Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu các quy định của Nhà nước để áp dụng phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện Việt Nam nói chung và tại Ban quản lý dự á
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tên tác giả: Chu Huy Mạnh
Học viên cao học lớp: 25QLXD21
Người hướng dẫn: PGS.TS Dương Đức Tiến
Tên đề tài luận văn: “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đấu thầu tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội ”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân học viên Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Chu Huy Mạnh
Trang 2Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo Khoa công trình Trường đại học Thủy lợi đã giảng dạy, chỉ bảo giúp em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Dương Đức Tiến đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài liệu trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện một đề tài hoàn chỉnh, xong do trình độ và thời gian nghiên cứu thực tế có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được những lời chỉ dẫn, góp ý của các thầy, cô giáo và bạn đọc để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRONG XÂY DỰNG 3
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 3
1.1.1 Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư 3
1.1.2 Xét về mặt hình thức 3
1.1.3 Xét trên góc độ quản lý 4
1.1.4 Xét trên góc độ kế hoạch hóa 4
1.1.5 Xét trên góc độ phân công lao động xã hội 4
1.1.6 Xét về mặt nội dung 4
1.2 CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 5
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.2.2 Gói thầu 7
1.2.3 Hồ sơ yêu cầu 7
1.2.4 Hồ sơ mời thầu 8
1.2.5 Hồ sơ dự thầu 8
1.2.6 Hình thức lựa chọn nhà thầu 8
1.2.7 Phương thức thực hiện đấu thầu 11
1.2.8 Phương pháp đánh giá HSDT 14
Trang 41.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG Ở VIỆT NAM 15
1.3.1 Những kết quả đạt được 15
1.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 19
1.4 YÊU CẦU CHUNG VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 22
1.4.1 Các mục tiêu cơ bản cần đạt trong công tác đấu thầu 22
1.4.2 Nhân sự trong công tác đấu thầu 23
1.4.3 Trình tự thực hiện công tác đấu thầu 23
1.4.4 Ký kết và thực hiện hợp đồng 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 25
2.1 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU 25
2.1.1 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 25
2.1.2 Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 26
2.1.3 Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 27
2.1.4 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP 28
2.1.5 Nghị định 32/2015/NĐ-CP 30
2.1.6 Nghị định 59/2015/NĐ-CP 31
2.1.7 Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT 33
2.1.8 Thông tư số 10/2016/TT-BKHĐT 33
2.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 34
2.2.1.Chất lượng đấu thầu xây dựng 34
2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng phản ánh chất lượng đấu thầu 35
2.2.3 Các tiêu thức định tính phản ánh chất lượng đấu thầu 37
2.3 TRÌNH TỰ TRONG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU XÂY DỰNG: 42
2.3.1.Chuẩn bị đấu thầu 42
2.3.2.Tổ chức đấu thầu 44
2.3.3 Mở thầu và xét thầu 44
2.3.4.Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu 46
Trang 52.3.5 Thương thảo và hoàn thiện hợp đồng 48
2.3.6 Công bố kết quả đấu thầu 48
2.3.7 Ký hợp đồng 48
2.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 50
2.4.1 Bên mời thầu (Chủ đầu tư và các tổ chức đại diện cho chủ đầu tư) 49
2.4.2 Nhà thầu 50
2.4.3 Các cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu 51
2.4.4 Các tổ chức xã hội có liên quan 51
2.4.5 Thông tin 52
2.4.6 Đặc điểm của các công trình 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TP HÀ NỘI 55
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TP HÀ NỘI 55
3.1.1 Sự hình thành và phát triển của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội 55
3.1.2.Cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội 57
3.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội 58
3.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TP HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2017-2018 59
3.2.1 Một số đặc điểm hệ thống hạ tầng giao thông, công trình giao thông Thành phố Hà Nội 59
3.2.2 Tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội giai đoạn 2017-2018 60
3.2.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội 79
Trang 63.2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư
xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội 82
3.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TP HÀ NỘI 86
3.3.1 Chủ động lựa chọn hình thức đấu thầu phù hợp, nâng cao tính cạnh tranh trong đấu thầu 87
3.3.2 Bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự về hoạt động đấu thầu 88
