Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản xuất của gia cầm Trong chăn nuôi để đánh giá được hiệu quả kinh tế, năng suất thịt của vật nuôi ta cần đưa ra một số c
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: GS.TS Từ Quang Hiển
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
GIẤY XÁC NHẬN THỰC TẬP
Trong thời gian từ ngày 18/11/2017 đến ngày 18/5/2018 sinh viên Nguyễn Văn Sinh đã đến thực tập tại trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành chuyên đề tốt
nghiệp: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng và trị bệnh cho đàn gà Isa Shaver nuôi tại trại gia cầm Khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
Trong thời gian thời gian thực tập sinh viên Nguyễn Văn Sinh đã chăm chỉ học hỏi kinh nghiệm của thầy, cô quản lý về một số lĩnh vực phù hợp với yêu cầu của chuyên đề, cần cù, chịu khó, chấp hành các quy định của trại chăn nuôi Đến nay, sinh viên Nguyễn Văn Sinh đã hoàn thành đợt thực tập
Vậy Trại xác nhận sinh viên Nguyễn Văn Sinh đã có thời gian thực tập tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y thuộc trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đề nghị nhà tạo điều kiện giúp đỡ cho sinh viên Nguyễn Văn Sinh hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 5 năm 2018
Xác nhận của trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Từ Trung Kiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự giúp
đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt em hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho em có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này
Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo em trong toàn khóa học Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn GS.TS Từ Quang Hiển, thầy giáo PGS.TS Từ Trung Kiên đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dành những tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Văn Sinh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ theo dõi trên đàn gà Isa Shaver 29
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo nghiệm qua các tuần tuổi (%) 33
Bảng 4.2 Tuổi đẻ của gà Isa Shaver khảo nghiệm 35
Bảng 4.3 Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng của gà khảo nghiệm 36
Bảng 4.4 Khối lượng trứng qua các tuần tuổi (g) 38
Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 39
Bảng 4.6 Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng 40
Bảng 4.7 Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại 42
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện công tác phòng vaccine cho gà 43
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất 4
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 4
2.2.1 Cơ sở khoa học 4
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 23
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 28
3.1 Đối tượng 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp theo dõi và các chỉ tiêu 28
3.4.1 Phương pháp theo dõi 28
3.4.2 Các chỉ tiêu 29
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31
Trang 8Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà 32
4.1.1 Tỷ lệ nuôi sống 32
4.1.2 Khả năng sinh sản của gà Isa Sharver qua các tuần tuổi 34
4.1.3 Chất lượng trứng 37
4.1.4 Tiêu tốn thức ăn 40
4.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh 41
4.2.1 Công tác phòng bệnh cho gà 41
4.2.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh 43
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
I TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 47
II TÀI LIỆU TIẾNG ANH 51
Trang 9Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng canh tận dụng Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung đã theo phương thức thâm canh, chăn nuôi tập trung Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con Đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều nhược điểm của gà ta như về khả năng sinh trưởng và khả năng sinh sản Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng trứng, hướng thịt
có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt
Bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển Một trong những giống
gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Isa Shaver
Chăn nuôi gà hướng trứng theo phương thức nuôi thâm canh, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển khá nhanh Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng,
