1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác quản lí an toàn lao động tại dự án cải tạo, tiếp nước sông tích

106 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yêu cầu cơ bản về an toàn lao động trong xây dựng a Các yêu cầu về quản lý, tổ chức thi công: - Khi chưa có đầy đủ hồ sơ thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế thi công thì không đư

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn này hoàn toàn đúng với thực tế và chưa được ai công bố trong tất cả các công trình nào trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thanh Thúy

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Sau thời gian nghiên cứu, thực hiện, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Quản lý xây dựng với đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý an toàn lao

động tại dự án Cải tạo, tiếp nước Sông Tích”

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Cường,

Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng Trường Đại học thủy lợi đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này Tác giả xin chân thành cảm ơn phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học, khoa Công trình Trường Đại học thủy lợi cùng các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy và tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian tác giả học tập chương trình Cao học của trường Đại học thủy lợi, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này Tác giả xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban Quản lý dự án Sông Tích, Lãnh đạo cơ quan, bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là gia đình đã tận tình giúp đỡ trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này

Do còn hạn chế về trình độ chuyên môn, cũng như thời gian có hạn, nên trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả không tránh khỏi một số sai sót Tác giả mong muốn tiếp tục nhận được chỉ bảo của các thầy, cô giáo và sự góp ý của các bạn bè đồng nghiệp Tác giả chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 05 tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thanh Thúy

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG 4

1.1 Tổng quan về an toàn lao động trong xây dựng 4

1.1.1 Khái niệm về an toàn lao động trong xây dựng 4

1.1.2 Các yêu cầu cơ bản về an toàn lao động trong xây dựng 5

1.2 Những tồn tại trong công tác quản lý an toàn lao động và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến an toàn lao động trên công trường 14

1.2.1 Những tồn tại trong công tác quản lý an toàn lao động 14

1.2.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến an toàn lao động trên công trường 16

1.3 Những kết quả đã đạt được trong công tác đảm bảo ATLĐ 19

Kết luận chương 1 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ AN TOÀN XÂY DỰNG 23

2.1 Các quy định và luật pháp trong quản lý ATLĐ 23

2.1.1 Các quy định trong quản lý ATLĐ 23

2.1.2 Luật pháp trong lĩnh vực an toàn xây dựng 26

2.2 Trách nhiệm về an toàn lao động trong thi công xây dựng 30

2.2.1 Trách nhiệm của chủ thể đối với an toàn trong thi công xây dựng công trình 30

2.2.2 Trách nhiệm quản lý công tác ATLĐ trong khối trực tiếp thi công xây dựng 32

2.3 Công tác quản lý an toàn lao động trên công trường ở một số công trình cụ thể 35

2.3.1 Công tác quản lý an toàn lao động trên công trường công trình xây lại Trạm bơm Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh 35

2.3.2 Công tác an toàn lao đông trên công trường Thủy điện Lai Châu 37

Trang 4

2.4 Nguyên tắc an toàn trong một số công tác thi công cơ bản 38

2.4.1 Đối với công tác đào đất 39

2.4.2 Đối với công tác cốt thép 43

2.4.3 Đối với công tác ván khuôn 44

2.4.4 Công tác thi công bê tông 46

Kết luận chương 2 48

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI DỰ ÁN CẢI TẠO, TIẾP NƯỚC KHÔI PHỤC SÔNG TÍCH 50

3.1 Giới thiệu chung về dự án “Cải tạo, tiếp nước khôi phục sông Tích” 50

3.1.1 Thông tin chung 50

3.1.2 Cơ cấu tổ chức: 52

3.2 Thực trạng công tác đảm bảo ATLĐ đang được áp dụng tại dự án Cải tạo, tiếp nước khôi phục Sông Tích 54

3.2.1 Các nguồn gây mất an toàn khi thi công tại dự án 54

3.2.2 Thực trạng công tác đảm bảo an toàn lao động đang được áp dụng tại dự án 56

3.3 Đề xuất hoàn thiện công tác quản lý an toàn cho các công tác thi công chủ yếu tại dự án “Cải tạo, tiếp nước khôi phục sông Tích” 64

3.3.1 Những biện pháp chung 64

3.3.2 Hoàn thiện công tác đảm bảo an toàn lao động cho một số công tác chủ yếu tại công trình “Cải tạo, tiếp nước khôi phục sông Tích” 71

3.3.2.1 Đối với công tác đào đất 71

3.3.2.2 Đối với công tác cốt thép 77

3.3.2.3 Đối với công tác vận chuyển, đổ và đầm bê tông 81

3.3.2.4 Đối với công tác ván khuôn 88

Kết luận chương 3 92

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Sự cố sập giàn giáo ở CN Formosa (Hà Tĩnh) ngày 16/12/2014 11

Hình 1.2 Sự cố sập hầm than ở Tân Lạc – Hòa Bình ngày 18/11/2015 11

Hình 1.3 Sự cố sập giàn giáo cửa hầm Cổ Mã ngày 17/3/2015 12

Hình 1.4.Sự cố rơi vận thang tại tòa nhà Lilama Hà Nội ngày 04/12/2015 12

Hình 1.5.Sự cố sập cần cẩu thi công đường sắt trên cao đoạn Cầu Giấy Hà Nội ngày 04/12/2015 13

Hình 1.6.Sự cố sập cần cẩu tại Đồng Tháp ngày 25/8/2015 13

Hình 2.1 Tập huấn an toàn lao động trên công trường 37

Hình 2.2 Trong quá trình thi công trên công trường các công nhân luôn được trang bị bảo hộ lao động 37

Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý ATLĐ tại dự án 52

Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức thi công đảm bảo an toàn tại công trường 65

Hình 3.4 Biện pháp đào đất – Mặt cắt ngang điển hình 73

Hình 3.5 Tai nạn khi điều khiển máy xúc 75

Hình 3.6 Công tác đào đất bằng máy xúc tại công trường 76

Hình 3.7 Tai nạn khi điều khiển máy ủi 76

Hình 3.8 Công tác đào đất bằng máy ủi tại công trường “Cải tạo, tiếp nước khôi phục sông Tích” 77

Hình 3.9 Công tác cốt thép tại công trường “Cải tạo, tiếp nước 78

khôi phục sông Tích” 78

Hình 3.10 Góc uốn cốt thép 80

Hình 3.11 Công tác đổ, đầm bê tông tại công trường 81

Hình 3.12 Qúa trình vận chuyển bê tông bằng ô tô chuyên dụng từ trạm trộn bê tông đến vị trí đổ 82

Hình 3.13 Tai nạn lao động khi đổ và đầm bê tông 84

Hình 3.14 Thi công đổ bê tông bằng xe bơm 85

Hình 3.15 Thi công đổ bê tông bằng máng 86

Hình 3.16 Máy trộn bê tông 87

Hình 3.17 Công tác ván khuôn tại công trường 89

Hình 3.18 Lắp dựng ván khuôn 91

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Những địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ trong 6 tháng đầu năm 2016 7

Bảng 1.2: So sánh tình hình TNLĐ năm 2015 và năm 2014 8

Bảng 2.1 Góc nghiêng khi đào theo lối thành nghiêng 42

Bảng 3.1 Thời gian vận chuyển bê tông cho phép 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Kí hiệu viết tắt Nghĩa đầy đủ

ATLĐ: An toàn lao động

BQLDA: Ban quản lý dự án

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Hiện nay, nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quy mô xây dựng và sản xuất ngày càng phát triển, sử dụng nhiều công nghệ mới với máy móc, vật

tư đa dạng về chủng loại Tuy nhiên, còn tiềm ẩn nhiều bất cập, từ công tác quản lý, giám sát đến trình độ lực lượng lao động còn nhiều hạn chế, nên các yếu tố có thể gây

ra tai nạn lao động (TNLĐ) và bệnh nghề nghiệp (BNN) cho người lao động vẫn là những vấn đề nhức nhối Vì vậy, việc thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa TNLĐ, BNN bảo vệ tính mạng, giữ gìn sức khỏe cho người lao động (NLĐ) là một yêu cầu cấp thiết

Tai nạn lao động những năm gần đây vẫn ở mức cao và có xu hướng gia tăng cả về số

vụ và mức độ nghiêm trọng: Theo thông báo 302/TB-BLĐTBXH ngày 19/08/2014 về tình hình tai nạn lao đông 6 tháng đầu năm năm 2014 do Bộ Lao động Thương binh

