Đứng trước tình hình chăn nuôi lợn hiện nay ngày càng được công nghiệp hóa, theo quy mô trang trại, quá trình chăm sóc lợn cũng ngày càng chuyên môn hóa theo dây chuyền.. Để giảm tối đa
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS La Văn Công
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới T.S La Văn Công đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khoa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy , cô giáo trong khoa Thú y , đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Bê ̣nh đô ̣n g vật đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm chủ trại Đặng Đình Dũng cùng toàn thể anh,
em kỹ thuật, công nhân trong trại đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp
đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi sai sót
Kính mong được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để giúp cho kiến thức của em ngày càng hoàn thiện và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên Đàm Hồng Anh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Quy định khối lượng thức ăn chuồng bầu 8
Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ 10
Bảng 2.3 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 25
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại 36
Bảng 4.2 Số lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng 37
Bảng 4.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38
Bảng 4.4 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái 43
Bảng 4.5 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 44
Bảng 4.6 Kết quả tiêm vắc xin, thuốc phòng bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 45
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 46
Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 47
Bảng 4.9 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại 48
Bảng 4.10 Kết quả thực hiện các công việc khác 49
Trang 5PED: Porcine Epidemic Diarrhoea
RT-PRC: Real time Polymerase chain reaction
PRRS: Porcine Reproductive & Respiratory Syndrome Hb: Hemoglobin
E.coli: Escherichia coli
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại Trại lợn nái Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 4
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 13
2.2.1 Cơ sở khoa học 13
2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con và lợn
nái đẻ 19
2.2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 28
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32 3.1 Đối tượng 32
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 32
3.3 Nội dung thực hiện 32
3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 32
Trang 73.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4.2 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 33
3.4.3 Phương pháp xác đi ̣nh các chỉ tiêu 35
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 36
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình qua 3 năm 36
4.1.1 Cơ cấu đàn lợn của trại qua 3 năm 36
4.1.2 Số lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trong 6 tháng 37
4.1.3 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 38
4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi của trại 39
4.2.1.Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn con từ sơ sinh đến 21
ngày tuổi 39
4.2.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái của trại 43
4.3 Thực hiện biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại 44
4.3.1 Công tác vệ sinh phòng bệnh 44
4.3.2 Phòng bệnh bằng vắc xin tại cơ sở thực tập 45
4.3.3 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi 46
4.3.4 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn tại trại 47
4.4 Kết quả thực hiện một số công việc khác trong thời gian thực tập tại cơ sở 49
Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
PHỤ LỤC
Trang 8Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng cho con người, phân bón cho ngành trồng trọt, các sản phẩm như da mỡ cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài ra chăn nuôi còn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con người
Đứng trước tình hình chăn nuôi lợn hiện nay ngày càng được công nghiệp hóa, theo quy mô trang trại, quá trình chăm sóc lợn cũng ngày càng chuyên môn hóa theo dây chuyền Bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì chăn nuôi lợn cũng gặp nhiều khó khăn, đó là tình hình dịch bệnh xảy ra ở trong chăn nuôi lợn cũng diễn biến ngày càng phức tạp Vì vậy, vấn đề vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng lợn cũng được chú trọng hơn Để giảm tối đa nguy cơ mắc bệnh của lợn, ngoài việc thực hiện tốt vấn đề vệ sinh, thì bên cạnh đó chăm sóc, nuôi dưỡng phòng và trị bệnh cũng rất quan trọng
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của BCN khoa,
Thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề:
“Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình”