3.3.3 Nâng cấp trang thiết bị máy móc phục vụ công tác đấu thầu 89
3.3.4 Nâng cao chất lượng công tác chuẩn bị hồ sơ mời thầu 89
3.3.5 Đẩy mạnh hình thức đấu thầu qua mạng 91
3.3.6 Công khai hoá các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 933
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 944
TÀI LIỆU THAM KHẢO 966
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình2.1: Mô hình hoá các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đấu thầu xây dựng các
công trình 49
Hình 3.1: Dự án đường Lê Trọng Tấn kéo dài 55
Hình 3.2: Cầu Vượt nút giao An Dương đường Thanh niên 56
Hình 3.3: Đường vành đai 1 (đoạn Ô Đông Mác - Nguyễn Khoái) 57
Hình 3.4: Sơ đồ bộ máy tổ chức Ban QLDA đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội 57
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả đấu thầu từ năm 2008-2012 16 Bảng 2.1: Phân cấp thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu 47 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp chi tiết kết quả đấu thầu năm 2017-2018 tại Ban quản lý dự
án đầu tư xây dựng 61 Bảng 3.2 Bảng tổng hợp chung kết quả lựa chọn nhà thầu năm 2017-2018 tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông thành phố Hà Nội 82
Trang 9Hồ sơ dự thầu
Hồ sơ mời thầu
Kế hoạch đầu tư Nghị định – Chính phủ Ngân sách nhà nước Nguyên vật liệu Thành phố
Ủy ban nhân dân Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quốc hội khóa 11 Quốc hội khóa 13 Quản lý dự án Quản lý đầu tư Sản xuất kinh doanh Triệu đồng
Thông tư – Bộ kế hoạch Thông tư – Bộ xây dựng Việt Nam đồng
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội được thành lập năm 2017 trên cơ sở hợp nhất 07 Ban quản lý dự án về giao thông và hạ tầng
kỹ thuật của Thành phố Hà Nội Với vai trò là Chủ đầu tư các công trình giao thông trọng điểm trên địa bàn Thành phố do UBND Thành phố Hà Nội giao, công tác đấu thầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án tại Ban, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn từ ngân sách Nhà nước
Đấu thầu là nhằm thực hiện tốt yêu cầu “Cạnh tranh - Công bằng - Minh bạch – Hiệu quả” thực hiện theo Luật đấu thầu và các quy định của Nhà nước có liên quan
giúp Chủ đầu tư lựa chọn được đơn vị đáp ứng được các yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ, thực hiện dự án với chất lượng cao nhất, chi phí thấp nhất Trên thực tế hoạt động đấu thầu đã chứng tỏ được sự cần thiết và tầm quan trọng của nó trong cơ chế thị trường, nó không chỉ mang lại lợi ích cho nhà thầu mà còn mang lại lợi ích cho chủ đầu tư và các bên có liên quan khác Vì vậy phương thức đấu thầu càng trở lên là một phương thức sản xuất kinh doanh trong xây dựng không chỉ ở nước ta mà còn nhiều nước trên thế giới Nó được nhìn nhận như một điều kiện thiết yếu để đảm bảo thành công cho các nhà đầu tư dù họ thuộc nhà nước hay tư nhân, dù họ đầu tư trong hay ngoài nước
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, quy mô cũng như tốc
độ hoạt động trong ngành xây dựng của nước ta ngày càng được mở rộng, thị trường xây dựng ngày một trở nên sôi động hơn, cạnh tranh trong xây dựng ngày một quyết liệt hơn Các nhà thầu phải luôn luôn nỗ lực để nâng cao năng lực của mình Hoạt động đấu thầu quy định ngày càng chặt chẽ và trở nên có tính quyết định đến sự thành bại của
dự án nói chung và cho gói thầu nói riêng Tính cấp thiết của vấn đề nêu trên cũng
chính là lý do để tác giả lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các Giải pháp nâng cao chất lượng công tác lựa chọn nhà thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là công tác lựa chọn nhà thầu và năng lực của Ban quản lý dự án(CĐT) trong hoạt động đấu thầu công trình giao thông
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các vấn đề được luận văn tập trung nghiên cứu giới hạn trong lĩnh vực lựa chọn nhà thầu và Giải pháp nâng cao chất lượng công tác lựa chọn nhà thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông TP Hà Nội
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận cơ sở lý luận và khoa học của các phương pháp, hình thức lựa chọn nhà thầu Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu các quy định của Nhà nước để áp dụng phù hợp với đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài trong điều kiện Việt Nam nói chung và tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội nói riêng
Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu sau đây: phương pháp hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng; phương pháp điều tra khảo sát; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích so sánh; phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu về nội dung và các quy định về công tác đấu thầu của
dự án đầu tư xây dựng
Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu về nội dung và các quy định về đấu thầu từ đó đề xuất
giải pháp nâng cao chất lượng công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông Thành phố Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TRONG XÂY DỰNG
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng [1]
1.1.1 Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư
Dự án đầu tư xây dựng có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thể thực hiện các hoạt động đầu tư
Như vậy, để có được một dự án đầu tư xây dựng, phải bỏ ra và huy động một lượng nguồn lực to lớn về kỹ thuật vật chất – lao động – tài chính và quỹ thời gian Phải bỏ
ra, chi một lượng chi phí to lớn đòi hỏi nhà quản lý dự án phải phân tích – tính toán – đánh giá – so sánh và lựa chọn để tìm ra một kết luận tối ưu Không tùy tiện, cảm tính
Có nghĩa là dự án phải được nhà quản trị tiến hành một cách có bài bản, có cơ sở học
luận và có khoa học
1.1.2 Xét về mặt hình thức
Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch đã đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
Dự án đầu tư xây dựng là tài liệu kinh tế – kỹ thuật về một kế hoạch tổng thể huy động nguồn lực đầu vào cho mục tiêu đầu tư Vì vậy, trong dự án đó, nội dung phải được trình bày một cách có hệ thống và chi tiết theo một trình tự, logic và theo đúng quy định chung của hoạt động đầu tư Cụ thể:
– Giải trình sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu đầu tư
Trang 14– Xác định quy mô đầu tư và giải pháp đầu tư sẽ thực hiện
– Tính toán kinh tế và hiệu quả đầu tư của dự án
– Xác định độ an toàn và tính khả thi của dự án
Các kết quả của nghiên cứu được xác lập liên quan đến nguồn lực huy động cho dự án:
kỹ thuật vật chất – lao động – tài chính và quỹ thời gian Tài liệu dự án chính là cơ sở, chỗ dựa cơ bản để tiến hành các hoạt động quản lý nguồn lực
1.1.4 Xét trên góc độ kế hoạch hóa
Dự án đầu tư xây dựng là kế hoạch hóa chi tiết để thực hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư
1.1.5 Xét trên góc độ phân công lao động xã hội
Dự án đầu tư xây dựng thể hiện sự phân công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên
1.1.6 Xét về mặt nội dung
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể, có mối liên hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt được mục đích nhất định trong tương lai
Trang 15Dự án đầu tư là bộ hồ sơ xác lập nhu cầu về việc sử dụng nguồn lực đầu vào (nhân tài – vật lực) cho mục tiêu đầu tư (sản phẩm – lợi nhuận và lợi ích kinh tế – xã hội khác) Trong đó, bao gồm các hoạt động đặc trưng mà nhà quản trị phải tiến hành: phân tích, tính toán, đánh giá, so sánh và lựa chọn
Nội dung phải thể hiện 4 vấn đề cơ bản:
+ Sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu đầu tư
+ Quy mô đầu tư và giải pháp thực hiện
+ Tính toán hiệu quả đầu tư
+ Xác định độ an toàn và tính khả thi của dự án
Thực hiện các nội dung này đòi hỏi các nhà quản trị phải làm việc nghiêm túc, cẩn trọng và khách quan Và nhờ có bản lĩnh đó, dự án xây dựng có được một nội dung cụ thể, toàn diện và sâu sắc, có căn cứ khoa học về toàn bộ quá trình sử dụng các nguồn lực một cách tối ưu cho mục tiêu đầu tư
Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó chứa các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư
1.2 CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về đấu thầu
Theo Luật Đấu thầu 43 năm 2013 [2]: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng DAĐT theo hình thức đối tác công tư, có sử dụng đất trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”
Đấu thầu qua mạng là đấu thầu được thực hiện thông qua việc sử dụng hệ thống mạng đấu thầu quốc gia
Đấu thầu quốc tế là đấu thầu mà nhà thầu, nhà đầu tư trong nước, nước ngoài được
Trang 16tham dự thầu
Đấu thầu trong nước là đấu thầu mà chỉ có nhà thầu, nhà đầu tư trong nước được tham
dự thầu
1.2.1.2 Vai trò của đấu thầu
Hoạt động đấu thầu không những có vai trò quan trọng đối với Bên mời thầu - người mua mà còn có tác động tích cực tới các nhà thầu - người bán
- Đối với Bên mời thầu - người mua, đấu thầu mang lại những lợi ích sau:
+ Tiếp cận với các nhà cung cấp mới, tiềm năng
+ Phát hiện ra sản phẩm thay thế
+ Mua với giá hợp lý nhất
+ Hạn chế những tác động từ những mối quan hệ “tế nhị”
+ Tránh được sự tranh luận trong nội bộ đối với việc chọn nhà cung cấp
+ Hạn chế sự thông đồng giữa một số cá nhân của Bên mời thầu với Nhà thầu
+ Nâng cao uy tín của tổ chức, doanh nghiệp
- Đối với Nhà thầu - người bán:
+ Tiếp cận với khách hàng mới
+ Tiếp cận với các đối thủ cạnh tranh
+ Tiếp cận với những quy định về mua sắm của các cơ quan quản lý nhà nước
+ Hoàn thiện sản phẩm
+ Mở rộng thị trường
+ Khẳng định vị trí, nâng cao uy tín
1.2.1.3 Nguyên tắc của đấu thầu
Để đảm bảo mục đích là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thì hoạt động đấu thầu cần
