1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị hội chứng tiêu chảy cho lợn con tại trại lợn ngô thị hồng gấm huyện lương sơn tỉnh hòa bình

69 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy của lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của lợn con.. Hội

Trang 1

HỒNG GẤM, HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành:

Lớp:

Chăn nuôi Thú y K45-TY-N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013– 2017

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành:

Lớp:

Chăn nuôi Thú y K45-TY-N01 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013– 2017

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Hòa

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tớiThS Nguyễn Hữu Hòađã tận tình

giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y

đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin cảm ơncô Ngô Thị Hồng Gấm - chủ trang trại, cùng toàn thể các

cô, chú, anh chị là kỹ sư, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp

đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên khóa luận không tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày … tháng 11 năm 2017

Sinh viên

Phạm Việt Hoàng

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Phác đồ điều trị lợn con mắc hội chứng tiêu chảy 32

Bảng 4.1: Cơ cấu đàn lợn của trại từ năm 2015-2017 34

Bảng 4.2: Lịch sát trùng trại lợn nái 38

Bảng 4.3: Lịch phòng bệnh của trại lợn 39

Bảng 4.4: Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn tại trang trại trong thời gian thực tập 40

Bảng 4.5: Kết quả đỡ đẻ và thực hiện các thủ thuật trên đàn lợn con 42

Bảng 4.6: Tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy theo các tháng 45

Bảng 4.7: Tỷ lệ lợn con chết do hội chứng tiêu chảy 47

Bảng 4.8: Kết quả theo dõi một số triệu chứng chính lợn con mắc tiêu chảy 49 Bảng 4.9: Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn bằng hai loại thuốc Nova - Amcoli và MD Nor - 100 51

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 4.1: Biểu đồ tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy theo các tháng 46 Hình 4.2: Biểu đồ tỷ lệ lợn con chết do hội chứng tiêu chảy(%) 48

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 6

2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề 6

2.2.2 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31

3.1 Đối tượng 31

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31

3.3 Nội dung tiến hành 31

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Phương pháp thực hiện 31

Trang 8

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm từ năm 2015 đến năm 2017 34

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn 35

4.3 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh, phòng bệnh 37

4.3.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 37

4.3.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái và lợn con 39

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn tại trang trại trong thời gian thực tập 40

4.3.4 Kết quả thực hiện các thủ thuật trên lợn con 42

4.4 Kết quả theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại trang trại 45

4.4.1 Kết quả theo dõi tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ qua các tháng 45

4.4.2 Tỷ lệ lợn con chết do hội chứng tiêu chảy 47

4.4.3 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc tiêu chảy 49

4.4.4 Kết quả điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn 51

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Ở nước ta nông nghiệp là một nghề truyền thống có từ lâu đời chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Trong đó ngành chăn nuôi là một ngành nghề rất quan trọng và thu hút được nhiều lao động và vốn đầu tư

từ trong và ngoài nước Đặc biệt chăn nuôi lợn cung cấp một nguồn thực phẩm tươi ngon có giá trị dinh dưỡng cao, như thịt, sữa cho con người, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm cho công nghiệp chế biến

và xuất khẩu thương phẩm Chính vì thế tại các địa phương ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tự túc truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hiện đại

Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân

Để có được kết quả trên ngoài việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng Tuy vậy bên cạnh những tiến bộ đạt được, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Dịch bệnh là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí chăn nuôi và giá thành sản phẩm Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, ngoài bệnh của lợn nái thì hội chứng tiêu chảy của lợn con cũng rất đáng lo ngại, làm ảnh hưởng tới tỷ lệ nuôi sống và sự sinh trưởng của lợn con Trong đó hội chứng tiêu chảy ở lợn con là một bênh thường xuyên xảy ratrong nhiều trại lợn giống và các hộ gia đình nuôi lợn nái ở nước ta

Trang 10

Hội chứng tiêu chảy xảy ra ở các giống lợn và mọi lứa tuổi và gây hiệu quả nghiêm trọng và tổn thất rất lớn Hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây ra như vi khuẩn, virus, thức ăn kém phẩm chất, chăn nuôi không đúng quy trình, thời tiết thay đổi đột ngột hay do một số bệnh truyền nhiễm, bệnh nội khoa và bệnh ký sinh trùng Ở nước ta do nhiều yếu tố tác động như thời tiết, tập quán chăn nuôi, điều kiện dinh dưỡng, môi trường sống, trình độ khoa học kỹ thuật nên hội chứng tiêu chảy rất cao.Trong hội chứng

tiêu chảy ở lợn con, E.coli và Salmonella là hai nguyên nhân gây bệnh quan

trọng và rất phổ biến

Để giảm thiểu những thiệt hại do hội chứng tiêu chảy gây ra đối với cơ sở nuôi lợn

tập trung, tôi đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị hội chứng tiêu chảy cho lợn con tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

- Nắm vững quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn con theo mẹ

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Trang 11

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập

2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên của cơ sở thực tập

-Vị trí địa lý:

Trại lợn Ngô Thị Hông Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Trang trại là trại lợn gia công của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức

ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại

2.1.1.2 Điều kiện cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của cơ sở thực tập

∗ Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại có tổng diện tích 6 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh,cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 3 ha Diện tích còn lại là đồi núi

Khu chăn nuôi chia làm hay khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà Trong đó, khu chăn nuôi lợn chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản với các giống sản xuất chính như: Lợn nái lai giữa 2 dòng giống Landrace với Yorshire