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
Trang 9- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết về kinh nghiệp thực tế
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía nam giáp với huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Phía Bắc Yên Thuỷ giáp với huyện Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và huyện Mỹ Đức của Hà Nội
Điều kiện địa hình, đất đai
Đây là miền núi của huyện Lương Sơn mang tính chất đặc trưng trung chuyển giữa trung du và miền núi Nhìn tổng thể địa hình Lương Sơn có xu hướng thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, tương đối phức tạp với nhiều đồi
và núi đá vôi, xen kẽ là hệ thống sông, suối
Giao thông vận tải
Có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Phú Thọ, đường Hồ Chí Minh thuận lợi trong phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hóa
Điều kiện khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều Đặc biệt do địa hình có độ dốc nhẹ về phía đông và không
có nhiều sông suối nên trên địa bàn hầu như không có lũ lụt vào mùa mưa
Trang 112.1.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập tại Trại lợn nái Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.1.2.1 Quá trình thành lập
Trại lợn ông Dũng nằm trên địa phận, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Đây là trại lợn gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đầu tư giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Đặng Đình Dũng làm chủ, cán bộ kỹ thuật của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại
2.1.2.3 Cơ sở vật chất của trại
Trang trại có tổng diện tích là hơn 2 ha, nằm trên địa bàn khu Thanh Sơn thị trấn Thanh Hà, có địa hình chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển
Trang 12Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản, bao gồm:
+ 6 dãy chuồng nái đẻ: mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có
2 dãy, mỗi dãy có 30 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
+ 2 dãy chuồng bầu: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy, mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Dãy 1 của 2 chuồng được thiết kế cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái
+ 1 chuồng đực giống: bao gồm 30 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh
+ 2 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam Lợn được nuôi
ở đây trong thời gian 3 tháng, thời gian này lợn được sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên làm lợn nái sinh sản
Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng
là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn
Trang 13mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng lợn đực có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết bị như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông
và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng
Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 2 kho cám, 1 phòng ăn và 1 phòng nghỉ trưa cho công nhân
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi
2.1.2.4 Tình hình sản xuất của trại
Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm Số con sơ sinh là 12,32 con/đàn, số con cai sữa là 11,48 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP
Trong trại có 17 con lợn đực giống Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ giống lợn là Duroc 100 và Duroc 31 Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực
Trang 14Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại
- Công tác vệ sinh:
+ Công tác vệ sinh của trại bao gồm các khâu: dọn phân, xịt gầm, lau sàn chuồng, cọ rửa máng ăn cho lợn mẹ và lợn con, tắm cho lợn, xử lý rác thải và thức ăn dư thừa, phun thuốc sát trùng cho chuồng trại và xung quanh chuồng trại, sát trùng các phương tiện vận chuyển, dụng cụ chăn nuôi, dụng
cụ thú y, xử lý nguồn nước Công nhân được trang bị quần áo bảo hộ và sát trùng trước khi lên chuồng
+ Tiến hành rắc vôi bột xung quanh chuồng trại tuần 2 lần
+ Rác thải và xác động vật chết phải được tiêu hủy đúng nơi quy định, đúng quy trình kỹ thuật, không được để qua đêm
+ Chuồng nuôi luôn được vệ sinh sạch sẽ và được tiêu độc bằng thuốc sát trùng Ommicide 2 lần hàng ngày, pha với tỷ lệ 320 ml/ 1000 lít nước
+ Ở các chuồng nái đẻ sau khi cai sữa, lợn mẹ được chuyển lên chuồng nái chửa 1 (khu vực cai sữa) Sau khi xuất lợn con, các tấm đan chuồng này được tháo ra mang ngâm ở hố sát trùng bằng dung dịch NaOH 10 %, ngâm trong 1 ngày sau đó được cọ sạch, phơi khô Khung chuồng cũng được cọ sạch và phun dung dịch NaOH pha với nồng độ loãng Gầm chuồng cũng được vệ sinh sạch sẽ tiêu độc khử trùng kỹ sau đó rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% Để khô 1 ngày, sau đó tiến hành lắp đan vào và đuổi lợn chờ đẻ từ
chuồng lợn bầu xuống
- Quy trình chăm sóc nái chửa:
+ Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng bầu Hàng ngày, vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy thai, lợn mang thai giả;
Trang 15vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn 566, 567SF với khẩu phần ăn phân theo
tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như trong bảng sau:
Bảng 2.1 Quy định khối lƣợng thức ăn chuồng bầu Loại lợn Loại cám Tiêu chuẩn cám Kg/con/ngày
tuần
Từ 13 tuần Từ 15 tuần
Lưu ý: Ngoài quy định tiêu chuẩn thì có thể điều chỉnh khối lượng và loại cám tùy theo thể trạng lợn
- Quy trình chăm sóc nái đẻ:
+ Ô chuồng lợn nái trước khi đẻ được cọ rữa sạch sẽ, dội nước vôi và phun sát trùng hàng ngày cho đến khi nái chửa được chuyển
+ Hàng ngày sàn, chuồng nái chửa được cào phân thường xuyên, không dính phân bẩn
+ Nái chửa trước khi đẻ được cho ăn với chế độ hợp lý để quá trình đẻ diễn ra thuận lợi và vẫn đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng cho nuôi con
+ Chuẩn bị ô úm cho lợn con khi sinh: ô úm phải được che chắn cẩn thận, nhiệt độ ủ ấm lợn con từ 0-7 ngày tuổi khoảng 37-39°C, từ 8-15 ngày tuổi khoảng 33-35°C, từ 15-21 ngày tuổi 28-31°C
+ Khi lợn mẹ có dấu hiệu sắp đẻ phải được vệ sinh bầu vú, mông và bộ phận sinh dục bằng nước sát trùng ấm pha loãng (tỉ lệ 1:3200) Trong thời gian lợn mẹ đẻ phải chú ý theo dõi lợn mẹ, nếu thấy có hiện tượng đẻ khó như
Trang 16khoảng cách giữa các lần đẻ quá lâu hoặc có hiện tượng rặn nhưng không đẻ được phải có biện pháp can thiệp như tiêm oxytoxin, kiểm tra bằng que thăm
và móc kết hợp với xoa bầu vú Nếu phải dùng biện pháp móc cần rửa tay sạch bằng nước sát trùng, cắt và vệ sinh sạch sẽ móng tay, sau đó bôi gen, tiến hành móc Không nên quá lạm dụng vào móc vì sẽ dễ gây cho lợn mẹ bị viêm nếu vệ sinh và móc không đúng cách
+ Lợn mẹ đẻ xong được lau mông và cơ quan sinh dục bằng nước ấm pha nước sát trùng (tỉ lệ tương ứng 1:3200) và bôi cồn iod
+ Khẩu phần ăn trước, trong và sau khi đẻ được cung cấp theo quy định của trại để đảm bao khả năng tiết sữa và nuôi con và thuận lợi cho quá trình
đẻ nhất là đối với nái hậu bị
Lưu ý: Lợn nái bỏ ăn thì giảm 50% khẩu phần ăn so với tiêu chuẩn Những ngày thời tiết quá nóng bức lợn mẹ sẽ được bổ sung thêm chất điện giải vitamin C Sau khi đẻ, nếu lợn mẹ có biểu hiện sốt cao, bỏ ăn, giảm tiết sữa sẽ được tiêm thuốc anagin với liều lượng 1ml/10 kgTT, tiêm bắp và được truyền đường glucose
- Quy trình nuôi dưỡng
+ Thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt
+ Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa
Trang 17+ Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý
+ Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 -3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 -5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái
Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của lợn mẹ trước và sau khi đẻ
Trang 18- Quy trình chăm sóc
+ Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải luôn được vệ sinh sạch sẽ Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ và các dụng cụ cần thiết Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, sạch sẽ, ấm về mùa đông, mát về mùa hè và có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ 1 tuần, lợn nái cần được tắm rửa sạch sẽ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn mẹ bị viêm vú và lợn con sơ sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chuyển lợn từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới
+ Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm và các dụng cụ đỡ đẻ lợn con Ô úm rất quan trọng, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con và tạo cho lợn con môi trường sống lý tưởng để phát triển
Công tác phòng bệnh:
Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
Trang 19 Công tác trị bệnh:
Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu, vì vậy hiệu quả điều trị thường cao (80
- 90%) trong một thời gian ngắn, không gây thiệt hại nhiều cho trang trại
Trang 20hỏi trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại trại
Ngoài ra chúng em còn làm thêm một số công việc như làm vacxin trên đàn lợn nái và thụ tinh nhân tạo cho lợn nái, chăm sóc và điều trị lợn nái Qua đây, chúng em cũng đã học tập và rèn luyện bản thân vững vàng, chín chắn hơn, tích lũy cho mình những kỹ thuật cần thiết để tự tin trước khi ra trường
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Cơ sở khoa học
* Đặc điểm sinh lý của lợn con
- Cơ năng điều tiết thân nhiệt
+ Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ thường bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lượng sơ sinh, chất dinh dưỡng thu được sau khi sinh, nhiệt độ của môi trường
Theo Trương Lăng, (2000) [9] sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con được bú sữa đầu thì 8-12 giờ sau thân nhiệt sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới được bú sữa đầu thì sau 18-24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thường Như vậy theo quy định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chưa đẻ xong cũng phải cho những lợn con
đã sinh bú sữa đầu Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể
mẹ, lợn con chưa thể thích ứng được với môi trường bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài Mỗi loài gia súc, đều
có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt
độ trong chuồng càng giảm Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong
Trang 21chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và giữ nhiệt độ trong chuồng nuôi được ổn định là rất quan trọng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [12] trên nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở nhiệt độ 32-35°C trong tuần đầu, sau đó giữ ở nhiệt độ từ 21-27°C cho đến lúc cai sữa 3-6 tuần tuổi Để bảo đảm nhiệt độ cho lợn con theo chỉ tiêu trên cần có ô úm cho lợn con Diện tích ô úm có kích thước ít nhất là một mét vuông, trong ô úm có thể đặt tấm sưởi điện tự động hoặc treo bóng đèn hồng ngoại từ 100w đến 250w
Độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc
- Đặc điểm tiêu hóa
+ Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu
hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần
+ Dung tích bộ máy tiêu hóa của lợn con tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc
60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già của lợn con lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
+ Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa
Trang 22+ Một đặc điểm cần lưu ý ở giai đoạn này trong dạ dày lợn con không
có axit HCl, được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của lợn mẹ Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà chỉ có khả năng làm vón sữa đầu Còn huyết thanh chứa albumin và globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu
+ Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày không còn gọi là trạng thái bình thường nữa Việc tập cho lợn con ăn sớm có tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl Bởi vì khi được bổ sung thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày)
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2005) [15] lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng này gọi là hypohydric Do dịch
vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hóa portein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hóa protein
- Khả năng miễn dịch của lợn con
+ Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể Phần lớn các chất lạ là mầm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng, do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém Trong giai đoạn này mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh
Trang 23+ Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [12] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ- globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35%) Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con Lợn con hấp thu lượng γ globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ- globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ- globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thu γ-globulin kém hơn, hàm lượng γ- globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng 65mg/100ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng
tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
+ Sự hấp thu các phân tử γ- glubin và các tiểu phần khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào qua các lỗ hẹp này, vì vậy quá trình tiêu hóa ở màng gần như vô khuẩn
Trang 24+ Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này lợn con không hình thành kháng thể bản thân và protein với chúng không phải là kháng nguyên
- Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2004) [14] hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm: nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm:
khuẩn này, người ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi
khuẩn phổ biến nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện
thuận lợi, các chủng E coli trở lên cường độc gây bệnh Nhóm vi khuẩn vãng
lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước uống vào hệ tiêu hoá gồm:
Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong
đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa:
Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus
Theo Bertschinger H U (1999) [19] đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 56 kháng nguyên H Ngoài 3 loại kháng nguyên thông thường trên, còn có thêm kháng nguyên bám dính F, yếu tố gây
bệnh không phải là độc tố của E Coli
- Nhu cầu về một số chất dinh dưỡng và chất khoáng
+ Nhu cầu protein: lợn con sinh trưởng phát triển nhanh, trong thời gian
bú sữa nguồn năng lượng được cung cấp chủ yếu từ phân giải đường và 1 phần nhỏ protein Nhưng protein chủ yếu là nguyên liệu cho sinh trưởng và phát triển, do vậy nhu cầu về protein rất lớn Như vậy, trong thức ăn tập ăn của lợn con cần 20-22% protein thô
+ Nhu cầu về lipit: trong thời kì bú sữa, nhu cầu về lipit rất thấp vì khả năng tiêu hóa lipit rất thấp
Trang 25+ Nhu cầu về gluxit: thời kì từ sơ sinh đến cai sữa nguồn năng lượng do gluxit cung cấp chiếm 70-80% do vậy nhu cầu về gluxit cũng rất lớn, ngoài nguồn có từ sữa (chủ yếu là từ đường lactoza) lúc nhỏ, đến khi tập ăn, ngoài nguồn từ sữa lợn con được cung cấp qua thức ăn tập ăn (gluxit chiếm 70-75%)
+ Nhu cầu về khoáng: khoáng chiếm 4-5% khối lượng cơ thể, có 3 nhóm khoáng
Đa lượng: Ca, P, Na, Mn, Cl, Fe, S
Vi lượng: Cu, Mo, Mg, Zn, Al, F
Siêu vi lượng: Acemic, bismus, thủy ngân
+ Nhu cầu vitamin: vitamin là chất xúc tác sinh học tổng hợp, tham gia vào một số men tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng, tham gia cấu tạo màng tế bào Lượng vitamin vô cùng nhỏ, nhưng lại có tác dụng rất lớn cho sinh trưởng, phát dục và sinh sản
+ Nhu cầu về nước: nước chiếm 50-60% khối lượng cơ thể, trong máu nước chiếm 80 - 95% Cơ thể mất 10% nước sẽ gây rối loạn chức năng trao đổi chất, nếu mát 20% lượng nước lợn con sẽ chết
- Những hiểu biết về sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn
để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài
+ Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường
+ Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ
25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung
mở, sữa bắt đầu tiết
Trang 26+ Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu
Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
+ Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng
10 -20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay
+ Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ nhằm phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời
2.2.2 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con và lợn nái đẻ
2.2.2.1 Tiêu chảy do E.coli
Theo Trung tâm chẩn đoán và cố vấn thú y (2010) [17]
+ Lứa tuổi bị bệnh: chủ yếu xảy ra trên lợn con theo mẹ, lợn con sau cai sữa
+ Nguyên nhân: do lợn con bú vào bầu vú lợn mẹ có dính phân, uống nước có chứa mầm bệnh, vệ sinh sàn chuồng không được sạch sẽ, ẩm ướt Lợn
bị stress do trộn chung lợn cai sữa trong quá trình vận chuyển, thay đổi thức ăn
+ Triệu chứng, bệnh tích: trên lợn con theo mẹ bị bệnh: lợn thường nằm tụm lại, run rẩy hoặc nằm một góc, da xung quanh đuôi và hậu môn có dính phân, phân lỏng đến sệt, có màu kem và có thể thấy lợn nôn mửa Lợn mất nước do tiêu chảy, mắt lõm vào, da trở nên khô.Trước khi chết có thấy lợn bơi
Trang 27chèo và sùi bọt mép Trên lợn cai sữa, biểu hiện đầu tiên thấy sụt cân, đi phân nước và mất nước Một vài trường hợp phân có máu hoặc sệt với nhiều màu như xám, trắng, vàng và xanh lá cây Do đó màu sắc phân không có ý nghĩa nhiều trong chẩn đoán lâm sàng Có thể lợn chết với mắt lõm vào, thỉnh thoảng thấy lợn nôn mửa và cũng có thể thấy chết mà không có triệu chứng
+ Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và tiền sử của bệnh trong
trại Trong trường hợp nhiễm độc tố đường ruột của vi khuẩn, xác lợn chết bị mất nước Mổ khám thấy ruột sung huyết, xuất huyết Tiến hành phân lập vi khuẩn để xác định nguyên nhân gây bệnh Lấy mẫu phân nuôi cấy phân lập vi khuẩn Ngoài ra có thể lấy mẫu ruột có bệnh tích kiểm tra mô bệnh học
2.2.2.2 Bệnh viêm phổi địa phương do Mycoplasma hyopneumoniae
Theo Nguyễn Ngọc Nhiên (1997) [11] triệu chứng của bệnh là: Bệnh phát ra đột ngột, lợn ủ rũ, tách khỏi đàn, đứng riêng rẽ hoặc nằm một chỗ, nhịp thở tăng từ 60 - 100 - 200 lần/phút, lúc đầu ho ngắn và nhẹ Bệnh tiến triển dần, lợn ngày càng khó thở: ngồi dạng hai chân trước há mồm ra để thở
Trang 28và thở thể bụng, niêm mạc mắt, mũi, miệng thâm tím lại do thiếu O2 Thân nhiệt < 400C và chỉ sốt cao khi có vi khuẩn cộng phát Lợn chết nhiều ở đàn mới mắc bệnh lần đầu Trường hợp bệnh kéo dài chuyển sang thể mãn tính với đặc điểm: Ho kéo dài trong vài tuần hoặc vài tháng, ho khan, khó thở, có khi co giật từng cơn, nôn mửa Lợn bệnh đứng một chỗ lưng cong lên, cổ vươn dài ra, đầu mõm cúi xuống đất để ho cho đến khi long đờm thì cơn ho mới dừng, thường ho vào lúc sáng sớm và chiều tối, hay khi thời tiết thay đổi, sau khi vận động hoặc sau khi ăn Lợn con thường mắc bệnh ở thể mãn tính, kém ăn, bỏ ăn, gầy yếu, đi lại chậm chạp, siêu vẹo, lông xù, chậm lớn Lợn vỗ béo và lợn đực giống thường mắc bệnh ở thể nhẹ về lâm sàng mặc dù sau khi
mổ khám vẫn thấy bệnh tích của bệnh viêm phổi địa phương
+ Lứa tuổi bị bệnh: bệnh thường xảy ra ở lợn con giai đoạn sau cai sữa
và lợn choai, đặc biệt là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên
+ Nguyên nhân: do Mycoplasma hyponeumoniae gây ra
+ Triệu chứng, bệnh tích:
Sau khi nhiễm Mycoplasma hyopneumoniae từ 7 đến 20 ngày thì triệu
chứng đầu tiên là hắt hơi, ho, khó thở Ho và khó thở là triệu chứng điển hình
Khi mắc bệnh ở thể này lợn hay chết, nhất là lợn có độ tuổi từ sơ sinh đến 2 tháng tuổi
Trang 29Thể á cấp tính
Thường gặp ở lợn con theo mẹ, lợn mẹ
Triệu chứng giống như ở thể cấp tính nhưng nhẹ hơn, ho và khó thở vẫn là triệu chứng điển hình của lợn khi mắc bệnh ở thể này
+ Chẩn đoán: dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và phương pháp phòng thí nghiệm Mổ khám thấy có bệnh tích gan hóa phổi trên thùy phổi trước
Trang 302.2.2.3 Bệnh viêm tử cung
Bệnh sản khoa xuất hiện trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Tỷ lệ mắc bệnh còn phụ thuộc vào điều kiện vệ sinh môi trường Khi con nái sinh sản là lúc lối vào các bộ phận sinh dục nằm sâu trong đường sinh dục mở, máu, sản dịch ra nhiều ở đó tạo nhiều khả năng cho vi khuẩn xâm nhập Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng mắc bệnh
Mắc bệnh ở lợn nái có nhiều nguyên nhân khác nhau
bị biến dạng nên nhau thai không tróc hoàn toàn gây sót nhau, thối rữa
- Lợn nái nhập nội cũng dễ bị mắc bệnh, do chưa thích nghi với điều kiện môi trường
* Yếu tố ngoại cảnh như: chuồng trại vệ sinh kém, vệ sinh bộ phận sinh dục nái trước và sau đẻ cò kém, kỹ thuật đỡ đẻ không đứng, khu vực chuồng trại có mầm bệnh,
Bệnh còn xảy ra khi điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý kém, lợn nái chửa ít vận động, thời tiết thay đổi đột ngột
Là quá trình bệnh lý xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản từ đó gây ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản
Trang 31Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Do tử cung bị tổn thương, sót nhau sau đẻ Bệnh phát triển do nuôi dưỡng không đủ chất Do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhầy ở bộ máy sinh dục lợn
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát
Lợn nái sau khi đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dễ dẫn tới viêm tử cung
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao,
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước và sau đẻ không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập gây viêm
Do nấm xâm nhập
Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [13], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC, chiều 40 - 41oC Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ
Trang 32Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn Trong trường hợp thai chết lưu
âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
ít ảnh hưởng tới sản lượng sữa của lợn mẹ
- Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 -
40oC Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lì Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh có lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
- Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt tăng cao 39,5
- 40oC Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ vàng sệt, có khi lẫm máu, mùi tanh thối Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc, cổ tử cung hơi mở, có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất
hiện tận 7 - 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng tới sản lượng sữa
Bảng 2.3 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Vàng xanh, trắng
đục
Vàng sệt, có khi lẫn
máu
ăn, hay nằm ì
Lợn ủ rũ, hay nằm,
bỏ ăn hoàn toàn
Trang 33Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở
cơ quan sinh dục và triệu trứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt
Thân nhiệt là một chỉ số hằng định ở động vật bậc cao, thân nhiệt bình thường của lợn là 38 - 38,5o
C; khi viêm thân nhiệt có thể tăng từ 1,5 - 2oC Dịch viêm là sản phẩm được tiết ra ở ổ viêm, bao gồm nước, thành phần hữu hình và cá chất hòa tan
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu
do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa
ra các phác đồ điều trị tối ưu, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
- Chăm sóc nuôi dưỡng: bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt là giai đoạn lợn nái mang thai tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy, cung cấp đầy đủ nước sạch cho lợn
- Vệ sinh: thường xuyên dọn dẹp vệ sinh chuồng lợn nái, phân lợn thải
ra phải được thu gom hằng ngày, không để phân lưu trên nền chuồng quá lâu Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ, khi lợn đẻ có máu hoặc dịch ối trên nền chuồng phải được lau sạch sẽ Khi lợn đẻ xong cần phải thu gom nhau thai, vệ sinh sàn chuồng Trường hợp lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay, hoặc dụng
cụ trợ sản phải tuân thủ tuyệt đối các bước vệ sinh
- Khi lợn đẻ xong nên dùng dung dịch thuốc tím hay nước muối sinh lý 0,9% để rửa sạch bộ phận sinh dục của lợn Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh như: Penicillin 2 - 3 triệu UI, Tetramycin hay Sulfanilamid 2 - 5g vào tử cung để chống viêm