Trang 17tuân thủ những nguyên tắc sau:
Công bằng: Tất cả các Nhà thầu đều được đối xử như nhau khi tham gia dự thầu Cạnh tranh: Bên mời thầu phải tạo điều kiện thuận lợi để nhiều Nhà thầu có thể tham gia Minh bạch: Không có sự thông đồng giữa Bên mời thầu với các Nhà thầu
Hiệu quả kinh tế: Chọn được đơn vị trúng thầu với giá hợp lý
1.2.2 Gói thầu
1.2.2.1 Khái niệm
Theo khoản 22, điều 4, Luật Đấu thầu 43 năm 2013 [2]: “Gói thầu là một phần hoặc toàn bộ dự án, dự toán mua sắm; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc khối lượng mua sắm một lần, khối lượng mua sắm cho một thời kỳ đối với mua sắm thường xuyên, mua sắm tập trung”
1.2.2.2 Phân loại
Theo đặc điểm của công việc cần thực hiện đấu thầu, gồm có:
- Gói thầu dịch vụ tư vấn
- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn
- Gói thầu xây lắp
- Gói thầu mua sắm hàng hoá
- Gói thầu hỗn hợp
- Gói thầu lựa chọn nhà đầu tư
1.2.3 Hồ sơ yêu cầu
Hồ sơ yêu cầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho hình thức chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chào hàng cạnh tranh, bao gồm các yêu cầu cho một dự án, gói thầu, làm căn cứ
để nhà thầu, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ đề xuất và để bên mời thầu tổ chức đánh giá hồ
sơ đề xuất nhằm lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Trang 181.2.4 Hồ sơ mời thầu
Hồ sơ mời thầu là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ
dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu;
là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
1.2.4.2 Yêu cầu đối với HSMT
Về nội dung:
- Cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho Nhà thầu
- Thông tin phải rõ ràng, cụ thể
- Phát huy tính sáng tạo của Nhà thầu
Theo Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 [2], bao gồm các hình thức như sau:
1.2.6.1 Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế
số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự
1.2.6.2 Đấu thầu hạn chế
BMT chỉ cho phép một số Nhà thầu nhất định được tham gia dự thầu Trong trường hợp nhu cầu mua sắm của BMT phức tạp về mặt kỹ thuật, lớn về quy mô thì BMT chỉ lựa chọn một số Nhà thầu có năng lực thực sự để tham gia Hình thức này có thể mang lại sự tiết kiệm về thời gian cũng như chi phí tham gia và tổ chức đấu thầu cho cả
Trang 19BMT cũng như các Nhà thầu BMT ấn định trước tên và số lượng Nhà thầu được tham gia đấu thầu trong một Danh sách ngắn
1.2.6.3 Chỉ định thầu
* Chỉ định thầu đối với nhà thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do
sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để bảo đảm bí mật nhà nước; gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của cộng đồng dân cư trên địa bàn hoặc để không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế để triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách;
- Gói thầu cấp bách cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia, hải đảo;
- Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do phải bảo đảm tính tương thích về công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm; mua bản quyền sở hữu trí tuệ;
- Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng được chỉ định cho tác giả của thiết kế kiến trúc công trình trúng tuyển hoặc được tuyển chọn khi tác giả có đủ điều kiện năng lực theo quy định; gói thầu thi công xây dựng tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật gắn với quyền tác giả từ khâu sáng tác đến thi công công trì ;
- Gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng; gói thầu rà phá bom, mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi ông xây dựng công trình;
- Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định t ầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế
- xã hội trong từng thời kỳ
Trang 20* Việc thực hiện chỉ định thầu đối với gói thầu phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
- Có quyết định đầu tư được phê duyệt, trừ gói thầu tư vấn chuẩn bị dự án;
- Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;
- Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu;
- Có dự toán được phê duyệt theo quy định, trừ trường hợp đối với gói thầu EP, EC, EPC, gói thầu chìa khóa trao tay;
- Có thời gian thực hiện chỉ định thầu kể từ ngày phê duyệt hồ sơ yêu cầu đến ngày ký kết hợp đồng không quá 45 ngày; trường hợp gói thầu có quy mô lớn, phức tạp không quá 90 ngày;
- Nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu phải có tên trong cơ sở dữ liệu về nhà thầu của
cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
* Chỉ định thầu đối với nhà đầu tư được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện;
- Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn;
- Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ
1.2.6.4 Chào hàng cạnh tranh
- Chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản;
- Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương n au về chất lượng;
- Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt Chào hàng cạnh tranh được thực h ện khi đáp ứng đủ các điều kiện:
Trang 21- Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;
- Có dự toán được phê duyệt theo quy định;
- Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu
1.2.6.5 Mua sắm trực tiếp
Mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác, được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện:
- Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó;
- Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã
1.2.6.6 Tự thực hiện
Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tài chính
và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu
1.2.7 Phương thức thực hiện đấu thầu
Phương thức thực hiện đấu thầu của một gói thầu được hiểu là cách thức đánh giá Hồ
sơ dự thầu của BMT và cách thức nộp Hồ sơ dự hầu tương ứng của các Nhà thầu
Trang 22Có bốn phương thức thực hiện đấu thầu, đó là:
- Phương thức một túi hồ sơ một giai đoạn
- Phương thức hai túi hồ sơ một giai đoạn
- Phương thức một túi hồ sơ hai giai đoạn
- Phương thức hai túi hồ sơ hai giai đoạn
1.2.7.1 Phương thức đấu thầu Một túi hồ sơ một giai đoạn
Nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong cùng một túi hồ sơ BMT biết được cả hai nội dung kỹ thuật và tài chính cùng một lúc Áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ;
- Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;
- Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Mua sắm trực tiếp đối với gói thầu mua sắm hàng hóa;
- Chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư
1.2.7.2 Phương thức đấu thầu Hai túi hồ sơ một giai đoạn
Nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính trong hai túi hồ sơ riêng biệt Người nộp đề xuất tài chính là người trúng thầu Thông tin về giá cả và phương thức thanh toán là bí mật cho đến khi mở đề xuất tài chính Áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư
Trang 231.2.7.3 Phương thức đấu thầu Một túi hồ sơ hai giai đoạn
Giai đoạn 1:
- Các nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật không có giá
- BMT xem xét và thảo luận với riêng từng Nhà thầu về đề xuất kỹ thuật
- Cho phép Nhà thầu sửa đổi, hiệu chỉnh đề xuất kỹ thuật
- Loại bỏ những hồ sơ dự thầu không phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật được chấp nhận
Giai đoạn 2:
- Các Nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật hoàn chỉnh và tài chính cụ thể
Phương thức này được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp
1.2.7.4 Phương thức đấu thầu Hai túi hồ sơ hai giai đoạn
Giai đoạn 1:
- Các nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính ở hai túi hồ sơ riêng biệt
- BMT đánh giá đề xuất kỹ thuật
- BMT xác định các nội dung hiệu chỉnh đề xuất kỹ thuật
- Loại bỏ những hồ sơ dự thầu không phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật được chấp nhận
Giai đoạn 2:
- Các Nhà thầu nộp đề xuất kỹ thuật mới và đề xuất tài chính mới ở hai túi hồ sơ riêng biệt
- BMT đánh giá đề xuất kỹ thuật mới và đánh giá đề xuất tài chính mới
- BMT đánh giá đề xuất tài chính cũ
Phương thức này được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù
Trang 241.2.8 Phương pháp đánh giá HSDT
Quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về nguyên tắc là thực hiện theo hai bước, đó là đánh giá sơ bộ và đánh giá chi tiết Đánh giá sơ bộ có thể bao gồm nhiều nội dung như kiểm tra bảo lãnh dự thầu, kiểm tra năng lực tài chính,
Đánh giá chi tiết các Hồ sơ dự thầu được thực hiện theo phương pháp sử dụng Giá đánh giá theo hai nội dung kỹ thuật và tài chính
1.2.8.1 Đánh giá nội dung kĩ thuật
Đề xuất kỹ thuật là bản mô tả năng lực kỹ thuật của Nhà thầu và biện pháp kỹ thuật cụ thể để thực hiện gói thầu
Để đánh giá biện pháp kỹ thuật thực hiện gói thầu của các Nhà thầu thì BMT sử dụng các tiêu chí đánh gIá đã được nêu trong HSMT bằng cách cho điểm hoặc dùng cách trả lời Đạt/Không đạt Các gói thầu khác nhau về quy mô và về yêu cầu kỹ thuật được đánh giá theo những tiêu chí khác nhau như:
- Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức thi công và biện pháp đảm bảo kỹ thuật
- Mức độ đáp ứng về các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng vật tư
- Mức độ đáp ứng về thiết bị thi công
- Các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy
Sau khi đánh giá đề xuất kỹ thuật, BMT loại bỏ những đề xuất không đáp ứng yêu cầu
và tiến hành xem xét đề xuất tài chính của những hồ sơ dự thầu còn lại
1.2.8.2 Đánh giá đề xuất tài chính
Trong đấu thầu thì giá chào thầu của các Nhà thầu không phải là cơ sở duy nhất để lựa chọn Nhà thầu vì giá chào thầu có thể được các Nhà thầu xây dựng theo những điều kiện thực hiện khác nhau Vì vậy, để đánh giá được chính xác đề xuất về giá của các Nhà thầu, BMT cần xây dựng lại giá chào thầu trên cơ sở các điều kiện thực hiện gói
thầu như nhau hay còn gọi là Mặt bằng đánh giá chung Giá chào thầu được BMT xác
Trang 25định lại trên cơ sở mặt bằng đánh giá chung gọi là Giá đánh giá Giá đánh giá dùng để
so sánh các Hồ sơ dự thầu và lựa chọn Nhà thầu
Mặt bằng đánh giá chung bao gồm các yếu tố như mặt bằng kỹ thuật, mặt bằng tiến độ, mặt bằng thương mại, Nhà thầu có Hồ sơ dự thầu với giá đánh giá thấp nhất sẽ được đánh giá tốt nhất và được lựa chọn để hoàn thiện và ký hợp đồng
1.3 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM
Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện, thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành các Thông tư hướng dẫn về đấu thầu Các mẫu hồ sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp cho các cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở Bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư trong quá trình thực hiện được dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng tài liệu đấu thầu cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài ra việc ban hành các mẫu hồ sơ đấu thầu còn giúp hạn chế các sai sót và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan chuyên môn, chủ đầu tư và các đơn vị
tư vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấu thầu thực sự đã hướng theo hành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từng bước chấp hành tốt những quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời gian trước
1.3.1.2 Tiết kiệm nguồn vốn
Thông qua đấu thầu các dự án đầu tư xây dựng đã góp phần tiết kiệm một phần ngân sách không nhỏ cho quốc gia, và các địa phương mà vẫn đảm bảo chất lượng công
Trang 26trình và tiến độ thực hiện (khoảng 6,6% trong vòng 5 năm từ 2008 đến 2012 theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư) [3]
Bảng 1.1 Kết quả đấu thầu từ năm 2008-2012
Tại Điều 19 của Luật Đấu thầu và hướng dẫn tại chương XI Nghị định
63/2014/NĐ-CP đã quy định về việc đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ trực tiếp tham gia các hoạt động đấu thầu (tổ chuyên gia, bên mời thầu, chủ đầu tư ) nhằm tăng cường tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong quá trình thực hiện
Trang 27Để triển khai nội dung này, hầu hết các Bộ ngành, địa phương đã tổ chức các hội nghị tập huấn để quán triệt các quy định của pháp luật về đấu thầu Các Bộ và Tổng công ty thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về quản lý đầu tư xây dựng (trong đó đấu thầu
là một nội dung chính) cho các cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động đấu thầu Các Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động trong việc chủ trì, phối hợp tổ chức các hoạt động đào tạo, tập huấn sâu rộng cho các Sở ban ngành ở địa phương, đặc biệt
là chú trọng tới các cán bộ thuộc các ban quản lý dự án ở cấp huyện, cấp xã
Ngoài ra, công tác phổ biến, quán triệt nội dung của Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi, các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ đã được thực hiện nghiêm túc thông qua nhiều hình thức như: phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức, các lớp tập huấn về đấu thầu cho các đơn vị, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn Đến nay, hầu hết các cán bộ tham gia trong lĩnh vực đấu thầu đều được cấp chứng chỉ tham gia các khóa đào tạo về đấu thầu Hiệu quả và tác động của các văn bản hướng dẫn được ban hành đối với việc quản lý đấu thầu trên địa bàn địa phương giúp các chủ đầu tư cập nhật kịp thời thông tin để tham dự có hiệu quả, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng quản lý đấu thầu trên địa bàn
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị phổ biến, giới thiệu các quy định của pháp luật về đấu thầu; ngoài ra cũng đã tổ chức các khoá đào tạo hoặc đào tạo tại chỗ cho các đơn vị thí điểm đấu thầu qua mạng và các đơn vị khác có nhu cầu
Đồng thời với việc phối hợp, trợ giúp cho các Bộ ngành và địa phương trong việc tập huấn, quán triệt các quy định của Luật Đấu thầu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục thực hiện công tác hướng dẫn, trao đổi, giải đáp thắc mắc liên quan tới công tác đấu thầu cho các cơ quan, doanh nghiệp, chủ đầu tư và nhà thầu trên cả nước thông qua các các hoạt động như: trả lời bằng văn bản, trả lời qua điện thoại, thư điện tử và trao đổi trực tiếp Đặc biệt, năng lực các nhà thầu Việt Nam nói chung đã có sự trưởng thành đáng kể
Từ chỗ nhà thầu Việt Nam chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, sau đó tham gia liên doanh với tỷ lệ nhỏ, nay phần lớn các nhà thầu Việt Nam có thể đấu thầu độc lập
và trúng thầu