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1.200 nái bao gồm: 3 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 1 cai sữa cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho thuốc…

Trang 12

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió đối với các chuồng đẻ và 8 quạt thông gió đối với các chuồng bầu, và 2 quạt đối với chuồng cách ly Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính

Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng

Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng nái đẻ 1 và chuồng bầu 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí

từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa ở giữa các chuồng

∗ Cơ cấu tổ chức trang trại

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)

2.1.2.1 Công tác chăn nuôi

Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp giống lợn là Landrace - Yorkshire Lợn sau khi sinh 19 - 23 ngày thì được xuất chuồng

Hiện nay trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,15-2,3 lứa/năm Số con sơ sinh là 12,15 con/đàn, số con cai sữa là 10,9 con/đàn

Trang 13

Tại trại, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày tiến hành cai sữa, sau đó được chuyển sang chuồng úm

Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam

2.1.2.2 Công tác thú y

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công ty cổ phần Chăn nuôiCP Việt Nam

Công tác vệ sinh: hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về mùa

hè, ấm áp về mùa đông Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, đường đi trong trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

Công nhân, kỹ sư, khách tham quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước khi thay quần áo bảo hộ lao động

Công tác phòng bệnh: trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện ra vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy

đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách li, điều trị ngay ở giai đoạn đầu của bệnh nên

Trang 14

điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn lợn

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý của lợn con

Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh

+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn con

Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất là

cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh, chúng liên kết với niêm dịch

+ Cơ năng điều tiết thân nhiệt

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở

cả hai giai đoạn trong và ngoài thai

- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs,1996) [9]

- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại

Trang 15

và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [16]

+ Hệ miễn dịch của lợn con

Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzyme tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên dễ gây

rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh (Salmonella, E.coli, Cl.perfringens…) dễ

dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa

Trần Thị Dân (2008) [3] cho biết: lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 -

6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy, cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh

+ Hệ vi sinh vật đường ruột

Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [24] cho biết: hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:

- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E.coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người

ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E.coli Đây là vi khuẩn phổ biến nhất

hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các chủng

E.coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E.coli rất đa

dạng Theo Bertschinger H U (1999) [33], cho đến nay đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính

Trang 16

F,yếu tố gây bệnh không phải là độc tố của E.Coli (Đặng Xuân Bình, 2010)

[2] Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống

vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm

khí gây thối rữa: Clostridium perfringen, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus…

2.2.1.2 Hiểu biết về hội chứng tiêu chảy

Tiêu chảy là thuật ngữ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng, được mô tả

phân lỏng, nhiều nước hoặc có máu và mủ

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa,

là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước

do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [25]

Tuỳ theo đặc điểm, tính chất, diễn biến bệnh, hoặc loài gia súc, hoặc nguyên nhân chính gây bệnh mà hội chứng tiêu chảy được gọi bằng tên khác nhau như bệnh xảy ra đối với gia súc non theo mẹ, gọi là bệnh lợn con ỉa phân trắng, hay bê nghé ỉa phân trắng,… còn ở gia súc sau cai sữa là chứng khó tiêu, chứng rối loạn tiêu hoá, hoặc hội chứng rối loạn tiêu hoá Nếu xét về

nguyên nhân chính gây bệnh thì có các tên gọi như bệnh Colibacillosis do vi khuẩn E coli gây ra, bệnh phó thương hàn lợn do vi khuẩn Salmonella cholerae suis gây ra, bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) do

Coronavirus gây ra …

Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên gọi là hiện tượng tiêu chảy Tiêu chảy do nhiều nguyên nhân gây

ra đồng thời nên gọi là hội chứng tiêu chảy Cho dù do bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì hậu quả nghiêm trọng là mất nước, mất chất điện

Trang 17

giải và kiệt sức, những gia súc khỏi thường bị còi cọc, thiếu máu, chậm lớn Đặc biệt khi gia súc bị tiêu chảy nặng kèm hiện tượng viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa dẫn đến gia súc có thể chết với tỷ lệ cao, gây thiệt hại lớn về kinh tế

2.2.1.3 Nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy

Do vi khuẩn

Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy nhiều tác giả đã kết luận rằng trong bất cứ trường hợp nào của bệnh cũng có vai trò tác động của vi khuẩn

Trong đường ruột của gia súc nói chung và của lợn nói riêng, có rất nhiều loài vi sinh vật sinh sống Vi sinh vật trong đường ruột tồn tại dưới dạng hệ sinh thái Hệ sinh thái vi sinh vật đường ruột ở trạng thái cân bằng động theo hướng có lợi cho cơ thể vật chủ Hoạt động sinh lý của gia súc chỉ diễn ra bình thường khi mà hệ sinh thái đường ruột luôn ở trạng thái cân bằng

Sự cân bằng này biểu hiện ở sự ổn định của môi trường đường tiêu hóa của con vật và quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật với nhau trong hệ vi sinh vật đường ruột Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh, trạng thái cân bằng này bị phá vỡ dẫn đến loạn khuẩn và hậu quả là lợn bị tiêu chảy Nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đã chứng minh rằng khi gặp những điều kiện thuận lợi, những vi khuẩn thường gặp ở đường tiêu hóa sẽ tăng độc tính, phát triển với số lượng lớn trở thành có hại và gây bệnh

- Các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy chủ yếu là:

+ Escherichia coli (thường được viết tắt là E coli) hay còn được gọi là vi khuẩn

đại tràng là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột của động vật máu nóng (bao gồm chim và động vật có vú) Vi khuẩn này cần thiết trong quá trình tiêu hóa thức ăn và là thành phần của khuẩn lạc ruột Sự có

mặt của E.coli trong nước ngầm là một chỉ thị thường gặp cho ô

Trang 18

nhiễm phân E.coli thuộc họ vi khuẩn Enterobacteriaceae và thường được sử

dụng làm sinh vật mô hình cho các nghiên cứu về vi khuẩn

Hình thái : E.coli là một trực khuẩn gram âm, hình gậy ngắn, kích thước

2-3 x 0,6µ Trong cơ thể có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông xung quanh thân nên có thể di động được, không hình thành nha bào, có thể có giáp mô

Độc tố: vi khuẩn E.coli tạo ra 2 loại độc tố là nội độc tố và ngoại độc tố

Ngoại độc tố: là một chất không chịu được nhiệt, dễ bị phá hủy ở 560C trong vòng 10-30 phút Dưới tác dụng của formon và nhiệt ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính thần kinh và gây hoại tử

Nội độc tố: là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi khuẩn và gắn với tế bào vi khuẩn rất chặt Nội độc tố có tính kháng nguyên hoàn toàn, chịu nhiệt

và có khả năng sinh choáng mạch máu

+ Salmonella

Salmonella thuộc họ enterobacteriaceae Các loại gây bệnh có thể kể đến

như: salmonella typhimurium, salmonella cholera và salmonella ententidis Đây

là những trực khuẩn gram âm, hiếu khí tùy ý, hầu hết các Salmonella đều có lông xung quanh thân (trừ Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum) vì

vậy có khả năng di động, không sinh nha bào kích thước khoảng 0,4-0,6 x

2-3 µm

Salmonella lên men glucose có sinh hơi (trừ Salmonella typhi lên men

glucose không sinh hơi) không lên men lactose, indol âm tính, đỏ methyl dương tính, VP âm tính, citrat thay đổi, urease âm tính H2S dương tính(trừ

Salmonella paratyphi A: H2S âm tính)…

Dễ mọc trên các môi trường nuôi cấy thông thường

Nhiệt độ phát triển từ 5-45oC, thích hợp ở 37oC, pH thích hợp = 7,6 nhưng nó có thể phát triển được ở pH từ 6-9 Với pH >9 hoặc < 4,5 vi khuẩn

Trang 19

có thể bị tiêu diệt, khả năng chịu nhiệt của vi khuẩn kém: ở 50oC trong 1 giờ,

ở 70o C trong 15 phút và 100o C trong 5 phút

Ở nồng độ muối 6 -8% vi khuẩn phát triển chậm và ở nồng độ muối là 19% sự phát triển của vi khuẩn bị ngừng lại (Nguyễn Như Thanh và cs, 2004) [24]

8-Phạm Sỹ Lăng (2009) [17] cho rằng, bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu sau:

* Nguyên nhân do vi khuẩn E.coli

E.coli thuộc họ trực khuẩn Enterobacteriaceae, giống Escherichia E.coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, bắt màu gram âm, sống trong điều kiện hiếu khí, yếm khí tuỳ tiện, phần lớn di động Chúng phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường

Các yếu tố gây bệnh của E.coli: Yếu tố bám dính, khả năng dung huyết,

độc tố đường ruột (enterotoxin)

+ Yếu tố bám dính: Kháng nguyên (yếu tố) bám dính K88 (F4) là một

trong những yếu tố gây bệnh đầu tiên, quan trọng của các chủng E.coli độc

+ Khả năng dung huyết: Dung huyết là một yếu tố độc lực quan trọng

của các chủng E.coli gây tiêu chảy ở lợn

+ Độc tố đường ruột: Enterotoxin của E.coli quyết định mức độ tiêu chảy

của lợn theo Trương Quang, Trương Hà Thái (2007) [20]

* Nguyên nhân do Salmonella

Salmonella thuộc họ trực khuẩn đường ruột Enterobacteriaceae, là một

loại vi khuẩn có hình gậy ngắn, hai đầu tròn, không hình thành nha bào, giáp

mô Đa số Salmonella có khả năng di động, bắt màu gram âm, vừa hiếu khí

vừa kỵ khí bắt buộc

Trang 20

đề kháng của cơ thể và gây ỉa chảy ở thể cấp tính

a Bệnh viêm ruột dạ dày truyền nhiễm (TGE)

Virus TGE (Transmissible gastro enteritis) được chú ý nhiều trong hội

chứng tiêu chảy ở lợn Virus xuất hiện năm 1935 tại Mỹ và được mô tả lần đầu tiên vào năm 1946 Tại Châu Á bệnh xuất hiện ở Triều Tiên, 1981; Thái Lan, 1987… Đào Trọng Đạt và cs, 1995 [9]) Virut TGE gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm ở lợn, là một bệnh có tính chất truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa và tiêu chảy nghiêm trọng Bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét, lạnh Ở lợn, virus nhân lên mạnh nhất trong niêm mạc của không tràng và tá tràng rồi đến hồi tràng

b Bệnh tiêu chảy truyền nhiễm ở lợn (PED)

