu

và tạo các điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành chương trình cao học chuy n ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn, PGS.TS

Vũ Đức Đán, người đã tận t nh, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này.

Mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự chia sẻ

và góp ý chân thành của quý Thầy, Cô và độc giả.

Xin trân trọng cám ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Kim Anh

Trang 6

MỤC LỤC TRANG BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

6 Những đóng góp của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ 8

1.1 Khái quát về chính quyền cấp xã và công chức cấp xã 8

1.1.1 Khái quát chính quyền cấp xã 8

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò các chức danh công chức cấp xã 13

1.2 Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã 17

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 17

1.2.2 Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch 23

1.2.3 Những yếu tố tác động đến địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 37

Trang 7

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 38

2.1 Thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp –

Hộ tịch cấp xã ở nước ta 382.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công chức Tư pháp – Hộ tịch 38 2.1.2 Những bất cập của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch 40 2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội và tình hình đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch của thành phố Huế 452.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Huế 45 2.2.2 Tình hình đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch trên địa bàn thành phố Huế 48 2.2.3 Sự tác động của những đặc điểm kinh tế - xã hội đến đội ngũ công chức

Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 53 2.3 Thực trạng thực hiện pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế 542.3.1 Kết quả đạt được trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế 54 2.3.2 Hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Tư pháp –

Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế 56 2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 70

Trang 8

CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ – TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 72

3.1 Quan điểm bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 723.1.1 Bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp

xã phải căn cứ vào chính sách mới của Đảng về cán bộ công chức cấp xã 72 3.1.2 Bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã phải gắn liền với đổi mới chính sách cải cách hành chính và cải cách tư pháp của Nhà nước 75 3.1.3 Bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã phải đặt trong mối quan hệ hoàn thiện cả hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa 75 3.1.4 Bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã phải phù hợp với điều kiện thực tế đất nước và xu hướng phát triển của nền kinh tế

- xã hội 76 3.1.5 Bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp

xã phải phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế 77 3.2 Giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 773.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 77 3.2.2 Các giải pháp khác bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 88 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC BẢNG ĐỒ, CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình dân số thành phố Huế năm 2017 46 Bảng 2.2 Tổng hợp về số lượng và độ tuổi của đội ngũ công chức tpht thuộc

UBND thành phố Huế tính đến tháng 10/2017 49 Bảng 2.3 Tổng hợp về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức TPHT

thuộc UBND thành phố Huế tính đến tháng 10/2017 50 Bảng 2.4 Tổng hợp về trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ công chức

TPHT thuộc UBND thành phố Huế tính đến tháng 10/2017 52 Bảng 2.5 Tổng hợp về trình độ lý luận chính trị của đội ngũ công chức TPHT

thuộc UBND thành phố Huế tính đến tháng 10/2017 53

Bảng đồ 2.1 Bảng đồ hành chính thành phố Huế 45

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác Tư pháp – Hộ tịch (TPHT) là một trong những chức năng quản

lý dân cư cơ bản của Nhà nước, là biện pháp để nhà nước quản lý mức độ tăng trưởng cũng như những biến động dân số trong nước Để từ đó tác động theo hướng nhất định vì mục đích phát triển bền vững của đất nước thông qua các chính sách về hộ tịch Ngày nay với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa thì vấn đề dân cư càng trở nên phức tạp và đặc biệt để đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đòi hỏi Nhà nước phải có những phương thức quản lý mới phù hợp với điều kiện thực tiễn để có thể quản

lý được dân cư một cách hiệu quả mà vẫn đảm bảo tính dân chủ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhanh chóng và kịp thời cho nhân dân Với vị trí là một bộ phận của công tác quản lý nhà nước, công tác TPHT chủ yếu quản lý các hoạt động phát sinh về hộ tịch ở các cấp cơ sở Chính vì vậy, đội ngũ công chức TPHT đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động thi hành công vụ về quản lý hộ tịch Chất lượng hoạt động quản lý hộ tịch hay hiệu quả của hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức TPHT Trong nhiều văn kiện của Đảng đều khẳng định vai trò quan trọng của cán bộ công chức nói chung và cán bộ TPHT nói riêng đối với sự nghiệp cách mạng Chủ trương, chính sách, pháp luật dù có đúng đắn đến mấy nhưng khó đạt hiệu quả cao nếu không được triển khai thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức TPHT vững vàng về chính trị, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực chuyên môn giỏi để thực hiện các nhiệm vụ được giao là nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay

Trang 11

Do khối lượng công việc lớn và không ngừng gia tăng do hiện tượng bùng

nổ dân số và tính chất ngày càng phức tạp của quan hệ xã hội đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, công chức TPHT vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính đạt hiệu quả cao nhất là nhiệm vụ chính trị vô cùng khó khăn Tuy nhiên trên thực tế, việc chấp hành những quy định về địa vị pháp lý hành chính của cán bộ, công chức TPHT vẫn chưa được chú trọng tuân thủ xây dựng, đào tạo một cách nghiêm chỉnh Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của cán bộ, công chức TPHT, nghiêm trọng hơn là dẫn đến những sai phạm, giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, nếu không kịp thời chấn chỉnh có thể gây ra tình trạng mất ổn định cục bộ địa phương và có khả năng lan rộng ra cả nước Vì vậy, việc nâng cao địa vị pháp lý hành chính của cán bộ, công chức TPHT là yêu cầu cấp thiết hiện nay

Thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa thiên Huế là một trong những đô thị cấp quốc gia của Việt Nam, là thành phố Trung tâm văn hóa – di sản, du lịch quốc gia nên những vấn đề về TPHT luôn được chú trọng Chính quyền thành phố đã

có nhiều cố gắng nỗ lực trong công tác TPHT nói chung và nâng cao địa vị pháp

lý hành chính của công chức TPHT nói riêng song vẫn còn những hạn chế nhất định Xuất phát từ vị trí quan trọng của cán bộ, công chức TPHT nên Lãnh đạo tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên, thu hút nhân tài cũng như đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức TPHT để đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn

Từ nhiệm vụ thực tiễn nói trên, tôi chọn đề tài “Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, từ thực tiễn thành phố Huế, tỉnh Thừa thiên Huế” làm luận văn thạc sĩ của mình

Trang 12

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Vấn đề địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT đã được nhiều nhà khoa học quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Có nhiều công trình khoa học, luận văn thạc sĩ, nhà nghiên cứu luật học về đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong đó có đội ngũ công chức TPHT Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước, vấn đề công chức THPT được đặc biệt quan tâm Đáng chú ý

- Cao Minh Công (2012), Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Học viện Khoa học Xã hội Luận án phân tích, làm rõ nội dung các khái niệm trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức, mối quan hệ biện chứng giữa trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức Phân tích thực trạng trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng chỉ ra nguyên nhân của thực trạng ấy Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức trong thực thi công vụ ở nước ta hiện nay

- Lê Viết Thiện (2013), Vai trò của công chức TPHT xã trong việc phổ biến giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Luận văn phân tích, làm rõ nội dung các khái niệm công chức TPHT xã, vai trò công chức TPHT xã Phân tích thực trạng đảm bảo vai trò công

Trang 13

chức TPHT xã ở nước ta hiện nay, đồng thời cũng chỉ ra nguyên nhân của thực trạng ấy Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao vai trò công chức TPHT xã trong thực thi công vụ ở nước ta hiện nay

Ngoài ra còn một số bài viết trên tạp chí nghiên cứu luật học như: Trần Văn Quảng, Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức TPHT trong giai đoạn hiện nay, Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số chuyên đề tháng 9/2006; Lê Thị Ngọc Lam, Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của TPHT cấp xã, Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 10/2010; Nguyễn Phương Nam, Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp - hộ tịch trên địa bàn thành phố Hà Nội, Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số 5/2013; Lê Viết Thiện, Giải pháp nâng cao vai trò của công chức TPHT cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay Nghề Luật Học viện Tư pháp, Số 2/2014; Trần Thị Mai, Địa vị pháp lý của công chức TPHT cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay, Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp, Số 9/2016…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn nhưng chủ yếu về công chức nói chung và công chức TPHT ở cấp xã nói riêng Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về Địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT Chính vì vậy, việc lực chọn đề tài này làm luận văn thạc

sĩ thực sự mang tính cấp thiết đối với thành phố Huế nói riêng cũng như trên cả nước nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích của luận văn

Từ cơ sở lý luận về địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT cấp

xã, qua thực tiễn của thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế để đề xuất quan điểm, giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý hành chính công chức TPHT cấp xã

Trang 14

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Hệ thống hóa góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về chế định địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT

- Nghiên cứu thực trạng địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế dẫn đến sai sót, vi phạm trong công tác TPHT Đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của công chức TPHT từ thực tiễn thành phố Huế

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích: Phân tích các quy phạm pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT và phân tích số liệu báo cáo, thống kê hàng năm về thực trạng của địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT, từ đó tìm ra những bất cập để nêu giải pháp hoàn thiện

Phương pháp so sánh: So sánh các quy định trong các văn bản pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn, so sánh số liệu báo cáo đánh giá về thực trạng công chức TPHT để chỉ ra những điểm bất hợp lý nhằm tìm ra giải pháp hoàn thiện

Phương pháp tổng hợp: Vận dụng để tổng hợp những số liệu, kết quả phân tích từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện

Ngoài ra luận văn cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: kết hợp, diễn dịch, logic, thống kê,…

Trang 15

5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT cấp xã

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về

địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT; Đánh giá thực trạng Địa vị pháp

lý hành chính của công chức TPHT

Về mặt không gian nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu: Địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT trên địa bàn toàn thành phố Huế thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế

Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2017

6 Những đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ

bản về quy định của pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT cấp xã và những vấn đề bất cập trong quy định pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT

Về mặt thực tiễn: Từ cơ sở lý luận đã được làm rõ, Luận văn chỉ ra những

bất cập của việc thực hiện địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT đó trong thực tiễn tại thành phố Huế, chỉ ra những nguyên nhân có làm phát sinh vi phạm, bất cập trong công tác TPHT, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện để việc áp dụng pháp luật đạt hiệu quả tốt nhất thúc đẩy sự phát triển kinh

tế, xã hội nói chung cho thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Từ những kết quả nghiên cứu này, Luận văn với hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao ý thức pháp luật và hiệu quả áp dụng pháp luật về lĩnh vực công tác TPHT cũng như việc quản lý, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và bổ nhiệm công chức TPHT đạt hiệu quả tốt nhất Đồng thời, với những đóng góp đầy ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn được rút ra, Luận văn còn là tài liệu cần thiết

Trang 16

cho những người làm công tác học tập, nghiên cứu tham khảo và đặc biệt là tài liệu cần thiết cho những người làm công tác quản lý, công tác thực tiễn về TPHT tiết kiệm được thời gian, công sức áp dụng pháp luật để đạt hiệu quả cao nhất

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; Nội dung của Luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý hành chính của công

chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã

Chương 2: Thực trạng pháp luật địa vị pháp lý hành chính và áp dụng

pháp luật địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý hành chính của công

chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã từ thực tiễn tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 17

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH

CỦA CÔNG CHỨC TƯ PHÁP – HỘ TỊCH CẤP XÃ

1.1 Khái quát về chính quyền cấp xã và công chức cấp xã

1.1.1 Khái quát chính quyền cấp xã

1.1.1.1 Quan niệm về chính quyền địa phương

Khái niệm về thuật ngữ “chính quyền địa phương” hiện tại vẫn chưa có

văn bản nào ban hành có quy định cụ thể Chính quyền địa phương được hiểu là

một tổ chức bộ máy nhà nước có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp

luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc

gia Tuy nhiên, khái niệm “chính quyền địa phương” chỉ mới được sử dụng

chính thức từ khi có Hiến pháp năm 2013 và đặc biệt là được quy định cụ thể

trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (thay thế Luật Tổ chức

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003) Chính quyền địa phương

gồm HĐND và UBND ở các đơn vị hành chính, có nhiệm vụ bảo đảm thi hành

Hiến pháp, pháp luật, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu

sự kiểm tra, giám sát của cấp trên; trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa Trung

ương và địa phương Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi tên gọi của Chương IX từ

“HĐND và UBND” thành “Chính quyền địa phương” Do từ trước đến nay thuật

ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến

trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo

chính trị pháp lý, cũng như trong các bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà

nước ở trung ương và địa phương Khái niệm được sử dụng nhiều trong tổ chức

và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội, tuy nhiên hiện nay vẫn

chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm chính quyền địa phương

Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 mới được ban hành gần đây cũng

Trang 18

không có khái niệm về chính quyền địa phương Xuất phát từ góc độ nghiên cứu

lý luận, từ góc độ thực tiễn hay cách thức tiếp cận vấn đề nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà thực tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm như sau:

- Chính quyền địa phương là khái niệm dùng chung để chỉ tất cả các cơ quan nhà nước (mang quyền lực nhà nước) đóng trên địa bàn địa phương

- Cấp Chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (HĐND) và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương (UBND) và được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do luật định [33, Điều 111.2]

- Chính quyền địa phương bao gồm 4 phân hệ cơ quan tương ứng với 4 phân hệ cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Toà án Nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhà nước

ở địa phương (Uỷ ban nhân dân các cấp), cơ quan tư pháp (Toà án nhân dân các cấp) và cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp) [43]

- Cấp chính quyền địa phương theo cấp hành chính lãnh thổ (tỉnh, huyện, xã) Cơ cấu chính quyền địa phương dù ở cấp tỉnh, huyện, hay xã được hiểu thống nhất như Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, gồm: HĐND và UBND Hai cơ quan này được tổ chức ở cả ba cấp chính quyền địa phương

số trong các loại hình đơn vị hành chính cơ sở Tính đến ngày 12 tháng 4 năm

Trang 19

2018, Việt Nam có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 1.594 phường,

606 thị trấn và 8962 xã, trong đó có 336 xã thuộc các thành phố trực thuộc tỉnh,

299 xã thuộc các thị xã và 8336 xã thuộc các huyện Xã (hoặc phường, thị trấn)

là đơn vị hành chính cơ sở dưới cấp huyện (Việt Nam) Ở ngoại thị thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã thì gọi là xã, ở nội thị thì gọi là phường; ở các quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương thì gọi là phường; ở các huyện thì gọi là xã hoặc thị trấn [43] Theo Điều 30, Điều 58, Điều 65 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 thì: Chính quyền địa phương ở xã, phường, thị trấn – gọi chung là cấp xã là cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND xã (phường, thị trấn)

và UBND xã (phường, thị trấn)

Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã:

Chính quyền cấp xã được phân loại thành 3 loại hình cơ sở: xã, phường, thị trấn Ba loại hình cơ sở này có những điểm chung, song cũng có nhiều nét đặt trưng riêng Chính quyền cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hệ thống hành chính ở nước ta Cụ thể:

- Là cấp hành chính gần dân nhất cho nên chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi hoạt động ở địa phương Là một cấp hành chính trong hệ thống chính quyền 4 cấp, chính quyền cấp xã được sử dụng con dấu có hình quốc huy, biểu trưng cho quyền lực Nhà nước, là một cơ quan thẩm quyền rộng trong việc quản lý mọi mặt của đời sống xã hội trên địa bàn Chính quyền cấp xã có ngân sách riêng, thay mặt Nhà nước giao dịch với nhân dân địa phương, thực hiện và đảm bảo thực hiện các chính sách, quy định pháp luật của nhà nước ở địa phương, chăm lo cho mọi mặt đời sống của nhân dân, duy trì an ninh trật tự địa phương

- Chính quyền cấp xã chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về việc quản lý, quan tâm tới mọi mặt đời sống nhân dân ở địa phương: UBND không chỉ là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp mà UBND cấp dưới còn phải

Trang 20

chịu sự chỉ đạo của UBND cấp trên Như vậy, UBND cấp xã phải chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện Chính quyền cấp xã là chính quyền được tổ chức

ra nhằm bảo đảm, bảo vệ và phục vụ quyền, lợi ích của nhân dân, nhân dân là đối tượng cơ bản để chính quyền địa phương phục vụ Do đó chính quyền cấp xã

là chính quyền cơ sở phải chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về việc quan tâm mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương

- Chính quyền cấp xã là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cấp huyện, tỉnh và trung ương Chính quyền cấp xã là đại diện của nhân dân địa phương tự quyết định những vấn đề nội bộ địa phương, đồng thời chính quyền cấp xã thay mặt nhân dân đề xuất, kiến nghị với cơ quan Nhà nước cấp trên về những vấn đề liên quan đến địa phương thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan Nhà nước cấp trên; nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân địa phương với chính quyền cấp trên

- Cấp xã là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động thực tiễn phong phú và sinh động, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chính quyền cấp trên Chính quyền cấp xã và cán bộ công chức cấp xã thông thường là người địa phương hoặc sống ở địa phương, sâu sát với dân, am hiểu những phong tục, tập quán, truyền thống của địa phương nên cán bộ, công chức ở cấp xã phải giải quyết các đầu việc đa dạng, phức tạp của dân Mặc khác, cán bộ ở cấp xã phải lắng nghe, giải quyết mọi yêu cầu, thắc mắc, bức xúc của dân và trở thành cấp phản ánh một cách trung thực nhất những nguyện vọng, mong muốn, nhu cầu của người dân tới cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp giải quyết những vướng mắc, thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của nhân dân nói chung và của người dân nói riêng Do đó, chính quyền cấp xã làm việc có hiệu quả sẽ là nhân tố thúc đẩy, nâng cao chất lượng cuộc sống, trở thành hoạt động thực tế của nhân dân, tạo dựng lòng tin ngày một gia tăng của người dân vào Đảng và Nhà nước Ngược lại, nếu chính

Trang 21

quyền cấp xã không giải quyết một cách thấu đáo những vướng mắc của nhân dân, cán bộ công chức cấp xã làm việc không hiệu quả có thể gây nên những phản ứng tiêu cực của nhân dân đối với chính quyền nhà nước, với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Tóm lại, chính quyền cấp xã – là bộ máy Nhà nước thu nhỏ để giải quyết công việc trên mọi phương diện, do vậy ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của Đảng

và Nhà nước đối với nhân dân Nhân dân đánh giá uy tín của Đảng và Nhà nước thông qua các công việc cụ thể hàng ngày của chính quyền cấp xã, chất lượng các dịch vụ của chính quyền, nhu cầu dân sinh, dân chủ trong nhân dân, quyền

và lợi ích hợp pháp của nhân dân

Vì vậy, với vị trí vừa là cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội của nhân dân địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho tiếng nói của dân, chính quyền cấp xã có một vai trò vô cùng thiết yếu trong hệ thống các

cơ quan hành chính nhà nước ta

Cơ cấu tổ chức của chính quyền cấp xã:

Xã là đơn vị hành chính cấp cơ sở nhỏ nhất ở Việt Nam, cùng với phường

và thị trấn Chính quyền cấp xã gồm có: HĐND xã, phường, thị trấn (gọi chung

là HĐND xã) và UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND xã) Tổ chức

và hoạt động của HĐND và UBND xã theo quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 Tùy thuộc vào từng loại hình tổ chức chính quyền cấp

xã (xã, phường, thị trấn) mà luật có quy định khác nhau về cơ cấu tổ chức, nhân

sự để đảm bảo nhiệm vụ của từng địa phương Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật tổ chức chính quyền địa phương:

a) Thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt; các đơn vị hành chính cấp tỉnh còn lại được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III;

Trang 22

b) Đơn vị hành chính cấp huyện được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III;

c) Đơn vị hành chính cấp xã được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã UBND xã do HĐND xã bầu ra gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch

và ủy viên Chủ tịch UBND xã là đại biểu HĐND xã Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã là cơ quan tham mưu, giúp UBND xã thực hiện chức năng quản

lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND xã và theo quy định của pháp luật, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên

Qua phân tích trên có thể kết luận: Chính quyền cấp xã là tất cả các cơ quan nhà nước (mang quyền lực nhà nước) đóng trên địa bàn đơn vị hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò các chức danh công chức cấp xã

1.1.2.1 Khái niệm công chức cấp xã

Khái niệm về công chức được hiểu như sau: Công chức là những người giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Đây là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, là khái niệm phản ánh đặc sắc riêng của từng nền công vụ và tổ chức bộ máy nhà nước mỗi quốc gia Tại quốc gia có nền chính trị tồn tại nhiều tổ chức Đảng, công chức là những người giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Còn ở những nước chỉ tồn tại duy nhất một Đảng lãnh đạo thì quan niệm công chức được mở rộng hơn, ngoài những đối tượng trên còn có những người làm việc trong tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội Ở nước ta, từ rất sớm khái niệm công chức đã được quan tâm xây dựng và ngày càng được hoàn thiện hơn Ngày 20/5/1950, Bác Hồ đã ký ban hành Sắc lệnh 76/SL về “Quy chế công

Trang 23

chức”, đây là văn bản đầu tiên có đưa ra khái niệm về công chức Quy chế xác định rõ quyền và nghĩa vụ công chức cùng các thể lệ về tổ chức, quản trị và sử dụng ngạch công chức trong toàn quốc Nghị quyết Trung ương 5 (TW 5) khóa

IX về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn

đã đặt ra nhiệm vụ “chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”

Điều 4, Luật cán bộ công chức 2010 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong

cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

Đối với công chức cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) thì được khái niệm tại khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức như sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.2.2 Đặc điểm, vị trí, vai trò của công chức cấp xã:

Công chức cấp xã là nguồn nhân lực trong bộ máy chính quyền cơ sở, là

bộ phận cấu thành của đội ngũ công chức nước ta, do đó có đặc điểm chung giống như công chức khác trong bộ máy nhà nước theo quy định của Luật cán

bộ, công chức và Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số

Trang 24

lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như: Đảm bảo yêu cầu Quốc tịch là công dân Việt Nam; đảm bảo về độ tuổi, sức khỏe; trình độ chuyên môn phù hợp yêu cầu; lý lịch rõ ràng Tuy nhiên, do tính chất nhiệm vụ, đội ngũ công chức xã có những điểm khác với công chức các cấp khác như sau:

- Là người thường xuyên tiếp xúc với dân, trực tiếp lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân Đội ngũ công chức này là một đội ngũ quan trọng trong hệ thống chính quyền cấp xã Họ là những người nắm rõ chính sách, pháp luật Nhà nước, là đội ngũ tham mưu cho chủ tịch, các phó chủ tịch phụ trách về các lĩnh vực chuyên môn phụ trách

- Trong công việc, công chức xã là người đóng nhiều vai trò khác nhau: Vừa là người đại diện cho Nhà nước, thực hiện công quyền trong lĩnh vực chuyên môn của mình, vừa là cấp thừa hành, tham mưu cho lãnh đạo UBND, đồng thời cũng là những tuyên truyền viên về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực mình phụ trách đến người dân địa phương

- Công chức cấp xã đảm trách nhiều lĩnh vực cụ thể như: Văn hóa – xã hội, an ninh – trật tự, tư pháp, hộ tịch, tài chính, đất đai… do đó họ không những

là người thay mặt Nhà nước quản lý về các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn mà còn là người có vai trò phải đảm bảo quyền lợi hợp pháp, chính đáng của nhân dân Thực tế cho thấy nếu công chức xã có trình độ, năng lực trong tham mưu, trong quá trình giải quyết những công việc hàng ngày và những mâu thuẫn phát sinh ngay từ bước đầu thì sẽ hạn chế được những khiếu kiện, tranh chấp cũng như những bức xúc trong nhân dân, tạo cơ sở cho sự ổn định chính trị, xã hội trên toàn địa bàn xã

- Công chức cấp xã công tác ở những địa bàn khác nhau, nơi có những đặc thù phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí, phong tục tập quán rất riêng Đa phần công chức cơ sở là những người xuất thân ở địa phương, vị

Trang 25

thế họ đễ dàng nắm bắt được tình hình địa phương, các mối quan hệ láng giềng,

họ hàng, dòng tộc; tâm tư, nguyện vọng của người dân, tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết công việc

Thực tế chứng minh, đội ngũ công chức cơ sở có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị, tạo dựng các phong trào cách mạng của quần chúng, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương Sức mạnh của hệ thống chính trị, sự ổn định của xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của phong trào cách mạng của quần chúng luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ này Mọi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có thể thành hiện thực hay không, nhất thiết phải thông qua phong trào cách mạng của quần chúng Tuy nhiên, các phong trào của quần chúng nếu không có sự lãnh đạo của Đảng, điều hành và quản lý của Nhà nước rất dễ hoặc là chệch định hướng chính trị, hoặc hiệu quả không cao do mang tính chất tự phát

Do vậy, để phong trào hoạt động có hiệu quả, đội ngũ công chức cơ sở phải

có khả năng tổ chức, lôi cuốn, phát động phong trào, có khả năng theo dõi, kiểm tra và nhân rộng các phong trào tốt, những cá nhân điển hình, tiên tiến, biết khai thác tối đa nguồn lực vật chất, tinh thần nội lực ở cơ sở Hiệu lực của bộ máy quyền lực ở cơ sở cũng tùy thuộc trước hết vào năng lực của đội ngũ cán bộ này

Tóm lại, vai trò của người công chức nói chung hay cán bộ công chức cấp

xã - cán bộ cơ sở nói riêng trong thời kỳ mới đặc biệt quan trọng như Bác Hồ của chúng ta đã khẳng định “cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Do vậy, cán bộ là nhân tố quyết định cho sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, đất nước

và của cả dân tộc Sự nghiệp đổi mới đất nước muốn thành công phải tạo sự chuyển biến tích cực từ cơ sở, mà sự chuyển biến ở cơ sở lại phụ thuộc chủ yếu

ở chất lượng đội ngũ cán bộ

Trang 26

1.1.2.3 Các chức danh công chức cấp xã

Hiện nay, theo Khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng công an; chỉ huy trưởng quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội” Đồng thời, “công chức cấp xã do cấp huyện quản lý”

Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 NĐ 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

Tùy thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ, chuyên môn mà mỗi loại chức danh công chức cấp xã có vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền ở địa phương Cũng từ việc phân công nhiệm vụ, chuyên môn nên mỗi chức danh công chức cấp xã ngay từ khi được tuyển dụng vào ngạch công chức cấp xã đã căn cứ vào trình độ chuyên môn cho từng vị trí phù hợp Khác với cán

bộ cấp xã, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND và UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội

Từ đó, mỗi cán bộ công chức đảm trách nhiệm vụ của mình theo sự phân công của Lãnh đạo đơn vị và phải phù hợp với chuyên ngành, vị trí mà mình đã đăng

ký dự tuyển ban đầu

1.2 Địa vị pháp lý hành chính của công chức Tƣ pháp - Hộ tịch cấp xã

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã

1.2.1.1 Khái niệm địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã:

Địa vị pháp lý là Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật Thông qua địa vị pháp

Trang 27

lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật

Địa vị pháp lý của công chức cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các đảm bảo thực hiện công tác được pháp luật quy định

Cấp xã là đơn vị cơ sở của hệ thống chính quyền nhà nước Công chức TPHT là một bộ phận trong công chức cấp xã, đóng vai trò quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước nói chung và ngành tư pháp nói riêng góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý nhà nước về công tác TPHT từ trung ương đến cơ sở Công chức TPHT theo điều 81, Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản

lý hộ tịch quy định về cán bộ TPHT như sau:

Cán bộ TPHT là công chức cấp xã, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch Đối với những

xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải

có cán bộ chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác

Như vậy, công chức TPHT cấp xã được hiểu như sau:

Công chức TPHT cấp xã là người giúp UBND cấp xã làm công tác chuyên môn thuộc UBND xã, có trách nhiệm giúp UBND xã quản lý nhà nước

về công tác TPHT trong phạm vi địa phương

Cùng gắn với quy định nhiệm vụ của công tác tư pháp cấp xã, Điều 8 Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV cũng quy định trách nhiệm của UBND các cấp trong việc bảo đảm biên chế, bố trí công chức TPHT theo đúng quy định của pháp luật, không bố trí công chức TPHT kiêm nhiệm công tác khác

Trang 28

Từ phân tích trên thì: Địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT

là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức TPHT cấp xã khi thực hiện công tác hành chính tư pháp được pháp luật quy định

Công chức TPHT cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở có chức năng giúp chính quyền cơ sở thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên Đồng thời, công chức TPHT cấp xã chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở

1.2.1.2 Những yếu tố cấu thành địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã

Địa vị pháp lý của công chức TPHT là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các đảm bảo thực hiện công tác được pháp luật quy định Do đó, yếu tố tác động đến địa vị pháp lý của công chức TPHT quyền, nghĩa vụ pháp lý, sau đó là vai trò, vị trí

Yếu tố về quyền, nghĩa vụ pháp lý:

Về quyền lợi, công chức TPHT cũng như công chức cấp xã có các quyền lợi sau đây:

– Được nghỉ lễ, nghỉ hàng năm và nghỉ việc riêng theo quy định của Bộ luật Lao động Trong trường hợp có lý do chính đáng được nghỉ không hưởng lương, sau khi có sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý và sử dụng cán bộ, công chức cấp xã; công chức là nữ còn được hưởng các quyền lợi

về chế độ thai sản và nuôi con quy định của Bộ luật Lao động; được hưởng lương và các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công tác phí, chế độ đào tạo, bồi dưỡng, thôi việc và các quy định khác;

Trang 29

– Được ưu tiên trong việc xét tuyển, thi tuyển vào làm việc ở các tổ chức,

cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở lên khi có đủ điều kiện và tiêu chuẩn; được tạo điều kiện để học tập nâng cao trình độ, được quyền nghiên cứu khoa học, sáng tác; được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ được giao;

– Có quyền tham gia hoạt động chính trị, xã hội theo quy định của pháp luật; Có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về việc làm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình cho là trái pháp luật đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những khiếu nại,

tố cáo và khởi kiện đó;

– Khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ; công chức hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được xem xét để công nhận là liệt sĩ theo quy định của pháp luật; bị thương trong khi thi hành nhiệm

vụ, công vụ được xem xét để áp dụng chính sách chế độ tương tự như đối với thương binh

Nghĩa vụ

Công chức cấp xã có những nghĩa vụ sau đây:

– Trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng địa phương phát triển về mọi mặt; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ công vụ theo đúng quy định của pháp luật;

– Có nếp sống lành mạnh, tôn trọng nhân dân, không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền; Thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, quy chế, điều lệ của cơ quan,

tổ chức; giữ gìn và bảo vệ của công; bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; gương mẫu thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tham gia sinh hoạt với cộng đồng dân cư nơi cư trú, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân;

– Thường xuyên học tập nâng cao trình độ; chủ động sáng tạo, phối hợp trong công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao; đạt tiêu chuẩn

Trang 30

theo thời hạn quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý, sử dụng cán

bộ, công chức;

– Chấp hành sự điều động, quyết định phân công công tác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật thì phải báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả việc thi hành quyết định đó;

– Cán bộ, công chức cấp xã chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình; cán bộ, công chức cấp xã giữ chức vụ lãnh đạo còn phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức thuộc quyền theo quy định của pháp luật

Theo quy định và thực tiễn công tác TPHT cấp xã hiện nay, yếu tố vị trí, vai trò kết hợp với các nhiệm vụ, quyền hạn luôn gắn liền với nhau, cụ thể như sau đây:

- Công chức TPHT xã có vị trí, vai trò là người trực tiếp xây dựng, theo dõi báo cáo tình hình thực hiện các chương trình kế hoạch công tác tư pháp cho Chủ tịch UBND và đồng thời giúp UBND quản lý công tác TPHT

- Công chức TPHT giữ vai trò quan trọng là giúp UBND cấp xã trong việc soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền Đồng thời cũng

là người tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Để dân hiểu biết và tuân thủ pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật thì phải tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Đối với cấp xã, công tác phổ biến giáo dục pháp luật càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Bởi

vì xã là đơn vị cơ sở trong hệ thống hành chính của nước ta, là nơi tổ chức, triển khai thực hiện mọi chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước Triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật ở cấp xã là khâu quan trọng nhất, vì đây con đường gần dân nhất, có hiệu quả nhất để đưa pháp luật đến với cuộc sống

Trang 31

- Công chức TPHT đóng vai trò quan trọng nữa là thực hiện việc đăng

ký và quản lý hộ tịch Quản lý và đăng ký quản lý hộ tịch có vai trò quan trọng trong công tác quản lý, thống kê dân số và quản lý xã hội của chính quyền cấp xã Thông qua quản lý và đăng ký hộ tịch UBND xã có thể theo dõi thực trạng biến động về hộ tịch nhằm kịp thời đảm bảo các quyền lợi ích hợp pháp của công dân, thống kê, phân tích dân số, thu thập các thông số quan trọng về gia đình và xã hội làm cơ sở cho việc hoạch định và xây dựng các chính sách phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, chính sách dân

số và kế hoạch hóa gia đình

- Công chức TPHT cấp xã còn có vai trò tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, tiếp nhận, thẩm tra hồ sơ chứng thực theo đúng trình tự, thủ tục và điều kiện theo quy định của pháp luật, nhằm từng bước chuyển giao các hợp đồng, giao dịch cho các tổ chức hành nghề công chứng, thực hiện theo đúng tinh thần của luật công chứng

- Giữ vị trí, vai trò hướng dẫn, quản lý hoạt động của các tổ hòa giải ở cơ

sở Đồng thời phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc xác minh tính chính xác và trung thực của các hồ sơ đăng ký, xin nhập quốc tịch… theo yêu cầu của các cơ quan có liên quan

- Thực hiện rà soát, thống kê nhu cầu giúp đỡ pháp luật, các vướng mắc của đối tượng được trợ giúp pháp lý Công chức TPHT chủ động tham mưu, đề xuất với UBND xã phối hợp chặt chẽ với các trung tâm trợ giúp pháp lý để tham gia thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật Tuyên truyền, giải thích về các tổ chức pháp lý và hoạt động trợ giúp pháp lý của nhà nước để cung cấp cho người dân những hiểu biết cần thiết về trợ giúp pháp lý

Trang 32

1.2.2 Các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý hành chính của công chức

Tư pháp – Hộ tịch

Địa vị pháp lý của công chức TPHT là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của cán bộ TPHT theo quy định của pháp luật, từ đó xem xét vị trí, vai trò của công chức TPHT trong quản lý hành chính nhà nước Nói các khác Địa vị pháp

lý của công chức hộ tịch – tư pháp cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi thực hiện công tác tư pháp được pháp luật quy định [28] Hiện nay, pháp luật Việt Nam có các quy định rãi rác trong các văn bản để điều chỉnh về tiêu chuẩn, các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của công chức TPHT cũng như quản

lý nhà nước đối với công chức TPHT

1.2.2.1 Tiêu chuẩn chức danh Tư pháp – Hộ tịch

Về nguyên tắc, công chức TPHT phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung về công chức cấp xã được quy định tại Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 5/12/2011

về công chức xã, phường, thị trấn Theo đó, công chức TPHT phải có các tiêu chuẩn sau đây:

- Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

- Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;

- Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;

- Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác

Trang 33

Bên cạnh đó, Công chức TPHT ngoài việc có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn thì phải đáp ứng các tiêu chuẩn

cụ thể sau:

- Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;

- Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;

- Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm Về vấn đề này, tại điểm a khoản 2 Điều 72 Luật Hộ tịch 2014 quy định công chức TPHT phải có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch Như vậy, kể từ ngày 01/01/2016 khi Luật Hộ tịch 2014

có hiệu lực thi hành thì để đảm nhiệm vị trí công chức TPHT, phải tối thiểu có bằng trung cấp Luật;

- Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên;

- Tiếng dân tộc thiểu số: ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu

số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu

số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;

- Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm

1.2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Tư pháp – Hộ tịch

Theo quy định tại Điều 8 Thông tư 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức

xã, phường, thị trấn thì công chức TPHT có các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 34

a) Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong lĩnh vực tư pháp và hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác tư

pháp UBND cấp xã có các chức năng, nhiệm vụ sau:

- Ban hành và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch, quyết định, chỉ thị về công tác tư pháp ở cấp xã; theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt

- Tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh theo hướng dẫn của UBND cấp huyện và cơ quan Tư pháp cấp trên

- Tổ chức thực hiện việc tự kiểm tra các quyết định, chỉ thị do UBND cấp

xã ban hành; rà soát văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND cấp xã ban hành; chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng quy ước, hương ước thôn, tổ dân phố phù hợp với quy định pháp luật hiện hành

- Theo dõi, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật, phát hiện, đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật ở cấp xã với Phòng Tư pháp cấp huyện

- Tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật ở cấp xã

- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, bồi dưỡng, cung cấp tài liệu nghiệp vụ cho tổ viên Tổ hoà giải trên địa bàn theo sự hướng dẫn của cơ quan tư pháp cấp trên

- Thực hiện việc đăng ký, đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi; thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp không phân biệt độ tuổi; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn theo quy định của pháp luật; quản lý, sử dụng các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định của Bộ Tư pháp; lưu trữ sổ hộ tịch, giấy tờ hộ tịch; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch

Trang 35

- Thực hiện một số việc về quốc tịch thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật

- Thực hiện cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản bằng tiếng Việt; chứng thực các việc khác theo quy định của pháp luật

- Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự trên địa bàn theo quy định của pháp luật

- Báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác tư pháp được giao với UBND cấp huyện và Phòng Tư pháp

b) Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

i) Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục

vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;

ii) Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp xã báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định;

Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 thì HĐND cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao Như vậy, UBND và HĐND cấp xã là chủ thể

có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật Do đó, công chức TPHT với vai trò của mình, có trách nhiệm trong quá trình soạn thảo, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của UBND và HĐND cấp xã Trước đây, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số

điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy

định trong quy trình soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật của UBND và HĐND cấp xã có nội dung lấy ý kiến của cán bộ TPHT đối với dự thảo Tuy nhiên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không quy định việc lấy

ý kiến của cán bộ TPHT đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính

Trang 36

quyền cấp xã Điều này dẫn đến có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của công chức TPHT trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp

xã Về vấn đề này, tôi cho rằng theo quy định từ Điều 142 đến Điều 145 của

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 thì dự thảo nghị quyết của HĐND cấp xã, quyết định của UBND cấp xã do UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp trực tiếp tổ chức, chỉ đạo việc soạn thảo, lấy ý kiến Công chức TPHT là công chức chuyên môn giúp việc cho UBND, Chủ tịch UBND nên có trách nhiệm tham gia soạn thảo, góp ý dự thảo văn bản theo sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND Với lý do đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không tiếp tục quy định văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp xã phải được gửi lấy ý kiến của công chức TPHT như quy định trong Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND

iii) Tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn cấp xã;

Theo quy định của Luật Thi hành án 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) thì UBND cấp xã (thông qua công chức TPHT) hỗ trợ công tác thi hành án dân sự qua các nội dung chủ yếu sau:

- Niêm yết công khai văn bản thông báo về việc thi hành án cho người phải thi hành án (Điều 42 Luật Thi hành án dân sự);

- Hỗ trợ xác minh điều kiện thi hành án (Điều 44 Luật Thi hành án dân sự);

- Hỗ trợ tham gia thực hiện việc kê biên (Điều 88 Luật Thi hành án dân sự);

- Hỗ trợ cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất (Điều 117 Luật Thi hành án dân sự);

Ngoài ra, theo Điều 175 Luật Thi hành án dân sự thì Chủ tịch UBND cấp

xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên

Trang 37

và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án

và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn Với vai trò tham mưu, giúp việc cho UBND cấp xã trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, trên thực tế công chức TPHT tham gia hỗ trợ khá nhiều trong quá trình triển khai công tác thi hành án dân sự trên địa bàn

iv) Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, chứng nhận

và theo dõi về quốc tịch trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức Văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã;

Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, chiếm khá nhiều thời gian làm việc của công chức TPHT Công tác tư pháp, chứng thực được thực hiện theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch Theo đó, khoản 3 Điều 43 Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định Công chức Tư pháp - Hộ tịch giúp UBND cấp xã thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thực hiện các việc chứng thực thuộc thẩm quyền của UBND cấp xã, bao gồm:

+ Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận;

+ Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực chữ

ký người dịch;

+ Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản;

+ Chứng thực hợp đồng, giao dịch liên quan đến thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai;

+ Chứng thực hợp đồng, giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở; + Chứng thực di chúc;

Trang 38

Theo quy định của Luật Hòa giải cơ sở 2013 thì trong công tác hòa giải cơ

sở, UBND cấp xã có các nhiệm vụ sau:

- Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về hòa giải ở cơ sở; xây dựng dự toán kinh phí hỗ trợ cho hoạt động hòa giải; thành lập, kiện toàn tổ hòa giải và công nhận

tổ trưởng tổ hòa giải, hòa giải viên tại địa phương;

- Chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng về hòa giải ở cơ sở

- Báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp, UBND cấp huyện kết quả thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở

Do đó, với chức năng, nhiệm vụ của mình, công chức TPHT giúp việc cho UBND cấp xã trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong công tác hòa giải cơ

sở nêu trên

Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, trong quá trình làm việc, công chức TPHT còn phải thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp

Trang 39

luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao Đây là quy định mở, trong quá trình thực hiện công việc, tùy theo tình hình thực tế tại cơ sở để Chủ tịch UBND cấp xã giao việc cho công chức TPHT

1.2.2.3 Quản lý công chức Tư pháp – Hộ tịch

Theo các quy định tại khoản 4 Điều 46 Nghị định 112/2011/NĐ-CP về Công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xã nói chung, trong đó có công chức TPHT chịu sự quản lý trực tiếp của UBND xã Bên cạnh đó, theo Thông tư số 06/2012/TT-BNV thì công chức TPHT còn thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao Như vậy, về cơ bản, công chức TPHT được UBND cấp xã trực tiếp quản

lý, sử dụng, nhận xét, đánh giá mức độ hoàn thành công việc, nhiệm vụ

Bên cạnh đó, theo quy định tại Thông tư liên tịch BNV ngày 22/12/2014 Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp cấp huyện là cơ quan tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về công tác tư pháp, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức TPHT cấp xã

23/2014/TTLT-BTP-Như vậy, về vấn đề chuyên môn, công chức TPHT còn chịu sự kiểm tra, giám sát và hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn cấp trên là Phòng Tư pháp

và Sở Tư pháp Trên thực tế, hàng năm Phòng Tư pháp và Sở Tư pháp thường xuyên tổ chức tập huấn, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, kịp thời có những giải đáp các vướng mắc trong quá trình thực hiện các công việc liên quan đến chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của công chức TPHT

Trang 40

1.2.3 Những yếu tố tác động đến địa vị pháp lý hành chính của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã

Xuất phát từ tính chất, yêu cầu của quản lý công tác TPHT và bảo đảm quyền hạn, nghĩa vụ cho công chức TPHT khi thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính công trong quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân thì cần đánh giá một cách đầy

đủ, toàn diện những yếu tố tác động đến địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT Công chức TPHT giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác tư pháp cấp xã vì các thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Để thực hiện được những công việc trên phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Các yếu tố khách quan như: Hệ tư tưởng chính trị - pháp luật; cải cách hành chính - tư pháp về hộ tịch; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật; tốc độ phát triển kinh tế; trình độ phát triển dân trí Các yếu tố chủ quan như: quản lý nhà nước về hộ tịch; trình độ học vấn, năng lực của công chức TPHT; vị trí, khối lượng công việc, điều kiện lao động

Yếu tố khách quan

Các yếu tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hoá, xã hội… đây là những yếu tố có ảnh hưởng đến địa vị pháp lý hành chính của công chức TPHT mà không thể kiểm soát được đồng thời nó có tác động chung đến tất cả các hoạt động của công chức TPHT Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ pháp lý của công chức TPHT nhằm tạo

ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của thời đại

Yếu tố chính trị và luật pháp:

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc hình thành và phát triển của đất nước Ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh tế nói chung, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh

Ngày đăng: 12/04/2021, 12:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Thu Ba (2003), Định hướng đổi mới, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã trong giai đoạn hiện nay, số 5/2003, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng đổi mới, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Thị Thu Ba
Năm: 2003
16. Cao Minh Công (2012), Trách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: rách nhiệm công vụ và đạo đức công chức ở nước ta hiện nay
Tác giả: Cao Minh Công
Năm: 2012
17. Phạm Trọng Cường (2004), Về quản lý hộ tịch, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quản lý hộ tịch
Tác giả: Phạm Trọng Cường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
18. Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
Năm: 1999
19. Nguyễn Đình Hảo (1999), Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn và Tổ hòa giải ở thành phố Hà Nội, số 2/1999, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ban Tư pháp xã, phường, thị trấn và Tổ hòa giải ở thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Đình Hảo
Năm: 1999
20. Trần Thị Lệ Hoa, (2013), Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (Chuyên đề pháp luật về hộ tịch năm 2013), Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đội ngũ công chức Tư pháp- Hộ tịch và yêu cầu chuẩn hóa
Tác giả: Trần Thị Lệ Hoa
Năm: 2013
21. Học viện hành chính (2008), Giáo trình Quản lý hành chính - Tư pháp, NXB Khoa Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý hành chính - Tư pháp
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: NXB Khoa Học
Năm: 2008
22. Bửu Kế (1999), Từ điển Hán - Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt từ nguyên
Tác giả: Bửu Kế
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1999
23. Nguyễn Văn Khôn (1960), Hán -Việt từ điển, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán -Việt từ điển
Tác giả: Nguyễn Văn Khôn
Năm: 1960
24. Nguyễn Văn Khuê (2003), Thực trạng công tác tư pháp và đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã ở tỉnh Nam Định, số 5/2003, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác tư pháp và đội ngũ cán bộ Tư pháp cấp xã ở tỉnh Nam Định
Tác giả: Nguyễn Văn Khuê
Năm: 2003
26. Lê Thị Ngọc Lam, Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của TPHT cấp xã, Số chuyên đề 10/2010, Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của TPHT cấp xã
27. Trần Thúc Linh (1965), Danh từ pháp luật lược giải, NXB Khai Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ pháp luật lược giải
Tác giả: Trần Thúc Linh
Nhà XB: NXB Khai Trí
Năm: 1965
28. Trần Thị Mai (2016), Địa vị pháp lý của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2016. Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa vị pháp lý của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay
Tác giả: Trần Thị Mai
Năm: 2016
29. Nguyễn Phương Nam (2013), Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp- hộ tịch trên địa bàn thành phố Hà Nội, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (6), Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Tư pháp- hộ tịch trên địa bàn thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Phương Nam
Năm: 2013
30. Trần Văn Quảng, Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức TPHT trong giai đoạn hiện nay, Số chuyên đề tháng 9/2006, Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực của đội ngũ công chức TPHT trong giai đoạn hiện nay
37. Phạm Hồng Thái (2004), Công chức, công vụ nhà nước, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức, công vụ nhà nước
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2004
38. Lê Viết Thiện (2014), Giải pháp nâng cao vai trò của công chức TPHT cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nghề Luật, Số 02/2014, Học viện Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao vai trò của công chức TPHT cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Viết Thiện
Năm: 2014
39. Nguyễn Văn Tuấn, Giáo dục pháp luật cho công chức Tư pháp – Hộ tịch, qua thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật cho công chức Tư pháp – Hộ tịch, qua thực tiễn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học
40. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
42. Đinh Trung Tụng, (2013), Quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng dự án luật hộ tịch, Tạp chí dân chủ và pháp luật, (Chuyên đề pháp luật về hộ tịch), Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm chỉ đạo, định hướng xây dựng dự án luật hộ tịch
Tác giả: Đinh Trung Tụng
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w