Xã hội ban hành trong 06 tháng đầu năm 2014 trên toàn quốc đã xảy ra 3.454 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 3.505 người bị nạn Trên địa bàn Thành phố Hà Nội xảy ra

90 vụ tai nạn lao động trong đó: Số người bị nạn 90 người, số vụ chết người 16 người,

số người chết 18 người, không có người bị thương nặng Lĩnh vực sản xuất kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người nhất là trong lĩnh vực xây dựng chiếm đến 37,04% tổng số vụ tai nạn và 34,5% tổng số người chết Bên cạnh đó, việc cải thiện an toàn, vệ sinh và điều kiện lao động phụ thuộc trước hết vào sự phối hợp của mọi cá nhân và tổ chức, bao gồm cả Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động Quản lý an toàn lao động liên quan đến tất cả các chức năng từ lập kế hoạch, xác định khu vực có vấn đề, điều phối, kiểm soát và giám sát các hoạt động an toàn lao động tại nơi làm việc nhằm mục đích chống tai nạn và ốm đau Phần lớn mọi người thường hiểu sai việc phòng chống tai nạn – đánh đồng giữa “tai nạn” với “chấn thương”, dẫn tới việc quan niệm rằng sẽ không có tai nạn nghiêm trọng nếu không có chấn thương Các nhà quản lý xây dựng có quan tâm đến chấn thương của công nhân, song họ nên quan tâm chủ yếu tới điều kiện nguy hiểm có thể gây chấn thương – có nghĩa là quan tâm đến vấn đề “sự cố” hơn “chấn thương” Tại một công trường có nhiều sự cố hơn những chấn thương

Trang 10

Nguyên nhân chủ yếu là do người lao động không được huấn luyện về công tác ATLĐ Với hơn 160.000 lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay, việc quản lý công tác ATLĐ tại các doanh nghiệp rất phức tạp, cần sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ của UBND tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp, Sở Lao động

- Thương binh và Xã hội, Liên đoàn lao động tỉnh và các cấp, các ngành về công tác ATLĐ tại các doanh nghiệp Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh

chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật lao động, các chế độ, chính sách về ATLĐ để không ngừng phát triển sản xuất và tăng năng suất lao động, thúc đẩy kinh tế - xã hội

cả nước vươn lên tầm cao mới

Hiện nay, vấn đề phát triển nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước - một trong những điều kiện kiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá - xã hội Chính vì nhu cầu phát triển ngày càng lớn mà những năm gần đây, nhà nước đã đầu tư vào phát triển xây dựng những công trình Thủy lợi, với tầm cỡ lớn, huy động một lực lượng lớn nhân công cũng như máy móc thiết bị, trong nhiều hạng mục thi công, có những hạng mục công trinh có tính chất nguy hiểm cho người lao động Do đó, việc quản lý công tác ATLĐ công trình thủy lợi là cực kỳ quan trọng nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc cho người cũng như tư liệu sản xuất

Dự án cải tạo sông tích, là một dự án trọng điểm của nhà nước, được đầu tư với nguồn vốn lớn Các hạng mục thi công với khối lượng rất lớn, từ nạo vét, kè sông, nắn dòng chảy và nhiều công trình khác, do vậy cần huy động lực lượng công nhân lao động lớn, cùng với đó là máy móc, thiết bị vật tư Ngoài việc đảm bảo chất lượng, tiến độ thi công thì vấn đề đảm bảo ATLĐ luôn được đặt lên hàng đầu Vì vậy khi thực hiện luận

văn tốt nghiệp tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý an toàn lao động

tại dự án Cải tạo, tiếp nước sông Tích”

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp, quy trình công tác quản lý an toàn lao động

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu và hoàn thiện công tác quản lý an toàn lao động tại

dự án Cải tạo, tiếp nước sông Tích

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Cách tiếp cận: Cơ sở lý thuyết, thành tựu và mô hình quản lý trong nước và nước ngoài

- Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp điều tra thu thập thông tin

+ Phương pháp phân tích tổng hợp và kế thừa

5 Kết quả đã đạt được

- Phân tích, đánh giá được thực trạng, những tồn tại còn vướng mắc, nâng cao vai trò, giảm thiểu những khó khăn trong công tác quản lý nâng cao an toàn lao động trong xây dựng

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đảm bảo an toàn lao động tại dự án Cải tạo, tiếp nước sông Tích

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG XÂY DỰNG

1.1 Tổng quan về an toàn lao động trong xây dựng

1.1.1 Khái niệm về an toàn lao động trong xây dựng

An toàn lao động trong thi công xây dựng công trình là: là hệ thống các biện pháp về

tổ chức và quản lý, điều hành trên công trường nhằm cải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn tai nạn lao động trong thi công xây dựng công trình

Các khái niệm cơ bản liên quan [1]:

- An toàn lao động: Tình trạng nơi làm việc đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện lao động an toàn, không gây nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe

- Điều kiện lao động: Tổng thể các yếu tố kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quy trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất

- Yêu cầu an toàn lao động: là các yêu cầu cần phải được thực hiện nhằm đảm bảo an toàn lao động

- Tai nạn lao động: Là tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, công tác do kết quả của

sự tác động đột ngột từ bên ngoài làm chết người, tổn thương hoặc phá huỷ chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thể Trường hợp người lao động

bị nhiễm độc đột ngột với sự xâm nhập vào cơ thể một lượng lớn các chất độc có thể gây chết người ngay tức khắc hoặc huỷ hoại chức năng nào đó của cơ thể cũng có thể coi là tai nạn lao động Trường hợp người lao động bị tai nạn trong quá trình di chuyển

từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc bị tai nạn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bên ngoài theo yêu cầu của người sử dụng lao động cũng được là tai nạn lao động

Tai nạn lao động được phân ra: Tai nạn chết người, tai nạn lao động nặng và tai nạn lao động nhẹ Người ta đánh giá tình hình tai nạn lao động theo hệ số tần suất tai nạn lao động k:

k = (n.1000)/N

Trong đó:

Trang 13

n: Số tai nạn lao động

N: Tổng số người lao động

- Bệnh nghề nghiệp: Là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp

mà nguyên nhân sinh bệnh do tác hại thường xuyên kéo dài của điều kiện lao động xấu

- Sự nguy hiểm trong sản xuất: là yếu tố có khả năng tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất đối với người lao động

- Yếu tố nguy hiểm trong sản xuất: là yếu tố có khả năng tác động của gây chấn thương cho người lao động trong sản xuất

- Yếu tố có hại trong sản xuất: là yếu tố khả năng tác động của gây bệnh cho người lao động trong sản xuất

- An toàn của thiết bị sản xuất: là tính chất của thiết bị bảo đảm được tình trạng an toàn khi thực hiện các chức năng đã quy định trong điều kiện xác định và trong thời gian theo quy định

- Phương tiện bảo vệ người lao động: là dùng để phòng ngừa hoặc làm giảm tác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất đối với người lao động

- Kỹ thuật an toàn: là hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức và kỹ thuật nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố nguy hiểm trong sản xuất đối với người lao động

- Tai nạn lao động: là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể người lao động do các yếu

tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất

- Chấn thương lao động: là chấn thương gây ra đối với người lao động trong sản xuất

do không tuân theo các yếu cầu về an toàn lao động

1.1.2 Các yêu cầu cơ bản về an toàn lao động trong xây dựng

a) Các yêu cầu về quản lý, tổ chức thi công:

- Khi chưa có đầy đủ hồ sơ thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế thi công thì không được phép thi công;

- Trong hồ sơ thiết kế phải thể hiện các biện pháp ATLĐ, VSLĐ;

- Lãnh đạo các đơn vị thi công phải thực hiện đầy đủ các quy định trách nhiệm về công tác BHLĐ;

Trang 14

- Trên một công trình nếu có nhiều đơn vị cùng thi công thì đơn vị tổng thầu chính phải phối hợp với các nhà thầu phụ đề ra biện pháp an toàn và phải cùng nhau thực hiện;

- Khi thi công tại cơ sở đang làm việc thì giám đốc các đơn vị xây lắp phải cùng thủ trưởng cơ sở đề ra các biện pháp an toàn chung

b) Yêu cầu về mặt bằng thi công:

- Mặt bằng công trường phải rào chắn, người không có nhiệm vụ không được vào công trường;