- Bệnh PED do một loại Coronavirus có tên CV777 gây ra Bệnh xảy ra

với lợn mọi lứa tuổi Đặc tính kháng nguyên của loại virus này hoàn toàn khác kháng nguyên của virus gây bệnh TGE Thể bệnh PED giống như thể bệnh TGE, nhưng nhẹ hơn vì bệnh PED chỉ gây chết khoảng 60% lợn con dưới 21 ngày tuổi, 15% lợn vỗ béo (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [9]

- Lợn mắc PED thường có triệu chứng nôn mửa, con vật có biểu hiện đau bụng Virus phá huỷ lông nhung của ruột (đặc biệt là không tràng và hồi tràng) Lợn bỏ ăn, uống nhiều nước, thích nằm chúi đầu vào nhau

- Mổ khám thấy ruột non mỏng, ruột bị căng phồng chứa nhiều nước màu vàng

Trang 21

c Bệnh do Rotavirus

- Bệnh tiêu chảy do Rotavirus thường xảy ra ở lợn đang bú từ 1 tới 6

tuần tuổi và cao nhất ở lợn khoảng 3 tuần tuổi

- Nguyên nhân có thể do lúc 3 tuần tuổi lượng kháng thể ở sữa mẹ giảm, cùng với lợn vừa tập ăn đã tạo điều kiện cho bệnh xảy ra

- Biểu hiện đặc trưng của bệnh là lợn đi ỉa phân màu trắng hoặc vàng, lúc bị bệnh phân lợn lỏng như nước, sau đó vài giờ hoặc 1 ngày phân sẽ đặc hơn và có dạng như kem rồi keo quánh trước khi trở lại bình thường

- Lợn tiêu chảy gầy sút rõ rệt, lông xù Sau khi khỏi bệnh lợn còi cọc, chậm lớn, biếng ăn, còn ở lợn lớn không có biểu hiện lâm sàng (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) [8]

- Bệnh tích: Thành ruột non mỏng, dạ dày chứa cục sữa hơi vàng lổn nhổn, không tiêu, mùi chua

Do ký sinh trùng

Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa

và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh

trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như: sán láruột lợn (Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)…

Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [14] đã có kết luận cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con

Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại

Trang 22

giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [15]

Một số nguyên nhân khác

- Do thời tiết khí hậu

Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, quá nóng, quá lạnh, mưa gió, ẩm độ, vệ sinh chuồng trại, đều là các yếu tố stress có hại tác động đến tình trạng sức khỏe của lợn

Ở lợn con, do cấu tạo và chức năng sinh lý của các hệ cơ quan chưa ổn định, hệ thống tiêu hóa, miễn dịch, khả năng phòng vệ và hệ thống thần kinh đều chưa hoàn thiện Vì vậy lợn con là đối tượng chịu tác động của điều kiện ngoại cảnh mạnh nhất, bởi các phản ứng thích nghi và bảo vệ của cơ thể còn rất yếu

Đoàn Thị Kim Dung (2004) [4] cho rằng: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy điều kiện môi trường sống lạnh,

ẩm đã làm thay đổi các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu của lợn, biến đổi về chức năng và hình thái của hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, liên quan đến phản ứng điều hòa nội mô Trong những trường hợp như thế sức đề kháng của cơ thể giảm đi là điều kiện để cho các vi khuẩn đường ruột tăng số lượng độc tính và gây bệnh

- Do thức ăn và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng

Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng có vai trò hết sức quan trọng trong chăn nuôi Việc thực hiện đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng trong chăn nuôi sẽ đem lại sức khỏe và tăng trưởng cho lợn Khi thức ăn chăn nuôi không

Trang 23

đảm bảo, chuồng trại không hợp lý, kỹ thuật chăm sóc không phù hợp, là nguyên nhân làm cho sức đề kháng của lợn giảm, tăng nguy cơ mắc bệnh Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc cũng là nguyên nhân gây ra tiêu chảy

Trong các loại độc tố nấm mốc thì Aflatoxin là loại độc tố được quan tâm nhất

hiện nay

Thức ăn thiếu đạm, tỷ lệ protid và axitamin không cân đối dẫn đến quá trình hấp thu chất dinh dưỡng không tốt Cơ thể lợn thiếu dinh dưỡng, hàm lượng albumin huyết thanh giảm và kéo theo hàm lượng γ - globulin huyết thanh cũng giảm Hệ quả là khả năng miễn dịch của cơ thể giảm đi rõ rệt, tạo điều kiện cho các vi khuẩn phát triển và gây bệnh

Nếu khẩu phần thức ăn của lợn thiếu khoáng và vitamin cũng là nguyên nhân làm cho lợn con dễ mắc bệnh Chất khoáng góp phần tạo tế bào, điều hòa thức ăn đạm và chất béo Lợn con thiếu khoáng dễ dẫn đến bị còi xương,

cơ thể suy nhược, sức đề kháng giảm tạo điều kiện cho vi khuẩn đường ruột tăng độc lực và gây bệnh

Vitamin là yếu tố không thể thiếu được với mọi cơ thể động vật, nó đảm bảo cho quá trình chuyển hóa trong cơ thể diễn ra bình thường Thiếu một vitamin sẽ làm cho lợn còi cọc, sinh trưởng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa Thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây hội chứng tiêu chảy Thức ăn kém chất lượng, ôi thiu, khó tiêu, cho lợn ăn quá nhiều đều là nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn

- Do stress

Sự thay đổi các yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển

đi xa đều là các tác nhân stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh tật trong đó có tiêu chảy Hệ thống tiêu