Trang 10những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, em tiến hành chuyên đề: “Áp dụng quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc, phòng và trị bệnh cho đàn gà Isa Shaver nuôi tại Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
- Áp dụng quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà Isa Shaver
- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho đàn gà Isa Shaver
1.2.2 Yêu cầu
- Áp dụng được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà Isa Shaver
- Áp dụng được quy trình phòng và điều trị bệnh cho đàn gà Isa Shaver
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại
gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà
đẻ an toàn sinh học từ năm 2013
Vị trí:
+ Phía đông giáp khu Hoa viên cây cảnh
+ Phía tây giáp vườn ươm khoa Lâm Nghiệp
+ Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng
+ Phía bắc giáp khoa CNTP và CNSH
Trại có tổng diện tích là 11.960m2
Trong đó:
+ Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là 3.000m2 Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6m2 và 2 kho rộng 40m2, phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát Toàn bộ khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220m, đảm bảo ngăn cách với các khu vực khác
+ Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 được chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên
+ Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2 Trong đó hố sát trùng 20m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10m2
+ Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120m2 Trong đó
có các công trình như:
01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20m2
Trang 1201 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30m2
01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50m2
01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót… ): 20m2
+ Diện tích đất còn lại là 3.960m2 được quy hoạch để trồng cây thức ăn
bổ sung cho gà
2.1.2 Đối tượng và kết quả sản xuất
Sau khi xây dựng cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa vào nuôi hơn 1000
gà sinh sản các giống Ai Cập và HA theo mô hình chăn nuôi gà đẻ an toàn sinh học, 300 gà thương phẩm giống Mía x Lương Phượng Ngoài ra, Trại còn nuôi khoảng gần 100 con gà các giống như: Gà trọi, gà rừng, gà đa cựa,
gà đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này Hiện nay, trại đang có gần 500 con gà Isa Shaver sinh sản, 100 con gà Ác hậu
bị, gần 100 con gà thương phẩm các giống H‘mông, gà chọi
2.2 Tổng quan tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã Qua quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các giống gia cầm ngày nay
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng; ấp 20 - 21 ngày trứng nở Khối lượng gà trưởng thành: Gà mái khoảng 0,7 kg; gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ Gà trống có lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh
Trang 13đen, lông bụng pha đen Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ Mỏ, chân màu vàng đậm, vàng nhạt, đen Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê Hồng Mận, 2007 [13])
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia cầm chưa thật đầy đủ Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà đầu tiên ở Đông Nam Á Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm Trải qua quá trình phát triển nông nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,… những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên (Lê Hồng Mận, 2007 [13])
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [20], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học như sau:
Giới (Kingdom): Animan
Ngành (Phylum): Chodata
Lớp (Class): Aver
Bộ (Order): Galliformes
Họ (Famili): Phasiamictace Chủng (Genus): Gallus Loài (Species): Gallus Gallus
Trang 142.2.1.2 Đặc điểm chung của gia cầm
- Ngoại hình: Là một tính trạng chất lượng của gia cầm Nó đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi
+ Sự phát triển của bộ lông: Lông là dẫn xuất của da, thể hiện đặc
điểm di truyền của giống Gà con mới nở có bộ lông tơ che phủ Trong quá trình phát triển, lông tơ sẽ dần được thay thế bằng bộ lông cố định Tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ với cường độ sinh trưởng Theo Brandsch và Bichel (1978) [2], những gia cầm lớn nhanh thì có tốc độ mọc lông nhanh
Màu sắc lông da là mã hiệu của giống, là một tín hiệu để nhận dạng con giống, là một chỉ tiêu cho chọn lọc Thông thường, màu sắc đồng nhất là giống thuần Màu sắc lông da do một số ít gen kiểm soát, có thể sử dụng để phân tích di truyền, dự đoán màu của đời sau trong chọn lọc (Đặng Hữu Lanh
và cs (1999) [10]) Các giống gia cầm khác nhau có bộ lông khác nhau Sự khác nhau về màu sắc lông là do mức độ oxy hóa các chất tiền sắc tố melanin (melanogene) trong tế bào lông Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom (larotinoit) thì lông có màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ Nếu không có chất sắc tố thì lông có màu trắng
+ Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi là có độ tin cậy cao nhất trong việc
đánh giá đầu của gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra sự kết luận về sự phát triển của mô mỡ và mô liên kết
+ Mỏ: Là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum)
Mỏ phải ngắn và chắc chắn Gà có mỏ dài và mảnh có khả năng sản xuất không cao Màu sắc của mỏ có nhiều loại như: Vàng, đỏ, đen, hồng Màu của
mỏ thường phù hợp với màu của chân Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng Ở gà mái, màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ đẻ trứng
+ Chân: Gia cầm có 4 ngón, rất ít có 5 ngón (Trần Kiên và Trần Hồng
Việt, 1998 [9]) Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân
Trang 15và da Chân thường có cựa Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài (Trần Thị Nguyệt Thu, 1999 [22]) Gà có chân cao thường cho năng suất thịt thấp và chậm phát dục
của gà Nhờ vậy có thể phân biệt gà trống, gà mái Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc; có thể đặc trưng cho từng giống gà Theo Phan Cự Nhân (1971) [16], ở gà trống, sự phát triển của mào, tích phản ánh sự thành thục tính dục sớm hay muộn; ở gà mái, mào và tích phát triển không rõ là dấu hiệu xấu cho khả năng sinh sản của gà
- Hình dáng, kích thước các chiều đo cơ thể:
Tùy mục đích sử dụng, các giống gia cầm được chia làm 3 loại hình là: Hướng trứng, hướng thịt và kiêm dụng Gà hướng thịt thường có hình dạng cân đối, ngực sâu, chân chắc, tiết diện hình vuông hay hình chữ nhật Gà hướng trứng lại có kết cấu thanh gọn, tiết diện hình tam giác
Theo tài liệu của Chambers (1990) [35], thì kích thước các chiều đo có tương quan tới sức sản xuất của gà broiler Tác giả cũng cho biết, độ lớn góc ngực, dài chân, dài đùi và đường kính ống chân có tương quan với khối lượng
cơ thể Siegel và Dunington (1978) [40], cho biết tương quan giữa độ lớn góc ngực và khối lượng cơ thể khoảng 0,4 - 0,68; trung bình là 0,42
2.2.1.3 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu sự di truyền các tính trạng sản xuất của gia cầm
Trong chăn nuôi để đánh giá được hiệu quả kinh tế, năng suất thịt của vật nuôi ta cần đưa ra một số chỉ tiêu như: Nguồn gốc của gà, bản chất di truyền các tính trạng sản xuất, sức sống và khả năng chống đỡ bệnh, đặc biệt
về khả năng sinh trưởng, khả năng sử dụng, chuyển hóa thức ăn, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và cho thịt của gia cầm
Trang 16Môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng này hoặc hướng khác Quan hệ đó được biểu hiện như sau:
P = G + E Trong đó:
P: Là giá trị kiểu hình G: Là giá trị kiểu gen E: Là sai lệch môi trường Tuy nhiên khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng
số lượng do nhiều gen nhỏ (Minorgene) cấu tạo thành Đó là hiệu ứng riêng
biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen
biểu hiện theo công thức sau:
G = A + D + I Trong đó:
G: Là giá trị kiểu gen
A: Là giá trị cộng gộp (Additive value) D: Là giá trị sai lệch (Dominance devition) I: Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction devition)
Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho thế hệ sau, có ý nghĩa quan trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống
Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò quan trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường thực nghiệm D và I không di truyền được phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác giữa các gen Chúng là cơ sở của việc lai giống
Trang 17Đồng thời tính trạng số lượng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường chung và môi trường riêng
Sai lệch môi trường chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do
các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại này có tính chất thường xuyên và không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu… Do vậy là sai lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các phần khác nhau trên một
cơ thể
Sai lệch môi trường riêng (Environmental deviation) (Eg) là các sai lệch
do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật hay các phần khác nhau của con vật Loại yếu tố này có tính chất không thường xuyên
và cục bộ như các thay đổi về thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý… gây ra
Như vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu hiện như sau:
P = A + D + I + Eg + Es Trong đó:
P: Là giá trị kiểu hình
A: Là giá trị cộng gộp (Additive value)
I: Là giá trị sai lệch tương tác (Interaction devition)
Eg: Là sai lệch môi trường chung (General enviromental deviation) Es: Là sai lệch môi trường riêng (Special enviromental deviation)
Do đó để đạt được năng suất, chất lượng cao trong chăn nuôi (Giá trị kiểu hình như mong muốn) chúng ta cần phải có giống tốt và tạo ra môi trường thích hợp để phát huy hết tiềm năng của giống
2.2.1.4 Sức sống và khả năng chống đỡ bệnh của gia cầm
Sức sống của gia cầm là một tính trạng số lượng, nó đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể trong cùng một giống sức sống của cá thể khác
Trang 18nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng mọt dòng cũng có sự khác nhau nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phẩm giống
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường Người ta thông qua tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm Tỷ
lệ sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90 % nhưng cũng có những dòng gà tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99 % Theo kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (1995) [32], tỷ lệ nuôi sống từ 0 - 140 ngày tuổi của các dòng gà chuyên thịt HE - Ross 208 đạt từ 95 - 98 %
Ngoài các yếu tố như giống, thức ăn, kỹ thuật, chăm sóc, thì sức sống
và khả năng sinh trưởng phát triển của gia cầm còn chịu tác động trực tiếp của các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, độ thông thoáng và chiếu sáng Những yếu tố này tác động gây ảnh hưởng xấu đến sức đề kháng của cơ thể,
dễ gây hiện tượng stress làm giảm sức sống của gia cầm Trong điều kiện tự nhiên của nước ta, các yếu tố này tác động lần lượt ở các mức độ khác nhau tại những vùng địa lý khác nhau Do vậy để có sức sống cao đòi hỏi gia cầm phải có sự thích nghi với điều kiện sống
2.2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì và phát triển đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng Còn với gà hướng thịt (cũng như gà hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự nhân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm Từ đó, nó quyết định tới năng suất, sản lượng sản phẩm của chăn nuôi gia cầm Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm, vì không những chức năng đó liên quan đến
sự sinh tồn của loài gia cầm mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo
Trang 19gia cầm để sử dụng 2 sản phẩm quan trọng trứng và thịt Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm trong công tác giống nói chung và công tác giống gia cầm nói riêng Ở các loại gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau
rõ rệt
Tuổi thành thục về tính dục
Ở gà, tuổi thành thục về tính dục được tính từ khi gà đẻ bói đối với từng cá thể hoặc lúc tỷ lệ đẻ đạt 5%, đối với đàn quần thể Tuy nhiên xác định tuổi đẻ của gà dựa trên số liệu của từng cá thể trong đàn là chính xác nhất Tuổi thành thục về tính dục chịu ảnh hưởng bởi giống và môi trường Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính dục cũng khác nhau
* Tuổi đẻ đầu
Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại
đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5% Theo Hays (dẫn theo Brandsch và Bilchel, 1978 [2]) thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn 215 ngày là 6,9 quả Tuổi
đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt
là thời gian chiếu sáng Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định Những gia cầm thuộc giống bé có khối lượng cơ thể nhỏ tuổi thường thành thục sinh dục sớm hơn những gia cầm có khối lượng cơ thể lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm
là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn
Trang 20Tuổi gà đẻ đạt 50%:
Tuổi gà đẻ đạt đỉnh cao: Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn
gia cầm Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ cho biết mối tương quan với năng suất trứng
Tỷ lệ đẻ cao, thời gian đẻ kéo dài trong thời kỳ sinh sản chứng tỏ là giống tốt Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao và ngược lại Gà chăn thả sẽ có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và tỷ lệ đẻ đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần ở cuối kỳ sinh sản Năng suất trứng trên năm của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ trứng đạt cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ (Khavecman, 1972 [8])
* Những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính
Thời gian chiếu sáng cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục Khảo nghiệm của Morris (1967) [38] trên gà Legohrn được ấp nở quanh năm cho biết, những gà được ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 thì nó có tuổi thành thục về tính là 150 ngày Những gà được ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục trên 170 ngày Những gà nở sau đó có tuổi thành thục về tính ngắn hơn vì thời gian sinh trưởng giai đoạn hậu bị của chúng diễn ra trong những ngày có thời gian chiếu sáng giảm dần, sau đó ánh sáng lại tăng dần lên, do vậy sẽ kích thích cơ quan sinh dục phát triển và rút ngắn tuổi thành thục về tính dục
Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng; thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối lượng cơ thể
ở một thời điểm nhất định Những gia cầm thuộc giống có khối lượng cơ thể nhỏ, tuổi thành thục sinh dục thường sớm hơn những gia cầm có khối lượng
cơ thể lớn Trong cùng một giống, cơ thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng phù hợp sẽ có tuổi thành
Trang 21thục sinh dục sớm hơn Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh tuổi
thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn
Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Trong thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường Thời gian kéo dài sự đẻ có liên quan tới chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc cường
độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có những khoảng thời gian đòi
ấp Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng đòi ấp khác nhau
- Chu kỳ đẻ trứng: Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu
tiên đến khi ngừng đẻ và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất Chu kỳ thứ hai bắt đầu từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai Cứ như thế có thể xác định tiếp tục các chu kỳ tiếp theo Chu
kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu và kết thúc ở các tháng khác nhau thường ở gà là một năm Nó có mối tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và chu kỳ đẻ trứng, yếu tố này do hai gen P và p điều hành Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng
* Các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ đẻ trứng
Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn
- Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính dục
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến sản lượng trứng trong chu kỳ để đầu và chu kỳ đẻ tiếp theo Gà thành thục về tính
Trang 22quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ với thời gian dài, ảnh hưởng xấu tới giá trị kinh tế vì không thu được trứng giống Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng, gà đẻ năm thứ hai sản lượng trứng giảm khoảng 10-20%
- Ảnh hưởng của bản năng đòi ấp
Bản năng đòi ấp là một đặc tính bẩm sinh của gia cầm để duy trì nòi giống Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, ở các dòng, các giống khác nhau thì tỷ lệ xuất hiện bản năng đòi ấp cũng khác nhau Các giống gà chuyên dụng qua quá trình lai tạo và chọn lọc thì bản năng đòi
ấp hầu như không còn Riêng đối với các giống gà địa phương bản năng đòi
ấp vẫn còn và có tỷ lệ rất cao, ở gà Ri tỷ lệ đòi ấp trên 30%, chính vì vậy mà sản lượng trứng thấp hơn, Gà Ri nuôi đại trà trong nông thôn hộ chỉ đẻ 86,99 quả/mái (Hồ Xuân Tùng, 2009) [13], trong khi đó ở gà Lương Phượng là 168,73 quả/mái (Trần Công Xuân và cs (2004) [31]
- Ảnh hưởng của sự thay lông
Sự thay lông của gà là một quá trình sinh lý tự nhiên Ở gia cầm hoang
dã thì thời gian thay lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài, sản lượng trứng càng thấp Sức đẻ trứng giảm ngay sau khi gà rụng lông Trong thời kỳ thay lông buồng trứng bị thoái hóa và khối lượng của buồng trứng bị giảm đi khoảng đi khoảng 5% so với khối lượng lúc trước
- Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nhiệt độ cao hoặc thấp đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức độ tiêu thụ thức ăn Khi được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20oC nhu cầu
về năng lượng là thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, mức tiêu thụ thức ăn này sử dụng cho việc sưởi ấm cơ thể, do vậy tiêu thụ thức ăn và tiêu tốn nhiều cho quá trình hô hấp, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và sản lượng trứng sẽ giảm
Trang 23- Ảnh hưởng của độ ẩm
Độ ẩm quá cao (>80%) làm cho chất độn chuồng bị ướt, ẩm độ cao tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian chuồng nuôi, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, đặc biệt là cầu trùng; tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến năng suất trứng và mức độ tiêu tốn thức ăn Độ ẩm quá thấp (<31%) làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất, tuy nhiên ở miền Bắc Việt Nam thì không bị ảnh hưởng của độ ẩm thấp
- Ảnh hưởng của mùa vụ và chế độ chiếu sáng
Mùa vụ với thời tiết, khí hậu, độ dài ngày chiếu sáng và nguồn thức ăn
tự nhiên giữ một vai trò quan trọng, nó chi phối và ảnh hưởng lớn sức đẻ trứng của gia cầm, đặc biệt đối với gia cầm nuôi theo phương thức quảng canh hoặc bán thâm canh
Ngoài ra yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng Đối với gà đẻ, chế độ chiếu sáng ảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính dục, cường độ đẻ trứng và độ dài trật đẻ
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng và chế độ nuôi dưỡng
Thức ăn không chỉ ảnh hưởng tới khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng và chất lượng trứng Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản thì lipit, năng lượng, acid amin (arginine, methionine), vitamin (A, D, B1, B2, B6 và acid pantothenic), khoáng vi lượng (đặc biệt là
Mn) cần được chú ý nhất, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến trứng
Trật đẻ
Trật đẻ là khoảng thời gian mà gia cầm đẻ trứng liên tục Độ dài trật đẻ phụ thuộc vào giống, các yếu tố ngoại cảnh như thức ăn dinh dưỡng, thời gian
và cường độ chiếu sáng, v v
Trang 24Năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trên một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ và đặc điểm của cá thể Năng suất trứng được đánh giá qua sự phụ thuộc vào cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ
Sản lượng trứng là số lượng trứng của một gia cầm mái đẻ ra trong một chu kỳ đẻ hoặc trong một thời gian nhất định, có thể tính theo tháng hoặc theo năm Fairfull và Grow (1990) [36] cho biết: Khi điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng…) nhiều gen tham gia điều khiển quá trình liên quan đến sinh sản đều phát huy tác dụng, cho phép gia cầm phát huy được đầy đủ tiềm năng di truyền của chúng Hệ số di truyền về sản lượng trứng của gà là: 0,12 - 0,3 (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [20]
* Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng
Ảnh hưởng của tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính của gia cầm có ảnh hưởng rõ ràng đến năng
suất trứng trong chu kỳ đẻ đầu và các chu kỳ đẻ tiếp theo Đồ thị đẻ trứng của
gia cầm đạt đến đỉnh cao nhanh chủ yếu là do tuổi thành thục về tính của từng
cá thể trong đàn sớm Gà thành thục về tính sớm sẽ đẻ nhiều trứng hơn trong một năm sinh học Nhưng nếu gà thành thục về tính quá sớm sẽ đẻ trứng nhỏ kéo dài Tuổi và năm đẻ của gia cầm có liên quan đến sản lượng trứng/năm Khi gia cầm đẻ năm thứ hai thì sản lượng trứng giảm 10 - 20%
Ảnh hưởng của sự thay lông
Sự thay lông là một quá trình sinh lý học tự nhiên Ở gia cầm hoang thì thời gian thay lông thường phụ thuộc vào mùa Thông thường, chúng thay
Trang 25lông vào mùa thu Thời gian thay lông càng dài thì sản lượng trứng càng thấp
Sự thay lông là kết quả hoạt động tương tác phức hợp của các hormon Gonadotropin Các hormon khác như thyroxine và prolactin cũng hoạt động tương tác với hormon gonadotropin Sức đẻ trứng giảm ngay khi gà rụng lông Thời gian rụng lông kéo dài trong vòng 10 ngày và sau khoảng 15 ngày thì lông mới được mọc ra Gia cầm có thể đẻ trở lại trước khi bộ lông mới mọc đầy đủ
Ảnh hưởng của bệnh tật thông qua việc làm giảm đầu con, giảm khả
năng đẻ trứng
* Ảnh hưởng của môi trường bên ngoài
- Ảnh hưởng của nhiệt độ: Gia cầm trưởng thành chịu đựng nhiệt độ
thấp tốt hơn với nhiệt độ cao Sự thay đổi nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu tốn thức ăn Khi gia cầm được nuôi trong điều kiện nhiệt độ trung bình (200C) thì nhu cầu về năng lượng là thấp nhất Sự thay đổi nhiệt độ môi trường sẽ ảnh hưởng đến việc chuyển hóa thức ăn liên quan đến sự thay đổi
hoạt động của tuyến giáp trạng
Nhiệt độ cao hoặc thấp ảnh hưởng đến sản lượng trứng thông qua mức
độ tiêu tốn thức ăn Ở nhiệt độ thấp, mức tiêu thụ thức ăn cao, lượng thức ăn này được sử dụng cho việc sưởi ấm của cơ thể, do vậy tiêu tốn thức ăn cho việc sản xuất ra một quả trứng là cao Trong khi đó nhiệt độ cao sẽ làm giảm mức tiêu thụ thức ăn, lượng thức ăn ăn vào không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất và như vậy sản lượng trứng sẽ bị giảm đi
- Ảnh hưởng của độ ẩm: Khi độ ẩm quá cao làm cho chất độn chuồng
bị ướt, tạo thành một lớp hơi nước bao phủ không gian của chuồng nuôi Nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự hô hấp của gia cầm và làm ảnh
hưởng đến năng suất và tiêu tốn thức ăn
Trang 26Độ ẩm quá thấp sẽ làm cho gia cầm mổ lông và rỉa thịt nhau, ảnh hưởng đến tỷ lệ hao hụt và khả năng sản xuất
- Ảnh hưởng của mùa vụ và ánh sáng: Trong tất cả các yếu tố bên
ngoài ảnh hưởng đến sản lượng trứng thì yếu tố về thời gian chiếu sáng đóng một vai trò quan trọng Đối với gia cầm đẻ thì chế độ chiếu sáng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính, ánh sáng ảnh hưởng đến bộ máy sinh dục của gia cầm theo cơ chế sau: ánh sáng tác động lên mắt, thông qua dây thần kinh lên não bộ từ đó tác động lên vùng dưới đồi giải phóng hooc môn LH đồng thời kích thích sự giải phóng hormon gonandotropin Một mặt các hormon này kích thích sự phát triển của nang trứng, mặt khác còn điều tiết quá trình rụng trứng Lợi dụng ảnh hưởng của ánh sáng, người ta đã áp
dụng các chương trình chiếu sáng thích hợp để nhằm các mục đích sau:
+ Đạt được tuổi thành thục về tính theo yêu cầu (đây là một chỉ tiêu có
ý nghĩa kinh tế lớn)
+ Làm tăng cường độ đẻ trứng
+ Kéo dài thời gian đẻ trứng
Quá trình hình thành trứng trong ống dẫn trứng do các hormon điều khiển trong chu kỳ 24 giờ sáng/tối Khoảng cách giữa 2 lần rụng trứng thường dài hơn một chút chính vì vậy nếu gà đẻ vào sáng sớm hôm trước thì hôm sau
sẽ đẻ muộn hơn một chút và cứ như vậy hôm sau lại muộn hơn hôm trước và cuối cùng sẽ có một ngày gà sẽ không đẻ trứng sau đó lại tiếp tục như vậy Nếu gà đẻ hôm sau không muộn hơn hôm trước thì nó sẽ đẻ 365 trứng/năm theo lịch đúng với tiềm năng di truyền tối đa của chúng Bằng phương pháp chọn lọc, ngày nay người ta đã tạo ra được những đàn gà thương phẩm có sản lượng trứng lên đến 300 trứng/năm hoặc có khi còn cao hơn nữa trong những điều kiện nuôi dưỡng tốt và môi trường thích hợp Từ những đánh giá trên, người ta thấy có hai khả năng để làm tăng sản lượng trứng ở gia cầm là kéo
Trang 27dài chu kỳ đẻ trứng thông thường hoặc sử dụng gà mái qua 2, 3 hoặc 4 chu kỳ
đẻ trứng và phá vỡ điểm giới hạn đẻ 1 trứng/ngày Kéo dài chu kỳ đẻ trứng hoặc sử dụng gà đẻ nhiều chu kỳ sẽ kéo dài khoảng cách thế hệ
Theo Fairfull và Gowe (1990) [36]: để phá vỡ giới hạn hình thành trứng trong vòng 24 giờ yêu cầu cần thiết là làm thay đổi môi trường, chú trọng đến chế độ chiếu sáng Theo các tác giả thì có 4 chế độ chiếu sáng có thể sử dụng để làm thay đổi nhịp đẻ (khoảng cách giữa hai trứng): đó là chế
độ chiếu sáng đơn giản (14 giờ sáng, 10 giờ tối), chế độ chiếu sáng liên tục, chế độ tối liên tục và chế độ luân phiên tối sáng
Ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng: Cơ sở để xây dựng khẩu phần ăn
cho gia cầm đẻ phải căn cứ vào khẩu phần ăn của tất cả các giai đoạn chăn nuôi trước đó Lượng thức ăn trong giai đoạn nuôi dưỡng không chỉ ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể, tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn nuôi dưỡng mà còn ảnh hưởng đến tuổi đẻ quả trứng đầu tiên cũng như sản lượng trứng, khối lượng trứng, chất lượng trứng, khối lượng cơ thể và tỷ lệ hao hụt trong giai đoạn gia cầm đẻ Làm thế nào để có một khẩu phần ăn thích hợp đáp ứng đủ
các yêu cầu trên đã được đặt ra cho các nhà chăn nuôi
Đối với gà chăn thả (gà nội) chỉ đẻ 50 - 80 trứng/năm thì ảnh hưởng của yếu tố dinh dưỡng là không lớn lắm nhưng đối với gà nuôi nhốt thì nhu cầu dinh dưỡng lại cần được quan tâm chú ý Nhu cầu dinh dưỡng của gà nuôi nhốt phải tăng gấp đôi về protein, cacbonhydrate, lipit và phải bổ sung thêm khoáng so với gà chăn thả Tác giả cũng cho biết hàm lượng protein, Ca, P và lipit trong máu gà đang đẻ trứng cao gấp 2, 3, thậm chí đến 4 lần so với trong máu gà không đẻ trứng Sự tăng lên về hàm lượng các chất này trong máu chứng tỏ gà cần protein để tạo noãn hoàng và lòng trắng; cần Ca, P để tạo vỏ trứng; cần lipit để lạo noãn hoàng Khi gà ngừng đẻ thì hàm lượng các chất này trong máu lại giảm đi
Trang 28Theo Simensen (1982) [39]: ảnh hưởng của protein, năng lượng, axit amin, vitamin, khoáng vi lượng cần được chú ý quan tâm vì chúng có ảnh hưởng gián tiếp đến sản lượng trứng
Ảnh hưởng của năng lượng trong thức ăn: Gia cầm đẻ cần năng lượng
để duy trì các hoạt động của cơ thể và tạo trứng, ngoài ra còn cần để phát triển Nếu thừa năng lượng sẽ gây nên hiện tượng tích lũy mỡ và gia cầm quá béo dẫn đến ảnh hưởng đến sản lượng trứng Còn nếu thiếu năng lượng thì giảm tốc độ phát triển, giảm sản lượng trứng và ảnh hưởng đến khối lượng trứng Nhu cầu về năng lượng tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của cá
thể và tuỳ thuộc từng giai đoạn đẻ
Ảnh hưởng của protein trong thức ăn: Gia cầm đẻ cần protein (axit
amin) để duy trì hoạt động, sản xuất trứng và tăng trọng, đặc biệt là trong việc hình thành trứng Khác với nhu cầu về năng lượng, nhu cầu về protein không thay đổi trong suốt giai đoạn đẻ Thiếu protein (axit amin) thì gia cầm sẽ huy động protein của cơ thể để đáp ứng quá trình sản xuất dẫn đến ảnh hưởng đến
quá trình hình thành trứng
Bên cạnh việc đáp ứng đầy đủ và hợp lý các nhu cầu về năng lượng và protein thì việc thiếu các axit béo no và không no cũng có ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm Thức ăn quá nhiều xơ, nhiều dầu đều không thích hợp Thừa hoặc thiếu khoáng đều ảnh hưởng đến sản lượng trứng Trong các yếu tố khoáng thì nhu cầu về P và Ca rất cao để tạo vỏ trứng Thiếu P và Ca thì gia cầm sẽ ngừng đẻ và thay lông Tỷ lệ Ca/P thích hợp ở gà đẻ là: 5: 1
(Nguyễn Hiền, 2008 [6])
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên thì phương thức chăn nuôi khác nhau cũng cho sản lượng trứng khác nhau Cùng 1 giống, nếu gà nuôi chuồng lồng thì sản lượng trứng đạt 223 quả/năm, trong khi đó đối với gà nuôi nền chỉ đạt
201 trứng/năm, còn gà nuôi chăn thả chỉ đạt 170 trứng/năm
Trang 29Khối lượng trứng
Là chỉ tiêu đánh giá năng suất trứng tuyệt đối của một cá thể, một đàn hay một giống gia cầm Nó là tính trạng có hệ số di truyền cao Do đó người
ta có thể cải thiện di truyền bằng cách chọn lọc giống Trong chọn lọc cần chú
ý tới chỉ số trung bình chung Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng tới gà sinh sản Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống
Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [28]: khối lượng trứng phụ thuộc vào mùa vụ Mùa Hè và mùa Đông khối lượng trứng nhỏ hơn so với mùa Xuân
và mùa Thu Đó là do mùa hè nóng nực, quá trình trao đổi chất giảm xuống (thậm chí trường hợp rối loạn trao đổi chất); ở mùa Đông, cơ thể phải sử dụng năng lượng chống rét nhiều cho nên khối lượng trứng cũng giảm xuống
Khối lượng trứng gia cầm là tính trạng do nhiều gen quy định, nhưng hiện còn chưa xác định rõ số lượng gen quy định tính trạng này Khối lượng trứng của gia cầm tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu, sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ thường nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20-30 % Khối lượng gia cầm mới nở thường bằng 62-78 % khối lượng trứng khi ấp
Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với khối lượng trứng của gà rất rõ Trong khẩu phần ăn của gà mái đẻ thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả
2 loại acid amin trên thì khối lượng trứng sẽ nhỏ hơn Thiếu lysine ảnh hưởng đến tỷ lệ lòng đỏ, thiếu methionin ảnh hưởng chủ yếu tới tỷ lệ lòng đỏ Thiếu vitamin B ảnh hưởng đến sản lượng trứng, thiếu vitamin D ảnh hưởng đến chất lượng vỏ (Vũ Duy Giảng, 1998) [4]