- Mặt bằng khu vực đang thi công phải gọn gàng, đặc biệt lưu ý để dây dẫn điện không chạy bừa bãi trên mặt đất, sàn; những giếng, hầm hố trên mặt bằng, lỗ trên sàn tầng phải đậy kín hoặc rào ngăn chắc chắn;

- Khi chuyển vật liệu thải từ trên cao (trên 3m) phải có máng trượt hoặc thiết bị nâng hạ;

- Những vùng nguy hiểm do vật có thể rơi từ trên cao phải được rào chắn, có biển báo hoặc có mái che;

- Trên công trường (đặc biệt các công trường lớn) phải có sơ đồ chỉ dẫn xe đi lại, bảo đảm ánh sáng, khi thi công ở công trình trên cao phải có hệ thống chống sét

c) Yêu cầu đối với công nhân làm việc:

- Đủ tuổi theo quy định, có giấy chứng nhận khám sức khỏe, giấy chứng nhận đã học

và kiểm tra đạt yêu cầu về ATLĐ, được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ (phù hợp với từng loại nghề);

- Cấm uống rượu trước và trong quá trình làm việc;

- Cấm vứt, ném các loại dụng cụ, đồ nghề hoặc bất kỳ vật gì từ trên cao xuống;

- Chỉ những công nhân biết bơi mới được làm việc trên sông nước và phải được trang

bị đầy đủ thuyền, phao

- Khi làm việc từ độ cao 2m trở lên hoặc chưa đến độ cao đó nhưng ở dưới có các vật nguy hiểm mà chưa có lưới an toàn hay lan can thì phải đeo dây an toàn;

- Không được thi công cùng một lúc ở hai hoặc nhiều tầng trên một phương thẳng đứng nếu không có thiết bị bảo vệ an toàn cho người làm việc ở dưới;

- Làm việc dưới các giếng sâu, hầm ngầm phải có các biện pháp và phương tiện đề phòng khí độc hoặc sập lở;

Trang 15

- Không được làm việc trên cao khi không đủ ánh sáng, mưa to, giông bão

1.1.3 Thực trạng về an toàn lao động trong xây dựng hiện nay

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động xây dựng, sản xuất trong đó vấn đề quản lý an toàn lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc phát hiện, phòng ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật về lao động Tuy nhiên, công tác quản lý lao động hiện nay được đánh giá là còn thiếu và yếu cả về số lượng lẫn chất lượng, chưa phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm ATLĐ Vì vậy, tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp vẫn tiếp tục diễn ra, gây tổn thất lớn về người và tài sản cho

cá nhân, gia đình và xã hội Theo báo cáo của Bộ lao động – thương binh và Xã hội, tình hình tai nạn lao động trong năm 2015 trên toàn quốc đã xảy ra 7.620 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm 7.785 người bị nạn, cụ thể:

- Số người bị thương nặng: 1.704 người

- Nạn nhân là lao động nữ: 2.432 người

Những địa phương xảy ra nhiều vụ TNLĐ chết người trong 6 tháng đầu năm 2016:

Bảng 1.1 Những vụ TNLĐ trong 6 tháng đầu năm 2016 [13]

TT Địa phương Số vụ Số người bị nạn Số vụ chết người Số người chết bị thương Số người

Trang 16

So sánh tình hình TNLĐ năm 2015 so với năm 2014:

Qua các số liệu thống kê về tình hình TNLĐ năm 2015 so với năm 2014 cụ thể như sau:

Tình hình tai nạn lao động chết người theo loại hình cơ sở sản xuất [13]:

- Loại hình công ty cổ phần chiếm 40,2% số vụ tai nạn chết người và 40,1% số người chết;

- Loại hình công ty TNHH chiếm 31,5% số vụ tai nạn chết người và 34,1% số người chết;

- Loại hình doanh nghiệp nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp chiếm 10,1% số vụ tai nạn chết người và 9,6% số người chết;

- Loại hình doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể chiếm 8,8 % số vụ tai nạn chết người và 8,0% số người chết;

Trang 17

- Loại hình công ty liên doanh có vốn đầu tư của nước ngoài chiếm 1,3% số vụ tai nạn chết người và 1,2% số người chết

Những lĩnh vực sản xuất kinh doanh xảy ra nhiều tai nạn lao động chết người [13]:

- Lĩnh vực xây dựng chiếm 35,2% tổng số vụ tai nạn chết người và 37,9% tổng số người chết;

- Lĩnh vực cơ khí chế tạo chiếm 8,8 % tổng số vụ chết người và 8,1% tổng số người chết;

- Lĩnh vực dịch vụ chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,8% tổng số người chết;

- Lĩnh vực dịch vụ vận tải và bốc xếp hàng hóa chiếm 5,9% tổng số vụ chết người và 6,1% tổng số người chết;

- Lĩnh vực khai thác khoáng sản chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 6,9% tổng số người chết;

- Lĩnh vực nông lâm nghiệp chiếm 5,5% tổng số vụ chết người và 5% tổng số người chết

Các yếu tố chấn thương chủ yếu làm chết người nhiều nhất [13]:

- Ngã từ trên cao chiếm 28,1% tổng số vụ chết người và 26,4% tổng số người chết;

- Điện giật chiếm 18,9% tổng số vụ chết người và 17,2% tổng số người chết;

- Vật rơi, đổ sập chiếm 16,8% tổng số vụ chết người và 22,6% tổng số người chết;

- Tai nạn giao thông chiếm 13% tổng số vụ chết người và 12% tổng số người chết;

- Máy, thiết bị cán, kẹp, cuốn chiếm 5,95% tổng số vụ chết người và 5% tổng số người chết;

- Vật văng bắn chiếm 7,1% tổng số vụ chết người và 6,5% tổng số người chết

Nguyên nhân chủ yếu để xảy ra tai nạn lao động chết người [13]:

Trang 18

* Nguyên nhân do người sử dụng lao động chiếm 52,8%, cụ thể:

- Người sử dụng lao động không xây dựng quy trình, biện pháp làm việc an toàn chiếm 25,2% tổng số vụ;

- Thiết bị không đảm bảo an toàn lao động chiếm 14,3% tổng số vụ;

- Người sử dụng lao động không huấn luyện an toàn lao động cho người lao động chiếm 9,7% tổng số vụ;

- Do tổ chức lao động và điều kiện lao động chiếm 2,6% tổng số vụ;

- Do người sử dụng lao động không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động chiếm 1%

*Nguyên nhân người lao động chiếm 18,9%, cụ thể:

- Người lao động bị nạn vi phạm quy trình quy chuẩn an toàn lao động chiếm 17,2% tổng số vụ;

- Người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân chiếm 1,7% tổng số vụ; Còn lại 28,3% là những vụ tai nạn lao động xảy ra do các nguyên nhân khác

Một số vụ tai nạn lao động xảy ra trên công trường năm 2015:

- Sập giàn giáo ở khu công nghiệp Formosa (Hà Tĩnh) khiến 13 người chết:

Vụ tai nạn lao động xảy ra vào ngày 25/3/2015 trên công trường dự án Formosa ở khu kinh tế Vũng Áng (Huyện ỳ Anh hà Tĩnh)

Khoảng 20h tối 25/3, giàn giáo trên công trường đúc bê tông thùng chìm, dự án đê chắn sóng cảng Sơn Dương (khu kinh tế Vũng Áng) bị sập khi công nhân đang đẩy những cấu kiện đã đúc ra ngoài, đưa thép vào khuôn để đúc tiếp

Trang 19

Hình 1.1 Sự cố sập giàn giáo ở CN Formosa (Hà Tĩnh) ngày 16/12/2014

Vụ tai nạn đã làm 13 người chết, 28 người bị thương Có mặt trong buổi họp báo sáng 27/3 tại Hà Tĩnh, Trưởng đại diện Formosa tại Hà Tĩnh đã cùng đại diện của nhà thầu Samsung C&T và Samku (đơn vị lắp đặt hệ thống kết cấu thép của giàn giáo) cúi đầu xin lỗi các nạn nhân và toàn thể người dân Việt Nam

Đây là vụ tai nạn lao động nghiêm trọng nhất xảy ra tại Hà Tĩnh trong nhiều năm trở lại đây