Trang 24

hóa của lợn mẫn cảm đặc biệt với stress Hiện tượng stress thường gây nên biểu hiện chán ăn, nôn mửa, tăng nhu động ruột, có khi tiêu chảy, đau bụng

- Ảnh hưởng của điều kiện chuồng trại

Phần lớn thời gian sống của lợn là ở trong chuồng do vậy chuồng trại có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của chúng Chuồng trại xây dựng đúng kiểu, đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật, cao ráo, thoáng, độ thông khí tốt, kết hợp với chăm sóc quản lý và vệ sinh chuồng trại tốt sẽ ảnh hưởng rất tốt đến khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh tật của gia súc và ngược lại

Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta, về mùa hè khí hậu nóng, ẩm, về mùa đông khí hậu lạnh, khô nên yêu cầu chuồng nuôi gia súc luôn phải khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông Do vậy, trong xây dựng chuồng trại ngoài việc đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cần chú

ý đến địa điểm xây dựng chuồng, hướng chuồng, vật liệu xây dựng để dễ dàng khống chế các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lợn

Đào Trọng Đạt và cs (1986) [7] kết luận: chuồng khô, thoáng, đủ ánh sáng thì tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng thấp hơn so với chuồng ẩm, tối

- Ảnh hưởng của độ ẩm chuồng nuôi đến hội chứng tiêu chảy ở lợn

Độ ẩm trong chuồng nuôi 75% là do sản sinh ra từ cơ thể động vật, 20 - 25% từ mặt đất (ổ lót, tường ẩm) bốc ra và 10 - 15% từ không khí bên ngoài

chuồng nuôi đưa vào

Trong chuồng nuôi nếu độ ẩm quá cao ảnh hưởng rất xấu đến cơ thể gia súc cho dù nhiệt độ không khí cao hay thấp Độ ẩm trong chuồng nuôi từ 55 - 85% ảnh hưởng đến cơ thể gia súc chưa rõ rệt nhưng nếu độ ẩm chuồng nuôi >90% sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến cơ thể gia súc Nhiều thí nghiệm cho thấy lợn nuôi trong chuồng có độ ẩm cao trong thời gian dài không muốn ăn, giảm sức tiêu hóa thức ăn, giảm sức đề kháng với bệnh tật trong đó có hội chứng tiêu chảy

Trang 25

Bất kỳ mùa nào độ ẩm chuồng nuôi cao cũng có hại Về mùa nóng, nếu

độ ẩm chuồng nuôi cao thì hơi nước trong cơ thể khó thoát ra ngoài làm cho con vật nóng thêm Về mùa lạnh, nếu độ ẩm chuồng nuôi cao thì nhiệt độ cơ thể lợn lạnh thêm do không khí ẩm dẫn nhiệt nhanh hơn không khí khô, cơ thể lợn sẽ mất nhiệt nhiều hơn Đặc biệt, với lợn sơ sinh khi chức năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh, lợn con sống trong chuồng có nhiệt độ thấp,

ẩm độ cao sẽ làm cho thân nhiệt lợn con hạ xuống nhanh, sau khi đẻ 30 phút thân nhiệt lợn con có thể giảm thấp đến 5 - 60C sau đó mới dần ổn định Nếu nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp thì thân nhiệt lợn con phục hồi nhanh và ngược lại, nếu nhiệt độ chuồng nuôi quá lạnh hoặc quá nóng sẽ kéo dài thời gian phục hồi thân nhiệt sẽ làm cho con vật suy yếu rõ rệt Con vật bị stress nhiệt - nguyên nhân gây ỉa chảy Độ ẩm thích hợp trong chuồng nuôi là từ

80 - 85%

Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9] cho rằng các yếu tố lạnh, ẩm ảnh hưởng rất lớn đến lợn sơ sinh, lợn con vài ngày tuổi Trong các yếu tố về tiểu khí hậu thì quan trọng nhất là nhiệt độ và độ ẩm Độ ẩm thích hợp cho lợn từ 75 đến 85% Vì thế việc làm khô và giữ ấm chuồng là vô cùng quan trọng

Phan Địch Lân và cs (1997) [18] cho rằng chuồng trại ẩm, lạnh tác động vào cơ thể lợn gây rối loạn thần kinh từ đó gây rối loạn tiêu hóa

2.2.1.4 Cơ chế sinh bệnh

Bệnh tiêu chảy xảy ra hai cơ chế chính là xuất tiết và thẩm thấu:

- Tiêu chảy xuất tiết

Do độc tố của vi khuẩn E.coli, Salmonella hay của virut tác động vào

niêm mạc ruột làm quá trình bài tiết dịch (muối, nước) vào lòng ruột không bình thường sẽ chảy ra tiêu chảy xuất tiết

Khi bị tiêu chảy nhiều sẽ gây mất nước cho cơ thể, gây rối loạn chức năng sinh lí tiêu hoá Khi bị rối loạn tiêu hoá dẫn tới rối loạn hệ vi sinh vật

Trang 26

đường ruột, một số vi khuẩn có hại phát triển nhanh, do đó độc tố của vi khuẩn tiết ra nhiều, độc tố của vi khuẩn vào máu làm rối loạn cơ năng giải độc của gan và quá trình lọc ở thận (Hồ Văn Nam, 1982) [19]

Lợn bị tiêu chảy nhiều sẽ làm cơ thể bị mất nước do đó làm giảm lượng tuần hoàn của cơ thể dẫn đến truỵ tim mạch, gây nên tử vong

