1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường công lập trường hợp tại trường đại học ngoại ngữ đại học quốc gia hà nội

120 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2016 đến năm học 2020-2021,… Có thể nói các cơ chế tài chính trên đã tạo động lực quan trọng đối với các cơ sở giáo dục ĐHCL trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm

Trang 1

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nghiên cứu

và các kết luận trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Duyên

Trang 2

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Quý Thầy Cô giáo trường Đại học Thủy lợi

đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến TS Lê Văn Chính đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện công trình nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã hợp tác, chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tài liệu, tư liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu Do thời gian có hạn chế nên luận văn không thể trách khỏi các thiếu sót, rất mong sự góp ý của các khoa học, các thầy cô giáo và các đồng nghiệp giúp tôi có thể hoàn thiện nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Ngọc Duyên

Trang 3

M ỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT viii

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 5

1.1 Khá i niệm, mục tiêu, nguyên tắc thực hiện về cơ chế tự chủ tài chính 5

1.1.1 Khái niệm 5

1.1.2 Mục tiêu và nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các Trường Đại học Công lập ở Việt Nam 6

1.2 Cơ sở pháp lý về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở trường Đại học Công l ập ………6

1.2.1 Tính tất yếu 8

1.2.2 Tính khách quan 10

1.3 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học Công lập ở Việt Nam ….11 1.3.1 Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, bộ máy tổ chức và nhân sự 11

1.3.2 Tự chủ về quản lý tài chính 13

1.3.3 Tự chủ về đào tạo, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế 16

1.4 Các nhâ n tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các tr ường đại học công lập 22

1.4.1 Nhân tố bên trong 22

1.4.2 Nhân tố bên ngoài 23

1.5 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của một số trường Đại học 28 1.5.1 Kinh nghiệm trên thế giới đối với các Đại học công lập 28

1.5.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam 29

1.5.3 Những bài học rút ra 32

1.6 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 33

Kết luận chương 1 34

Trang 4

CH ƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 35

2.1 Giới thiệu về trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội 35

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Trường Đại học Ngoại ngữ 35

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy của Trường Đai học Ngoại ngữ …36 2.2 Thực trạng triển khai cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Ngoại ngữ 42 2.2.1 Tự chủ về nhiệm vụ, bộ máy và nhân sự 43

2.2.2 Tự chủ trong việc quản lý tài chính 47

2.2.3 Tự chủ về đào tạo, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế 57

2.3 Đánh giá về việc thực hiện cơ chê tự chủ tài chính tại Trường Đại học Ngoại ngữ… 64

2.3.1 Một số thuận lợi khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 64

2.3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tại trường Đại học Ngoại ngữ 68

2.3.3 Kết quả đã đạt được 69

Kết luận chương 2 74

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ 75

3.1 Chiến lược phát triển của các trường đại học công lập ở Việt Nam 75

3.1.1 Chiến lược phát triển của các trường đại học công lập ở Việt Nam 75

3.1.2 Chiến lược phát triển của Đại học Ngoại ngữ- ĐHQGHN 79

3.2 Những cơ hội và thách thức hoàn thiện cơ chế tự chủ 81

3.2.1 Cơ hội 81

3.2.2 Thách thức 84

3.3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tại trường Đại học Ngoại ngữ 88

3.3.1 Nhóm giải pháp về tự chủ cơ cấu bộ máy và nhân sự 89

3.3.2 Nhóm giải pháp về tự chủ trong việc quản lý tài chính 92

3.3.3 Nhóm giải pháp về công tác đào tạo 98

3.3.4 Nhóm giải pháp về nghiên cứu khoa học và Công nghệ và hợp tác quốc tế 100 3.4 Một số kiến nghị 104

Trang 5

3.4.1 Kiến nghị với Đại học Quốc gia Hà Nội 104

3.4.2 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 106

3.4.3 Đối với Chính phủ 106

Kết luận Chương 3 108

KẾT LUẬN 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: 111

Trang 6

DANH M ỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Sơ đồ khối tổ chức bộ máy trường Đại học Ngoại ngữ 38

Hình 2.2: tỷ lệ cơ cấu ngạch giáo viên giai đoạn 2014-2016 44

Hình 2.3: tỷ lệ cơ cấu tuổi giai đoạn 2014-2016 45

Hình 2.4: Cơ cấu về trình độ cán bộ trường ĐHNN giai đoạn 2014-2016 45

Hình 2.5: Tỷ lệ nguồn kinh phí đầu tư so với tổng kinh phí trường 48

Đại học Ngoại ngữ giai đoạn 2014-2016 48

Hình 2.6: Số liệu nguồn ngoài ngân sách Nhà nước trường Đại học Ngoại ngữ 49

giai đoạn 2014-2016 49

Hình 2.7: Tỷ lệ kinh phí phân bổ cho từng hạng mục trong tổng kinh phí của 52

trường Đại học Ngoại ngữ giai đoạn 2014-2016 52

Hình 2.8 Chi Ngân sách đào tạo đại học 53

53

Hình 2.9: Bảng phân bổ kinh phí sau đại học 53

Hình 2.10 Bảng phân bổ kinh phí chi cho chương trình mục tiêu 54

Hình 2.11: Số liệu nguồn thu khác trường Đại học Ngoại ngữ giai đoạn 2014-2016 56

Hình 2.12: Chỉ tiêu tuyển sinh năm 2014-2016 59

Hình 2.13: Số lượng đề tài dự án nghiên cứu khoa học giai đoạn 2014-2016 62

Hình 2.14: Số lượng bài báo khoa học giai đoạn 2014-2016 62

Hình 2.15: Số lượng giảng viên, sinh viên thông qua các 63

chương trình hợp tác quốc tế 63

Hình 2.16 : Tỷ lệ (%) các đơn vị trong trường có chương trình hợp tác quốc tế 64

Hình 2.17: Mức độ tự chủ về chi phí hoạt động giai đoạn 2014-2016 70

Hình 2.18: Tỷ lệ trích lập quỹ năm 2016 71

Bảng 2.19: Số lượng tuyển sinh giai đoạn 2014-2016 73

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thí nghiệm/thực hành 56 Bảng 2.2: Lớp học, ký túc xá và sân chơi 57 Bảng 2.3: Trang thiết bị phục vụ dạy học 57

Trang 8

DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 9

Phần mở đầu

1 Tính c ấp thiết của đề tài

Trong thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục Đại học luôn luôn được đổi mới để phù hợp với yêu cầu phát triển Ngay từ đầu những năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về chế độ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp

có thu, tiếp đến là Nghị định số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên

chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và mới nhất là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015, thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 06/04/2015 cho phép các cơ sở giáo dục được quyết định tự chủ thực hiện các

hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong chức năng nhiệm vụ được giao Qua ba

lần cải cách cơ chế tài chính phần nào đã giảm bớt một số rào cản nhưng tính hiệu lực,

hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng, tính ràng buộc tổ chức, sự chấp thuận của cộng đồng đối với cơ chế tự chủ tài chính chưa cao Cơ chế trao quyền tự chủ cho các trường mới chỉ ở tình trạng nửa vời chưa tạo ra sự tự chủ về tạo nguồn tài chính, tự cân đối thu chi, trách nhiệm giải trình của các trường, của các cơ quan quản lý trước xã hội

và người học cho việc nâng cao chất lượng đào tạo Và để các trường Đại học công lập (ĐHCL) thật sự “lột xác” thì cơ chế tự chủ tài chính cần tiếp tục đổi mới để tạo ra

những giải pháp đột phá về cơ chế tài chính, cơ chế quản trị điều hành Thực tế cho

thấy rằng nguồn thu của các trường ĐHCL được hình thành từ hai nguồn là ngân sách Nhà nước cấp và nguồn thu sự nghiệp Trong đó, nguồn ngân sách cấp dưới 50% (có trường chỉ đạt 10% đến 20%), nguồn thu sự nghiệp chiếm trên 50% chủ yếu là thu từ

học phí và lệ phí Do vậy, ngoại trừ các trường đại học khối kinh tế, luật… là có khả năng tự bảo đảm trên 50% mức chi từ các nguồn thu sự nghiệp, các trường khác chỉ

bảo đảm dưới 50% mức chi Đặc biệt là các trường khối y dược, thể thao, văn hóa, xã

hội nhân văn, nghệ thuật… gặp rất nhiều khó khăn vì nguồn thu ngoài ngân sách rất

nhỏ, nhiều trường không có khả năng tăng nguồn để tự cân đối thu chi

Giai đoạn mới 2016-2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 2/10/2015 quy định về cơ chế thu chi đối với các cơ sở thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập cho từ năm học 2015-

Trang 10

2016 đến năm học 2020-2021,… Có thể nói các cơ chế tài chính trên đã tạo động lực quan trọng đối với các cơ sở giáo dục ĐHCL trong việc nâng cao quyền tự chủ, gắn

với tự chịu trách nhiệm trong việc khai thác, phát huy các tiềm năng về cơ sở vật chất, tài sản, đội ngũ giáo viên để mở rộng quy mô, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, gắn

với nhu cầu xã hội, tăng nguồn tài chính cho nhà trường, tăng cường tái đầu tư cơ sở

vật chất, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động… Tuy vậy, thực tế cho thấy bên cạnh những thành quả tích cực mang lại, cơ chế tài chính hiện nay đối

với giáo dục đại học vẫn còn một số tồn tại, bất cập cần tiếp tục được hoàn thiện và đổi mới cho phù hợp với các chủ trương, định hướng về phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới

Trường Đại học Ngoại ngữ-ĐHQGHN thành lập năm 1955 tại Việt Nam Học xá (nay thuộc phường Bách khoa, quận Ha Bà Trưng, Hà Nội) Trải qua hơn 60 năm năm xây

dựng và phát triển, trường trở thành trung tâm đào tạo giáo viên và cán bộ ngoại ngữ

lớn nhất, có vị trí trường đầu ngành Ngoại ngữ của cả nước

Năm 2003, trường được giao quyền tự chủ tài chính như một đơn vị sự nghiệp có thu Qua hai lần cải cách cơ chế tài chính (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP) và đang áp dụng cơ chế tự chủ mới theo Nghị định số 86/2015/NĐ-

CP ngày 14/2/2015 và để thực hiện tốt các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế năm 2012 trường đã xây dựng “Quy chế chi tiêu nội bộ” Quy chế chi tiêu nội bộ thể

hiện tính thống nhất quản lý tài chính (QLTC) trong toàn trường, được phổ biến công khai, đưa tới các phòng, khoa và toàn thể cán bộ viên chức Bản quy chế đã đưa ra các định mức thu chi tài chính cho các hoạt động thường xuyên trong nhà trường trong đó

ưu tiên hàng đầu cho sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) công nghệ bước đầu đã đạt được kết quả tốt Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ trường Đại học Ngoại ngữ còn

nẩy sinh những bất cập, hạn chế cần khắc phục

Nghiên cứu việc triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại cơ sở giáo dục đào tạo công lập theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP để từ đó đề xuất giải pháp đổi mới, hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính trong trường ĐHCL là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực

tiễn quan trọng, góp phần trong việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình tự chủ

Trang 11

trong các trường ĐHCL nói chung và tự chủ về tài chính của trường Đại học Ngoại

ngữ Với lý do đó học viên đã nghiên cứu chọn đề tài: “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường ĐHCL: Trường hợp trường Đại học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội” cho luận văn thạc sỹ của mình

2 M ục đích của đề tài

Phân tích thực trạng triển khai cơ chế tự chủ trong đó chú trọng việc nghiên cứu triển khai cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội,

chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế của công tác này, trên cơ sở đó

đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại

học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu:

Cơ chế tự chủ, cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội

b Ph ạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt nội dung: Nghiên cứu thực trạng việc triển khai cơ chế tự chủ, tự chủ tài chính giai đoạn 2014-2016

+ Về mặt thời gian: Đánh giá cơ chế tự chủ và tự chủ tài chính giai đoạn 2013-2016

và hoàn thiện cơ chế tự chủ cho giai đoạn 2017-2020

+ Về mặt không gian: Tại trường Đại học Ngoại ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp sau: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp định tính, phương pháp định lượng và các phương pháp khác có liên quan

5 C ấu trúc của luận văn

Trang 12

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học công lập ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Đại học Ngoại ngữ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học Ngoại

ngữ

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ

1.1 Khái ni ệm, mục tiêu, nguyên tắc thực hiện về cơ chế tự chủ tài chính

1.1.1 Khái ni ệm

- “Cơ chế” là cách thức hoạt động của một sự vật, hiện tượng trong quá trình tồn tại và phát triển (theo từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn năm 2000) [1]

- “Tự chủ” là tự mình có quyền và có thể kiểm soát được những công việc của mình

mà không bị các cá nhân và tổ chức khác chi phối

Trong lĩnh vực tự chủ tài chính (TCTC) cách thức (cơ chế) vận hành các phạm trù TCTC do cái gì quyết định Đây là vấn đề cần được làm rõ Sự vận hành các phạm trù thuộc lĩnh vực TCTC chịu sự tác động chi phối của hai nhân tố, bao gồm:

Một là, các quy luật kinh tế, tài chính đã và đang tồn tại trong một môi trường kinh tế, tài chính nhất định

Hai là, sự phản ứng của con người trước sự vận động theo tính qui luật khách quan của các phạm trù kinh tế, tài chính Hay nói cách khác là con người đưa ra những cách

thức để hướng sự vận động của các phạm trù kinh tế, tài chính mang tính qui luật khách quan theo những yêu cầu chủ quan của mình

Với quan niệm “cơ chế” là cách thức thì trong lĩnh vực TCTC cách thức đó do con người tạo ra và nó mang dấu ấn chủ quan là chủ yếu Như vậy, cách thức trong trường

hợp này có thể hiểu là những qui định của con người trước sự vận động mang tính qui

luật của phạm trù TCTC

Khi hàm ý cơ chế là những qui định của con người thì những qui định đó luôn bao

gồm hệ thống các quyền và lợi ích Việc sử dụng hệ thống các quyền và lợi ích để đưa

ra những quy định (cơ chế) mang lại hiệu quả chung cho Quốc gia khi những qui định này phù hợp với sự vận động mang tính qui luật của TCTC Đây là cách tiếp cận về thuật ngữ “cơ chế” trong lĩnh vực TCTC

Trang 14

Cơ chế QLTC là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ, về QLTC và

mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước

1.1.2 M ục tiêu và nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các Trường Đại

h ọc Công lập ở Việt Nam

M ục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các nhà trường trong tổ chức, sắp xếp bộ máy, sử dụng lao động, nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ, cung cấp dịch vụ

với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu, tăng thu nhập cho người lao động

Thực hiện xã hội hóa về cung cấp dịch vụ cho xã hội, tăng sự đóng góp của cộng đồng,

giảm dần sự bao cấp từ ngân sách Nhà nước

Nguyên t ắc thực hiện quyền tự chủ bao gồm:

Phải hoàn thành nhiệm vụ được giao; các hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, khả năng chuyên môn và tài chính của nhà trường

Đảm bảo chế độ công khai, dân chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm; chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Bảo đảm lợi ích Nhà nước; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật

1.2 C ơ sở pháp lý về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở trường Đại học Công lập

Để đảm bảo việc thực hiện tự chủ của các cơ sở đào tạo đại học thành công theo chủ trương, chính sách đã được Đảng, Nhà nước đề ra, thúc đẩy phát triển sự nghiệp GDĐH, nâng cao chất lượng dịch vụ, thời gian qua Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tự chủ tài chính

Các cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các CSGDĐHCL đã liên tục được ban hành, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Trên cơ sở phân định rõ các đơn vị hành chính với đơn vị sự nghiệp, tiến hành áp dụng

cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị định

Trang 15

130/2005/NĐ–CP ngày 17/10/2005 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước

Tiếp đó, Nghị định 43/2006/NĐ–CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn

vị sự nghiệp công lập Trên thực tế, Nghị định này được hình thành và khởi nguồn từ Nghị định 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 về việc thực hiện thí điểm chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu

Có thể nói, Nghị định 43/2006/NĐ-CP đã góp phần nâng cao tính chủ động, sáng tạo các trường đại học công lập; huy động được sự đóng góp và tham gia tích cực của cộng đồng xã hội cho phát triển hoạt động GDĐH, nhờ đó làm tăng nguồn thu sự nghiệp và tăng thu nhập cho công chức, viên chức; tính công khai, minh bạch và dân chủ trong các quyết định và hoạt động tại các trường đại học công lập cũng được tăng cường

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trong thực tiễn triển khai cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập là: Các trường đại học công lập được giao tự chủ nhưng vẫn phải tuân thủ mức trần học phí do Nhà nước quy định tại Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ

Mức học phí quy định theo đó chưa đảm bảo bù đắp đủ chi phí hoạt động cần thiết, chưa sát với yêu cầu chi phí đặc thù của từng ngành, nghề đào tạo cũng như chưa gắn với yêu cầu về chất lượng, thương hiệu của từng trường

Bên cạnh đó, cơ chế phân bổ NSNN còn mang tính bình quân và dựa trên các yếu tố đầu vào mà chưa gắn với kết quả, hiệu quả hoạt động; Việc triển khai thực hiện xã hội hóa và liên doanh liên kết do quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng…

Để giải quyết những tồn tại trên, ngày 24/10/2014 Chính phủ ban hành Nghị quyết 77/NQ-CP về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các CSGDĐHCL giai đoạn

2014 – 2017

Theo đó, các trường ĐHCL khi cam kết tự bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện;

Trang 16

Được quyết định mức học phí bình quân tối đa bằng mức trần học phí do Nhà nước quy định cộng với khoản chi thường xuyên NSNN cấp bình quân cho mỗi sinh viên công lập trong cả nước; Quyết định mức học phí cụ thể đối với từng ngành nghề, chương trình đào tạo theo nhu cầu người học và chất lượng đào tạo, bảo đảm mức học phí bình quân trong nhà trường không vượt quá giới hạn mức học phí bình quân tối đa, thực hiện công khai mức học phí cho người học trước khi tuyển sinh

Bên cạnh đó, đối với khoản thu học phí và các khoản thu sự nghiệp khác các trường ĐHCL được gửi ngân hàng thương mại

Về chính sách học bổng, học phí đối với đối tượng chính sách, Nghị quyết 77/NQ-CP nêu rõ, việc thực hiện tự chủ của các trường đại học phải bảo đảm không làm giảm cơ hội tiếp cận GDĐH của sinh viên nghèo, sinh viên là đối tượng chính sách

Các trường đại học tự chủ phải xây dựng, thực hiện các chính sách cấp học bổng đối với sinh viên xuất sắc, sinh viên giỏi, sinh viên là đối tượng chính sách; miễn giảm học phí cho sinh viên nghèo, sinh viên là đối tượng chính sách và hỗ trợ phần chênh lệch giữa mức hỗ trợ của Nhà nước với mức học phí của nhà trường; sử dụng toàn bộ tiền lãi của khoản học phí và các khoản thu sự nghiệp khác gửi ngân hàng để lập các quỹ

hỗ trợ sinh viên

Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, ngày 14/2/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP, nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho tất cả các trường ĐHCL có

đủ điều kiện, cam kết tự đảm bảo kinh phí hoạt động chi thường xuyên và chi đầu tư được thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện về nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính

Việc ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của hoạt động sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.2.1 Tính t ất yếu

Tự chủ đối với giáo dục đại học là xu thế tất yếu, điều này không những làm giảm áp

lực ngân sách nhà nước mà còn mở rộng cơ hội cho các cơ sở đào tạo phát huy tính

Trang 17

chủ động, sáng tạo, đổi mới trong giáo dục, đào tạo Tại Việt Nam, tự chủ đối với giáo

dục đại học đã và đang được thực hiện và cũng đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt là việc tự

chủ về tài chính

Trong những năm qua, trước xu thể đổi mới, hội nhập trong lĩnh vực giáo dục, Việt Nam đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực giáo dục đại học Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng nâng cao chất lượng, trao quyền tự chủ, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước…

Điển hình nhất là Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 về thí điểm đổi mới cơ chế

hoạt động đối với một số cơ sở giáo dục đại học công lập Đặc biệt, ngày 14/2/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Với việc ban hành một số chính sách tạo điều kiện thuận lợi, tăng quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học bước đầu đã mang lại nhiều kết quả thiết thực Trong đó, các đơn vị đánh giá cao về các cơ chế đối với tự chủ tài chỉnh, bởi đây là yếu tố quyết định đến việc phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra cho đơn vị

Giáo dục ĐHCL giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, cung cấp cho đất nước nguồn nhân lực có trình độ cao, góp phần quan trọng vào thành công của của sự nghiệp đổi mới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đưa đất nước tiến vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trải qua hơn 10 năm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, giáo dục ĐHCL ở nước ta đã

từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội theo hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, gắn với tự chịu trách nhiệm về tài chính Việc trao quyền tự

chủ tài chính cho các trường ĐHCL có ý nghĩa quan trọng, là hành lang pháp lý bắt

buộc các trường phải tự đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH, ứng dụng công nghệ và liên doanh liên kết

Trao quyền tự chủ cho các trường ĐHCL đơn vị sự nghiệp tạo ra sự chủ động sáng

tạo, linh hoạt trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí, đồng thời nâng cao tính

tự chịu trách nhiệm khiến cho các đơn vị phải biết tiết kiệm, tránh lãng phí Cơ chế tự

Trang 18

chủ cho phép các trường ĐHCL đơn vị sự nghiệp được mở rộng hoạt động dịch vụ của mình, mở rộng các hình thức liên kết nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị và đơn vị được

sử dụng nguồn thu đó theo quy định Chính điều này đã kích thích các đơn vị tìm

kiếm, thu hút nguồn kinh phí ngoài kinh phí Ngân sách Nhà nước (NSNN), muốn vậy

họ phải nâng cao chất lượng dịch vụ của mình

Hoạt động của các đơn vị trở nên năng động hơn theo hướng đa dạng hoá các loại hình

hoạt động, nhờ vậy tăng nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị Nếu trước kia các đơn vị

chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ ngân sách cấp thì nay họ có nguồn lực từ nhiều cách Như vậy chất lượng phục vụ của các đơn vị sự nghiệp nói chung và chất lượng đào tạo đại học nói riêng được nâng lên, đồng thời gánh nặng đối với ngân sách cũng được giảm nhẹ, Nhà nước chỉ phải tập trung cho những ngành trọng điểm mũi nhọn

1.2.2 Tính khách quan

Trong nền kinh tế thị trường, giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng; nó là một nhân tố quyết định sự tăng trưởng, phát triển vững bền kinh tế-xã hội của một Quốc gia và cả

cộng đồng Quốc tế

Nếu không kịp thời đổi mới giáo dục, các trường đào tạo ở tất cả các cấp sẽ tụt hậu và

mất dần vị trí trong lòng chính người dân Việt Nam để nhường chỗ cho các trường của nước ngoài Tự chủ trong giáo dục trong đó có tự chủ về tài chính sẽ phát huy tính chủ động, sáng tạo, phát huy năng lực của đội ngũ giảng viên, nội lực của nhà trường, từ

đó nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo sức mạnh cho trường để có thể đứng vững và lớn

mạnh trong quá trình cạnh tranh

Trải qua những năm 80 của thế kỷ XX cuộc cách mạng khoa học công nghệ (KHCN)

đã đưa nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt nam nói riêng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, đó là nền kinh tế tri thức Dẫn tới vai trò của giáo dục ĐHCL ngày càng trở nên quan trọng không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn là nơi sản sinh ra hệ thống tri thức mới, phát triển, chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần phát triển kinh tế-xã hội bền vững Với những lý do này, ngay từ những năm cuối thế kỷ XX, giáo dục đại học của Việt Nam cùng với của thế giới đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ phát triển quy mô và nâng cao chất lượng Cụ thể là cần

Trang 19

tìm kiếm, khai thác thêm các nguồn tài chính ngoài ngân sách (NS) Điều này chỉ có

thể được giải quyết khi nhà trường là một chủ thể, có quyền xem xét lại các ưu tiên, tổ

chức lại cơ cấu quản lý, tự đa dạng hóa nguồn thu (bằng cách chia sẻ chi phí cho sinh viên, gây quỹ tư nhân, tham gia các hoạt động tạo thu nhập khác), tăng năng suất, nâng cao hiệu quả tài chính, phân bổ lại nguồn lực nội bộ

Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, Nhà nước cần giao quyền TCTC cho các trường ĐHCL, đây là một xu thế tất yếu khách quan nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các trường phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường và nền kinh tế tri thức Đồng thời thúc đẩy sự phát triển hệ thống theo sự vận động mang tính quy luật tự nhiên trong một thị trường giáo dục-đào tạo có cạnh tranh lành mạnh, có sự định hướng rõ ràng của Nhà nước và được đảm bảo kiểm soát, giám sát về chất lượng một cách chặt chẽ từ 3 phía Nhà nước, xã hội và người học Hơn nữa, quản lý đại học theo cơ chế tự chủ sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước giải phóng khỏi gánh nặng điều hành trực tiếp để tập trung thực hiện tốt chức năng quản lý vĩ mô

1.3 N ội dung của cơ chế tự chủ tài chính tại các trường Đại học Công lập ở Việt Nam

Nội dung cơ chế TCTC là một văn bản pháp luật chứa đựng những qui định về quyền TCTC của trường ĐHCL Nó là một tập hợp những qui định nhằm chuyển đổi quyền

hạn ra quyết định về tài chính của nhà nước sang các trường có thể hoạt động độc lập trong lĩnh vực tài chính Cơ chế TCTC chỉ đạt được kết quả cao, góp phần tích cực cho

việc nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học khi Nhà nước giao quyền tự

chủ ĐH cho các trường Có nghĩa, Nhà nước giao quyền TCTC phải gắn với giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tự chủ trong hoạt động đào

tạo (như tuyển sinh; nội dung, chương trình đào tạo; cấp văn bằng); tự chủ nghiên cứu khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng, cơ cấu tổ chức bộ máy, nhân sự (tuyển dụng, nâng bậc lương), góp vốn, sử dụng khai thác cơ sở vật chất

1.3.1 T ự chủ về thực hiện nhiệm vụ, bộ máy tổ chức và nhân sự

*Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ: (1) Tự chủ trong xây dựng kế hoạch: Đối với các trường tự chủ hoàn toàn thì được quyền tự xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để theo dõi, kiểm tra và giám sát thực hiện còn đối với

Trang 20

các trường có sử dụng một phần NSNN thì xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để phê duyệt và quyết định phương thức giao kế hoạch cho đơn vị thực hiện; (2) Tự chủ về thực hiện nhiệm vụ: Các trường được quyết định

biện pháp thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch của đơn vị, kế hoạch của cơ quan quản lý

cấp trên giao đảm bảo chất lượng và tiến độ, tham gia đấu thầu cung ứng các dịch vụ

sự nghiệp công phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của đơn vị được cấp có thẩm quyền giao, liên doanh liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu

cầu xã hội theo quy định của pháp luật

*Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy: Các trường được thành lập các tổ

chức sự nghiệp trực thuộc để hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; phù hợp với phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế và tự bảo đảm kinh phí hoạt động Chức năng, nhiệm vụ cụ thể và quy chế hoạt động của các tổ chức trực thuộc do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quy định Riêng đối với các trường đại học tự đảm bảo một phần chi thường xuyên và các trường do NSNN đảm bảo chi thường xuyên thì xây dựng phương án sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của đơn vị trình cơ quan có thẩm quyền quyết định

*Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế: Các trường ĐHCL là các đơn vị sự nghiệp

có thu tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, được tự quyết định biên chế; đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, nhu cầu công việc thực tế, định mức chỉ tiêu biên chế và khả năng tài chính của đơn vị, Thủ trưởng đơn vị xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm gửi cơ quan chủ quản trực tiếp để tổng hợp, giải quyết theo thẩm quyền Thủ trưởng đơn vị được quyết định ký hợp đồng thuê, khoán công việc đối với những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên; ký hợp đồng và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia trong và ngoài nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đơn vị

Trang 21

1.3.2 T ự chủ về quản lý tài chính

Theo đó, tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp theo 4 mức độ: (i) Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; (ii) Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; (iii) Tự chủ tài chính đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí); (iv) Tự chủ tài chính đối với đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp)

Tự chủ trong chi đầu tư và chi thường xuyên

Các đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính được giao tự chủ, bao gồm nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, nguồn thu phí theo quy định được để lại chi và nguồn thu hợp pháp khác, để chi thường xuyên Cụ thể:

Đối với đơn vị tự chủ tài chính cao: Đối với các nội dung chi đã có định mức chi theo

quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ vào khả năng tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và quy định trong quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị Các nội dung chi chưa có định mức chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, căn cứ tình hình thực tế, đơn vị xây dựng mức chi cho phù hợp theo mức độ được tự chủ tài chính của từng loại đơn vị sự nghiệp công lập và theo quy chế chi tiêu nội bộ

Các đơn vị tự chủ tài chính thấp: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn

tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Để tạo điều kiện khuyến khích các đơn vị tự chủ toàn diện về chi thường xuyên và chi đầu tư, Nghị định cho phép các đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

Trang 22

Cùng với đó, đơn vị sự nghiệp công được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, Nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền

Chi tiền lương và thu nhập tăng thêm

Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương cơ sở, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên phải tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ nguồn thu của đơn vị; NSNN không cấp bổ sung; đối với đơn vị chưa tự bảo đảm chi thường xuyên và đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, chi tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn NSNN cấp bổ sung (nếu thiếu)

Đối với phần thu nhập tăng thêm, các đơn vị được chủ động sử dụng Quỹ bổ sung thu nhập để thực hiện hiện phân chia cho người lao động trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác của người lao động Tuy nhiên, để đảm bảo mức chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ quản lý không quá chênh lệch so với người lao động, nghị định mới quy định, khi phân

bổ thu nhập tăng thêm thì hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị

Trích lập các quỹ

Hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp NSNN khác theo quy định; phần chênh lệch thu lớn hơn chi, đơn vị được sử dụng để trích lập các quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; quỹ bổ sung thu nhập; quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi Ngoài ra, Chính phủ cho phép các đơn vị được trích lập các quỹ khác theo quy định của pháp luật sao cho phù hợp với tình hình thực tế Về mức trích, căn cứ vào mức độ tự chủ tài chính như sau:

Trang 23

Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu

tư: Trích tối thiểu 25% chênh lệch thu lớn hơn chi; đơn vị chưa tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối thiểu 15%; đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, nếu có kinh phí tiết kiệm chi và số tiết kiệm chi lớn hơn một lần quỹ tiền lương thực hiện thì trích tối thiểu 5%

Quỹ bổ sung thu nhập: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được quyết

định mức trích Quỹ bổ sung thu nhập (không khống chế mức trích); đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương; đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương

Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;

đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công trong năm của đơn vị; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên trích tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công; đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên trích tối đa không quá 01 tháng tiền lương, tiền công

Tự chủ trong giao dịch tài chính

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sự nghiệp trong giao dịch với bên ngoài, đặc biệt là trong các hoạt động liên doanh, liên kết, đồng thời tạo thêm nguồn thu cho đơn

vị, Chính phủ quy định: Đơn vị sự nghiệp công được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng Thương mại hoặc Kho bạc Nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi hoạt động dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng NSNN Lãi tiền gửi đơn vị được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp hoặc bổ sung vào Quỹ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có), không được bổ sung vào Quỹ bổ sung thu nhập Nghị định cũng quy định, đơn vị sự nghiệp công lập được huy động vốn, vay vốn để đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo quy định của pháp luật và phải có phương án tài chính khả thi để hoàn trả vốn vay, chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc huy động vốn, vay vốn

Vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp

Trang 24

Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 nêu rõ, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp (DN) khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Hoạt động dịch vụ sự nghiệp công có điều kiện xã hội hóa cao, Nhà nước không cần bao cấp; giá dịch vụ sự nghiệp công tính đủ chi phí (bao gồm cả trích khấu hao tài sản cố định); được Nhà nước xác định giá trị tài sản và giao vốn cho đơn vị quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; hạch toán kế toán để phản ánh các hoạt động theo quy định của các chuẩn mực

kế toán có liên quan áp dụng cho DN

Khi được phép vận dụng cơ chế tài chính như DN, các đơn vị sự nghiệp được xác định vốn điều lệ và bảo toàn vốn; được huy động vốn, đầu tư vốn ra ngoài đơn vị; quản lý,

sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định theo DN; quản lý doanh thu, chi phí và phân phối lợi nhuận; thực hiện chế độ kế toán, thống kê như DN

1.3.3 T ự chủ về đào tạo, khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế

1.3.3.1 T ự chủ về đào tạo

Một là, tạo ra sự tự chủ đào tạo cho các nhà trường bằng cách quy định rõ trách nhiệm,

phạm vi hoạt động đào tạo của nhà trường, chẳng hạn đưa ra các tiêu chí đối với trường được giao quyền xây dựng nội dung, chương trình, thời gian đào tạo Bởi vì, vấn đề này gắn liền với khả năng khai thác, tìm kiếm nguồn thu trong lĩnh vực đào tạo Nếu các trường bị ràng buộc quá chặt chẽ, không được phép tự chịu trách nhiệm trong thiết kế nội dung, chương trình, thời gian học thì rất khó thu hút các đối tượng có nhu cầu học tập đến đăng ký theo học Khi có ít chương trình, ít người tham gia học tập thì rất khó mở rộng và nâng cao chất lượng nguồn thu, dẫn tới nhà trường không đủ nguồn lực tài chính cho việc nâng cao chất lượng đào tạo

Tuy nhiên, để việc giao quyền tự chủ đào tạo cho các trường có hiệu quả thì các cơ quan chức năng của Nhà nước, đặc biệt là Bộ Giáo dục& Đào tạo và ĐHQGHN cần xây dựng được quy trình giám sát chặt chẽ và phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng, xếp hạng nhà trường nhằm tránh tình trạng thương mại hóa giáo dục đại học

Ngoài ra, giao quyền TCTC cho các trường cần đi kèm với giao quyền tự chủ tuyển

Trang 25

sinh Bởi vì, giáo dục đại học là một hoạt động dịch vụ cung cấp nguồn nhân lực trình

độ cao cho xã hội cho nên các trường phải hạch toán được đầy đủ chi phí và lợi nhuận Nếu bị giới hạn về kế hoạch, thời gian, số lượng chỉ tiêu, đối tượng tuyển sinh, có nghĩa là đã hạn chế nguồn thu của các trường, dẫn tới TCTC chỉ mang tính chất hình thức Bộ Giáo dục & Đào tạo và ĐHQGHN chỉ cần kiểm soát chất lượng đầu ra với các tiêu chí rõ ràng, chặt chẽ về năng lực, chuẩn kiến thức, kỹ năng yêu cầu cần có của người tốt nghiệp (nó được đo lường bởi một tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch về chất lượng đào tạo của mỗi trường); làm rõ các điều kiện đảm bảo chất lượng và trách nhiệm của nhà trường; điều kiện giữa phát triển quy mô và nâng cao chất lượng; tổ chức kiểm định chất lượng Trong quá trình đào tạo, các trường phải tự cân đối về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, giáo trình

và các điều kiện khác để tổ chức đào tạo sao cho hiệu quả nhất với chất lượng yêu cầu

đã được định sẵn

Tuy nhiên, trong bối cảnh của nước ta hiện nay thì việc giao cho các trường tự xác định số lượng chỉ tiêu tuyển sinh phải dựa vào việc các trường có đáp ứng đủ các tiêu chí qui định về chất lượng nhà trường Nó thể hiện trên các tiêu chí như đảm bảo tỷ lệ giảng viên/sinh viên, cơ cấu tỷ lệ tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư trong tổng số giảng viên; số lượng, tỷ lệ các công trình nghiên cứu khoa học được thương mại hóa, ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, sự đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, của đất nước; có nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất vượt mức qui định so với mức bình quân của ngành GDĐH về diện tích đất đai, suất đầu tư trên sinh viên; có ít nhất 5 khóa đào tạo chính qui ra trường, đăng ký và thực hiện ổn định về qui mô đào tạo tối thiểu là 5 năm

Hai là, giao quyền tuyển dụng ở mức cao cho các trường trong việc tổ chức lựa chọn đánh giá, công nhận kết quả tuyển dụng mà không cần thực hiện thủ tục hành chính phải qua các khâu trung gian là báo cáo, xin ý kiến cơ quan chủ quản phê duyệt Bởi

vì, so với các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh thì nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra của trường đại học đều là con người Trong quá trình đào tạo không được phép sai hỏng cho nên việc lựa chọn đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là các giảng viên phải được lựa chọn cẩn thận và kỹ lưỡng Họ phải là những con người có năng lực,

Trang 26

hiểu biết cả kiến thức về khoa học và kiến thức xã hội phù hợp với lĩnh vực, ngành nghề đào tạo của nhà trường Nói cách khác, cán bộ quản lý, giảng viên phải có các tiêu chí riêng biệt Vì vậy, cơ chế TCTC cần gắn với việc nhà trường được quyền quyết định lựa chọn con người

Ba là, việc tăng học phí ở bậc GDĐH là một tất yếu khách quan nhằm giảm bớt sự bao cấp của NS cho bậc học này, nó cũng là giải pháp để Nhà nước có thể tập trung chăm

lo cho giáo dục phổ thông Nhưng để các trường thu đúng, thu đủ chi phí đào tạo từ người học thông qua học phí thì Nhà nước cần thiết lập khung học phí rộng (theo sự phân tầng và chất lượng đào tạo), đi kèm với chính sách hỗ trợ như cho vay, trợ cấp

cho SV có hoàn cảnh khó khăn, diện chính sách

1.3.3.2 T ự chủ về Nghiên cứu khoa học & công nghệ và Hợp tác Quốc tế

Ngày 05/9/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP quy định cơ chế

tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KHCN công lập Nghị định này quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tài chính và tài sản, tổ chức và biên chế của các tổ chức KHCN công lập Theo đó, những đơn vị nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và dịch vụ KHCN tự bảo đảm hoặc chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên được lựa chọn việc chuyển đổi theo một trong hai hình thức sau: (1) Tổ chức KHCN tự trang trải kinh phí hoặc (2) Doanh nghiệp KHCN

Để nâng cao tính hiệu quả và tiết kiệm nguổn lực tài chính cho các trường thì Nhà nước nên có cơ chế, chính sách và các văn bản pháp qui cho phép các trường được góp vốn chung cùng đầu tư vào những dự án phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của mỗi trường Chẳng hạn, góp vốn chung để mua sắm 1 thiết bị đắt tiền, 1 phòng máy tính tốc độ cao làm công cụ nghiên cứu, học tập cho giảng viên và sinh viên Tại Áo, năm 2009 có ba trường, gồm ĐH Vienna, ĐH Tài nguyên và khoa học đời sống, ĐH

kỹ thuật đã góp chung 2 triệu euro để cùng đầu tư dự án phát triển công nghệ thông tin (trong đó, mua 200 siêu máy tính có tốc độ nhanh nhất thế giới.), kết quả của dự án này đã góp phần làm tăng tính cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, làm tăng việc sử dụng tối

ưu các nguồn lực hiện có, tiết kiệm và giải phóng kinh phí cho mỗi trường để đầu tư các lĩnh vực khác

Trang 27

Nhà nước cho phép các trường được toàn quyền sử dụng tài sản để thế chấp, vay vốn ngân hàng cho mục đích phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH trên nguyên tắc được cấp trên phê duyệt phương án

Đặc điểm mang tính đặc thù của các Viện, Trung tâm KHCN, Doanh nghiệp trong trường đại học: Sự xuất hiện các viện, trung tâm KHCN và doanh nghiệp trong các

trường đại học là khách quan và tất yếu xuất phát từ điểm nhìn của các quy định pháp luật về KHCN (Luật KH&CN) và định hướng đổi mới giáo dục đại học Việt Nam của Chính phủ (Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005); Vai trò của các Viện, Trung tâm KHCN và Doanh nghiệp trong trường ĐH: Các Viện, Trung tâm KHCN và

Doanh nghiệp được thành lập trong trường ĐH có vai trò đặc biệt quan trọng trên cả 2 phương diện phát triển KHCN và đổi mới giáo dục đại học Vai trò quan trọng đó được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau: Là cầu nối bền vững giữa nhà trường và thực tiễn sản xuất, góp phần gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và các doanh nghiệp; Đặc điểm đặc thù của các Viện, Trung tâm KHCN và Doanh nghiệp trong các trường đại học:

(1) Lĩnh vực hoạt động KHCN gắn liền với lĩnh vực đào tạo của các khoa chuyên môn trong trường;

(2) Nhân lực tham gia hoạt động KHCN trong các viện, trung tâm KHCN và doanh nghiệp chủ yếu là giảng viên của trường;

(3) Trừ doanh nghiệp, người đứng đầu các viện và trung tâm KHCN hầu hết là giảng viên thuộc biên chế của trường, trách nhiệm quản lý trung tâm thực hiện theo cơ chế kiêm nhiệm, làm việc ngoài giờ;

(4) Lĩnh vực hoạt động của các trung tâm KHCN đa dạng nhưng chủ yếu là tư vấn, chuyển giao công nghệ, dịch vụ KHCN;

(5) Hầu hết các trung tâm KHCN đều tự trang trải chi phí hoạt động, không được NSNN tài trợ chi tiêu thường xuyên;

(6) Các viện được thành lập trong trường hầu hết thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ là đào tạo và hoạt động KHCN (tư vấn và chuyển giao công nghệ), trong đó hoạt động

Trang 28

đào tạo luôn được xem là nhiệm vụ chính;

(7) Các viện, trung tâm KHCN và doanh nghiệp được thành lập trong trường đại học

có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật có liên quan (như quy định về hợp đồng, quy định về thuế, ), ngoài ra phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trường theo quy định của Quy chế chi tiêu nội bộ của trường;

(8) Ngoại trừ một số trung tâm KHCN thuê cơ sở vật chất (nhà cửa, đất đai, máy móc thiết bị.) bên ngoài để sử dụng, hầu hết các trung tâm, viện, công ty đều sử dụng cơ sở vật chất của trường (theo cơ chế thuê hoặc được trường hỗ trợ miễn phí)

Trong Luật KHCN (năm 2000), điều 12 qui định nhiệm vụ trường đại học là tiến hành NCKH, phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ Nghị định 81/2002/NĐ-CP, qui định nhiệm vụ KH&CN được giao theo phương thức “tuyển chọn” và giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài KHCN cho thấy vai trò của trường ĐH rất quan trọng Điều 5 “Điều lệ trường ĐH” ban hành theo Quyết định 58/2010/QĐ-TTg qui định trường ĐH phải tổ chức hoạt động KHCN; ứng dụng, phát triển, chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của địa phương, của đất nước

Về nguồn tài chính sử dụng cho hoạt động KHCN của các trường bao gồm: NS cấp; tài trợ, viện trợ; Quỹ phát triển KHCN các cấp; hợp đồng nghiên cứu khoa học; phát triển, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh; nguồn thu hợp pháp của nhà trường; huy động từ các nguồn hợp pháp khác

Dưới góc độ tài chính, để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cũng như để tăng cường hấp dẫn, thu hút giảng viên tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học thì các trường cần đổi mới cách thức quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách nội bộ theo các hướng sau:

Một là, xác định rõ nhiệm vụ nghiên cứu khoa học là nghĩa vụ bắt buộc đối với giảng

viên Giảm bớt tình trạng quá tải về giảng dạy, gắn nhiệm vụ giảng dạy với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học bằng cách chỉ phân công thêm khối lượng giảng dạy khi giảng viên đã hoàn thành khối lượng định mức nghiên cứu khoa học Kiên quyết không thực hiện phép chuyển đổi lấy khối lượng giảng dạy bù trừ cho khối lượng nghiên cứu khoa

Trang 29

học không hoàn thành, còn thiếu của giảng viên Riêng đối với các trường mới được nâng cấp, mới được thành lập giảng viên chưa quen làm công tác nghiên cứu khoa học thì nhà trường cần có lộ trình về thời gian (tối đa là 3 năm) để giảng viên có thời gian tiếp cận

Hai là, tính hệ số để ưu tiên về kinh phí cho các đề tài nghiên cứu khoa học có sử dụng sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh cùng tham gia, thực hiện

Ba là, thành lập riêng quỹ phát triển khoa học công nghệ Hàng năm, giành một khoản kinh phí chi thường xuyên để tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo về nghiên cứu khoa học cho giảng viên, đặc biệt là giảng viên trẻ Có qui định về phân bổ và tập trung kinh phí cho những đề tài được ưu tiên, đó là: 1) có sự tham gia thực hiện của chuyên gia nước ngoài, chuyên gia có kinh nghiệm để tạo điều kiện cho giảng viên có cơ hội làm việc, giao lưu, học hỏi, tích lũy kinh nghiệm một cách bài bản, có hệ thống, đảm bảo tính chuyên nghiệp, có khả năng hội nhập quốc tế; 2) có sự liên kết với các doanh nghiệp lớn, các đề tài có khả năng Ngoại ngữ hóa các ấn phẩm, công trình nghiên cứu;

có như vậy, mới có ích trong việc tư vấn giúp doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời có nguồn tài chính đầu tư cho nghiên cứu khoa học của nhà trường

Bốn là, có lộ trình nâng dần tỷ trọng phân bổ nguồn thu sự nghiệp, nguồn thu khác cho

nhiệm vụ nghiên cứu khoa học Các trường nên có qui định cụ thể trong việc: 1) sử dụng vốn vay tín dụng hỗ trợ nghiên cứu khoa học từ Ngân hàng chính sách xã hội quản lý; 2) chi phí tiếp thị, quảng cáo trong khai thác nguồn vốn từ hợp tác quốc tế, sự ủng hộ của các cá nhân, tổ chức chính phủ, phi chính phủ đối với hoạt động KHCN Đặc biệt từ các kiều bào, các “doanh nhân thành đạt”, việc liên doanh liên kết, hợp tác đầu tư

Bên cạnh đó, cũng cần đổi mới cơ chế TCTC tiến hành đồng bộ, song hành với đổi mới các qui trình khác để tạo ra tính hiệu quả, tính khả thi trong việc đào tạo, KHCN

và hợp tác quốc tế

- Cần gắn TCTC với tự chủ đại học và tự chịu trách nhiệm, có như vậy mới tạo môi trường, điều kiện để các trường chủ động giải trình trách nhiệm về chất lượng đào tạo,

Trang 30

nghiên cứu khoa học trong quá trình tìm kiếm, khai thác nguồn tài chính

- Công tác quản lý, tuyển dụng, nâng bậc lương của cán bộ viên chức nên giao hoàn toàn cho nhà trường thực hiện; khoa chuyên môn có thể ký hợp đồng, gửi giấy mời giảng, trả tiền công cho mỗi giảng viên khi thực hiện nhiệm vụ được giao

- Thay đổi cơ chế quản lý nghiên cứu khoa học, các trường có quyền lựa chọn, tự chịu trách nhiệm về lĩnh vực, đề tài.; được tự do lựa chọn hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trên nguyên tắc hiệu quả

- Trong hợp tác quốc tế, giao quyền chủ động cho các trường Chẳng hạn nhà trường

và khoa chuyên môn được phép gửi thư mời trực tiếp tới giáo sư, nhà khoa học nước ngoài đến làm việc và trả lương không cần qua nhiều cấp quản lý xét duyệt, kiểm

soát, tránh việc làm cản trở việc giao lưu, học hỏi và tự do học thuật

1.4 C ác nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập

1.4.1 Nhân t ố bên trong

(1) Chiến lược phát triển của các Trường đại học, thương hiệu của các trường đại học, điều này sẽ tạo ra sự thu hút và lôi kéo của sinh viên tham gia học tập tại trường Đây

là yếu tố then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế tự chủ tài chính bởi hiện nay nguồn tài chính chủ yếu tại các trường đại học công lập vẫn là nguồn thu học phí, số sinh viên tăng đồng nghĩa với nguồn thu tăng do đó sẽ tăng được mức độ tự chủ Ngoài ra những trường ĐHCL có thương hiệu tốt sẽ huy động được nhiều nguồn tài trợ, viện trợ, công tác xã hội hóa và liên doanh liên kết sẽ được huy động nhiều hơn

(2)Tính năng động và năng lực của các lãnh đạo quản lý, đây là nhân tố tạo môi trường thúc đẩy sự chuyển biến về công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoạt động dịch vụ của các trường ĐHCL Bởi vì, nó vừa là cơ sở để hiện thực hoá, vừa là rào cản cho mọi chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo

(3)Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ công tác đào tạo điều này tạo

ra chất lượng giáo dục đào tạo tốt dẫn đến quy mô đào tạo được mở rộng, đặc biệt là năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm công tác quản lý tài chính

Trang 31

(4)Điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng phục vụ cho công tác đào tạo cho sinh viên, học sinh và giảng dạy của cán bộ

(5)Có các công cụ quản lý tài chính một cách minh bạch, công khai: như quy chế chi tiêu nội bộ, văn bản điều hành tài chính của đơn vị phù hợp định mức với các quy định của nhà nước

1.4.2 Nhân t ố bên ngoài

1.4.2.1 Các ch ủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô, cho nên mọi đường lối, chính sách của Nhà nước đều ảnh hưởng tới các nhà trường Bởi vì:

Thứ nhất, Nhà nước là người xây dựng hệ thống luật pháp, định hướng phát triển các

trường và kiểm tra, giám sát những việc gì được làm trong khuôn khổ pháp luật

Thứ hai, hệ thống chính sách và công cụ như chính sách tài chính, đầu tư, tiền lương,

thu nhập, chi tiêu của Nhà nước có tác động rất lớn đến cơ chế TCTC của các nhà trường Hệ thống chính sách này phải phù hợp với cơ chế thị trường, có tính cạnh tranh thì mới tăng cường sự chủ động cho các trường Nói cách khác, cơ chế TCTC mới phát huy tác dụng, góp phần thúc đẩy các trường ĐHCL phát triển

Thứ ba, cơ chế tự chịu trách nhiệm đi kèm với quyền TCTC do nhà nước qui định là

rất quan trọng để nhà trường cũng như CBVC thực sự tham gia quản lý công việc, tham gia vào cơ chế TCTC Khung pháp lý của Nhà nước đưa ra là nhân tố giới hạn hoặc thúc đẩy sự năng động sáng tạo của nhà trường trong quản lý thu chi tài chính

1.4.2.2 H ệ thống pháp luật của Nhà nước

Hệ thống pháp Luật của nhà nước có tác động rất lớn tới hoạt động đào tạo, NCKH của các trường ĐHCL Bởi vì, nó chính là cơ sở pháp lý để các trường có thể tăng cường huy động các nguồn lực tài chính từ nhà nước, từ xã hội

Ở góc độ quản lý, các trường chịu ảnh hưởng của Luật Giáo dục; Giáo dục đại học; Luật NS; Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Luật doanh nghiệp; Luật KHCN; Luật Công chức, viên chức

Trang 32

Điểm nổi bật của Luật là có riêng một điều khoản qui định trường ĐHCL được tự chủ,

tự chịu trách nhiệm trong xây dựng chỉ tiêu, tổ chức tuyển sinh; chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy, học tập; được tuyển dụng Quy định các khoản đóng góp, tài trợ của doanh nghiệp cho giáo dục được tính là chi phí hợp lý, không chịu thuế thu nhập Đưa ra nguyên tắc phân bổ NS dựa vào quy mô, điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của vùng Xác định giáo dục là lĩnh vực đầu tư đặc thù, có điều kiện, được ưu đãi đầu tư, trường công giữ vai trò nòng cốt của hệ thống giáo dục Ưu tiên đầu tư tài chính, đất đai cho xây dựng trường, ký túc xá SV

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, Luật Giáo dục nghề nghiệp cũng có những hạn chế, chẳng hạn chưa làm rõ cơ sở pháp lý về quyền tự chủ, chưa phân định chi tiết về hoạt động tài chính cho ba loại hình công lập, ngoài công lập, trường có yếu tố đầu tư nước ngoài

Ngày 27/11/2014 ban hành Luật Giáo dục nghề nghiệp, nó có ý nghĩa rất quan trọng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý; góp phần đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục đại học, tạo điều kiện cho sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh mẽ hơn Luật đưa ra bốn vấn đề mới, đó là xã hội hóa giáo dục đại học, phân tầng, quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học và kiểm soát chất lượng đào tạo Các trường muốn tự chủ thì buộc phải đạt các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng; kết quả kiểm định dùng để phân tầng và xếp hạng các trường

Chương X, có điều khoản riêng về học phí, lệ phí tuyển sinh (Điều 65), cho phép Chính phủ quy định nội dung, phương pháp xây dựng khung, mức học phí, lệ phí tuyển sinh Các trường được quyết định mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh trong khung quy định và phải công bố công khai tại thời điểm thông báo tuyển sinh Các trường thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao được thu học phí tương ứng với chất lượng đào tạo, trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chí xác định chương trình đào tạo chất lượng cao và có trách nhiệm quản lý, giám sát mức thu học phí Điều 66 đã đề cập tới hoạt động tài chính của hai loại hình công lập và tư thục Hạn chế của Luật Giáo dục đại học là chưa làm rõ phạm vi quyền TCTC của các trường trong khai thác, sử dụng nguồn lực, nguồn lực tài chính một cách năng suất,

Trang 33

hiệu quả nhất để đổi mới hệ thống giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước

Về phân bổ NS cho các trường ĐHCL, Luật NSNN qui định đơn vị phải lập dự toán chi tiết theo mục, tiểu mục và không được thay đổi mục đích chi của 09 khoản mục bị kiểm soát Không qui định thời gian hoàn thành phân bổ, giao dự toán NS năm kế hoạch dẫn tới các trường rất bị động trong chi tiêu, đặc biệt vào thời điểm cuối năm báo cáo và đầu năm kế hoạch Ngoài ra, các trường có nghĩa vụ tuân thủ quy định của

Bộ, ngành mình về tài chính và phân bổ NS

Theo Luật NS năm 2002, các trường ĐHCL có trách nhiệm lập dự toán thu chi năm kế hoạch, báo cáo Bộ chủ quản xem xét, tổng hợp trình Bộ Tài chính Bộ Tài chính chấp nhận gửi thông báo cho Bộ chủ quản để thông báo tới các trường

Với cách quản lý như trên, cho thấy cơ chế QLTC, qui trình cấp NS, kiểm soát chi của Nhà nước đối với các trường còn “cứng nhắc”, phức tạp, qua nhiều cấp xét duyệt; chưa linh hoạt, chưa cụ thể hóa tiêu chí phân bổ NS, chưa dùng công thức tài trợ theo kết quả đầu vào, đầu ra, tính hiệu quả của các hoạt động, của từng trường Mặc dù, trước đây việc cấp NS được dựa vào số chỉ tiêu tuyển mới, số SV đang học tại thời điểm cuối năm báo cáo để tính số chỉ tiêu bình quân năm kế hoạch, nhưng hiện nay chỉ mang tính chất định tính Điều này chưa khuyến khích tính hiệu quả, tính trách nhiệm của các trường Luật NS cũng chưa giao quyền tự chủ chi một cách toàn diện (khoán chi) mà vẫn phải chi theo mục lục Đây là điểm khác biệt với nhiều nước trên thế giới (ví dụ, Malaixia thực hiện cơ chế khoán chi)

Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ban hành năm 2008, đã đổi mới về cơ chế và

có sự phân cấp quản lý tài sản nhà nước gắn với thị trường (như cho phép các hoạt động mua, bán tài sản; chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cho thuê tài sản, đất theo sát với giá thị trường) Tuy nhiên, Luật còn hạn chế ở chỗ chỉ giao một phần quyền tự chủ cho cơ sở; dẫn tới vẫn xảy ra tình trạng lãng phí, các tài sản chỉ được sử dụng với hiệu suất, hiệu quả thấp tại các đơn vị (trong đó có trường ĐHCL) Ví dụ, việc mua sắm ô tô rất khó khăn, khi có nhu cầu các đơn vị phải đi thuê, điều này làm giảm sự chủ động và gây ra sự tốn kém về kinh phí đối với các đơn vị

Trang 34

Luật doanh nghiệp (năm 2005) qui định chi tiết các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong Luật chưa có điều khoản nào qui định trách nhiệm đóng góp, hỗ trợ kinh phí của doanh nghiệp cho các trường đại học trong hoạt động giảng dạy, NCKH, cấp học bổng, tạo điều kiện về địa điểm, CSVC cho thực hành, thực tập của sinh viên

và giảng viên Mặc dù hiện nay thành phần các doanh nghiệp rất đa dạng, dẫn tới chưa

có sự gắn kết trách nhiệm xã hội, trách nhiệm kinh tế giữa trường đại học với doanh nghiệp

Luật KHCN (năm 2000), điều 12 qui định nhiệm vụ trường đại học là tiến hành nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học với san xuất, dịch vụ Nghị định 81/2002/NĐ-CP, qui định nhiệm vụ KH&CN được giao theo phương thức “tuyển chọn” và giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài KHCN cho thấy vai trò của trường đại họcrất quan trọng Điều 5 “Điều lệ trường ĐH” ban hành theo Quyết định 58/2010/QĐ-TTg qui định trường đại học phải tổ chức hoạt động KHCN; ứng dụng, phát triển, chuyển giao công nghệ; tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội của địa phương, của đất nước

Về nguồn tài chính sử dụng cho hoạt động KHCN của các trường bao gồm: NS cấp; tài trợ, viện trợ; quỹ phát triển KHCN các cấp; hợp đồng NCKH; phát triển, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh; nguồn thu hợp pháp của nhà trường; huy động từ các nguồn hợp pháp khác

Xét ở khía cạnh cung cấp nguồn vốn, các trường ĐHCL nước ta không được NSNN cấp một khoản kinh phí riêng để thường xuyên thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học công nghệ

Luật cán bộ, công chức (năm 2008, 2010) đã phân định rõ trách nhiệm giữa công chức

và viên chức Giúp việc quản lý cán bộ, giảng viên và nhân viên trong các trường thông thoáng hơn, không phụ thuộc vào quan hệ công quyền Ví dụ, giảng viên có thể chuyển đổi vị trí làm việc; có thể yêu cầu phụ cấp, tiền lương theo chức năng, nhiệm

vụ đảm nhận Đây là yếu tố hấp dẫn, thu hút giảng viên làm việc lâu dài tại các trường Tuy nhiên, nó cũng đòi hỏi các trường phải không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ giảng viên Muốn vậy, các trường phải được giao tự chủ ở mức độ cao để có thể tăng năng suất, tăng hiệu quả, tạo ra nguồn tài chính đủ

Trang 35

lớn cho tăng khả năng cạnh tranh thu hút lao động

1.4.2.3 S ự phát triển của thị trường lao động

Trong kinh tế thị trường, sự phát triển của thị trường sức lao động có vai trò rất quan trọng, nó có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một trường đại học Bởi

vì, nó liên quan tới nhu cầu xã hội hoá giáo dục đào tạo, thị trường lao động càng phát triển thì càng có tác động lớn tới TCTC của trường đại học, nguyên nhân là do:

Thứ nhất, thị trường là nơi sử dụng sản phẩm đào tạo, NCKH, nó là nơi cuối cùng

thẩm định chất lượng của một nhà trường Nếu sản phẩm đào tạo, NCKH của nhà trường được các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước sử dụng thì trường đại học đó mới tồn tại, phát triển được

Thứ hai, sự ủng hộ của xã hội đối với lĩnh vực đào tạo Vì người sử dụng sản phẩm

đào tạo là xã hội Cho nên sự ủng hộ của xã hội là điều kiện quan trọng để trường thực hiện quyền TCTC Kinh nghiệm các nước cho thấy để phát triển lĩnh vực đào tạo thì các doanh nghiệp, những người hảo tâm đóng vai trò rất quan trọng Chẳng hạn, ở Mỹ

và Nhật Bản, các doanh nghiệp đã xây dựng các quỹ hỗ trợ đào tạo Thông qua các quỹ này, nhiều trường có được cơ sở vật chất, thư viện, phòng thí nghiệm; sinh viên có nguồn tài chính để chi trả kinh phí đào tạo cho nhà trường

Thứ ba, thực hiện quan hệ thị trường trong quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm đào

tạo Bởi vì, trong kinh tế thị trường, sản phẩm đào tạo là một loại hàng hoá đầu vào của quá trình sản xuất Cho nên, quá trình đào tạo và sử dụng sản phẩm cũng phải vận dụng quan hệ thị trường Nghĩa là người học, người sử dụng sản phẩm phải trả chi phí đào tạo Tuỳ theo mức độ thị trường hoá mà mức chi phí đào tạo được xác lập khác nhau Tuy nhiên, chi phí này cần đảm bảo cho nhà trường có thể tái sản xuất mở rộng quá trình đào tạo

Trang 36

1.5 Kinh nghiệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của một số trường Đại học

1.5.1 Kinh nghi ệm trên thế giới đối với các Đại học công lập

1.5.1.1 Kinh nghi ệm của Mỹ đối với ĐHCL

Nguồn kinh phí và tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục đại học ở Mỹ rất lớn, bao gồm nguồn kinh phí của NSNN, nguồn thu học phí của sinh viên, đóng góp của cộng đồng và bản thân trường đại học Ngân sách của chính phủ dành cho giáo dục luôn có xu hướng gia tăng Năm 1989 ngân sách đầu tư cho giáo dục khoảng 353 tỷ USD, đến năm 1999 đầu

tư khoảng 635 tỷ USD, đến năm 2003 đầu tư đạt khoảng 756 tỷ USD Do ngân sách đầu tư cho giáo dục tăng nên phần chi cho các trường ĐHCL cũng tăng theo Đầu tư cho giáo dục ở Mỹ chiếm khoảng 7% GDP Nguồn thu lớn của các trường ĐHCL ở

Mỹ chủ yếu từ NSNN chiếm khoảng 51%, từ nguồn thu học phí của sinh viên chiếm

khoảng 18%, thu từ đóng góp cộng đồng và thu khác của trường chiếm khoảng 31%

1.5.1.2 Kinh nghi ệm của Thái Lan đối với ĐHCL

Chính phủ Thái Lan khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho hệ thống giáo dục như xây dựng cơ sở vật chất trường học, mua sắm trang thiết bị dạy học Vừa qua, chính phủ đã thông qua việc xây dựng một quỹ 20 tỷ bạt để trợ cấp theo hình thức cho vay với lãi suất ưu đãi cho các nhà đầu tư muốn xây dựng thêm trường học Chính phủ sẵn sàng cấp đất với giá thấp và miễn, giảm thuế cho các công trình xây dựng kết cấu hạ tầng giáo dục đào tạo

Đối với người học có quyền được vay trước một khoảng tiền để trả học phí, mua sách

vở, tài liệu và các chi phí liên quan đến học tập, số tiền vay đủ cho người học có khả năng trang trải chi phí cho 7 năm học: 3 năm ở cấp trung học và 4 năm ở cấp đại học Sau khi tốt nghiệp 2 năm thì họ mới bắt đầu phải hoàn trả số tiền vay với lãi suất thấp Việc sử dụng công cụ tài chính linh hoạt ở Thái Lan đã giúp người nghèo có cơ hội học tập, thực hiện được chính sách công bằng xã hội

1.5.1.3 Kinh nghi ệm của Trung Quốc

Nguồn thu ở các trường ĐHCL Trung Quốc chủ yếu từ NSNN chiếm khoảng 63%, thu

từ học phí của sinh viên khoảng 19% và thu từ đóng góp cộng đồng và thu khác của

Trang 37

trường chiếm khoảng 18% Như vậy, ở Trung Quốc nguồn NSNN vẫn là nguồn đầu tư quan trọng cho giáo dục đào tạo

Trong những năm gần đây giáo dục đại học ở Trung Quốc phát triển nhanh chóng, nhà nước đã thực hiện những cải cách nhằm thúc đẩy giáo dục đại học theo kịp sự phát triển kinh tế và đáp ứng được nhu cầu học đại học của các đối tượng trong xã hội Việc cải cách cơ chế quản lý tài chính giáo dục đại học của Trung Quốc được thực hiện theo các hướng sau :

- Chuyển giao phần lớn các trường đại học, cao đẳng cho địa phương quản lý

- Cải cách thể chế đầu tư, xây dựng, phát triển các trường ngoài công lập

- Cải cách thể chế giáo dục, thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học

1.5.2 Kinh nghi ệm ở Việt Nam

1.5.2.1 Kinh nghi ệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Trường Đại học Bách Khoa

Hà N ội

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là trường ĐHCL đa ngành về kỹ thuật được thành lập ngày 15 tháng 10 năm 1956 Trường luôn là một trong những trường đại học kỹ thuật hàng đầu của nền giáo dục Việt Nam với bề dày lịch sử và có nhiều đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đại học Bách khoa Hà Nội là một trong những trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính Phủ ở mức cao, trường luôn thực hiện tốt đảm bảo nguồn kinh phí hoạt động

Năm 2012, Nhà trường đã thực hiện đúng cơ chế tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính Phủ quy định quyền tự chịu trách nhiệm

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, hiện Nhà trường có 17 khoa và 5 viện nghiên cứu cùng đội ngũ giảng viên luôn giữ ở mức độ ổn định với số lượng 1.264 giảng viên, trong đó có: 17 Giáo sư, 154 Phó giáo sư, 372 Tiến sĩ và 587 Thạc sĩ, 134 cử nhân đáp ứng được yêu cầu về đào tạo

và NCKH Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là Trường có nguồn thu tương đối ổn định, mức độ tự chủ tài chính thực tế đạt 87,6 % (326.993trđ/373.488trđ) tăng 19,4%

Trang 38

so với mức độ tự chủ theo dự toán mà Bộ Giáo dục và Đào tạo giao (Cụ thể: tổng số thu thực tế trong năm 326.993trđ, trong đó: học phí 227.337trđ, lệ phí: 27.376trđ, dịch

vụ khác: 72.280trđ; Tổng số chi: 373.488trđ, trong đó: học phí: 290.948trđ, lệ phí 27.376trđ, dịch vụ khác: 52.922trđ, thuế: 2.242trđ)

Về quy mô đào tạo: số lượng thí sinh đăng ký dự thi đại học, cao đẳng chính quy tăng gấp 1,5 lần so với năm 2015 (15.500hs/10.300hs) Tổng số thực tuyển 5.740 đạt 98,9%

so với chỉ tiêu được giao (5.740hs/5.800hs), trong đó số lượng thực tuyển đại học 5.170/5.000 chỉ tiêu và cao đẳng 570/800 chỉ tiêu Các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và tuyển sinh trình độ thạc sĩ, tiến sĩ vẫn giữ được ổn định và đảm bảo các mục tiêu của năm học, cụ thể: đại học không chính quy 1.901/2.500 chỉ tiêu; cao đẳng 1.134/1.300 chỉ tiêu; cao học 2.028/2500 chỉ tiêu; tiến sĩ 132/150 chỉ tiêu

Về trích lập các quỹ: Căn cứ vào kết quả thu, chi nguồn thu sự nghiệp và nguồn thu khác, Nhà trường đã trích lập các quỹ sau: Quỹ Khen thưởng phúc lợi: 30.999,3trđ, bằng 2,2 tháng lương thực hiện; Quỹ Phát triển sự nghiệp: 18.820,8trđ chiếm 38% tổng kinh phí đã trích quỹ trong năm; Quỹ ổn định thu nhập: trong năm nhà trường không thực hiện bổ sung do số dư của quỹ năm trước còn chưa sử dụng 34.630,8trđ

Về tiền lương, tiền công chi trả cho người lao động: Ngoài phần NSNN cấp tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương 144.752,6trđ để chi trả 01 lần lương cho người lao động, Nhà trường đã sử dụng kết quả chênh lệch thu chi của hoạt động thu sự nghiệp

để chi thu nhập tăng thêm thu nhập cho cán bộ công nhân viên (CBCNV) 37.557,6trđ, tăng 0,3 lần lương cơ bản

1.5.2.2 Kinh nghi ệm thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Viện Đại học Mở Hà Nội

Viện Đại học Mở Hà Nội được thành lập ngày 03/11/1993 theo Quyết định 535/TTg của Thủ tướng Chính phủ là một trường ĐHCL hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý Từ khi thành lập trường được giao cơ chế tự chủ tài chính 100% đảm bảo các nguồn kinh phí phục vụ cho các hoạt động đào tạo và NCKH của trường theo quy định của Pháp luật và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, trong 24 năm xây dựng và phát triển trường đã đào tạo một lực lượng không nhỏ cao đẳng, cử nhân, thạc sỹ đóng góp cho

Trang 39

sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Viện Đại học Mở Hà Nội là cơ sở đào tạo đại học và nghiên cứu với các loại hình đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng tiềm lực cán bộ khoa học - kỹ thuật cho Việt Nam

Những thành quả đạt được của Viện Đại học mở Hà Nội đến năm 2016 như sau:

Về tổ chức bộ máy: Viện Đại học Mở Hà Nội được giao tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiêm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính tại Quyết định số 1325/QĐ-BGD&ĐT ngày 28/11/2008 của Bộ Giáo dục & Đào tạo, theo đó Viện đã kiện toàn tổ chức hoạt động đến nay cơ bản đã hoàn thành và đang vận hành ổn định, hiện Viện có

12 khoa và 4 trong tâm, bên cạnh đó Viện tiếp tục liên kết với các đối tác tại các địa phương, mở rộng liên kết đào tạo với 10 cơ sở mới, đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạy 1.936 giảng viên, trong đó 210 là giảng viên cơ hữu của Viện gồm 03 PGS, 28 TS,

125 Thạc sỹ, 57 đại học và 1.726 giảng viên thỉnh giảng

Về quy mô đào tạo: Viện Đại học Mở Hà Nội là trường đại học đào tạo đa ngành, đa cấp độ Năm 2016 thực hiện các chỉ tiêu tuyển sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao, Viện đã đổi mới công tác tuyển sinh từ thi tuyển sang xét tuyển Tổng số sinh viên thực tuyển 13.004 Sv đạt 95% chỉ tiêu được giao (13.004 Sv/13.750 Sv), trong đó số

lượng thực tuyển đại học 12.544 Sv/13.350 Sv chỉ tiêu; Thạc sỹ 400 Sv/400 Sv Tổng quy mô đào tạo toàn Viện 55.299 Sv, tăng 0,2 so với dự kiến và chủ yếu là phương thức đào tạo từ xa chiếm 60% quy mô các loại hình (33.310 Sv/55.299 Sv)

Về tài chính: thực hiện cơ chế tự chủ và để kiểm soát điều hành các hoạt động tài chính có hiệu quả, Viện đã ban hành quy chế chi tiêu nội bộ kèm theo Quyết định số 06/QĐ-ĐHM ngày 10/01/2012 của Viện trưởng Viện Đại học Mở Hà Nội (đến thời điểm năm 2016 đang quá trình thực hiện sửa đổi bổ sung quy chế chi tiêu nội bộ mới theo Nghị định số 16/2016/NĐ-CP), tuy nhiên chưa qui định các khoản chi phí như: tỷ

lệ phân bổ chi phí chung để phân bổ cho các hoạt động dịch vụ, hiện đang hòa chung vào nguồn kinh phí của Viện; chi phí xây dựng chương trình đào tạo Thạc sỹ; tỷ lệ chi phí từ nguồn thu học phí cho các khoa đảm bảo được cân đối tránh tình trạng có nhiều định mức khác nhau cho cùng một khoản chi

Trang 40

Về trích lập các quỹ: chênh lệch thu chi từ hoạt động thu học phí, lệ phí và các hoạt động khác được trích lập các quỹ: Quỹ Khen thưởng phúc lợi 9.432trđ; Quỹ Phát triển

sự nghiệp 22.918,8trđ chiếm 68,8% tổng kinh phí đã trích các quỹ trong năm; Quỹ ổn định thu nhập 956,3trđ Tổng số dư các quỹ đến cuối năm tài chính 141.116,3trđ

1.5.3 Nh ững bài học rút ra

Qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và trong nước về TCTC trường đại học, có thể rút ra một số kết luận và bài kinh nghiệm cho các trường đại học công lập tại Việt Nam như sau:

Một là, giao quyền TCTC ở mức độ cao hơn và đi kèm với giao quyền tự chủ đại học Hai là, Nhà nước cần đổi mới cách phân bổ NS theo kết quả đầu ra và đảm bảo tính công khai, minh bạch, có các tiêu chí định lượng rõ ràng NS cấp theo cơ chế khoán không phải lập theo tiểu mục để các trường được toàn quyền chi cho tiền lương, chi đầu tư phát triển và áp dụng chế độ hậu kiểm đối với các nhà trường

Ba là, Nhà nước cần định hình rõ về mô hình tài chính cho giáo dục đại học theo hướng tăng cường chia sẻ học phí từ người học phù hợp với chất lượng đào tạo được cung cấp Cho phép các trường được quyền tự xây dựng các mức học phí đối với những chương trình đào tạo theo nhu cầu của người học, nhu cầu của xã hội để tăng cường tính xã hội hóa, giảm gánh nặng về chi phí NSNN cho giáo dục ĐHCL

Bốn là, Nhà nước cần có những cơ chế chính sách khác đi kèm để hỗ trợ cho cơ chế

TCTC như tăng cường chính sách cho vay đối với người học; trợ cấp cho SV nghèo,

SV thuộc các đối tượng chính sách.; ban hành cơ chế góp vốn chung để đầu tư cơ sở vật chất (phòng thí nghiệm, trang thiết bị.), thư viện dùng chung giữa các trường nhằm giảm bớt chi phí đầu tư nhưng lại nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng

Năm là, cần thành lập một cơ quan kiểm định độc lập nằm ngoài sự quản lý của Bộ

Giáo dục và Đào tạo để kiểm tra, đánh giá chất lượng của các trường được giao quyền TCTC

Ngày đăng: 12/04/2021, 09:06

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w