- Sập hầm than ở Tân Lạc (Hòa Bình): Trưa 18/11/2015, tại xóm giềng, xã Lỗ Sơn huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã xảy ra một vụ tai nạn lao động nghiêm trọng 7 công nhân của Công ty TNHH Tân Sơn vào hầm than ở xã Lỗ Sơn (Tân Lạc) để thăm dò trữ lượng, nhưng gặp phải sự cố bục túi nước 4 người thoát được ra bên ngoài, ba người còn lại tử vong do bị đất đá vùi lấp

Đây được coi là vụ sập hầm than gây thiệt hại lớn nhất tại Hoà Bình, khiến 3 người chết Ngoài ra, đây cũng là cuộc tìm kiếm với quy mô chưa từng có ở địa phương này với hơn 500 lượt người, thậm chí có lúc lên đến 1.000 người được huy động

Hình 1.2 Sự cố sập hầm than ở Tân Lạc – Hòa Bình ngày 18/11/2015

Trang 20

- Sập giàn giáo cửa hầm Cổ Mã ngày 17/3/2015:

Sự việc xảy ra lúc 19 giờ ngày 17/3, tại cửa hầm phíaB, ống hầm phía đông của hầm đường bộ qua đèo Cổ Mã (xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa) Khi xảy ra tai nạn, đội thi công của Công ty Cổ phần Thương mại đầu tư Trường Phát (Hà Nội) đang thi công lớp phòng nước của hầm Cổ Mã

Hình 1.3 Sự cố sập giàn giáo cửa hầm Cổ Mã ngày 17/3/2015

Vụ tai nạn làm 6 công nhân bị thương, trong đó có 4 công nhân được cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Phú Yên Nguyên nhân vụ việc được xá đinh là do sự bất cẩn của công nhân điều khiển xe khoan hầm khi di chuyển qua khu vực thi công màng chống thấm

- Rơi vận thang tại tòa nhà Lilama Hà Nội: Khoảng 10h30 sáng 4/12, máy vận thăng phục vụ tại công trình đang xây dựng thuộc tòa nhà số 52 đường Lĩnh Nam (phường Mai Động, quận Hoàng Mai, Hà Nội), bất ngờ rơi tự do từ tầng cao xuống đất

Hình 1.4.Sự cố rơi vận thang tại tòa nhà Lilama Hà Nội ngày 04/12/2015

- Đổ sập cần cẩu thi công đường sắt trên cao Cầu Giấy – Hà Nội:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/5, tại đường Cầu Giấy, gần ngã tư Nguyễn Phong Sắc

- Xuân Thủy (gần số nhà 361 Cầu Giấy, Hà Nội) cần cẩu của công trình đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội bất ngờ bị gãy và đổ sập xuống đường

Trang 21

Hình 1.5.Sự cố sập cần cẩu thi công đường sắt trên cao đoạn Cầu Giấy Hà Nội

ngày 04/12/2015

Vụ tai nạn xảy ra vào giờ tan tầm rất đông người qua lại nên đã rơi trúng vào 2 người qua đường khiến 2 người này bị thương, trong đó 1 người bị thương nhẹ và 1 phụ nữ đang mang bầu đã được đưa đi cấp cứu Nguyên nhân sự cố này là do máy xúc và máy cẩu va vào nhau khiến cột cần cẩu bị đổ sập

- Sập cần cẩu tại Đồng Tháp ngày 25/8/2015:

16 giờ ngày 25/8, tại khu vực công trình bờ kè sông của Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Thắng thuộc khu C, khu công nghiệp Sa Đéc đã xảy ra 01 vụ tai nạn lao động nghiêm trọng làm 02 người chết

Hình 1.6.Sự cố sập cần cẩu tại Đồng Tháp ngày 25/8/2015

Trong lúc sử dụng cần cẩu để ép cọc pê tông thì cần cẩu bị ngã, rơi trúng hai công nhân của Công ty cổ phần xây dựng Nam Á (là đơn vị thi công công trình)

Vụ tai nạn làm một người chết tại chỗ còn một người bị thương nặng được chuyển cấp cứu ở Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM nhưng cũng đã tử vong sau đó

=> Có thể nói, trong số các chế định của pháp luật lao động, chế định về an toàn lao động có tính chất bắt buộc cao mà các chủ thể hầu như ít được thỏa thuận như các chế

Trang 22

định khác Thiết nghĩ, khi tổ chức lao động sản xuất và khi tham gia lao động xây dựng trên công trường, trong các nhà máy sản xuất cần thiết phải nắm được nguyên tắc thực hiện toàn diện và đồng bộ về ATLĐ trên các mặt sau:

Một là, ATLĐ là bộ phận không thể tách rời khỏi các khâu lập kế hoạch và thực hiện

kế hoạch sản xuất kinh doanh

Hai là, ATLĐ là trách nhiệm của không chỉ của nhà quản lý mà còn của cả người lao động nhằm bảo đảm sức khỏe, tính mạng của bản thân và môi trường lao động

Ba là, Bất kỳ ở đâu có tiếp xúc với máy móc, công cụ lao động… thì ở đó phải có

ATLĐ

Bốn là, khi bắt tay vào làm việc phải biết được tại vị trí làm việc cũng như môi trường xung quanh có thể có những nguy cơ, yếu tố gì có thể gây ra các tai nạn cũng như các tác động có hại tới tính mạng và sức khỏe của mình, để từ đó có các giải pháp loại trừ

và khắc phục

1.2 Những tồn tại trong công tác quản lý an toàn lao động và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến an toàn lao động trên công trường

1.2.1 Những tồn tại trong công tác quản lý an toàn lao động

- Thứ nhất, hệ thống pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động còn chồng chéo, phân tán; việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm gây khó khăn cho việc thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động

Nội dung về an toàn lao động, vệ sinh lao động hiện đang được quy định trong nhiều văn bản luật và nhiều văn bản do Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật an toàn lao động, vệ sinh lao động chậm được rà soát chuyển đổi và ban hành đáp ứng yêu cầu sản xuất, phát triển công nghệ, vật liệu mới; đối tượng điều chỉnh trong Bộ luật lao động hiện nay chỉ điều chỉnh, áp dụng đối với hoạt động lao động có quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động Trong khi đó, công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động liên quan đến cả những đối tượng không thuộc phạm vi trên, ví dụ như: nông dân, ngư dân, diêm dân và

Trang 23

kết hợp đồng lao động như trong các hộ gia đình, các làng nghề ; chế tài xử phạt chưa

đủ sức răn đe người sử dụng lao động vi phạm

- Thứ hai, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước nói chung còn rất thiếu và yếu, bất cập giữa chức năng, nhiệm vụ với tổ chức bộ máy, biên chế và trình độ cán bộ

Tổ chức bộ máy của Thanh tra an toàn lao động, Thanh tra vệ sinh lao động của Nhà nước trong những năm qua chưa ổn định Đội ngũ cán bộ Thanh tra vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chất lượng; thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động nằm trong Thanh tra chung nên còn nhiều bất cập, hạn chế; nguồn lực cho công tác thanh tra về an toàn lao động, vệ sinh lao động, lực lượng thanh tra lao động có chuyên môn

kỹ thuật để triển khai thanh tra, kiểm tra về an toàn lao động, vệ sinh lao động ngày càng ít, có địa phương không có; việc quản lý môi trường lao động, quản lý sức khỏe người lao động tại các cơ sở lao động còn rất hạn chế, số nơi làm việc, người lao động trong diện quản lý chiếm tỷ lệ rất thấp; chưa có chế tài để xử phạt đối với người sử dụng lao động, người lao động không chấp hành pháp luật về vệ sinh lao động; một số địa phương còn “rải thảm đỏ” để đón các khu công nghiệp, có những quy định không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp, vì vậy gây khó khăn trong việc tổ chức thực hiện công tác này; việc nghiên cứu, bổ sung bệnh nghề nghiệp mới vào trong danh mục bệnh nghề nghiệp được nhà nước bảo hiểm còn chậm, thủ tục rườm rà, khó khăn do đó cũng gây ảnh hưởng đến chế độ chính sách cho người lao động; các vụ tai nạn lao động chết người hầu hết đều

xử lý hành chính nội bộ, số vụ truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ chiếm khoảng 2% nên không có tác dụng giáo dục, phòng ngừa việc tái diễn và thiếu các giải pháp hữu hiệu

để giảm tai nạn lao động

- Thứ ba, việc tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động của phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm, nhiều doanh nghiệp thực hiện các quy định

có tính chất chống đối sự kiểm tra của cơ quan quản lí Nhà nước

Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp còn xảy ra nghiêm trọng; công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động của các địa phương đạt tỷ

lệ thấp so với tổng số doanh nghiệp trên địa bàn; công tác quản lý huấn luyện còn lỏng

Trang 24

lẻo; việc quy định tổ chức bộ máy làm công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động không còn phù hợp với một số mô hình doanh nghiệp mới

1.2.2 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến an toàn lao động trên công trường

Với vai trò và sự phát triển nhanh chóng của ngành, hoạt động quản lý xây dựng ngày càng được đẩy mạnh hơn và được các cấp quản lý chú trọng quan tâm nhằm đưa dự án xây dựng tiến tới các mục tiêu: Đảm bảo chất lượng công trình, không vượt chi phí, đúng tiến độ đề ra, an toàn trong lao động và đảm bảo vệ sinh môi trường Tuy nhiên, trong những mục tiêu nêu trên thì vẫn còn nhiều dự án chưa giải quyết tốt vấn đề an toàn trong lao động Theo nghiên cứu của các chuyên gia, xây dựng là một ngành nghề với đặc điểm và điều kiện lao động tương đối khó khăn, vì thế tỷ lệ tai nạn lao động khá cao so với những ngành nghề khác, trung bình ở mức gấp 2 lần và có chiều hướng gia tăng

Tai nạn trong xây dựng gây nên nhiều bi kịch cho con người, giảm động cơ làm việc của công nhân, làm gián đoạn tiến trình thực hiện dự án, làm chậm trể tiến độ, năng suất và danh tiếng của ngành công nghiệp xây dựng Bên cạnh đó, chi phí liên quan đến tai nạn cũng khá cao và chiếm khoảng từ 7.9% đến 15% giá thành xây dựng Ở Việt Nam thì tai nạn lao động hàng năm đã làm thiệt hại về kinh tế hơn 60 tỉ đồng.[12]

Phân tích các nguyên nhân gây nên tai nạn đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau Kết quả từ những nghiên cứu cho thấy tai nạn lao động liên quan đến đặc điểm của ngành, trạng thái tâm lý tác động đến hành vi và thái độ an toàn của người công nhân, vai trò và trách nhiệm to lớn của người làm công tác quản

lý trên công trường trong việc hạn chế và xây dựng chương trình quản lý an toàn lao động

Bên cạnh, tai nạn lao động xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau mà nguyên nhân có thể là các yếu tố liên quan đến đặc trưng của dự án, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, tư vấn giám sát, quản lý nhà nước, nhà thầu thi công, người công nhân, Với những phân tích trên, an toàn trong xây dựng không giống với những ngành công nghiệp khác, đòi hỏi phải tìm hiểu rõ căn nguyên của vấn đề và có sự quản lý thống nhất của các thành phần tham gia thực hiện dự án, vì thế việc bảo đảm an toàn lao động là một

Trang 25

công việc đầy thách thức cho ngành công nghiệp xây dựng ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới [12]

Ở Việt Nam các văn bản pháp luật về vấn đề an toàn lao động cũng được ban hành, tuy nhiên theo số liệu thống kê như trên cho thấy tai nạn lao động trong xây dựng vẫn chưa được hạn chế, phải chăng quản lý của các cấp còn lỏng lẻo hay chính người tham gia lao động không nhận thức được những nguy hiểm đang tồn tại trong công việc của

họ hoặc vì một áp lực nào đó mà người công nhân quyết định làm việc trong điều kiện không an toàn? [12]

Các yếu tố không thuận lợi ảnh hưởng đến an toàn và sức khỏe của người lao động trong quá trình lao động, các yếu tố đó bao gồm:

- Các yếu tố của lao động: Máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, năng lượng, nguyên nhiên vật liệu, đối tượng lao động, người lao động

- Các yếu tố liên quan đến lao động: Các yếu tố tự nhiên có liên quan đến nơi làm việc, các yếu tố kinh tế, xã hội, quan hệ, đời sống hoàn cảnh gia đình sẽ liên quan đến tâm

lý chung của người lao động

- Điều kiện người lao động không thuận lợi được chia làm 2 loại chính:

Các yếu tố nguy hiểm gây chấn thương, tai nạn lao động [3]:

Là những yếu tố điều kiện lao động xấu, là nguy cơ gây ra tai nạn lao động đối với người lao động, bao gồm: Các bộ phận truyền động và chuyển động (Những trục máy, bánh răng, dây đai chuyền và các loại cơ cấu truyền động khác; sự chuyển động của bản thân máy móc như: ô tô, máy trục,… tạo nguy cơ cuốn, cán, kẹp, cắt…; Tai nạn gây ra có thể làm cho người lao động bị chấn thương hoặc chết); Nguồn nhiệt; Nguồn điện (Theo từng mức điện áp và cường độ dòng điện tạo nguy cơ điện giật, điện phóng, điện từ trường, cháy do chập điện…; làm tê liệt hệ thống hô hấp, tim mạch); Vật rơi, đổ, sập (Thường là hậu quả của trạng thái vật chất không bền vững, không ổn định gây ra như sập lò, vật rơi từ trên cao trong xây dựng; đá rơi, đá lăn trong khai thác đá, trong đào đường hầm; đổ tường, đổ cột điện, đổ công trình trong xây lắp; cây đổ; đổ hàng hóa trong sắp xếp kho tàng…); Vật văng bắn; Nổ vật lý (trong thực tế sản

Trang 26

xuất có thể nổ khi áp suất của môi chất trong các thiết bị chịu áp lực, các bình chứa khí nén, khí thiên nhiên hóa lỏng vược quá giới hạn bền cho phép của vỏ bình hoặc do thiết bị rạn nứt, phồng móp, bị ăn mòn do sử dụng lâu và không được kiểm định Khi thiết bị nổ sẽ sinh công rất lớn làm phá vỡ các vật cản và gây tai nạn cho mọi người xung quanh) và nổ hóa học (là sự biến đổi về mặt hóa học của các chất diễn ra trong một thời gian rất ngắn, với một tốc độ rất lớn tạo ra lượng sản phẩm cháy lớn, nhiệt độ rất cao và áp lực lớn làm hủy hoại các vật cản, gây tai nạn cho người trong phạm vi vùng nổ)

Các yếu tố có hại đối với sức khỏe, gây bệnh nghề nghiệp trong lao động [3]:

Là những yếu tố của điều kiện lao động không thuận lợi, vượt quá giới hạn của tiêu chuẩn vệ sinh lao động cho phép, làm giảm sức khoẻ người lao động, gây bệnh nghề nghiệp Đó là vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại

Bên cạnh các yếu tố của quá trình sản xuất kể trên là các yếu tố liên quan đến sản xuất tức là các yếu tố có ảnh hưởng gián tiếp tới công tác an toàn lao động, bao gồm:

+ Các yếu tố tự nhiên có liên quan đến nơi làm việc như điều kiện khí hậu, thời tiết, mức độ cao thấp của đồng ruộng, mặt bằng trang trại v.v ;

+ Các yếu tố đời sống kinh tế, hoàn cảnh gia đình, tâm lý người lao động, phong tục tập quán sản xuất canh tác của vùng

Mức độ ảnh hưởng của điều kiện lao động không thuận lợi tới người lao động bao gồm các yếu tố nguy hiểm có thế gây chấn thương hoặc tai nạn lao động và các yếu tố

có hại đến sức khỏe gây bệnh nghề nghiệp

- Các yếu tố tác hại nghề nghiệp: Yếu tố tác hại đến nghề nghiệp là những yếu tố có trong quá trình sản xuất, nơi làm việc, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và khả năng làm việc của người lao động

+ Tác hại liên quan đến môi trường làm việc:

• Yếu tố vật lý: vi khí hậu xấu, bức xạ mặt trời, tiếng ồn, rung,

Trang 27

• Yếu tố hóa học và yếu tố lý hóa: bụi hữu cơ, bụi sinh học, thuốc BVTV

• Yếu tố sinh vật học: vi trùng, siêu vi trùng, ký sinh trùng, nấm mốc, côn trùng + Tác hại nghề nghiệp liên quan đến vấn đề tâm sinh lý lao động – Ecgônômi:

• Lao động thể lực nặng nhọc

• Tư thế lao động gò bó

• Các căng thẳng về tâm lý, thần kinh, giác quan, cường độ lao động trong công việc

• Tính đơn điệu của công việc

• Thời gian lao động – nghỉ ngơi không hợp lý do phụ thuộc nhiều vào mùa vụ, thời tiết