- Tiêu chảy thẩm thấu: do niêm mạc ruột non được lót bởi lớp liên bào muối và nước qua lại rất nhanh để duy trì sự cân bằng thẩm thấu giữa lòng ruột và dịch ngoại bào Vì vậy khi trong lòng ruột có chất hấp thụ kém và độ thẩm thấu cao thì sẽ gây ra tiêu chảy

Khi nói đến nguyên nhân gây bệnh do E.coli, cơ chế gây bệnh được diễn

ra như sau:

Khi có điều kiện thuận lợi từ môi trường và vật chủ, vi khuẩn E.coli tăng

sinh trong ruột và gây tiêu chảy bằng các yếu tố gây bệnh đặc hiệu Cấu trúc

kháng nguyên của E.coli rất phức tạp gồm các loại: kháng nguyên O (kháng

nguyên thân), kháng nguyên H (kháng nguyên lông), kháng nguyên K (kháng nguyên bề mặt, vỏ bọc) và F (kháng nguyên bám dính) (Đỗ Ngọc Thuý và cs,

2002) [29] E.coli xâm nhập vào cơ thể động vật từ rất sớm, sau vài giờ được

sinh ra Sau khi phát triển và tăng nhanh ở tế bào thành ruột, vi khuẩn xâm

nhập vào hệ lâm ba, hệ tuần hoàn gây nhiễm trùng Các chủng E.coli thuộc

nhóm ETEC và VTEC thường gây tiêu chảy ở lợn sơ sinh và lợn con sau cai

sữa Dựa vào các yếu tố gây bệnh, người ta đã phân vi khuẩn E.coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E.coli (ETEC), Enteropathgenic E.coli (EPEC), SdherenceEnteropathogenic E.coli (AEEC) và Verotoxingenic E.coli (VTEC) Hầu hết vi khuẩn E.coli gây bệnh sản sinh một hay nhiều kháng nguyên bám

dính (Fimbriae), 4 loại kháng nguyên bám dính quan trọng của ETEC gây bệnh ở lợn sơ sinh là F4(K88), F5(K99), F6(987P) và F41 Nhờ các kháng

nguyên bám dính này mà vi khuẩn E.coli bám vào các cơ quan cảm nhận

Trang 27

(receptor) chuyên biệt trên màng tế bào của các tế bào biểu mô ruột Sau đó,

vi khuẩn xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô ruột non và cư trú ở đó, ở đây chúng phát triển và sản sinh độc tố đường ruột enterotoxin Hai loại độc tố đường ruột đó là độc tố chịu nhiệt (ST) và độc tố không chịu nhiệt (LT) Độc

tố đường ruột phá huỷ tổ chức thành ruột và làm thay đổi cân bằng trao đổi nước và chất điện giải, nước được rút vào cơ thể gây tiêu chảy Tiêu chảy làm lợn con mất nước, mất chất điện giải dẫn đến truỵ tim mạch và chết

Tóm lại quá trình tiêu chảy ở lợn con đã đưa lợn con vào 3 trạng thái rối loạn:

- Rối loạn chức năng tiêu hoá và hấp thu

- Rối loạn cân bằng của khu hệ vi sinh vật đường ruột

- Rối loạn cân bằng nước và điện giải do lợn con tiêu chảy quá nhiều Lợn con trong tình trạng nhiễm độc, truỵ tim mạch mà chết Những con chữa khỏi bệnh thường tăng trọng giảm, chậm lớn, còi cọc

2.2.1.5 Triệu chứng

Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt không tăng, nếu tăng thì chỉ sau 2 - 3 ngày rồi hạ xuống trở về lúc bình thường, có con thân nhiệt hạ xuống do ỉa chảy mất nước nhiều Lợn gầy tóp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân Tiêu chảy có thể ở mức nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước hoặc tiêu chảy nặng với triệu chứng phân toàn nước Phân lợn có màu sắc khác nhau phân vàng kem hay hơi xanh, trắng hoặc xám Phân có thể chảy tự do từ hậu môn xuống sàn Trong trường hợp nặng, triệu chứng lâm sàng là mất nước, rối loạn trao đổi chất, tiêu chảy có thể gây sốt hoặc không sốt và lợn con suy nhược rất nhanh rồi chết Khối lượng cơ thể giảm 30 - 40% do mất nước Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Sự mất nước và giảm khối lượng cơ thể làm cho lợn bị suy sụp nhanh, những con lợn con này thường bị chết Trong trường hợp mạn tính hay bệnh ít nghiêm trọng, da

Trang 28

quanh hậu môn và vùng háng có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít

bị mất nước và điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh

2.2.1.6 Bệnh tích

Những bệnh tích điển hình quan sát thấy như: xác lợn gầy, vùng đuôi bê bết phân Niêm mạc mắt, miệng nhợt nhạt Trong dạ dày chứa đầy hơi hoặc thức ăn chưa tiêu, mùi khó ngửi Thành dạ dày phù và xuất huyết, niêm mạc ruột non xuất huyết Trong ruột non chứa đầy khí căng phồng, có khi lẫn máu Gan, lách, thận không biến đổi nhiều

Lê Văn Dương (2010) [6] kết luận: tỷ lệ phân lập E.coli từ phủ tạng của

lợn con mắc bệnh tiêu chảy là 90,67% và mẫu phân là 93,33%

Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] kết luận: lợn con bị tiêu chảy có bệnh tích điển hình như ruột bị viêm, xuất huyết (95,45% ở ruột non; 100% ở ruột già)