Trang 28Một số nhà thầu điển hình như: Công ty cổ phần tập đoàn Đèo Cả đã thi công nhiều dự án quy
mô lớn, phức tạp như: Dự án hầm đường bộ qua Đèo Cả, dự án Hầm Hải Vân 2 hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng, sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước, góp phần tích cực giúp giảm
nợ công [4]; Tập đoàn DELTA thi công nền móng, tầng cho những tòa tháp cao nhất Việt Nam như: Keangnam, Hanoi Landmark Tower, Royal City…
Nguồn : Báo điện tử dân trí, https://dantri.com.vn[4]
1.3.1.4 Hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng hơn và triển khai trên diện rộng
Trong bối cảnh tăng cường phân cấp nhưng năng lực của chủ đầu tư ở một số Bộ, ngành, địa phương còn hạn chế, thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu, tăng cường hiệu lực và tính thực thi của pháp luật, chính sách về đấu thầu Trong thời gian qua, hầu hết các địa phương đã tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu nhằm sớm phát hiện các thiếu sót, hướng dẫn chủ đầu tư và bên mời thầu giải quyết theo đúng quy định và đúng thẩm quyền Do đó, hoạt động kiểm tra cũng đã giúp tăng cường nhận thức của các đối tượng được kiểm tra trong việc thực thi pháp luật Ngoài ra, kiểm tra, thanh tra về đấu thầu cũng đã góp phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật về đấu thầu nói riêng
Thông tư 10/2016/TT-BKHĐT ngày 22/7/2016 quy định chi tiết việc giám sát, theo dõi và kiểm tra hoạt động đấu thầu ra đời đã quy định khá cụ thể và chi tiết quy trình kiểm tra trong công tác đấu thầu, đáp ứng được yêu cầu về việc thực hiện hoạt động kiểm tra về công tác đấu thầu tại các Bộ ngành, địa phương và các Tập đoàn, Tổng công ty Việc ban hành Thông tư quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu thầu đã chi tiết hoá hoạt động hậu kiểm trong công tác đấu thầu, góp phần giúp các cơ quan quản
lý nhà nước cũng như người có thẩm quyền, chủ đầu tư của các dự án chủ động nắm bắt và kiểm soát được tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại các dự án Theo đó đã góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu thầu nói chung
1.3.1.5 Công khai hoá các thông tin về đấu thầu được tăng cường đáng kể
Việc công khai hóa thông tin về đấu thầu được tăng cường thể hiện qua việc gia tăng nhu cầu đăng tải thông tin Số lượng Báo Đấu thầu được phát hành đã tăng lên và tần suất xuất bản đã đáp ứng được về tính kịp thời, rộng rãi đến các đối tượng có quan tâm
Trang 29tới công tác đấu thầu Ngoài trụ sở chính của Báo Đấu thầu tại Hà Nội, với việc có thêm 6 đại lý của Báo Đấu thầu tại TP Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho các nhà thầu không chỉ có được thông tin về đấu thầu trên cả nước mà còn dễ dàng tiếp cận thông tin đấu thầu tập trung của 2 thành phố lớn nhất của cả nước (có số lượng gói thầu được thực hiện nhiều nhất so với các địa phương khác) Hiện nay số lượng Báo phát hành đạt khoảng 1,4 triệu tờ và số trang phát hành được tăng lên 80 trang, nhờ đó Báo Đấu thầu đã thực sự trở thành công cụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đấu thầu đối với cả nước
Song song với Báo Đấu thầu, trang thông tin điện tử về đấu thầu – Hệ thống đấu thầu
qua mạng - tại địa chỉ htttp://muasamcong.mpi.gov.vn được cập nhật hàng ngày, tận
dụng các ưu thế của mạng internet trong việc tạo thuận tiện cho các tổ chức, cá nhân đăng tải, truy cập và tìm kiếm thông tin đấu thầu ở mọi lúc, mọi nơi Đồng thời đây là kênh thông tin hữu ích cho cơ quản quản lý nhà nước về đấu thầu tiếp thu các góp ý đối với các văn bản quy phạm pháp luật trước khi ban hành
1.3.2 Những vấn đề còn tồn tại
1.3.2.1 Xu hướng áp dụng chỉ định thầu vẫn còn nhiều
Hình thức chỉ định thầu còn được áp dụng khá nhiều trong khi hình thức này mang lại hiệu quả kinh tế không cao Từ Bảng 1.1 ta thấy trong giai đoạn 2008-2012, tổng giá trị các gói thầu sử dụng vốn ngân sách nhà nước áp dụng hình thức chỉ định thầu chiếm tỷ trọng khá lớn (915.108 tỷ đồng), bằng 82% tổng giá trị các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi (1.108.741 tỷ đồng) và bằng 75% tổng giá trị các gói thầu áp dụng đấu thầu rộng rãi và hạn chế, trong khi đó tỷ lệ tiết kiệm đạt được của hai hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cao hơn từ 2 đến 2,5 lần so với chỉ định thầu Đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả của hoạt động đấu thầu
1.3.2.2 Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn hạn chế ở một số Ban, Ngành, địa phương
Trong Luật Đấu thầu đã thể hiện rất rõ tinh thần phân cấp, thực hiện phân cấp mạnh gắn liền với trách nhiệm và tăng cường công tác hậu kiểm Phân cấp mạnh giúp cho các chủ đầu tư chủ động hơn trong việc thực hiện và quyết định các nội dung của quá trình đấu thầu