+ Tác hại liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn

• Thiếu hoặc thừa ánh sáng, ánh sáng không hợp lý

• Làm việc ở ngoài trời có thời tiết xấu, nóng về mùa hè, lạnh về mùa đông

• Nơi làm việc chật chội, thiếu ngăn nắp

• Thiếu trang thiết bị thông gió, chống bụi, chống nóng, phòng chống hơi khí độc

• Thiếu trang bị phòng hộ, trang thiết bị phòng hộ không tốt, không đúng tiêu chuẩn

• Việc thực hiện quy tắc vệ sinh và an toàn lao động thiếu sự nghiêm minh

+ Lối sống: Các thói quen và hành vi chưa tốt trong sinh hoạt như hút thuốc lá, uống rượu, lao động thể lực nặng quá sức, chế độ dinh dưỡng không phù hợp, vệ sinh gia đình và nơi ở chưa tốt, … sẽ ảnh hưởng tới tình trạng sức khỏe người lao động

1.3 Những kết quả đã đạt được trong công tác đảm bảo ATLĐ

- Về công tác xây dựng, ban hành rà soát văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kiểm tra an toàn lao động:

Năm 2014, về cơ bản các văn bản quy phạm pháp luật đã được triển khai đúng tiến độ

kế hoạch được Bộ giao Dự án Dự thảo Luật An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) đã được Chính phủ thông qua vào tháng 8 năm 2014 Bên cạnh đó, ngày 23/01/2014, Chủ

Trang 28

tịch nước đã ký Quyết định về việc Việt Nam gia nhập Công ước số 187 của ILO về thúc đẩy khung chính sách quốc gia về an toàn lao động Việt Nam là quốc gia đầu tiên phê chuẩn 02 Công ước chủ yếu về ATVSLĐ của ILO Trong những năm gần đây, trung bình hàng năm, Cục An toàn lao động trình Bộ ban hành 10 văn bản pháp luật

- Về công tác thông tin, tuyên truyền về ATLĐ:

Công tác này mới chỉ tập trung đẩy mạnh tuyên truyền trong dịp tổ chức Tuần lễ quốc gia An toàn, Vệ sinh lao động mà chưa có nhiều hoạt động tuyên truyền được duy trì,

tổ chức thường xuyên trong năm Nội dung, hình thức tuyên truyền ít có sự đổi mới, chưa cụ thể và chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng Đặc biệt là trong nhóm người

lao động làm trong các ngành, lĩnh vực đặc thù như: khai khoáng, xây dựng, hóa chất, điện, trong các làng nghề, trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, khu vực miền núi thì việc huấn luyện, thông tin vẫn còn rất hạn chế

Trong dịp Tuần lễ, từ Trung ương đến địa phương đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật về ATVSLĐ, các cuộc tọa đàm và hội thảo về ATVSLĐ với sự tham gia của hàng vạn người lao động Trong đó đã phát gần 2.100 tin, bài, tọa đàm phỏng vấn, phóng sự; hơn 252.000 tờ rơi, tranh áp phích; gần 13.000 ấn phẩm thông tin tuyên truyền được phát tới doanh nghiệp, người lao động Tổ chức thành công Hội nghị Mạng thông tin quốc gia về ATVSLĐ lần thứ 18

- Về công tác huấn luyện ATVSLĐ:

Việc thực hiện công tác này còn thấp, số người được huấn luyện so với số người lao động trên địa bàn không cao, đặc biệt là các lao động không có quan hệ lao động Việc báo cáo công tác huấn luyện của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh và các

tổ chức hoạt động dịch vụ trên địa bàn còn chưa đầy đủ Và thực tế, vẫn còn nhiều vụ tai nạn lao động xảy ra do người lao động chưa được huấn luyện về công tác an toàn Theo thống kê năm 2014, có 4.046 học viên đã được đào tạo và cấp giấy chứng nhận huấn luyện về ATVSLĐ Thực hiện 03 khóa sơ cấp nghề cho người lao động làm các nghề, công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ với 72 học viên; Trung tâm Huấn

Trang 29

luyện ATVSLĐ đã tổ chức 491 khóa huấn luyện (vượt kế hoạch là 375 lớp trong năm 2014) với 41.140 học viên gồm cán bộ quản lý, người sử dụng lao động, người lao động Xây dựng chương trình khung; bổ sung, sửa đổi kịp thời một số tài liệu huấn luyện cho cán bộ quản lý, cán bộ ATVSLĐ và người lao động theo Bộ luật Lao động năm 2012 Trong năm 2014, 88 tổ chức được thẩm định công nhận đủ điều kiện tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ và tổ chức huấn luyện về ATVSLĐ Điều này cho thấy công tác huấn luyện đã được xã hội hóa nhiều hơn và nguồn lực tập trung vào công tác xây dựng tài liệu dành cho công tác huấn luyện nhiều hơn

Trong năm 2015, Tập trung triển khai hoàn thành Dự án Luật ATVSLĐ, phối hợp với các Ủy ban của Quốc hội và các Bộ, ngành có liên quan tập trung tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện trình Quốc hội; Rà soát, xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật để phù hợp với Hiến pháp 2013, Bộ luật Lao động 2012 và Công ước Quốc tế mà Việt Nam gia nhập; Tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới và đa dạng hóa các hoạt động thông tin tuyên truyền, huấn luyện về công tác ATVSLĐ năm 2015; Tăng cường phối hợp với các đơn

vị, Bộ, ngành, địa phương trong việc điều tra, xử lý các vụ TNLĐ, thanh tra kiểm tra

về ATVSLĐ và các hoạt động có liên quan

Kết luận chương 1

An toàn lao động trong xây dựng là vấn đề rất cần thiết trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa như hiện nay Các công trình dân dụng, công nghiệp cũng như các công trình thủy lợi ngày càng nhiều, đòi hỏi nhân lực tham gia thi công càng lớn Để đảm bảo tốt đúng tiến độ cũng như sức khỏe, an toàn lao động trong quá trình thi công của mỗi công nhân khi tham gia làm việc trên công trường thì yếu tố hiểu biết về quá trình hoàn thiện công tác quản lý an toàn lao động là rất quan trọng và cần thiết

Những sự cố của những năm vừa qua thì tai nạn lao động chủ yếu xảy ra trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt những sự cố xảy ra phần lớn đều ở trong lĩnh vực xây dựng giai đoạn đang thi công, và sự hiểu biết của con người còn chưa đầy đủ về những tác động đặc biệt của thiên nhiên, sự thiếu độ dự trữ về độ bền, độ ổn định của các giải pháp kỹ thuật trong quá trình xây dựng Tham gia vào lĩnh vực này phần lớn là lao động phổ

Trang 30

thông, thiếu cả kiến thức và ý thức bảo đảm an toàn trong lao động, bên cạnh đó thì các nhà thầu cũng chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý an toàn lao động

Việc xác định rõ nguyên nhân sự cố, rút ra các bài học kinh nghiệm để thiết kế, thi công, quản lý an toàn xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng Bởi tất cả những sự cố như đã nói, không chỉ liên quan tới những tác động đặc biệt của thiên nhiên, của việc khai thác, sử dụng quá khả năng cho phép hoặc của các nhân tố chủ quan của người lao động

Trang 31

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG QUẢN LÝ AN TOÀN XÂY DỰNG

2.1 Các quy định và luật pháp trong quản lý ATLĐ

2.1.1 Các quy định trong quản lý ATLĐ

Theo thông tư số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 Quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình; những yêu cầu đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng công trình cụ thể như sau:

Công trường xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau [4]:

(1) Tổng mặt bằng công trường xây dựng phải được thiết kế và phê duyệt theo quy định, phù hợp với địa điểm xây dựng, diện tích mặt bằng công trường, điều kiện khí hậu tự nhiên nơi xây dựng, đảm bảo thuận lợi cho công tác thi công, an toàn cho người, máy và thiết bị trên công trường và khu vực xung quanh chịu ảnh hưởng của thi công xây dựng

(2) Vật tư, vật liệu phải được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp đúng theo thiết kế tổng mặt bằng được phê duyệt Không được để các vật tư, vật liệu và các chướng ngại vật cản trở đường giao thông, đường thoát hiểm, lối ra vào chữa cháy Kho chứa vật liệu dễ cháy, nổ không được bố trí gần nơi thi công và lán trại Vật liệu thải phải được dọn sạch, đổ đúng nơi quy định Hệ thống thoát nước phải thường xuyên được thông thoát bảo đảm mặt bằng công trường luôn khô ráo