Dạ dày chứa đầy sữa không tiêu, niêm mạc phủ đầy dịch nhờn, xung huyết (68,18%) Hạch lâm ba màng treo ruột bị sưng, tụ huyết (63,63%)

2.2.1.7 Một số đặc điểm dịch tễ của hội chứng tiêu chảy

Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra.Chính vì vậy, sự xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác giữa nguyên nhân và cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng…đều có ảnh hưởng đến hội chứng tiêu chảy ở gia súc

Ở lợn, hội chứng tiêu chảy có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn:

- Giai đoạn sơ sinh: 1 - 4 ngày tuổi

- Giai đoạn lợn con theo mẹ: 5 - 21 ngày tuổi

- Giai đoạn lợn sau cai sữa: >21 ngày tuổi

Tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21- 40 ngày và giảm ở giai đoạn từ 41 -60 ngày

Trang 29

Nguyễn Chí Dũng (2013) [5] kết luận: tháng có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao (12, 1, 2) tỷ mắc tiêu chảy cao (26,98% đến 38,18%)

2.2.1.8 Biện pháp phòng và trị tiêu chảy cho lợn

Phòng bệnh

Như ta đã biết “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ

Tiêu chảy là hội chứng gây ra bởi nhiều nguyên nhân kết hợp với nhau, làm mất cân bằng hệ vi sinh vật đường tiêu hoá Do vậy việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt

Lê Văn Tạo và cs (2007) [23] kết luận: vi khuẩn E.coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vệ sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bị nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bị cảm

nhiễm E.coli, bệnh sẽ nổ ra vì vậy mà khâu vệ sinh, chăm sóc có một ý nghĩa

to lớn trong phòng bệnh

Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vệ sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo 32 - 340C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt, không thay đổi thức ăn đột ngột

Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ, kín ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những

Trang 30

ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng, mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

- Phòng bệnh bằng bổ sung sắt

Ở lợn con, việc thiếu sắt dẫn đến thiếu máu, làm giảm sức đề kháng cũng

là nguyên nhân gây nên hội chứng tiêu chảy khá cao Lợn con một ngày tuổi

sẽ được cắt nanh bấm tai và tiêm sắt

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Phòng bệnh bằng vắc xin là phương pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa bệnh đặc biệt là các bệnh có nguyên nhân là vi sinh vật Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cho lợn đã được nghiên cứu khá lâu và đã được sử dụng để phòng ngừa tiêu chảy nhằm tạo miễn dịch chủ động cho đàn lợn chống lại bệnh, các loại vắc xin này đã và đang cho kết quả phòng bệnh một cách khả quan, đạt được mục tiêu làm giảm tỷ lệ bệnh Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vắc xin phòng bệnh nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh

Bên cạnh các loại vắc xin E.coli, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu chế tạo vắc xin Salmonella Hiện nay trên thế giới đã có nhiều loại vắc xin phòng bệnh do vi khuẩn Salmonella gây ra ở lợn Mỹ sản xuất vắc xin đa giá thành phần gồm E.coli, Pasteurella mutocida, Salmonella choleraesuis Ở Đức chế vắc xin Salmonella typimurium chủng ĐT 104 Hungari chế vắc xin

vi khuẩn Salmonella có bổ trợ glucoza

Ngoài việc sử dụng vắc xin, một số tác giả đã đi sâu nghiên cứu các chế phẩm để phòng và trị hội chứng tiêu chảy Đây là biện pháp vừa giúp tăng khả năng đề kháng, vừa khống chế sự phát triển quá mức của một số loài vi khuẩn có hại cho cơ thể gia súc Trần Thị Hạnh và cs (2002) [11] đã chế tạo sinh phẩm

E.coli - sữa và Cl.perfringens - toxoid dùng phòng tiêu chảy cho lợn con

Trang 31

Như vậy, ta thấy việc phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con đã có rất nhiều nghiên cứu từ rất sớm và có những kết quả khả quan, nhưng hội chứng tiêu chảy ở lợn con là do rất nhiều nguyên nhân gây ra Do vậy biện pháp phòng bệnh tốt nhất là biện pháp vệ sinh chăm sóc, phòng trừ tổng hợp

Trị bệnh

Hiện nay ở nước ta cũng như trên thế giới vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu mới đây nhất cho rằng việc điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế và khắc phục rối loạn tiêu hoá hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng có như thế mới khống chế được bệnh

Phạm Ngọc Thạch (2005) [26] cho biết để điều trị hội chứng tiêu chảy ở gia súc nên tập trung vào 3 khâu là:

- Loại trừ sai sót trong nuôi dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất, chăm sóc nuôi dưỡng tốt

- Khắc phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn

- Điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải

Việc sử dụng kháng sinh trong điều trị được nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ điều trị khác nhau, nhưng các tác giả đều thống nhất rằng việc sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần xem xét khả năng mẫn cảm và tính kháng thuốc của vi khuẩn, tác dụng kháng sinh sau điều trị

Để điều trị tốt hội chứng tiêu chảy ta phải đảm bảo toàn diện các khâu sau:

- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá

- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát bằng thuốc hoá học trị liệu

- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá

- Bổ sung nước, chất điện giải

- Bổ sung Fe, các vitamin, khoáng

Trang 32

- Thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cả lợn nái và lợn con theo hướng chống vi khuẩn chống bội nhiễm, một số tác giả nước ngoài đã sử dụng các loại thuốc hoá học trị liệu: furazolidon, tetracylin, streptomycin, ampicillin và các sulfamid Các tác giả đều nhận thấy rằng hiệu quả chữa bệnh của các loại thuốc trên rất khác nhau ở từng địa phương, còn trong một địa phương thì hiệu quả giảm dần theo thời gian

Trịnh Tuấn Anh (2010) [1]kết luận: Các chủng Salmonella spp mẫn cảm

với ofloxacin và norfloxacin (100%), tiếp đến là ciprofloxacin (90%) và neomycin (80%)

Tác giả Phạm Khắc Hiếu và cs (1996) [13] kết luận: bằng phương pháp làm kháng sinh đồ đã xác định được một số loại kháng sinh sau đây thường sử dụng riêng rẽ hoặc phối hợp để điều trị:

+ Tetramycin với liều 50mg/kg P

+ Neomycin với liều 50mg/kg P

+ Biomycin với liều 50mg/kg P

Khi điều trị phải tuân theo nguyên tắc: dùng kháng sinh đặc hiệu kết hợp với thuốc bổ trợ tăng sức đề kháng, mau hồi phục bổ sung và chất điện giải như: vitamin C, B - complex, glucose

Lê Văn Dương (2010) [6] kết luận: Các chủng vi khuẩn E.coli phân lập

được mẫn cảm với một số loại kháng sinh: cefiofur, amikacin và kháng mạnh với tetracyclin, ampicillin,…

2.2.1.9 Một số loại thuốc để điều trị bệnh tiêu chảy lợn con tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm

Xác định hiệu lực của thuốc điều trị cho những lợn con mắc bệnh phân trắng sử dụng 2 loại thuốc: MD Nor - 100, Nova - Amcoli

MD Nor - 100

- Thành phần mỗi ml chứa: norfloxacin 10%

Trang 33

- Cơ chế tác dụng:

Quinolone (flumequin, norfloxacin, enrofloxacin, ciprofloxacin, difloxacin, marbofloxacin, ofloxacin ) là nhóm kháng sinh nhân tạo gồm những dẫn xuất của quinolein Quinolone đầu tiên (acid nalidixic) có phổ kháng khuẩn hẹp (tác dụng trên vi khuẩn gram âm), được sử dụng vào những năm 1960 Quinolone được fluor hóa gọi là fluoroquinolone đã được đưa vào

sử dụng trong lâm sàng vào những năm 1970 Fluoroquinolone có phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng trên cả vi khuẩn gram âm và gram dương Kháng sinh nhóm này phân bố đồng đều cả trong dịch nội và ngoại bào, phân bố hầu hết các cơ quan: phổi, gan, mật, xương, tiền liệt tuyến, tử cung, dịch não tủy và qua được hàng rào nhau thai Fluoroquinolone bài thải chủ yếu qua đường tiết niệu ở dạng còn nguyên hoạt chất và tái hấp thu thụ động ở thận

Trong các cơ chế tác động của kháng sinh lên vi khuẩn thì cơ chế tác

động của fluoroquinolone là ức chế tổng hợp acid nucleic Sự nhân đôi DNA

bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bổ sung

Enzyme DNA polymerase xúc tác sự tổng hợp các liên kết giữa các nucleotid; enzyme DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo

thành các vòng xoắn Quinolone (acid nalidixic và các fluoroquinolone) ức chế mạnh sự tổng hợp DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế

enzyme DNA gyrase Cơ chế tác động này hiệu quả trên cả vi khuẩn gram

dương và gram âm Nhưng cũng có thể do cơ chế ức chế tổng hợp acid nucleic này mà kháng sinh nhóm fluoroquinolone được cho là có nguy cơ gây đột biến gene, gây sẩy thai khi sử dụng cho động vật mang thai, và khuyến cáo là không nên dùng kháng sinh nhóm fluoroquinolone cho động vật mang thai, động vật sinh sản và làm giống

Trang 34

- Công dụng: điều trị cho lợn mắc bệnh về tiêu chảy, thương hàn và phó thương hàn

- Cách dùng:

Tiêm bắp thịt hoặc dưới da

Dùng liên tục trong 3 - 5 ngày

Lơn con, chó mèo: 1ml/ 5 - 7kgTT/ ngày

Ampicillin thực chất là một penicillin bán tổng hợp nhóm A có hoạt phổ rộng với nhiều chủng vi khuẩn gram (+) và vi khuẩn gram (-) Ampicillin có tác dụng chống lại những vi khuẩn mẫn cảm gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, dẫn mật, tiêu hoá, tiết niệu, một số bệnh ngoài da như viêm bì có mủ, áp xe, đầu đinh viêm tai giữa, bàng quang và thận,

Ampicillin là một kháng sinh tương tự penicillin tác động vào quá trình nhân lên của vi khuẩn, ức chế sự tổng hợp mucopeptid của thành tế bào vi khuẩn

Để đạt được hiệu quả, ampicillin phải thấm qua thành tế bào và gắn với các protein Các protein gắn ampicillin chịu trách nhiệm nhiều bước trong quá trình sinh tổng hợp của thành tế bào và có mặt trong hàng trǎm đến hàng nghìn phân tử trên một tế bào vi khuẩn Các protein gắn ampicillin rất khác nhau giữa các chủng vi khuẩn Các kháng sinh beta - lactam cản trở việc tổng hợp

Ngày đăng: 12/04/2021, 09:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm