1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh

95 1,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Hữu Đoàn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Chăn nuôi
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 13,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI

Mã ngành: 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI HỮU ðOÀN

Hà Nội - 2011

Trang 2

LỜI CAM ðOAN

Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược

ai công bố trong bất cứ một công trình nào

Tôi cũng xin cam ñoan mọi sự giúp ñỡ ñể thực hiện luận văn ñã ñược cám ơn và mọi thông tin trích dẫn ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn gia ñình bác Nguyễn Tiến Khoát - thôn Yên Lãng - xã Yên Trung - huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh ñã tạo ñiều kiện về cơ sở vật chất ñể tiến hành thí nghiệm và hoàn thành khóa luận của mình

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc ñến gia ñình cùng toàn thể bạn bè ñồng nghiệp ñã giúp ñỡ tôi trong suốt thời học tập và hoàn thành luận án

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam ñoan……….i

Lời cảm ơn………ii

Mục lục……….iii

Danh mục bảng………vi

Danh mục biểu ñồ……… vii

Danh mục hình ảnh……….vii

1 MỞ ðẦU 1

1.1 TÍNHCẤPTHIẾTCỦAðỀTÀI 1

1.2 MỤCTIÊUCỦAðỀTÀI 2

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 CƠSỞCỨUCÁCTÍNHTRẠNGNGOẠIHÌNH 3

2.2 CƠSỞNGHIÊNCỨUSỨCSỐNGVÀKHẢNĂNGKHÁNG BỆNHCỦAGIACẦM 5

2.2 CƠSỞKHOAHỌCVỀKHẢNĂNGSINHTRƯỞNGVÀCHO THỊTỞGIACẦM 6

2.2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng 6

2.2.2 Khả năng cho thịt của gia cầm 14

2.2.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn 16

2.3 CƠSỞKHOAHỌCVỀKHẢNĂNGSINHSẢN 17

2.3.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm 17

2.3.2 Năng suất trứng của gia cầm 18

2.3.3 Tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên 22

2.3.4 Cường ñộ ñẻ trứng 23

2.3.5 Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở 23

2.3.6 Những chỉ tiêu ñánh giá chất lượng trứng 25

2.4 NGUỒNGỐC,ðẶCðIỂM,TÍNHNĂNGSẢNXUẤTCỦAðỐI TƯỢNGNGHIÊNCỨU 30

Trang 5

2.4.1 Nguồn gốc của chim bồ câu 30

2.4.2 Một số ñặc ñiểm chung của chim bồ câu 31

2.5 CÁCPHƯƠNGTHỨCCHĂNNUÔICHIMBỒCÂU 33

2.5.1 Phương thức chăn nuôi quảng canh, tận dụng 33

2.5.2 Phương thức chăn nuôi công nghiệp 34

2.6 TÌNHHÌNHNGHIÊNCỨUTRONGVÀNGOÀINƯỚC 34

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 34

2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 35

2.7 TÌNHHÌNHSẢNXUẤTVÀTIÊUTHỤTHỊTCHIMBỒCÂU 36

3 ðỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

3.1 ðỐITƯỢNG,ðỊAðIỂMVÀTHỜIGIANNGHIÊNCỨU 38

3.1.1 ðối tượng nghiên cứu 38

3.1.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 38

3.2 NỘIDUNGNGHIÊNCỨU 38

3.3 PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 39

3.3.1 Phương pháp theo dõi theo từng gia ñình chim 39

3.3.2 Kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng 40

3.4 CÁCCHỈTIÊUTHEODÕIVÀPHƯƠNGPHÁPXÁCðỊNH 41

3.4.1 Khảo sát khả năng sinh sản trên ñàn chim bố mẹ 41

3.4.2 Khảo sát khả năng cho thịt trên ñàn bồ câu thương phẩm (từ sơ sinh ñến 28 ngày tuổi) 43

3.5 TÌNHHÌNHDỊCHBỆNHCHIMBỒCÂU 45

3.5.1 Các bệnh thường gặp trên ñàn bồ câu 45

3.5.2 Phòng trừ dịch bệnh cho chim bồ câu 45

3.6 HIỆUQUẢKINHTẾNUÔICHIMBỒCÂU 45

3.7 PHƯƠNGPHÁPXỬLÝSỐLIỆU 45

Trang 6

4 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 46

4.1 MỘTSỐKẾTQUẢNGHIÊNCỨUTRÊNðÀNCHIMSINHSẢN46 4.1.1 Màu sắc lông 46

4.1.2 Một số tập tính của chim bồ câu 49

4.2 KHẢNĂNGSINHSẢNCỦACHIMBỒCÂUNỘI 53

4.2.1 Khả năng sinh sản 53

4.2.2 Tỷ lệ ấp nở và khả năng nuôi con của chim bồ câu nội 56

4.3 KHỐILƯỢNGVÀCHẤTLƯỢNGTRỨNG 58

4.3.1 Khối lượng và chỉ số hình dạng của trứng 58

4.3.2 Kết quả nghiên cứu về chất lượng trứng chim bồ câu nội 59

4.4 KHẢNĂNGCHOTHỊTCỦACHIMBỒCÂUTHƯƠNGPHẨM 61

4.4.1 Tỷ lệ nuôi sống 61

4.4.2 Khối lượng cơ thể 62

4.4.3 Năng suất thịt 66

4.4.4 Tiêu tốn thức ăn 67

4.5 TÌNHHÌNHDỊCHBỆNHTRÊNðÀNBỒCÂU 68

4.5.1 Các bệnh thường gặp trên ñàn bồ câu 68

4.5.2 Phòng trừ dịch bệnh cho chim bồ câu 71

4.6 HIỆUQUẢKINHTẾNUÔICHIMBỒCÂUNỘI 72

5 KẾT LUẬN - ðỀ NGHỊ 74

5.1 KẾTLUẬN 74

5.2 ðỀNGHỊ 74

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Khẩu phần và chế ñộ dinh dưỡng nuôi chim bồ câu sinh sản 40

Bảng 4.1 Tỷ lệ một số màu lông của chim bồ câu nội (%) 46

Bảng 4.2 Một số tập tính sinh học của chim bồ câu nội 49

Bảng 4.3 Khả năng sinh sản của chim bồ câu nội 53

Bảng 4.4 Tỷ lệ ấp nở và khả năng nuôi con của chim bồ câu nội 57

Bảng 4.5 Khối lượng và chỉ số hình dạng của trứng 58

Bảng 4.6 Chất lượng trứng chim bồ câu 59

Bảng 4.7 Tỷ lệ nuôi sống chim bồ câu nội từ 0 - 4 tuần tuổi và giai ñoạn sinh sản (n = 50 con) 61

Bảng 4.8 Khả năng sinh trưởng của chim non 63

Bảng 4.9 Kết quả khảo sát thân thịt chim bồ câu nội lúc 28 ngày tuổi 66

Bảng 4.10 Tiêu tốn và chi phí thức ăn 68

Bảng 4.11 Tình hình nhiễm bệnh 69

Bảng 4.12 Kết quả nuôi chim bồ câu nội 72

Trang 9

1 MỞ ðẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ðỀ TÀI

Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, có từ lâu ñời của nhân dân ta, tạo ra việc làm và ñóng góp một phần tương ñối lớn vào tổng thu nhập của người nông dân Trong xu thế ñổi mới hiện nay, ñời sống người dân nước

ta ngày càng ñược nâng cao do ñó nhu cầu về sản phẩm gia cầm chất lượng cao cũng càng lớn ðể ñáp ứng nhu cầu ñó, trong những năm gần ñây ngành chăn nuôi gia cầm nước ta bổ sung thêm nhiều ñối tượng chăn nuôi mới như

gà sao, gà ác, ñà ñiểu, chim cút… làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, ñáp ứng nhu cầu ña dạng của thị trường

Bồ câu là loài chim khá phổ biến và là cư dân quen thuộc của nhiều thành phố lớn Thịt chim bồ câu ra ràng rất mềm, thơm ngon, là món ăn cao cấp tại nhiều nhà hàng nổi tiếng của nhiều quốc gia như Pháp, Mỹ, Ý, Trung Quốc…và cả ở nước ta

Chim bồ câu là loài chim ñược thuần hóa từ rất lâu, thích nghi tốt với nhiều vùng khí hậu và sinh thái khác nhau của nhiều châu lục Chúng dễ nuôi, thành thục sớm và khả năng sinh sản nhanh, có thị trường tiêu thụ rộng lớn và

ổn ñịnh Tuy nhiên, chăn nuôi chim bồ câu ở nước ta trong các nông hộ chủ yếu là chăn nuôi chăn thả tự do, quảng canh, quy mô nhỏ lẻ… kết hợp vừa giải trí vừa cải thiện ñời sống trong nội bộ nông hộ với thịt chim ra ràng… nên có thu nhập thấp, không ñáp ứng ñược nhu cầu ngày càng cao của thị trường Hơn nữa, việc nuôi chim bồ câu theo phương thức chăn thả sẽ là nguồn lây lan dịch bệnh nguy hiểm như cúm gia cầm H5N1, cúm A - H1N1 ñang lây lan nhanh và là mối ñe dọa ngành chăn nuôi ở nhiều nơi

ðể góp phần thúc ñẩy nghề nuôi chim bồ câu trong nước phát bền vững, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:

Trang 10

Ộđánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc NinhỢ

1.2 MỤC TIÊU CỦA đỀ TÀI

- Xác ựịnh một số ựặc ựiểm ngoại hình và ựặc ựiểm sinh học của chim

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ CỨU CÁC TÍNH TRẠNG NGOẠI HÌNH

Các ựặc ựiểm, chỉ tiêu về ngoại hình của gia cầm là những ựặc ựiểm ựặc trưng cho giống, là cơ sở rất quan trọng ựể ựánh giá phẩm giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi

đối với gia cầm, căn cứ vào hướng sản xuất, hình dáng kắch thước cơ thể mà người ta phân thành gia cầm hướng trứng, hướng thịt hay kiêm dụng

Gia cầm hướng trứng có hình dáng thon, nhỏ, khối lượng cơ thể thấp, ựầu nhỏ, cổ dài nhanh nhẹn; gia cầm hướng thịt có thân hình to, ngực nở, ựùi, lườn rất phát triển, dáng nặng nề, khối lượng cơ thể lớn; gia cầm kiêm dụng

có hình dáng trung gian giữa gia cầm hướng trứng và hướng thịt

Brandsch và Biichel (1978)[1] cho biết, giữa khối lượng cơ thể và các chiều ựo có mối tương quan dương

đặng Hữu Lanh và cộng sự (1995) [25] cho biết màu sắc lông, da là mã hiệu của giống, ựó là những tắn hiệu ựể nhận dạng con giống Màu sắc lông,

da là những chỉ tiêu trong chọn lọc gia cầm Thông thường các giống thuần có màu lông ựồng nhất, trên cơ sở ựó có thể nói, các gia cầm màu lông không ựồng nhất là do giống ựã pha tạp Bồ câu là loài chim có nhiều biến dị về màu lông: ựen, trắng, nâu ựen khá ựẹp và sặc sỡ

Theo Trần Công Xuân và cộng sự (1998) [64] thì chim bồ câu Pháp dòng MiMas có màu lông ựồng nhất màu trằng, dòng TiTan có màu lông ựa dạng hơn trắng, ựốm, xám, nâu.

Màu sắc lông có vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi đó là các tắnh trạng bên ngoài ựược sử dụng trong công tác chọn giống Màu sắc, ựộ bóng mượt của lông liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ, sức sản xuất của gia cầm, khi khoẻ mạnh, khẩu phần cân ựối thì bộ lông ựẹp; ngược

Trang 12

* Bộ lông: lông là một dẫn xuất của da, thể hiện ñặc ñiểm di truyền của

giống và có ý nghĩa quan trọng trong việc phân loại Khi mới nở, gia cầm con ñược lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần ñược thay thế bằng lông cố ñịnh Lông thực hiện những chức năng khác nhau: bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng xấu của môi trường (lạnh, ẩm ), ñiều hoà nhiệt và xúc giác Ở loài chim, một số lông chuyên dùng ñể bay, một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp

Tốc ñộ mọc lông sớm hay muộn có mối quan hệ mật thiết với cường ñộ sinh trưởng của gia cầm Hayer và cộng sự (1970) [74], cho biết gà mái có tốc

ñộ mọc lông ñều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormon

có tác dụng ngược với gen liên kết quy ñịnh tốc ñộ mọc lông

* Hình dạng gia cầm cũng là một yếu tố ngoại hình quan trọng ñể phân biệt tính năng sản xuất chuyên biệt của chúng Gia cầm hướng thịt có hình dáng to, hình chữ nhật; gia cầm hướng trứng thường có hình dáng nhỏ, gọn, thanh, mảnh Ở chim bồ câu dòng TiTan là dòng "siêu nặng", tính năng sản xuất nghiêng về năng suất thịt là chính, trong khi ñó dòng MiMas là dòng

"siêu sinh sản", tính năng sản xuất nghiêng về khả năng sinh sản là chính, do

ñó dòng TiTan có chiều cao và chiều dài lớn hơn MiMas, ñặc biệt ở con trống (Trần Công Xuân và cộng sự, 1998) [64]

Mỏ: gia cầm có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao Chim

bồ câu tốt có mỏ ngắn, nhọn, cứng và hơi cong

Chân: gia cầm giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không ñược thô Gia cầm có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống ðặc ñiểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm Ở chim bồ câu, những con chim có lông ở chân thường vụng

về, chậm chạp, chân quá to và thường xuyên bị dính phân vào lông làm bẩn trứng

Trang 13

2 2 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU SỨC SỐNG VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH CỦA GIA CẦM

Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả chăn nuôi, ựược thể hiện gián tiếp thông qua tỷ lệ nuôi sống

Sức sống và khả năng kháng bệnh bị chi phối bởi các yếu tố bên trong

cơ thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh như nuôi dưỡng, chăm sóc, mùa

vụ, dịch tễ, chuồng trại

Johanson (1972) [20] cho biết, sức sống ựược thể hiện ở thể chất và ựược xác ựịnh bởi tắnh di truyền, ựó là khả năng cơ thể chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh

Lê Viết Ly (1995)[30] cho biết, ựộng vật thắch nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị tress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp

Trần đình Miên (1994)[35] cho biết các giống vật nuôi nhiệt ựới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, chống bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi vùng ôn ựới

điều kiện sống cũng ảnh hưởng ựến sức sống và khả năng kháng bệnh của vật nuôi Phan Cự Nhân và Trần đình Miên (1998)[41] cho biết, dù chăn nuôi theo phương thức nào thì ựàn gia cầm nuôi tập trung ựều có số lượng lớn các tác nhân truyền nhiễm bệnh là vi khuẩn, cho nên việc phòng dịch bệnh phải thường xuyên, một biện pháp ựảm bảo an toàn sinh học

Sức ựề kháng ở các loài, giống, dòng, thậm chắ giữa các cá thể là khác nhau Kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân và cộng sự (1998)[64], ở giai ựoạn 0-28 ngày tuổi, tỷ lệ nuôi sống của chim bồ câu Pháp ở thế hệ xuât phát

là 94,44% (dòng TiTan) và 95,05% (dong MiMas) Nguyễn Thị Thanh Bình (1998)[4], Nguyễn Văn Thiện (1995)[47], Lê Thị Nga và cộng sự (2000)[39],

Trang 14

ác là 88,28%; của gà Mía là 92,33 - 93,9%; ở gà Ross -208 tỷ lệ nuôi sống ñến 42 ngày tuổi ñạt 95%, gà hậu bị và mái ñẻ ñạt 98,47-98,74% (Bùi Quang Tiến và cộng sự, 1995 [53])

Khi ñiều kiện sống thay ñổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng ), gà lông màu có khả năng thích ứng tốt hơn với môi trường sống (Phan Cự Nhân và cộng sự, 1998)[41]

Con trống có sức ñề kháng mạnh hơn con mái do có sự tác ñộng khác nhau của hormone

ðể nâng cao tỷ lệ sống, sức ñề kháng, giảm tổn thất do bệnh tật gây ra, bên cạnh việc cần tiến hành các biện pháp phòng bệnh thú y và chăm sóc, nuôi dưỡng thích hợp với từng loại vật nuôi, cần phải chú trọng ñến công tác lai tạo giống nhằm nâng cao khả năng thích nghi của gia cầm, nhất là gia cầm nhập nội

2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ CHO THỊT Ở GIA CẦM

2.2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng

2.2.1.1 Khái niệm sinh trưởng

Sinh trưởng ñược ñịnh nghĩa một cách ñơn giản là sự tăng trưởng về kích thước tế bào (hypertrophy), số lượng tế bào (hyperplasia) và dịch thể tế bào (widdowson, 1980 trích dẫn theo Chamber, 1990)[71]

TrÇn §×nh Miªn, Nguyễn Kim ðường (1992)[35] cho biết, sinh trưởng

là quá trình tích lũy chất hữu cơ do ñồng hóa và dị hóa là sự tăng chiều dài, chiều rộng, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính chất di truyền của ñời trước Do vậy trong chăn nuôi gia cầm giai ñoạn sinh trưởng cần cung cấp ñầy ñủ protein, năng lượng khoáng và các loại vitamin ñể hệ thống các cơ quan chức năng, xương và cơ bắp phát triển tốt tạo

bộ khung ñể giai ñoạn sau nhanh béo, giai ñoạn cuối cùng cần cung cấp thức

ăn giàu năng lượng ñể gia cầm tích mỡ

Trang 15

Trong chăn nuôi ựộng vật, sự sinh trưởng thường ựược xác ựịnh bằng

sự tăng lên về khối lượng, kắch thước cơ thể qua những giai ựoạn nhất ựịnh

Cũng theo Trần đình Miên, Nguyễn Kim đường (1992)[35] thì Midedorpho A.F (1987) là người ựầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai ựoạn của gia súc Ông cho rằng ở gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau ựó phần tăng khối lượng giảm dần theo tuổi

Gia cầm khi mới nở có hai trường hợp: sớm hình thành và muộn hình thành Sớm hình thành là loài vừa ra khỏi vỏ trứng ựã phát triển ngay, toàn thân có lông tơ bao phủ, mở mắt ngay, chân có thể ựi ựược, vừa khô lông có thể tìm thấy thức ăn vắ dụ như : Gà, vịt, ngan, ngỗngẦMuộn hình thành là loài sau khi ra khỏi vỏ trứng vẫn chưa phát triển ựầy ựủ, mắt chưa mở ra ựược ngay và thân thể chưa có lông tơ, không tự kiếm mồi và phải ựược mớm Chim bồ câu thuộc loại muộn hình thành Chim non khi mới nở, mình trần trụi mắt nhắm yếu ớt nhưng phát triển khá nhanh Giai ựoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào việc nuôi dưỡng của chim bố mẹ Sau khi sinh, chim non ựều ựược chim bố mẹ mớm mồi bằng chất sữa có trong diều Sau ựó từ 7 - 8 ngày thì chim bố mẹ mớm mồi cho chim non hoàn toàn là hạt Hạt cùng với nước ựược ợ từ chim diều chim bố mẹ vào hốc miệng chim non Sự sinh trưởng của chim bồ câu chia làm hai thời kỳ Thời kỳ thứ nhất là từ 0 - 14 ngày tuổi Thời

kỳ này chim có tốc ựộ lớn nhanh khối lượng cơ thể tăng khoảng, 14 lần so với khi mới nở Thời kỳ hai từ 14 - 28 ngày; thời kỳ này tốc ựộ lớn của chim

bồ câu chậm lại đến ngày thứ 28 chim non có bộ lông ựầy ựủ và ắt thua kém

bố mẹ về trọng luợng, chỉ khác ở chỗ trọng lượng cơ bắp ở ngực của chim non nhỏ hơn Phần cơ bắp ở ngực chim non sẽ phát triển nhanh khi chim non tập bay Giữa chim bồ câu trống và mái không có sự sai khác nhiều về khối lượng cơ thể Bùi Hữu đoàn (2010)[15] cho biết, khối lượng chim bồ câu nội ựạt từ 300 - 400g/con, còn chim bồ câu Pháp ựạt từ 600 - 700g/con

Trang 16

dục là quá trình thay ựổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tắnh chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai ựoạn phức tạp cho ựến khi trưởng thành

Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình diễn ra trên cùng một cơ thể gia súc gia cầm Sinh trưởng ựược coi là quá trình thay ựổi cấu tạo chức năng, hình thái, kắch thước các bộ phận Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ tinh, qua các giai ựoạn khác nhau ựến khi trưởng thành

2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng ựến khả năng sinh trưởng

* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền ựến khả năng sinh trưởng

Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng ựến tốc ựộ sinh trưởng của gia cầm Theo quan ựiểm di truyền học, hầu hết các tắnh trạng sản xuất của gia cầm ựều là các tắnh trạng số lượng, bao gồm: sinh trưởng, sản xuất thịt, sản xuất trứng, Cơ sở di truyền của các tắnh trạng số lượng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy ựịnh và do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ quy ựịnh

Nguyễn Ân và cộng sự (1983)[2] cho biết các tắnh trạng năng suất trong ựó có tốc ựộ sinh trưởng là các tắnh trạng số lượng hay còn gọi là tắnh trạng ựo lường ựược như khối lượng cơ thể, kắch thước, chiều ựo Trần đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995)[36] cho biết, các tắnh trạng số lượng chi phối bởi nhiều gen hay còn gọi ựa gen

* Ảnh hưởng của dòng, giống ựến quá trình sinh trưởng

Giống, dòng là yếu tố về mặt di truyền quan trọng ảnh hưởng ựến tốc

ựộ tăng khối lượng cơ thể của gia cầm Các giống gia cầm khác nhau có tốc ựộ tăng khối lượng cơ thể khác nhau Các giống gia cầm hướng thịt có tốc ựộ tăng khối lượng cơ thể nhanh hơn các giống gia cầm kiêm dụng và hướng trứng

Kislowsky D.A (1930) (dẫn theo Nguyễn Ân (1984) [3]) ựã khẳng ựịnh:

sự ựột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể có sự khác nhau Sự

Trang 17

sinh trưởng không ựều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ quan, có bộ phận ở thời

kỳ này phát triển nhanh, nhưng thời kỳ khác lại chậm phát triển

Trần Công Xuân và cộng sự (1998)[64] cho biết, tốc ựộ sinh trưởng của chim bồ câu Pháp lúc 28 ngày tuổi dòng TiTan (650g) cao hơn 95g so với cao hơn dòng VN1(555g) và 309g so với chim bồ câu nội (341g)

Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994)[18] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g (13-30%)

Godfrey E.F và Joap R.G (1952)[73] cho rằng, sự di truyền các tắnh trạng về khối lượng cơ thể do 15 cặp gen tham gia trong ựó ắt nhất có một gen

về sinh trưởng liên kết giới tắnh (nằm trên nhiễm sắc thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống,

gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%

* Ảnh hưởng của tắnh biệt và tốc ựộ mọc lông ựến sinh trưởng

Các loại gia cầm khác nhau về giới tắnh thì có tốc ựộ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái

Trong cùng một giống, cùng giới tắnh, ở gà có tốc ựộ mọc lông nhanh

có tốc ựộ sinh trưởng, phát triển tốt hơn

Kushner K.F (1974)[24] cho rằng tốc ựộ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc ựộ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và ựều hơn ở

gà chậm lớn

* Ảnh hưởng của thức ăn ựến khả năng sinh trưởng

Thức ăn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài ựến toàn bộ các giai ựoạn sinh trưởng phát dục và năng suất của gia súc, gia cầm

Theo tài liệu của Trần đình Miên và cộng sự (1995)[36] thì việc nuôi dưỡng mà chủ yếu là thức ăn có tác dụng rất lớn ựối với sự phát triển của gia súc, gia cầm Cho ăn khẩu phần ựầy ựủ chất dinh dưỡng theo giai ựoạn này sẽ

Trang 18

thúc ñẩy quá trình sinh trưởng phát dục, ngược lại nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại

Trần Công Xuân và cộng sự (1998)[62] cho biết, khả năng sinh sản của chim

bồ câu Pháp có khuynh hướng tỷ lệ thuận với mức protein có trong khẩu phần thức

ăn Tác giả cũng xác ñịnh ảnh hưởng của các mức protein và năng lượng trong khẩu phần ñến khả năng sinh trưởng của bồ câu Pháp giai ñoạn từ 0 - 4 tuần tuổi

Bùi ðức Lũng (1992)[27] ñể phát huy khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với ñầy ñủ chất dinh dưỡng ñược cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axit amin với năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp cần ñược bổ sung hàng loạt các chế phẩm sinh học không mang theo ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng thịt

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai (1994)[31] ñã kết luận: việc

sử dụng mức năng lượng và protein thích hợp trong khẩu phần sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Broiler Nguyễn Thị Mai (2001)[32] cho biết, hiệu quả sử dụng thức ăn có liên quan chặt chẽ tới tốc ñộ sinh trưởng của

gà Trong cùng một chế ñộ dinh dưỡng, cùng một giống, tại một thời ñiểm, những lô gà có tốc ñộ sinh trưởng cao hơn thì hiệu quả sử dụng thức ăn cũng tốt hơn

* Ảnh hưởng của nhiệt ñộ

Nhiệt ñộ môi trường có ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng thu nhận và tiêu hóa các chất dinh dưỡng của gia cầm nói chung và chim bồ câu nói riêng

Ở gia cầm giai ñoạn con non cũng như chim bồ câu, cơ quan ñiều khiển nhiệt chưa hoàn chỉnh, việc giữ nhiệt ñộ thích hợp là quan trọng nhất Giai ñoạn này gia cầm non rất nhạy cảm với tác ñộng của ñiều kiện khí hậu thay ñổi Do ñó cần phải quan tâm giữ ấm cho gia cầm, nếu nhiệt ñộ quá thấp gia cầm không ăn, sinh trưởng kém Ở các giai ñoạn sau nếu nhiệt ñộ quá cao thì

sẽ hạn chế khả năng thu nhận thức ăn, hạn chế khả năng sinh trưởng và dễ mắc các bệnh ñường tiêu hóa

Trang 19

Readdy (1999)[44] ñã chỉ rõ ở thời kỳ sau ấp nở, nhiệt ñộ môi trường

có ảnh hưởng rõ rệt ñến sinh trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà thịt Khi nhiệt ñộ tăng lên năng lượng của khẩu phần duy trì giảm xuống Sau khi

nở nếu tăng nhiệt ñộ từ 70C ñến 210C sẽ làm giảm hệ số chuyển hóa thức ăn 0,87% cho mỗi 0C tăng lên Nếu nhiệt ñộ tiếp tục tăng thì hệ số chuyển hóa thức ăn tiếp tục ñược cải thiện cho ñến khi ñạt ñến ñiểm stress nhiệt làm giảm tốc ñộ sinh trưởng

Scoft M.L và cộng sự (1976)[83] cho biết, trong khoảng 260C ñến 320C khi nuôi gà broiler, tiêu thụ thức ăn giảm 1,5g/10C/1 gà và trong khoản 260C ñến 320C tiêu thụ thức ăn giảm 4,5g/10C/1 gà

Khi nhiệt ñộ chuồng nuôi thay ñổi 10C thì tiêu thụ thức ăn của gà mái biến ñổi một lượng tương ñương 2kcal theo Khan, A.G (1998)[ 76]

Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (1995)[28] cho biết, gà broiler nuôi trong vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn nhu cầu vụ ñông 10 - 15% Salah và cộng sự (1946)[82] cho biết, nhiệt ñộ trong ngày ñầu tiên nên từ

280C - 350C sau ñó giảm dần xuống 210C Kết quả thí nghiệm cho thấy gà Broiler 4 - 8 tuần tuổi tăng khối lượng ñạt 1225g ở 210C nhưng chỉ ñạt 1087g

ở 260C

Nhiệt ñộ cao còn gây nên hiện tượng stress nhiệt ñối với gia cầm, ảnh hưởng ñến khả năng tăng trọng của chúng Bùi Hữu ðoàn (2009)[13] cho biết, khi chiếu tia cực tím từ 5 - 8 phút/ngày làm tăng khối lượng cở thể từ

115 g/con- 172 g/con, còn chiếu tia cực tím trên 11 phút/ngày thì có tác dụng ngược lại làm giảm tốc ñộ sinh trưởng, giảm chỉ số sản xuất

Trang 20

* Ảnh hưởng của ẩm ñộ không khí

Ẩm ñộ cũng là một tác nhân ảnh hưởng ñến sinh trưởng của gia cầm Trong mọi ñiều kiện của thời tiết, nếu ẩm ñộ không khí cao ñều bất lợi cho gia súc, gia cầm Nhiệt ñộ thấp mà ẩm ñộ cao làm tăng khả năng dẫn nhiệt, gia cầm con dễ mất nhiệt gây cảm lạnh và ngược lại nhiệt ñộ nhiệt ñộ cao, ẩm

ñộ cao làm quá trình thải nhiệt khó khăn dẫn ñến cảm nóng

Ẩm ñộ không khí cùng với nhiệt ñộ môi trường luôn là những tác nhân chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp ñến tiểu khí hậu chuồng nuôi, từ ñó ảnh hưởng ñến hoạt ñộng sống hàng ngày của cơ thể gia cầm qua các giai ñoạn

* Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng

Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, ñặc biệt là giai ñoạn gà con và giai ñoạn sinh sản cho nên chế ñộ chiếu sáng là vấn ñề cần quan tâm Thời gian và cường ñộ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo ñiều kiện thuận lợi cho gia cầm ăn, uống, vận ñộng ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng

Bùi ðức Lũng và Lê Hồng Mận (1995)[28] cho biết, gà broiler cần ñược chiếu sáng 23giờ/ngày khi nuôi trong nhà kín (môi trường nhân tạo) Kết quả thí nghiệm 1 - 2 giờ chiếu sáng sau ñó 2 - 4 giờ không chiếu sáng cho kết quả tốt, gà lớn nhanh, chi phí thức ăn giảm

* Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc

Trong chăn nuôi gia cầm ñang gặp phải vấn ñề rất nan giải, ñó là ñiều kiện khí hậu không thuận lợi, nhất là ñối với các giống nhập nội có nguồn gốc

ôn ñới Khí hậu nước ta thuộc loại nhiệt ñới gió mùa, trong quá trình chăn nuôi, có rất nhiều tác nhân khí hậu ảnh hưởng xấu ñến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt ñộ, ẩm ñộ không khí, ánh sáng cho nên cần phải tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu nhằm hạn chế ñến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường Sự biến ñổi của tiểu khí hậu trong chuồng nuôi về vật lý (nhiệt ñộ, ẩm ñộ, gió, bụi, ánh sáng ) cũng như hóa học (nồng ñộ cacbonic, amoniac ) và vi sinh sật khác, khác xa so với không khí ngoài tự nhiên

Trang 21

Khi tiểu khí hậu chuồng nuôi không ñảm bảo sẽ làm giảm sự thu nhận thức ăn của gia cầm Với ñiều kiện khí hậu nước ta, việc quan tâm nhằm làm giảm tác ñộng bởi stress nhiệt trong ñiều kiện nóng là quan trọng hơn cả Trước hết là vị trí chuồng, hướng chuồng, trần nhà Thay ñổi khẩu phần ăn, cũng như bổ sung thêm vitamin C, khoáng vào nước uống ñều có lợi cho chống nóng Việc bổ sung vitamin C và bicarbonat cũng có tác dụng tốt khi nuôi gà trong thời tiết nóng Lã Văn Kính (2000)[23] cho biết, cung cấp thêm 300 - 500 gam vitamin C/1 tấn thức ăn có thể giúp tăng sức chống nóng cho gà

Mật ñộ nuôi cũng là một vấn ñề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả và năng suất chăn nuôi gia cầm Mật ñộ nuôi thưa gây lãng phí lao ñộng, lãng phí chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp Mật ñộ nuôi cao không hợp lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng nuôi