(3) Trên công trường phải có biển báo theo quy định tại Điều 74 Luật Xây dựng Tại cổng chính ra vào phải có sơ đồ tổng mặt bằng công trường, treo nội quy làm việc Các biện pháp đảm bảo an toàn, nội quy về an toàn phải được phổ biến và công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường như đường hào, hố móng, hố ga phải có rào chắn, biển cảnh báo và hướng dẫn đề phòng tai nạn; ban đêm phải có đèn tín hiệu

(4) An toàn về điện

Trang 32

a) Hệ thống lưới điện động lực và lưới điện chiếu sáng trên công trường phải riêng rẽ;

có cầu dao tổng, cầu dao phân đoạn có khả năng cắt điện một phần hay toàn bộ khu vực thi công;

b) Người lao động, máy và thiết bị thi công trên công trường phải được bảo đảm an toàn về điện Các thiết bị điện phải được cách điện an toàn trong quá trình thi công xây dựng;

c) Những người tham gia thi công xây dựng phải được hướng dẫn về kỹ thuật an toàn điện, biết sơ cứu người bị điện giật khi xảy ra tai nạn về điện

(5) An toàn về cháy, nổ:

a) Tổng thầu hoặc chủ đầu tư (trường hợp không có tổng thầu) phải thành lập ban chỉ huy phòng chống cháy, nổ tại công trường, có quy chế hoạt động và phân công, phân cấp cụ thể;

b) Phương án phòng chống cháy, nổ phải được thẩm định, phê duyệt theo quy định Nhà thầu phải tổ chức đội phòng chống cháy, nổ, có phân công, phân cấp và kèm theo quy chế hoạt động;

c) Trên công trường phải bố trí các thiết bị chữa cháy cục bộ Tại các vị trí dễ xảy ra cháy phải có biển báo cấm lửa và lắp đặt các thiết bị chữa cháy và thiết bị báo động, đảm bảo khi xảy ra cháy kịp thời phát hiện để ứng phó;

(6) Các yêu cầu khác theo quy định của pháp luật có liên quan;

(7) Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài hoặc những công trình có sự tham gia của nhà thầu nước ngoài thì các quy định về an toàn lao động phải được thể hiện bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài

Khi thi công xây dựng phải đảm bảo các yêu cầu sau đây [4]:

(1) Trước khi khởi công xây dựng phải có thiết kế biện pháp thi công được duyệt, trong biện pháp thi công phải thể hiện được các giải pháp đảm bảo an toàn lao động cho người lao động và máy, thiết bị thi công đối với từng công việc Trong thiết kế

Trang 33

biện pháp thi công phải có thuyết minh hướng dẫn về kỹ thuật và các chỉ dẫn thực hiện

(2) Thi công xây dựng phải tuân thủ theo thiết kế được duyệt, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật Đối với những công việc có yêu cầu phụ thuộc vào chất lượng của công việc trước đó, thì chỉ được thi công khi công việc trước đó đã được nghiệm thu đảm bảo chất lượng theo quy định

(3) Biện pháp thi công và các giải pháp về an toàn phải được xem xét định kỳ hoặc đột xuất để điều chỉnh cho phù hợp với thực trạng của công trường

(4) Tổ chức, cá nhân phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận theo quy định Những người điều khiển máy, thiết bị thi công và những người thực hiện các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được huấn luyện

an toàn lao động và có thẻ an toàn lao động theo quy định;

(5) Máy, thiết bị thi công có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền theo quy định thì mới được phép hoạt động trên công trường Khi hoạt động, máy và thiết bị thi công phải tuân thủ quy trình, biện pháp đảm bảo an toàn

Trường hợp khi hoạt động, thiết bị thi công vượt khỏi phạm vi mặt bằng công trường thì chủ đầu tư phải phê duyệt biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình trong, ngoài công trường chịu ảnh hưởng của thi công xây dựng

Trường hợp do điều kiện thi công, thiết bị phải đặt ở ngoài phạm vi công trường và trong thời gian không hoạt động nếu các thiết bị thi công vươn ra khỏi phạm vi công trường thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định của địa phương

(6) Những người khi tham gia thi công xây dựng trên công trường phải được khám sức khỏe, huấn luyện về an toàn và được cấp phát đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân theo quy định của pháp luật về lao động

Quy định về Quản lý ATLĐ trên công trường xây dựng [4]:

Trang 34

- Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trẽn công trường xây dựng Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận

- Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng để mọi người biết và chấp hành; những vị trí nguy hiểm trên công trường phải bố trí người hướng dẫn, cảnh báo đề phòng tai nạn

- Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác ATLĐ trên công trường Khi phát hiện có vi phạm về ATLĐ thì phải đình chỉ thi công xây dựng Người để xảy ra vi phạm về ATLĐ thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật

- Nhà thầu xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về ATLĐ Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ thì người lao động phải có giấy chứng nhận đào tạo ATLĐ Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo và chưa được hướng dẫn về ATLĐ

- Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ lao động, ATLĐ cho người lao động theo quy định khi sử dụng lao động trên công trường

- Khi có sự cố về ATLĐ, nhà thầu thi công xây dựng và các bên có liên quan có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về ATLĐ, đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không bảo đảm ATLĐ gây ra

2.1.2 L uật pháp trong lĩnh vực an toàn xây dựng

Trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, công tác xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật về an toàn xây dựng nói riêng đã được các cấp các ngành hết sức quan tâm Vì vậy, đến nay Nhà nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật, chế độ chính sách về

an toàn lao động tương đối đầy đủ

* Hệ thống luật pháp trong lĩnh vực an toàn xây dựng bao gồm:

Trang 35

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/6/2012 Bộ luật gồm 17 chương, 242 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2013 và thay thế Bộ luật Lao động ngày 23/6/1994;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động số 35/2002/QH10 ngày 02/4/2002 có hiệu lực kể từ ngày 01-01-2003;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động số 74/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Sửa đổi, bổ sung Chương XIV của Bộ luật lao động về Giải quyết tranh chấp lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007;

- Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động số 84/2007/QH11 ngày 02/4/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày công bố;

* Các Nghị định về an toàn lao động liên quan đến ngành xây dựng:

- Nghị định 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 về việc Quy định chi tiết một số điều của

Bộ luật lao động về an toàn lao động và vệ sinh lao động

- Nghị định số 06/1995/NĐ-CP ngày 20/11/1995 của Chính phủ quy định về ATLĐ, VSLĐ;

- Nghị định này quy định về an toàn, vệ sinh lao động, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động, người lao động, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, trách nhiệm của công đoàn

- Nghị định số 110/2002/NĐ-CP ngày 27/12/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định số 06/1995/NĐ-CP ngày 20/11/1995 của Chính phủ

Nghị định này sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 06/1995 về việc bảo quản các thiết bị vật tư, nguy hiểm có hại phát sinh trong quá trình sản xuất và các giải pháp phòng ngừa, xử lý Trách nhiệm xây dựng an toàn lao động của các bộ, ngành liên quan

Trang 36

- Nghị định số 38/CP ngày 25/6/1996 của Chính phủ quy định việc xử phạt hành chính

về hành vi vi phạm pháp luật về BHLĐ, về ATLĐ

- Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động ( thay thế nghị định 38/NĐ-CP)

* Các Thông tư về an toàn lao động liên quan đến ngành xây dựng:

- Thông tư số 01/2011/TTLT-BLĐTBXH-BYT Ngày 10/01/2011 về việc hướng dẫn

tổ chức thực hiện công tác ATVSLĐ trong các cơ sở lao động

- Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 về việc Quy định về công tác huấn luyện an toàn lao động, vệ sinh lao động

- Thông tư số 19/2011/TT-BYT ngày 06/6/2011 về việc hướng dẫn quản lý VSLĐ, sức khỏe NLĐ, BNN

- Thông tư số 10/2003/TT-BLĐTBXH ngày 18/4/2003 hướng dẫn việc thực hiện chế

độ bồi thường và trợ cấp đối với người bị TNLĐ, BNN;

- Thông tư 32/2011/TT-BLĐTBXH ngày 14/11/2011 về việc thực hiện kiểm định kỹ thuật ATLĐ các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ

- Thông tư 41/2011/BLĐ ngày 28/12/2011 (bổ sung cho TT-37/2005/BLĐ ngày 29/12/2005) về việc hướng dẫn công tác huấn luyện ATLĐ, VSLĐ

- Thông tư số 23/BLĐTBXH-TT ngày 18/11/1996 Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với NLĐ làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm và độc hại;

- Thông tư liên tịch số 14/1998/TTLT-BLĐTBXH-BHYT-TLĐLĐVN Hướng dẫn việc tổ chức thực hiện công tác BHLĐ trong doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh;

- Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày 30/05/2012 Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với NLĐ làm việc trong điều kiện có yếu

tố nguy hiểm, độc hại;

Trang 37

- Thông tư số 12/2012/TT- BLĐTBXH –BYT ngày 21/5/2012 hướng dẫn khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo TNLĐ (thay thế thông tư số 14/2005/TTLT- BLĐTBXH –BYT);

- Thông tư số 22/2010/TT- BXD ngày 03/12/2010 của Bộ Xây dựng quy định về ATLĐ trong thi công xây dựng công trình

* Các Chỉ thị về an toàn lao động liên quan đến ngành xây dựng:

- Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 26/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình mới

- Chỉ thị số 02/CT-BXD ngày 21/3/2011 chỉ thị về việc tăng cường thực hiện các quy định đảm bảo ATVSLĐ và Phòng chống cháy nổ trong ngành xây dựng;

- Chỉ thị số 10/2008/CT-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện công tác ATLĐ;

Chỉ thị này quy định về việc tăng cường công tác ATLĐ bảo đảm sức khoẻ, an toàn cho người lao động, góp phần ổn định và phát triển sản xuất Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện: Bộ công thương, bộ xây dựng, bộ giao thông vận tải,

bộ tài nguyên môi trường, bộ y tế…

* Các TCVN, Quy chuẩn quốc gia về an toàn lao động liên quan đến ngành xây dựng:

- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về An toàn trong xây dựng: QCVN 18:2014/BXD do Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng biên soạn, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường trình duyệt, Bộ Khoa học Công nghệ thẩm định, Bộ xây dựng ban hành kèm theo Thông tư số: 14/2014/TT-BXD ngày 05/9/2014 của Bộ trưởng Xây dựng

- Quy chuẩn 12/2008/QĐ-BCT ngày 17/06/2008 về việc ban hành Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về An toàn điện

- TCVN 5308-91: Quy phạm kỹ thuật an toàn trong xây dựng;

Trang 38

- TCVN 5178:2004: Quy phạm kỹ thuật an toàn trong khai thác và chế biến đá lộ thiên;

- TCVN 2293-78: Gia công gỗ, yêu cầu chung về an toàn;

- TCVN 2290-78: Thiết bị sản xuất, yêu cầu chung về an toàn;

- TCVN 4086-85: An toàn điện trong xây dựng;

- TCVN 2622-1995: Phòng chống cháy cho nhà và công trình – Yêu cầu thiết kế;

- TCVN 3147-1991: Quy phạm an toàn trong công tác xếp dỡ

2.2 Trách nhiệm về an toàn lao động trong thi công xây dựng

2.2 1 Trách nhiệm của chủ thể đối với an toàn trong thi công xây dựng công trình

a) Đối với chủ đầu tư [4]

- Thành lập bộ phận chuyên trách để kiểm tra việc thực hiện các quy định về an toàn lao động của nhà thầu thi công xây dựng trên công trường

- Lựa chọn nhà thầu có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc đảm nhận theo quy định của pháp luật về xây dựng

- Tạm dừng thi công và yêu cầu nhà thầu khắc phục khi phát hiện dấu hiệu vi phạm quy định về an toàn lao động của nhà thầu Nếu nhà thầu không khắc phục thì chủ đầu

tư phải đình chỉ thi công hoặc chấm dứt hợp đồng

- Phối hợp với nhà thầu xử lý, khắc phục khi xảy ra sự cố hoặc tai nạn lao động, đồng thời báo cáo với các cơ quan chức năng về tình hình an toàn lao động của dự án, công trình theo quy định của pháp luật về lao động

b) Đối với nhà thầu xây dựng

Nhà thầu thi công xây dựng công trình bao gồm cả tổng thầu, nhà thầu chính và nhà thầu phụ trên công trường có trách nhiệm:

Trang 39

- Lập và phê duyệt thiết kế biện pháp thi công, trong đó quy định rõ các biện pháp bảo đảm an toàn cho người, máy, thiết bị và công trình Định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra thực tế các diễn biến trên công trường để điều chỉnh biện pháp thi công, biện pháp an toàn lao động cho phù hợp

- Tuyển chọn và bố trí người lao động kỹ thuật trên công trường đúng chuyên môn được đào tạo, đủ năng lực hành nghề, đủ sức khỏe theo quy định của pháp luật Đồng thời cung cấp đầy đủ các trang thiết bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động

- Thành lập mạng lưới và bộ phận quản lý công tác an toàn lao động trên công trường; đồng thời quy định cụ thể công việc thực hiện và trách nhiệm đối với những cá nhân quản lý công tác an toàn lao động trong quá trình thi công

- Tổ chức tập huấn và huấn luyện về an toàn cho đội ngũ làm công tác an toàn và người lao động thuộc quyền quản lý theo quy định

- Kiểm tra việc thực hiện các quy định về ATLĐ theo biện pháp đã được phê duyệt, tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan

- Chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư khắc phục hậu quả, khai báo, điều tra, lập biên bản khi xảy ra sự cố công trình xây dựng, tai nạn lao động trên công trường

- Thực hiện công tác kiểm định, đăng ký, bảo dưỡng máy và thiết bị nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động và công trình theo quy định

c) Đối với Ban quản lý dự án hoặc Tư vấn QL dự án và Tư vấn giám sát thi công [4]:

- Ban quản lý dự án hoặc Tư vấn quản lý dự án và Tư vấn giám sát thi công xây dựng

có trách nhiệm:

- Giám sát việc thực hiện của nhà thầu tuân thủ các biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn đã được phê duyệt; tuân thủ các quy phạm kỹ thuật an toàn trong thi công xây dựng

- Thông báo cho chủ đầu tư những nguy cơ có thể ảnh hưởng đến an toàn trong quá trình thi công để có các giải pháp xử lý và điều chỉnh biện pháp thi công cho phù hợp

Trang 40

- Kiểm tra, báo cáo chủ đầu tư xử lý vi phạm, dừng thi công và yêu cầu khắc phục khi nhà thầu thi công vi phạm các quy định về an toàn trên công trường

d) Đối với người lao động trên công trường xây dựng [4]:

- Người lao động trên công trường xây dựng có quyền và trách nhiệm sau:

- Có quyền từ chối thực hiện các công việc được giao khi thấy không đảm bảo ATLĐ sau khi đã báo cáo với người phụ trách trực tiếp mà vẫn không được khắc phục, xử lý hoặc nhà thầu không cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân theo đúng quy định

- Chỉ được nhận thực hiện những công việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo Chấp hành đầy đủ các quy định, nội quy về ATLĐ có liên quan đến công việc, nhiệm

vụ được giao

- NLĐ làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ thì phải được huấn luyện ATLĐ và có thẻ ATLĐ theo quy định

e) Đối với người làm công tác an toàn của nhà thầu [4]:

- Người làm công tác an toàn thực hiện chế độ kiểm tra hàng ngày trên công trường theo quy định của nhà thầu Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện thấy các vi phạm

về ATLĐ hoặc các nguy cơ xảy ra TNLĐ thì tạm dừng thi công công việc đó, đồng thời báo cáo trực tiếp nhà thầu để xem xét xử lý hoặc yêu cầu người trực tiếp phụ trách

bộ phận đó đình chỉ thi công để có các biện pháp bảo đảm an toàn cho người và công trình, sau đó báo cáo người chỉ huy công trường

- Người làm công tác an toàn hoặc cán bộ kỹ thuật của nhà thầu phải giám sát liên tục công tác ATLĐ trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình

2.2.2 Trách nhiệm quản lý công tác ATLĐ trong khối trực tiếp thi công xây dựng

a) Quản đốc(hoặc chức vụ tương đương) [4]:

Về trách nhiệm:

- Tổ chức huấn luyện, kèm cặp, hướng dẫn NLĐ mới tuyển dụng hoặc mới chuyển đến

Ngày đăng: 12/04/2021, 09:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w