2.2.1.3 Cách ñánh giá khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trính sinh lý phức tạp, khá dài từ lúc thụ tinh ñến khi trưởng thành ðể ñánh giá khả năng sinh trưởng, người ta thường dùng các chỉ số sinh trưởng tích luỹ, sinh trưởng tuyệt ñối, sinh trưởng tương ñối

Sinh trưởng tích lũy (khối lượng cơ thể): là khối lượng, kích thước, thể

tích tích lũy ñược trong một ñơn vị thời gian, thu ñược qua các lần cân, ño

ðồ thị sinh trưởng tích lũy có dạng chữ S

Trong chăn nuôi gia cầm, người ta thường xác ñịnh khối lượng cơ thể theo từng tuần tuổi, từ ñó vẽ ñược ñồ thị sinh trưởng tích luỹ, ñó chính là ñường cong sinh trưởng

Theo tài liệu của Chambers (1990)[71] ñường cong sinh trưởng của gà thịt có 4 ñặc ñiểm chính, gồm 4 pha:

- Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc ñộ nhanh sau khi nở

- ðiểm uốn của ñường cong tại thời ñiểm có tốc ñộ sinh trưởng cao nhất

- Pha sinh trưởng có tốc ñộ giảm dần sau ñiểm uốn

Trang 22

ðường cong sinh trưởng không chỉ sử dụng ñể chỉ rõ về số lượng mà còn làm rõ về chất lượng, chỉ ra sự sai khác giữa các dòng, các giống, tính biệt, ñiều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, môi trường

ðối với gà ñẻ trứng sinh trưởng tích lũy liên quan chặt chẽ ñến khả năng sinh sản của gà ở giai ñoạn ñẻ trứng Nếu khối lượng cơ thể nhỏ thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn thì tiêu tốn thức ăn tăng

Sinh trưởng tuyệt ñối: Là sự tăng lên về khối lượng, kich thước, thể tích

của cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN2.40.1997) [60] Sinh trưởng tuyệt ñối thường ñược tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần ðồ thị sinh trưởng tuyệt ñối có dạng parapol, giá trị sinh trưởng tuyệt ñối càng cao thì có hiệu quả kinh tế lớn

Sinh trưởng tương ñối: là tỷ lệ % tăng lên của khối lượng co thể và thể

tích cơ thể, lúc kết thúc khảo sát so với lúc ban ñầu khảo sát (TCVN2.40.1997) [60] ðồ thị sinh trưởng tương ñối có dạng hypebol

2.2.2 Khả năng cho thịt của gia cầm

Sức sản xuất thịt của gia cầm là chỉ tiêu và yếu tố quan trọng nhất ñối với gia cầm nuôi thịt Khả năng cho thịt của gia cầm là khả năng tạo nên khối lượng cơ thể ñến tuổi giết thịt Khả năng này của từng giống, dòng là khác nhau Và phụ thuộc vào nhiều yếu tố ñó là ñặc ñiểm ngoại hình, khối lượng cơ thể, tốc ñộ tăng khối lượng, chế ñộ dinh dưỡng, khả năng hấp thụ thức ăn, Khả năng sản xuất thịt ñược biểu hiện thông qua 2 chỉ tiêu ñó là năng suất thịt và chất lượng thân thịt

- Năng suất thịt

Năng suất thịt ñược biểu thị thông qua các chỉ tiêu như khối lượng sống, khối lượng và tỷ lệ phần ăn ñược, khối lượng và tỷ lệ thân thịt, khối lượng và tỷ lệ thịt ñùi, khối lượng và tỷ lệ thịt ngực

Ở gia cầm, khối lượng thân thịt chiếm khoảng 64% (trong ñó có 52% là thịt và 12% là xương), phủ tạng chiếm 6%, máu, lông, ñầu, chân chiếm 17%

và tỷ lệ hao hụt chiếm khoảng 13% (Trần Thị Mai Phương, 2004)[43]

Trang 23

Năng suất thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà trước hết ñó là giống, dòng, tính biệt, tốc ñộ sinh trưởng, chế ñộ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt ñộ

Chambers (1990)[71] cho biết, các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần thịt như thịt ngực, thịt ñùi và từng phần thịt còn lại

Kosba, et al (1995)[78] cho biết, hệ số di truyền tuyệt ñối của thịt xẻ theo

bố là 0,19-0,22; theo mẹ là 1,02-1,09 và theo cả bố và mẹ là 0,6-0,66

Knust.U, Pingel.H, (1996)[77] cho biết, thành phần của thịt xẻ bị ảnh hưởng của môi trường khá lớn, khi nhiệt ñộ môi trường cao thì tỷ lệ mỡ của thịt xẻ thấp, tỷ lệ phần thịt ăn ñược giảm, chất lượng cơ kém

Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1977)[38] cho biết, mối tương quan giữa khối lượng sống với khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống với khối lượng mỡ bụng thấp hơn (0,2-0,5)

Trần Công Xuân và cộng sự (1995)[67]) cho biết, năng suất thịt còn liên quan ñến chế ñộ dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y

- Chất lượng thịt:

Thịt gia cầm nói chung và bồ câu nói riêng ñược mọi người ưa thích vì chúng thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao Tuy vậy không chỉ ñánh giá chất lượng thịt thông qua cảm quan mà chất lượng thịt phải ñược phản ánh thông qua các thành phần hóa học, sinh học và một số chỉ tiêu sinh hóa, hóa học của thịt Các chỉ tiêu ñánh giá thường là hàm lượng vật chất khô, hàm lượng protein, tỷ lệ mỡ, tỷ lệ chất khoáng, Ngoài ra có thể nhận biết chất lượng thịt thông qua cảm quan như màu sắc, ñộ ñàn hồi, ñộ mịn, ñộ dai chắc của sợi cơ Có thể cải thiện chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ

Trang 24

việc chọn lọc, lai tạo ñến việc áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế ñộ dinh dưỡng, chăm sóc và kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt

So với các loại gia cầm khác, thịt chim bồ câu mềm hơn do những sợi

cơ của chim rất mỏng, các tổ chức liên kết giữa chúng nhỏ hơn Trần Công Xuân và cộng sự (1998)[64] cho biết, thành phần hóa học của thịt các dòng chim bồ câu tương ñương nhau

Chambers (1990)[71] khi xác ñịnh thành phần thân thịt của gà Cornish

và Plymouth Rock cùng con lai của chúng cho thấy thịt của các dòng gà khác nhau có sự khác nhau về hàm lượng nước, protein, mỡ

Cũng theo Chambers (1990)[71], giữa các dòng luôn có sự khác nhau

di truyền về năng suất thịt xẻ, hay năng suất các phần thịt như thịt ñùi, thịt ngực, cánh, chân hay phần thịt ăn ñược và từng phần thịt, da, xương

Các tính trạng về sinh trưởng và khả năng cho thịt ñều là các tính trạng

về số lượng và mang ñặc trưng chung của tính trạng số lượng Chúng ta có thể cải thiện năng suất và chất lượng thịt bằng nhiều biện pháp khác nhau từ việc chọn lọc, lai tạo ñến việc áp dụng các phương thức chăn nuôi khác nhau, chế

ñộ dinh dưỡng, chăm sóc và kể cả việc phương pháp giết mổ, bảo quản thịt

2.2.3 Cơ sở khoa học về tiêu tốn thức ăn

Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn ñể ñạt ñược tốc ñộ tăng trọng ðây là chỉ tiêu hết sức quan trọng trong chăn nuôi, vì chỉ tiêu này có liên quan chặt chẽ tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gia cầm nói riêng và chăn nuôi nói chung

Chi phí thức ăn trong chăn nuôi gia cầm thường chiếm 60 - 70% giá thành sản phẩm, vì vậy tiêu tốn thức ăn trên một ñơn vị sản phẩm càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

Chambers và cộng sự (1984)[70] cho biết, hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5-0,9) Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là âm và thấp từ (r = -0,2

Trang 25

ñến -0,8) Box và Bohren (1995)[69], Willson (1969)[84] ñã xác ñịnh hệ số tương quan giữa khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hóa thức ăn từ 1-4 tuần tuổi là r = +0,5

ðối với gia cầm nuôi thịt thì tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng phụ thuộc vào tốc ñộ sinh trưởng, ñộ tuổi Giai ñoạn ñầu tiên tiêu tốn thức ăn thấp, càng về sau thì tiêu tốn thức ăn càng cao hơn ðối với chim bồ câu tiêu tốn thức ăn tính trên cặp/ ngày hoặc tiêu tốn thức ăn/ñôi chim ra ràng

ðối với gia cầm sinh sản, thường tính tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng hoặc cho 1kg trứng Tiêu tốn thức ăn là chỉ tiêu quan trọng do ñó nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố mà trước hết là giống, dòng, tính biệt, phương thức nuôi, chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khỏe,

Trần Công Xuân và cộng sự (1998)[62] cho biết, tiêu tốn thức ăn cho

1 ñôi chim bồ câu trong 1 ngày là 119g/con/ngày; tiêu tốn thức ăn/ñôi/lứa

là 4,89kg Tiêu tốn thức ăn/cặp/năm là 43,2kg (Trần Công Xuân và cộng

sự, 1996 [63])

2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KHẢ NĂNG SINH SẢN

2.3.1 Sinh lý sinh sản ở gia cầm

Gia cầm là loài ñẻ trứng Buồng trứng nằm ở phía trái của khoang bụng, về phía trước và hơi thấp hơn thận trái, ñược ñỡ bằng các nếp gấp của màng bụng từ trên xuống Nhiều tác giả ñã nghiên cứu và cho rằng, ở gia cầm trong quá trình phát triển của phôi thai thì bên trái và bên phải ñều có buồng trứng phát triển, nhưng sau khi nở ra buồng trứng bên phải teo ñi chỉ còn buồng trứng bên trái Kích thước và hình dạng buồng trứng phụ thuộc vào trạng thái chức năng và tuổi của gia cầm Trong buồng trứng của gia cầm số lượng tế bào trứng khá nhiều nhưng chỉ có một số ít phát triển ñến giai ñoạn trứng chín

Trang 26

Trứng chín ñi vào phễu và các phần của ống dẫn trứng, nhưng ở gia cầm không hình thành hoàng thể và ñó là sự khác biệt so với các loài ñộng vật có vú

và ñiều này có liên quan ñến khả năng kéo dài thời kỳ ñẻ trứng của gia cầm

Sự rụng trứng ở gia cầm xảy ra một lần trong ngày Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng trệ sự rụng trứng tiếp theo Nếu lấy trứng ra khỏi tử cung, thì cũng không làm tăng nhanh sự rụng trứng ñược Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: ñiều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc, lứa tuổi và trạng thái sinh lý của gia cầm việc nuôi dưỡng kém, không ñủ ánh sáng và nhiệt ñộ không khí trong chuồng cao cũng làm chậm sự rụng trứng và

ñẻ trứng Người ta ñã biết ñược mối liên quan giữa việc rụng trứng và chế ñộ ngày chiếu sáng Nếu nuôi gia cầm ban ngày trong nhà tối, còn ban ñêm cho ánh sáng nhân tạo, thì sự rụng trứng và ñẻ trứng sẽ chuyển sang ban ñêm Sự rụng trứng ở chim chịu sự ñiều khiển của các nhân tố hocmon Các hocmon FSH và LH kích thích sự sinh trưởng và sự chín của các tế bào sinh dục trong buồng trứng

Bộ máy sinh dục gia cầm trống bao gồm tinh hoàn và phần phụ Ở bồ câu, sự phát triển của cơ quan sinh dục ñực xảy ra chủ yếu vào tuổi từ 3 tháng rưỡi tới 5 tháng tuỳ theo giống và mùa Các cơ quan sinh dục bắt ñầu hoạt ñộng và có thể nhận biết rõ từ lúc 4,5 ñến 5 tháng Cơ quan sinh dục chim bồ câu trống và mái giảm về kích cỡ và giảm sự hoạt ñộng trong thời kỳ ấp trứng

và sản sinh “sữa” diều ñể nuôi con Và vào mùa sinh sản, cơ quan sinh dục phát triển trở lại

2.3.2 Năng suất trứng của gia cầm

Năng suất trứng là một chỉ tiêu quan trọng nhất ñối với con mái và là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật nhằm ñánh giá hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm sinh sản

Năng suất trứng là một tính trạng di truyền số lượng, có hệ số di truyền không cao, có biên ñộ dao ñộng lớn Nguyễn Văn Thiện (1995) [47], hệ số di truyền năng suất trứng gia cầm là 12-30%

Trang 27

Ở chim bồ câu do đặc trưng của giống vẫn giữ nguyên bản năng ấp trứng và nuơi con quanh năm, do đĩ sức đẻ trứng phụ thuộc rất nhiều vào yếu

tố di truyền Ở các giống chim được chọn lọc cho năng suất trứng cao thì khoảng cách giữa các lứa đẻ ngắn, chim bố mẹ vừa ấp trứng vừa nuơi con

Sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau:

di truyền cá thể, tuổi, giống, dịng gia cầm, chế độ dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh

- Các yếu tố di truyền cá thể

Cĩ 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của chim là tuổi thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học và tính ấp bĩng

+ Tuổi thành thục sinh dục

Tuổi thành thục sinh dục liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Thành thục sớm là một tính trạng mong muốn Tuy nhiên cần phải chú ý đến khối lượng cơ thể Tuổi bắt đầu đẻ và kích thước cơ thể cĩ tương quan nghịch Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng sẽ làm tăng khối lượng cơ thể gia cầm và tăng tuổi thành thục sinh dục Tuổi thành thục của bồ câu Pháp là 5-6 tháng, bồ câu nội là 6-8 tháng tuổi

+ Cường độ đẻ trứng

Cường độ đẻ trứng là năng suất trứng của gia cầm trong một thời gian ngắn Cường độ đẻ trứng tương quan chặt chẽ với năng suất trứng một năm, nhất là cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đẻ đầu Vì vậy để đánh giá năng suất trứng của gia cầm người ta thường kiểm tra cường độ đẻ trứng của 3 - 4 tháng đẻ đầu để cĩ những phán đốn sớm, kịp thời trong cơng tác chọn giống + Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học

Chu kỳ đẻ trứng của gia cầm được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ để thay lơng Ở gà, chu kỳ này thường kéo dài 1

Trang 28

trứng sinh học có mối tương quan thuận với tắnh thành thục sinh dục, nhịp ựộ

ựẻ trứng, sức bền ựẻ trứng và chu kỳ ựẻ trứng Giữa sự thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ ựẻ trứng sinh học có tương quan nghịch rõ rệt

Giữa thời gian kéo dài ựẻ trứng và sức sản xuất trứng có hệ số tương quan dương rất cao Lerner và Taylor (1943)[79] cho rằng, thời gian kéo dài chu kỳ ựẻ trứng là yếu tố quyết ựịnh năng suất trứng

Sau mỗi chu kỳ ựẻ trứng sinh học gia cầm thường nghỉ ựẻ và thay lông Trong ựiều kiện bình thường, thay lông lần ựầu tiên là ựặc ựiểm quan trọng ựể ựánh giá gia cầm ựẻ tốt hay xấu Những gia cầm thay lông sớm thường ựẻ kém và thời gian thay lông kéo dài 4 tháng Ngược lại, nhiều gia cầm thay lông muộn và nhanh, thời gian nghỉ ựẻ dưới 2 tháng

+ Tắnh ấp bóng

Tắnh ấp bóng chắnh là bản năng ấp trứng tự nhiên, ựây là phản xạ không ựiều kiện nhằm duy trì nòi giống, liên quan ựến sức ựẻ trứng của gia cầm Tắnh ấp có ảnh hưởng ựến năng suất trứng, vì khi ấp thì gia cầm nghỉ ựẻ

Ở các giống gia cầm khác và chim cút thường tiến hành chọn lọc ựể loại bỏ bản năng ựòi ấp sẽ nâng cao sức ựẻ trứng Tắnh ấp bóng của bồ câu lại cực kỳ quan trọng, vì bồ câu mẹ phải ấp trứng, nuôi con bằng ỘsữaỢ nên không thể loại bỏ ựặc tắnh sinh học này của chúng

- Tuổi gia cầm:

Tuổi gia cầm cũng có liên quan ựến sản lượng trứng, năng suất trứng giảm dần theo tuổi Ở chim cút, sản lượng trứng năm thứ hai giảm 15 -20% nên người ta chỉ nuôi ựẻ 1 năm Bồ câu ựẻ theo lứa và tương ựối ổn ựịnh trong 4-5 năm ựầu, sau ựó thì bắt ựầu giảm xuống

Trần đình Miên và cộng sự (1995)[36] cho biết, quy luật ựẻ trứng của gia cầm thay ựổi theo tuổi và có sự khác nhau giữa các loài

Trang 29

- Thức ăn và dinh dưỡng

Nếu khẩu phần không ñảm bảo nhu cầu về protein, năng suất trứng và khối lượng trứng sẽ giảm Khẩu phần không ñảm bảo nhu cầu về vitamin và khoáng không những làm giảm năng suất trứng mà còn ảnh hưởng rõ rệt ñến kết quả ấp nở Tỷ lệ trứng không có phôi sẽ tăng cao hơn Khẩu phần thừa năng lượng làm cho gia cầm tĩch luỹ nhiều mỡ trong cơ thể cũng ảnh hưởng tới quá trình tạo trứng thông qua hoạt ñộng của các hocmon sinh dục không bình thường

Thức ăn chất lượng kém sẽ không thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm Các loại thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm ñộc các kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật v.v Bảo quản thức ăn không tốt cũng sẽ không phát huy ñược tác dụng trong chăn nuôi gia cầm

- ðiều kiện ngoại cảnh

Các ñiều kiện ngoại cảnh như thời tiết, khí hậu: nhiệt ñộ, ñộ ẩm, ánh sáng… của chuồng nuôi ñều ảnh hưởng ñến sức ñẻ trứng của gia cầm Trong các yếu tố này thì nhiệt ñộ là yếu tố quan trọng nhất Nhiệt ñộ thấp quá hay cao quá ñều không có lợi cho gia cầm và làm giảm sức ñẻ trứng Nhiệt ñộ môi trường cao không những làm giảm năng suất trứng mà còn giảm chất lượng trứng: vỏ trứng mỏng hơn bình thường, nhiều trứng ñẻ ra không có vỏ ñá vôi

ðộ ẩm của không khí trong chuồng nuôi tốt nhất là 65 - 70%, về mùa ñông, ñộ ẩm không nên vượt quá 80% Sự thông thoáng tốt không chỉ giúp ñảm bảo ñộ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi mà còn ñẩy các khí ñộc ra ngoài, ñảm bảo một môi trường sống phù hợp

Ánh sáng không những chỉ ảnh hưởng ñến thời gian rụng trứng, mà còn ảnh hưởng ñến sự thành thục và hoạt tính chung của các cơ quan tạo trứng

Chim bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng Sự ñẻ trứng chỉ phụ thuộc vào

Trang 30

sáng Bản năng ấp trứng của bồ câu phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu là 13 giờ Do ựó chuồng trại thiết kế thoáng ựảm bảo cung cấp

ựủ ánh sáng cho chim Tuy nhiên, ở miền Bắc, ban ngày mùa ựông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng ựèn 40W chiếu sáng thêm vào ban ựêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường ựộ 4-5W/m2 nền chuồng với thời gian 3-4h ngày Trong thời kỳ hậu bị, cần hạn chế thời gian chiếu sáng ựể chim không bị thành thục quá sớm

Tình trạng sức khoẻ chung của cả ựàn có ảnh hưởng tới sản lượng trứng Chim mắc bệnh truyền nhiễm và nhiều loại ký sinh trùng sẽ làm giảm

số lượng cũng như chất lượng trứng

2.3.3 Tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên

đây là chỉ tiêu ựánh giá sự thành thục của gia cầm Theo Brandsch.A and Biilchel.H (1978)[1] thì hệ số di truyền tắnh trạng tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên của gà từ 0,15-0,14 Giữa tuổi thành thục sinh dục và khối lượng cơ thể

có mối tương quan nghịch

Gudel và Lele (trắch dẫn của Phan Cự Nhân và cộng sự, 1972[41]) cho biết, sự thành thục sớm hay muộn có sự liên quan chặt chẽ ựến sự tăng lên về khối lượng cơ thể ở một thời ựiểm nhất ựịnh, những gia cầm giống bé, khối lượng cơ thể nhẹ phần lớn ựẻ sớm hơn, tuổi ựẻ phụ thuộc vào chế ựộ chăm sóc nuôi dưỡng, chế ựộ chiếu sáng Nếu giai ựoạn dò, hậu bị gia cầm ựược nuôi quá béo thì sẽ ựẻ muộn và kém

Nguyễn Văn Thạch, 1996 [46], tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên của gà Ri là

135 - 144 ngày; gà đông Tảo là 157 ngày (Phạm Thị Hòa, 2004) [17]; gà Mắa

là 174 ngày (Nguyễn Văn Thiện và Hoàng Thanh, 1999) [48]

Tuổi ựẻ quả trứng ựầu tiên phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài yếu tố di truyền ựó là chế ựộ chăm sóc, nuôi dưỡng trong giai ựoạn hậu bị

Byerly và Knox dùng các thắ nghiệm chứng minh rằng, thời gian bắt ựầu thành thục sinh dục ở gà mái tơ vào lúc ựẻ quả trứng ựầu tiên, phần lớn

Trang 31

tuỳ thuộc vào ngày dài hay ngắn Mái tơ nở ra sau ngày 18 tháng tư bắt ñầu

ñẻ trứng chậm hơn những mái nở vào quãng 21 tháng ba ñộ ba tuần, vì ở những gà ñẻ muộn phần lớn thời gian sinh trưởng nằm vào thời gian ngày ngắn trong năm

Muốn gia cầm có sức ñẻ bền, ñẻ trứng tốt ñể ñạt sản lượng trứng cao thì tuổi thành thục phải phù hợp với khối lượng chuẩn của giống, do vậy người ta phải khống chế khối lượng gia cầm bằng phương pháp cho ăn hạn chế về dinh

Ở chim bồ câu nội thường ñẻ quả trứng ñầu tiên vào lúc 6 tháng tuổi

2.3.4 Cường ñộ ñẻ trứng

Cường ñộ ñẻ trứng là sức ñẻ trứng của gia cầm trong thời gian nhất ñịnh Cường ñộ ñẻ trứng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm ñẻ bình quân trong một giai ñoạn là một tuần hoặc một tháng Cường ñộ ñẻ trứng có tương quan dương (+) và rất chặt chẽ với sản lượng trứng Sản lượng trứng còn phụ thuộc vào ñặc ñiểm của cá thể và tuổi ñẻ Trong một ñiều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất ñẻ trứng của các cá thể khác nhau có thể sai khác từ 30 - 50%

so với chỉ tiêu trung bình của toàn ñàn Khả năng ñẻ trứng cao nhất của gia cầm là vịt, sau ñó là gà và ngan, thấp nhất là chim bồ câu Chim bồ câu tùy thuộc vào giống, một năm chỉ ñẻ từ 12 - 20 quả (tương ứng với 6 - 10 lứa ñẻ trong năm) Sức ñẻ trứng còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: Tuổi ñẻ, mùa vụ, chế ñộ dinh dưỡng và ñiều kiện chăm sóc

2.3.5 Tỷ lệ thụ tinh và ấp nở

* Tỷ lệ thụ tinh

Tỷ lệ thụ tinh là tỷ lệ phần trăm giữa số trứng có phôi với số trứng ñẻ ra hay số trứng ñem ấp ðây là chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá về khả năng sinh sản của con gia cầm

- Những yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ tinh:

+ Yếu tố di truyền

Trang 32

Kỹ thuật nhân giống cũng ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ tinh Nếu cho giao phối ñồng huyết sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh

+ Yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng của ñàn bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp ñến tỷ lệ thụ tinh Nếu khẩu phần thiếu protein, phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì ñây là nguyên liệu cơ bản ñể hình thành tinh trùng Nếu thiếu các vitamin, ñặc biệt là vitamin A, E sẽ làm cho cơ quan sinh dục phát triển không bình thường, ảnh hưởng xấu ñến khả năng sinh tinh và các hoạt ñộng sinh dục, làm giảm tỷ lệ thụ tinh

Khẩu phần cần phải cân bằng các chất dinh dưỡng, nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng giữa các axit amin, cân bằng giữa các nhóm chất dinh dưỡng khác nhau

+ ðiều kiện ngoại cảnh

ðiều kiện ngoại cảnh mà cụ thể là tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt ñộ, ñộ

ẩm, sự thông thoáng và chế ñộ chiếu sáng) là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ tinh Nhiệt ñộ và ñộ ẩm cao hay thấp hơn so với quy ñịnh ñều ảnh hưởng ñến tỷ lệ thụ tinh ở các mức khác nhau thông qua quá trình trao ñổi chất của cơ thể gia cầm

Tỷ lệ thụ tinh của gia cầm thường cao vào mùa xuân và mùa thu, giảm vào mùa hè, nhất là vào những ngày nắng nóng Khi ñộ ẩm chuồng nuôi quá cao, thường làm lớp ñộn chuồng ẩm ướt, gà trống dễ mắc bệnh ở chân, làm tỷ

lệ thụ tinh giảm thấp Mặt khác, ñộ ẩm cao sẽ làm gà dễ mắc các bệnh ñường ruột, ñường hô hấp Chuồng thông thoáng kém, hàm lượng khí ñộc trong chuồng nuôi tăng lên, ảnh hưởng xấu ñến sức khỏe và làm giảm tỷ lệ thụ tinh

Trang 33

ñầu có hiện tượng suy thoái sau 48 tuần tuổi Vì thế gà trống một năm tuổi thường có tỷ lệ thụ tinh tốt hơn gà trống hai năm tuổi

+ Tỷ lệ trống /mái

ðể có tỷ lệ thụ tinh cao, cần có tỷ lệ trống/ mái thích hợp Tỷ lệ này cao hay thấp quá ñều làm giảm tỷ lệ thụ tinh Các loài, giống gia cầm khác nhau thì tỷ lệ trống và mái cũng khác nhau (ñà ñiểu 1/1- 1/2;

bồ câu 1/1; chim cút 1/2- 2,5)

* Tỷ lệ ấp nở

Tỷ lệ ấp nở của gia cầm ñược xác ñịnh bằng tỷ lệ (%) số con nở ra so với số trứng có phôi, ñây là tính trạng ñầu tiên biểu hiện sức sống của ñàn con Nguyễn Quý Khiêm và cộng sự (1999)[22] cho rằng, khối lượng trứng, sự cân ñối giữa thành phần cấu tạo và cấu trúc của vỏ trứng ảnh hưởng ñến tỷ lệ ấp

nở Những quả trứng quá to hay quá nhỏ ñều có khả năng nở kém hơn quả trứng có kích thước trung bình ðiều này có liên quan tỷ lệ thành phần cấu tạo của trứng

Tỷ lệ ấp nở là chỉ tiêu ñánh giá khả năng phát triển của phôi và sức sống của gia cầm con Nhiều yếu tố ảnh hưởng ñến tỷ lệ nở như: di truyền, giống, tuổi, trạng thái sức khỏe, tỷ lệ trống mái, nuôi dưỡng chăm sóc, khối lượng trứng và chất lượng trứng, vệ sinh thú y,bảo quản, vận chuyển trứng, quy trình ấp trứng (nhiệt ñộ, ẩm ñộ, thông thoáng, ñảo trứng có ý nghĩa quyết ñịnh ñến tỷ lệ nở) Ở chim bồ câu vẫn duy trì bản năng ấp trứng và nuôi con do ñó tỷ

lệ nở phụ thuộc nhiều vào bản năng ấp trứng của chim bồ câu bố và mẹ

2.3.6 Những chỉ tiêu ñánh giá chất lượng trứng

ðể ñánh giá chất lượng trứng, người ta thường dùng các chỉ tiêu bên ngoài như màu sắc vỏ, khối lượng trứng, chỉ số hình thái trứng và các chỉ tiêu bên trong như chỉ số lòng ñỏ, chỉ số lòng trắng, ñơn vị Haugh Riêng chất lượng vỏ trứng vừa là chỉ tiêu bên ngoài (ñộ chịu lực), vừa là chỉ tiêu bên

Trang 34

Hệ số di truyền về trứng khá cao nên việc chọn lọc ñịnh hướng ñển năng cao khối lượng trứng sẽ có hiệu quả cao hơn Hệ số di truyền về khối lượng trứng thường cao hơn hệ số di truyền về sản lượng trứng Hệ số di truyền của tính trạng khối lượng trứng từ 0,48-0,80 (Brandsch.A, Billchel

H, 1978)[1] Nguyễn Văn Thiện (1995)[47] cho biết, hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà từ 0,6%-0,74

Kết quả nghiên cứu của các tác giả: Pingel và cộng sự (1996)[81], Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tào (1985)[52] thì khối lượng trứng có tương quan

âm (-) với sản lượng trứng và tương quan r nằm trong khoảng -0,33 ñến -0,36 trong khi ñó khối lượng và tuổi ñẻ quả trứng ñầu tiên và khối lượng cơ thể có tương quan dương (+) và hệ số tương quan r tương ứng là + 0,35: + 0,31

Ngoài các yếu tố di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiếu yếu tố ngoại cảnh khác như: thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Ảnh hưởng của dinh dưỡng ñến khối lượng trứng của gia cầm cũng rất rõ rệt: khi thiếu protein có ảnh hưởng ñáng kể ñến khối lượng trứng Các nghiên cứu trên khẩu phần ăn của gà mái ñẻ cho thấy khi thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả hai loại axit amin thiết yếu này thì ñều ảnh hưởng tỷ lệ lòng ñỏ trong khi thiếu methionine lại ảnh hưởng chủ yếu ñến

Trang 35

lòng trắng Trong cùng một giống, một dòng nhóm trứng có khối lượng lớn nhất hoặc bé nhất ñều cho tỷ lệ nở thấp

2.3.6.2 Hình dạng của trứng

Hình dạng trứng của các loài, giống chim khác nhau thì khác nhau và phụ thuộc vào ñặc ñiểm di truyền Nó còn phụ thuộc vào cấu tạo của ống dẫn trứng và ñặc ñiểm co bóp của nó trong quá trình tạo trứng

Hình dạng trứng còn là căn cứ ñể ñánh giá chất lượng trứng dựa theo chỉ số hình dạng Chỉ số này ở gà dao ñộng trong khoảng 1,33 - 1,67 và trung bình là 1,32; ở trứng vịt trung bình là 1,30 dao ñộng từ 1,20 - 1,58; trứng chim có “hình trứng”, một ñầu tù và một ñầu nhọn và nó có chỉ số hình dạng biến thiên trong khoảng 1,10 - 1,45, trung bình là 1,30 Chỉ số hình dạng trứng không chỉ có ý nghĩa trong vận chuyển, bảo quản mà còn liên quan ñến tỷ

lệ ấp nở Những trứng có chỉ số hình dạng xung quanh trị số trung bình của dòng, giống thì có tỷ lệ nở tốt nhất Trứng có chỉ số hình dạng càng xa trị số trung bình thì tỷ lệ nở càng kém hơn Ngô Giản Luyện (1994)[29] cho biết, chỉ

số hình dạng ảnh hưởng ñến vị trí của ñĩa phôi khi ấp và là căn cứ ñể ñánh giá chất lượng bên trong của trứng

Sarenke (1978) (dẫn theo Vũ Quang Ninh,2002 [42]) cho rằng, chỉ số hình dạng của trứng là chỉ tiêu cơ bản ñể ñánh giá tỷ lệ ấp nở và ñộ bền vững của vỏ trứng, nếu trứng ñồng ñều thì quá trình phát triển của phôi sẽ ñồng ñều,

số gia cầm nở ra cùng một thời ñiểm nhiều, nếu kích thước trứng không ñều thì những trứng nhỏ phôi phát triển nhanh hơn những trứng có kích thước lớn

Nguyễn Quý Khiêm (1996) [22] cho biết, chỉ số hình dạng trứng gà Tam Hoàng trung bình 1,24 - 1,39 cho tỷ lệ nở cao hơn nhóm có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên ñộ này

Trong khâu lựa chọn trứng ấp cần phải loại bỏ những trứng có hình dạng không bình thường (trứng dị hình) như: trứng vỏ mềm, trứng hai lòng

Trang 36

2.3.6.3 Chất lượng vỏ trứng

Chất lượng vỏ trứng ñược ñánh giá thông qua các chỉ tiêu như: ñộ dày

vỏ, ñộ chịu lực hay ñộ bền và mật ñộ lỗ khí ðộ dày cần thiết của vỏ trứng có vai trò lớn trong khi ấp trứng và tránh khỏi bị dập vỡ khi thao tác ñóng gói, vận chuyển, ấp trứng Nếu vỏ quá mỏng thì trứng vừa dễ vỡ, vừa không ñáp ứng ñược các chất khoáng ñể phôi phát triển Nếu vỏ quá dầy thì làm cho quá trình hô hấp của phôi bị cản trở và khó nở

ðộ dày vỏ trứng biến ñộng trong khoảng 0,1 - 0,6 mm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất là hàm lượng canxi, phôtpho và vitamin D trong khẩu phần cũng như mùa vụ trong năm ðộ dày vỏ trứng ở chim bồ câu là 0,10 - 0,15mm, chim cút là 0,32 - 0,35 mm, ở trứng gà là 2,0 - 2,5 mm

Hệ số di truyền ñộ dày của vỏ trứng là 0,3 (Nguyễn Văn Thiện (1995) [47]) Nguyễn Quý Khiêm (1996) [22] cho biết, trứng gà Tam Hoàng có ñộ dày vỏ trung bình 0,34 - 0,37 mm, ñộ chịu lực ñạt 3,47kg/cm2; trứng gà Lương Phượng Hoa ở 38 tuần tuổi có ñộ dày vở trung bình 0,35mm và ñộ chịu lực 4,46kg/cm2 (Nguyễn Huy ðạt và cộng sự, 2001 [7])

Màu sắc trứng không có ý nghĩa lớn trong ñánh giá chất lượng trứng, nhưng có giá trị trong thương mại và kỹ thuật Brandsh.A và Billchel.H (1978)[1] cho biết, hệ số di truyền của màu vỏ trứng là 0,55-0,75 Do ñó có thể tạo gia cầm ñẻ trứng vỏ màu bằng cách chọn lọc những gia cầm có màu

vỏ trứng như mong muốn theo quá trình chọn lọc

Mật ñộ lỗ khí có ý nghĩa quan trọng khi ấp trứng Trong thời kỳ phôi phát triển, sự trao ñổi khí giữa phôi và môi trường qua những lỗ khí này Khi

ấp trứng, phôi có thể bị chết nếu số lỗ khí/ 1 cm2 ít hoặc các lỗ khí quá hẹp,

vỏ quá dày Vào cuối thời kỳ ấp, sự giảm khối lượng trứng do bốc hơi nước

có vai trò quan trọng Nếu vỏ trứng có quá nhiều lỗ khí và ñộ ẩm không khí trong máy ấp thấp thì sẽ có ảnh hưởng bất lợi ñối với phôi do mất nước quá

Trang 37

nhiều Ở ñầu nhọn của trứng, mật ñộ lỗ hơi ít hơn, còn ở ñầu tù thì nhiều hơn

so với phần giữa của trứng Trung bình, có 100-150 lỗ khí/1cm2

2.3.6.4 Chất lượng lòng trắng

Lòng trắng chiếm 50,2 - 57,0% khối lượng trứng; tỷ trọng từ 1,039 - 1,042; pH từ 7,9 - 8,6 (thay ñổi theo thời gian bảo quản trứng) Lòng trắng của trứng bao gồm lòng trắng loãng và lòng trắng ñặc, ñược cấu tạo chủ yếu

là Albumin, một số khoáng chất và nước Nhìn bằng mắt thường trứng tươi sẽ

có màu trắng lòng hơi vàng, trong khi ñó những quả trứng ñể lâu thì màu lòng trắng sáng hơn, chiều cao lòng trắng ñặc cũng là một chỉ tiêu bên trong ñể ñánh giá chất lượng trứng

Orlov (1974) [80] cho biết, chỉ số lòng trắng trứng gà về mùa ñông cao hơn mùa xuân và mùa hè, ở giống gà nhẹ cân chỉ số này không dưới 0,09 và ở giống kiêm dụng khoảng 0,08

Chỉ số Haugh là một chỉ tiêu quan trọng ñể ñánh giá chất lượng trứng,

nó phụ thuộc vào chiều cao của lòng trắng ñặc ðơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng cao ðơn vị Haugh thay ñổi theo thời gian và nhiệt ñộ bảo quản trứng ðơn vị Haugh dao ñộng từ 20 - 100, trứng tốt 74 -89

Peniond Jkevich và cộng sự (dẫn theo Bạch Thanh Dân, 1995)[6] cho biết, chất lượng trứng nếu rất tốt có chỉ số Haugh từ 80 -100, tốt từ 65 - 79, trung bình từ 55 - 64 và xấu < 55

Nguyễn Huy ðạt và cộng sự, 2001 [31] cho biết, trứng gà Lương phượng Hoa có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi ñạt 94,4 và 60 tuần tuổi ñạt 91,1

Dương Xuân Tuyển và cộng sự (1993)[58] nghiên cứu trên trứng giống vịt CV-Super M cho biết chỉ số Haugh là 92,48

2.3.6.5 Chất lượng lòng ñỏ

Lòng ñỏ trứng là thành phần quan trọng nhất của trứng gồm nước, protit, lipit, gluxit, các axit amin không thay thế và các vitamin nhóm B, A, D,

Trang 38

ðể ñánh giá chất lượng lòng ñỏ người ta dùng chỉ số lòng ñỏ Chỉ số lòng ñỏ là giá trị tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng ñỏ và ñường kính lòng

ñỏ Chỉ số này sẽ ñánh giá trạng thái và chất lượng lòng ñỏ, chỉ số càng cao càng tốt và thay ñổi phụ tuộc vào ñặc ñiểm từng loài, giống, cá thể, nó giảm dần theo thời gian bảo quản trứng

Card và Nesheim (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994[29]), chỉ số lòng ñỏ của trứng gà khoảng 0,40 - 0,42 Kết quả nghiên cứu trên trứng gà xương ñen Thái Hoà Trung Quốc cho biết chỉ số lòng ñỏ 0,46 (Vũ Quang Ninh, 2002 [42])

2.4 NGUỒN GỐC, ðẶC ðIỂM, TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA ðỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.4.1 Nguồn gốc của chim bồ câu

Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong ñó có Bộ

bồ câu Columbiformes gồm những loài chim ñi chậm nhưng bay rất khỏe như

bồ câu, cu gáy Gốc mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính

Bồ câu nhà hiện nay ñều có nguồn gốc từ bồ câu núi màu lam có tên

khoa học là Columbalivia thuộc giới (king dom): Animat, ngành (plylum):

Chortada, lớp (class): Aves, bộ (order): Columbiormes, họ (Family): Columbidae, giống (Genus): Columba, Loài (species): Columbalivia Chim

bồ câu núi hiện còn sống hoang dã ở nhiều vùng Châu Âu, Châu Á và Bắc Phi Ngày nay chúng sinh sống trên 50 quốc gia khác nhau với các vùng sinh thái khác nhau (trừ vùng Nam Cực) Các di tích hóa thạch cho thấy chim bồ câu ñã sống ở Jordan và Palestin vào khoảng 300000 năm trước công nguyên

Một số loài ñược biết nhiều nhất sống hoang dã hay còn gọi là chim bồ câu sống lang thang, tổ tiên của chúng sống ở Châu Á và Châu Âu, ñược gọi

là “chim bồ câu ñá”, dài khoảng 33 cm, phía trên mình xanh xám, với những chấm ñen ở cánh và ở phía ñuôi (phao câu) màu hơi trắng; phía dưới là màu hơi ñỏ tía ở phần ngực và xanh phớt ở phần bụng Xung quanh cổ ñặc biệt là con ñực, óng ánh nhiều màu sắc

Trang 39

Hơn 200 giống chim bồ câu nhà (cũng như chim bồ câu rừng) bắt

nguồn từ chim bồ câu ñá (pigeon des roches), còn có tên gọi khác là chim bồ câu bipel (Columbus livia)

2.4.2 Một số ñặc ñiểm chung của chim bồ câu

Toàn thân chim bồ câu có lông vũ bao phủ Mình chim hình thoi, cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát từ mọi phía, mổ thức ăn, tấn công hay tự

vệ, rỉa lông cánh Bồ câu có bản năng ấp trứng tốt, nuôi con giỏi

Chim bồ câu là loại gia cầm ñơn phối không tạp giao với con thứ ba, chúng sống thành ñôi, trường hợp nuôi lồng cũng như sống tự do

Bồ câu là loài chim có nhiều biến dị về màu lông: ñen, trắng, nâu ñen khá ñẹp và sặc sỡ

Da chim bồ câu rất mỏng không có tuyến nhờn chỉ có tuyến ở gần ñuôi gọi là tuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng ñể rỉa lông cho bóng ñẹp

Khối lượng chim bồ câu to hay nhỏ tùy thuộc vào giống và giới tình biến ñộng từ 250 - 1000 g/con Ở chim bồ câu ta ña số trường hợp con trống lớn hơn con mái song sự chênh lệch không nhiều

Chim bồ câu có tính quần cư cao, nuôi riêng hoặc nuôi theo bầy thì hiện tượng ẩu ñả rất ít Chúng thường cùng ăn, cùng nghỉ Chim bồ câu còn

có tính ñồng loại cao: khi trứng bỏ không mà vẫn tốt thì chúng sà xuống ấp hộ ngay Như vậy trong chăn nuôi chim bồ câu theo phương pháp thâm canh thì chúng ta có thể tiến hành ghép ấp và ghép nuôi con ñể nâng cao năng suất sinh sản Ghép ấp ñược thực hiện ñối với những quả trứng có cùng ngày ñẻ hoặc chênh lệch nhau 1 - 2 ngày và số trứng ghép tối ña trên một ổ ấp là 3 quả/ổ Tương tự như vậy ta cũng có thể ghép những con có cùng ngày nở hoặc tuổi chênh lệch nhau 1 - 2 ngày và số con ghép tối ña là 3 con/ổ

Nguyên thủy của loài chim bồ câu thường sống ở vùng duyên hải uống nước biển, vậy nên trải qua thời gian ñược con người thuần dưỡng tới nay

Trang 40

sung khoáng lượng, muối ăn và sỏi là rất cần thiết ñể ñảm bảo cho chim phát triển bình thường

Thức ăn chủ yếu của chim bồ câu là loại ngũ cốc, ñặc biệt chúng thích

ăn các loại ñậu ñỗ và hạt có màu, nhưng trong tự nhiên chúng không chỉ ăn hạt và trái cây mà chúng còn ăn cả các loại côn trùng và ấu trùng, ñặc biệt là khi còn nuôi con

Bồ câu là loài chim có khả năng ñặc biệt ñể nhận biết và ñịnh hướng ñường ñi về trên một khoảng cách rất xa một cách chính xác do cảm quan của chim bồ câu rất phát triển Khả năng nhận biết phương hướng của chim rất tốt cho dù nuôi riêng trong lồng nhưng khi thả ra thì trong hàng nghìn chuồng, hàng ngàn chim nó vẫn nhận ñúng chuồng của mình Trong chăn nuôi dựa vào ñiều này người ta cho chim hình thành phản xạ có ñiều kiện giúp trong chăn nuôi thuận tiện và ñạt hiệu ñược năng suất cao hơn (Trần Công Xuân và Nguyễn Thiện, 1997[54]) Khả năng bay của chim rất tốt, chúng có thể bay với tốc ñộ ñạt 50 - 75 dặm/giờ và bay 600 - 1000 dặm/ngày

Giống như các loài chim khác, ở chim bồ câu cũng diễn ra quá trình thay lông thường xuyên Trong quá trình thay lông ở chim bồ câu vẫn duy trì khả năng bay, sự thay lông ở thân thường diễn ra nhanh hơn so với lông cánh, ñặc biệt lông ñầu thay nhanh nhất Trong quá trình thay lông, chim bồ câu vẫn sinh sản bình thường mà không nghỉ ñẻ như các loài gia cầm khác

Sau khi ghép ñôi thì khoảng 7 - 10 ngày sau chim mái ñẻ trứng Trứng chim có hình bầu dục, vỏ sáng màu trắng Khối lượng trứng chim nội 16 - 18

g, ở chim ngoại khối lượng to hơn Ấp trứng là bản năng tự nhiên của chim Thông thường chim ñẻ 2 trứng xong mới ấp Chim bồ câu, cả ở con trống và con mái ñều tham gia ấp trứng

Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến ñổi xảy ra ở cơ thể chim bồ câu bố

mẹ, giúp chúng sản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim non trong những ngày ñầu mới nở: dịch diều (sữa diều)

Ngày đăng: 27/11/2013, 22:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A. Brandsch and H.Biilchel. Cơ Sở Của Sự Nhân Giống Và Di Truyền Giống Ở Gia Cầm. Dịch bởi: Nguyễn Chí Bảo, Cơ Sở Sinh Học Của Nhân Giống Và Nuôi Dưỡng Gia Cầm: NXB khoa học và Kỹ thuật, 1978.Trang: 7, 129 - 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ Sở Của Sự Nhân Giống Và Di Truyền Giống Ở Gia Cầm". Dịch bởi: Nguyễn Chí Bảo, "Cơ Sở Sinh Học Của Nhân Giống Và Nuôi Dưỡng Gia Cầm
Nhà XB: NXB khoa học và Kỹ thuật
2. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiên (1983), Di truyền giống ủộng vật, NXB Nụng nghiệp, Hà Nội, Tr 86, 185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền giống ủộng vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiên
Nhà XB: NXB Nụng nghiệp
Năm: 1983
3. Nguyễn Ân (1984), Di truyền giống ủộng vật, NXB Nụng nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền giống ủộng vật
Tác giả: Nguyễn Ân
Nhà XB: NXB Nụng nghiệp
Năm: 1984
4. Nguyễn Thị Thanh Bình (1998), Nghiên cứu khả năng sinh sản và sản xuất của gà Ri, Luận văn Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sinh sản và sản xuất của gà Ri
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 1998
6. Bạch Thanh Dõn (1995), Kết quả bước ủầu xỏc ủịnh cỏc yếu tố hỡnh dạng, khối lượng trứng ủối với tỷ lệ ấp nở của trứng ngan, Kết quả nghiên cứu khoa học - các công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh, Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, tr 397 - 399 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước ủầu xỏc ủịnh cỏc yếu tố hỡnh dạng, khối lượng trứng ủối với tỷ lệ ấp nở của trứng ngan
Tác giả: Bạch Thanh Dõn
Năm: 1995
7. Nguyễn Huy ðạt, Nguyễn Thành ðồng và CS (2001), Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống gà Lương Phượng Hoa tại trại chăn nuôi Liên Ninh”.Báo cáo kết quả Nghiên cứu Khoa học 1999- 2000, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc, nhân giống gà Lương Phượng Hoa tại trại chăn nuôi Liên Ninh
Tác giả: Nguyễn Huy ðạt, Nguyễn Thành ðồng và CS
Năm: 2001
8. Nguyễn Huy ðạt, Vũ Thị Hương, Hồ Xuân Tùng (2005) “Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm”, Báo cáo khoa học năm 2005, Viện chăn nuôi 2006, trang 203, tramg 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm”, "Báo cáo khoa học năm 2005
9. Nguyễn Duy ðiều (2008), Nghiên cứu sức sản xuất, chọn lọc nhân thuần chim bồ câu Pháp. Luận án tiến sĩ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sức sản xuất, chọn lọc nhân thuần chim bồ câu Pháp
Tác giả: Nguyễn Duy ðiều
Năm: 2008
10. Bựi Hữu ðoàn (2009), Giỏo trỡnh chăn nuụi ủà ủiểu và chim – NXB Nụng nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giỏo trỡnh chăn nuụi ủà ủiểu và chim
Tác giả: Bựi Hữu ðoàn
Nhà XB: NXB Nụng nghiệp
Năm: 2009
11. Bùi Hữu ðoàn (2009), Giáo trình chăn nuôi bồ câu và chim cút – NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi bồ câu và chim cút
Tác giả: Bùi Hữu ðoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
12. Bùi Hữu ðoàn (2009), Sổ tay nuôi bồ câu và chim cút – NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay nuôi bồ câu và chim cút
Tác giả: Bùi Hữu ðoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
14. Bùi Hữu đoàn, Hoàng Thanh (2008), đánh giá khả năng sản xuất của chim cút Nhật Bản nuôi trong nông hộ tại thị xã Từ Sơn - Bắc Ninh - Tạp chí khoa học và phát triển năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: đánh giá khả năng sản xuất của chim cút Nhật Bản nuôi trong nông hộ tại thị xã Từ Sơn - Bắc Ninh
Tác giả: Bùi Hữu đoàn, Hoàng Thanh
Năm: 2008
15. Bùi Hữu ðoàn (2010), Nuôi và phòng trị bệnh cho chim bồ câu - NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi và phòng trị bệnh cho chim bồ câu
Tác giả: Bùi Hữu ðoàn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2010
16. đào Lệ Hằng (2001), Bước ựầu nghiên cứu một số tắnh trạng của gà H'Mông nuôi bán công nghiệp tại ðồng bằng Miền bắc Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ khoa học sinh học, Trường ðại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước ủầu nghiờn cứu một số tớnh trạng của gà H'Mông nuôi bán công nghiệp tại ðồng bằng Miền bắc Việt Nam
Tác giả: đào Lệ Hằng
Năm: 2001
17. Phạm Thị Hũa (2004), Nghiờn cứu một số ủặc ủiểm sinh học khả năng sinh học, Trưòng ðại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiờn cứu một số ủặc ủiểm sinh học khả năng sinh học
Tác giả: Phạm Thị Hũa
Năm: 2004
18. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu ðoàn, Nguyễn Thị Mai (1994), Chăn nuôi gia cầm. NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu ðoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
19. Trương Thuý Hường, Trần Công Xuân, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Duy ðiều (1998), Kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của 2 dòng bồ câu Pháp TiTan và Mimas qua 5 thế hệ. Viện Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu chọn lọc một số tính trạng sản xuất của 2 dòng bồ câu Pháp TiTan và Mimas qua 5 thế hệ
Tác giả: Trương Thuý Hường, Trần Công Xuân, Nguyễn Thị Tình, Nguyễn Duy ðiều
Năm: 1998
22. Nguyễn Quý Khiờm (1996), Nghiờn cứu một số yếu tố ảnh hưởng ủến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng và Goldline tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương, Luận án thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội 1996, trang 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiờn cứu một số yếu tố ảnh hưởng ủến kết quả ấp nở trứng gà Tam Hoàng và Goldline tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương
Tác giả: Nguyễn Quý Khiờm
Năm: 1996
23. Ló Văn Kớnh (2000) Kỹ thuật nuụi gà ủẻ thương phẩm ở vựng khớ hậu nóng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội trang 142 – 159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuụi gà ủẻ thương phẩm ở vựng khớ hậu nóng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
13. Bựi Hữu ðoàn (2009). Ảnh hưởng của tia cực tớm ủến khả năng sản xuất của gà broiler 5 – 10 tuần tuổi. ðăng trên trang:http://www.hua.edu.vn:85/cnts/index.php?option=com_content&amp;task=view&amp;id=1447&amp;Itemid=218 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Một số màu lông chính của chim bồ cấu nội - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 1. Một số màu lông chính của chim bồ cấu nội (Trang 56)
Hình 2. Một số tập tính sinh học của chim bồ câu - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 2. Một số tập tính sinh học của chim bồ câu (Trang 60)
Bảng 4.8. Khả năng sinh trưởng của chim non - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Bảng 4.8. Khả năng sinh trưởng của chim non (Trang 71)
Hình 3. Sự phát triển của chim bồ câu nội từ  1 - 28 ngày tuổi - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 3. Sự phát triển của chim bồ câu nội từ 1 - 28 ngày tuổi (Trang 73)
Bảng 4.10. Tiêu tốn và chi phí thức ăn - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Bảng 4.10. Tiêu tốn và chi phí thức ăn (Trang 76)
Bảng 4.11. Tình hình nhiễm bệnh - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Bảng 4.11. Tình hình nhiễm bệnh (Trang 77)
Bảng 4.12. Kết quả nuôi chim bồ câu nội - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Bảng 4.12. Kết quả nuôi chim bồ câu nội (Trang 80)
Hình 5. Máng ăn, máng uống cho chim bồ câu - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 5. Máng ăn, máng uống cho chim bồ câu (Trang 92)
Hình 4. Chuồng nuôi chim bồ câu nội - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 4. Chuồng nuôi chim bồ câu nội (Trang 92)
Hình 6. Mổ khảo sát chim bồ câu - Luận văn đánh giá khả năng sản xuất của chim bồ câu nội nuôi theo phương thức công nghiệp tại huyện yên phong bắc ninh
Hình 6. Mổ khảo sát chim bồ câu (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w