Trang 30Quá trình đấu thầu từ khâu lập hồ sơ mời thầu đến ký hợp đồng phần lớn đều do chủ đầu tư tổ chức thực hiện, dẫn đến phát sinh tiêu cực trong đấu thầu ở một vài nơi do vai trò của chủ đầu tư rất lớn Công tác theo dõi, phát hiện kịp thời những sai sót hoặc tiêu cực trong quá trình đấu thầu của cấp có thẩm quyền còn nhiều hạn chế
Việc phân cấp mạnh cho chủ đầu tư tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh tốc độ xây dựng
cơ bản, tuy nhiên còn có một số chủ đầu tư năng lực còn hạn chế không theo kịp nhiệm vụ được giao, còn lúng túng trong khâu lập kế hoạch đấu thầu, thẩm định hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu Bên cạnh đó, nhiều chủ đầu tư còn chưa chủ động, còn trông chờ ỷ lại ở đơn vị tư vấn mà không xem xét, kiểm tra kỹ các hồ sơ, thủ tục trước khi phê duyệt
Ngoài ra, toàn bộ quá trình đấu thầu chủ yếu do chủ đầu tư quyết định, gần như khép kín và không có cơ quan giám sát, thẩm tra, thẩm định Các cơ quan quản lý đấu thầu hiện nay (người có thẩm quyền, Sở Kế hoạch đầu tư ) nếu có phát hiện ra thì phải sau đấu thầu, sau thanh kiểm tra, thậm chí sau khi thực hiện xong gói thầu, trừ trường hợp
có kiến nghị
Bên cạnh đó năng lực chuyên môn của nhiều chủ đầu tư, bên mời thầu đặc biệt là ở cấp huyện, xã, khu vực vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện, trường học còn hạn chế do các chủ đầu tư, bên mời thầu chưa có kinh nghiệm, tính chuyên môn chưa cao dẫn đến chất lượng của hoạt động đấu thầu chưa được đảm bảo Bên cạnh đó, chất lượng của một số đơn vị tư vấn ở địa phương cũng còn hạn chế, đặc biệt là tư vấn đấu thầu Nhiều hồ sơ do các đơn vị tư vấn lập để chủ đầu tư phê duyệt không đạt yêu cầu, có nhiều sai sót dẫn đến hồ sơ không đạt chất lượng và yêu cầu theo quy định, kéo dài thời gian thẩm định, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
Tình trạng dàn xếp, thông đồng giữa các nhà thầu để một nhà thầu trúng thầu trong cùng một gói thầu còn xảy ra ở một số nơi Qua đó cho thấy chủ đầu tư, bên mời thầu
và đơn vị tư vấn đấu thầu cần phải thực hiện tốt hơn nữa việc đánh giá tư cách hợp lệ
và năng lực của nhà thầu khi tham gia dự thầu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đấu thầu để tránh xảy ra tình trạng đấu thầu hình thức, thiếu tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả kinh tế
Trang 31Thực trạng một số dự án đầu tư lớn của đất nước triển khai trong thời gian qua có sự chậm trễ, đội vốn lớn, làm gia tăng nợ công, đặc biệt là một số dự án đường sắt đô thị
có thể kể đến như: Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội tuyến Cát Linh - Hà Đông chậm 3 năm, đội vốn từ 8.769 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng;
dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị đoạn Nam Thăng Long - Trần Hưng Đạo tăng tổng mức đầu tư từ 19.555 tỷ đồng lên 33.568 tỷ đồng; Dự án Xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hồ Chí Minh đoạn Bến Thành - Suối Tiên tăng từ 17.387 tỷ đồng lên 47.325 tỷ đồng…
Ý kiến về tình trạng nêu trên, đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Phương (Đoàn Quảng Bình) cho rằng: “Nguyên nhân tình trạng này là do công tác đấu thầu, về mặt hình thức thì công khai, minh bạch nhưng sau đó vẫn có ẩn ý rất khó lý giải Thứ 2 là trong quá trình thực hiện đấu thầu, nhiều công trình, dự án thiết kế để đấu thầu để thực hiện được sau đó lại kiến nghị
bổ sung”[5]
Nguồn: Website báo điện tử: cafef.vn[5]
1.3.2.3 Vấn đề quản lý sau đấu thầu còn chưa được thực hiện thường xuyên và quan tâm đúng mức
Hiệu quả đạt được từ công tác đấu thầu phụ thuộc rất nhiều vào việc thực hiện nghĩa
vụ và ràng buộc giữa chủ đầu tư và nhà thầu trong hợp đồng đã ký kết Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương thì trong một số trường hợp việc quản lý thực hiện hợp đồng còn chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là trong bối cảnh giá cả leo thang Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà thầu trong quá trình thi công chưa chặt chẽ, một số nhà thầu sau khi trúng thầu không bố trí đủ nhân lực, thiết bị, tài chính đảm bảo tiến
độ thi công như HSDT và hợp đồng đã ký kết nhưng chủ đầu tư chưa có biện pháp tích cực xử lý chế tài đối với nhà thầu
Ngoài ra, một số chủ đầu tư chưa quan tâm thực hiện công tác giám sát thi công, đôn đốc các nhà thầu xây lắp đảm bảo tiến độ đúng quy định và việc bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định còn ít được các chủ đầu tư thực hiện theo quy định của pháp luật, một số nơi khi nhà thầu thực hiện nghĩa vụ bảo đảm thực hiện hợp đồng không đúng với thời hạn của hợp đồng nhưng vẫn được chủ đầu tư bỏ qua
Bên cạnh đó, nhiều công trình đã lựa chọn được nhà thầu nhưng chưa hoàn thành bồi thường giải phóng mặt bằng, sau khi ký hợp đồng vẫn chưa có mặt bằng thi công hoặc
Trang 32quá trình thi công phải tạm dừng vì một số vị trí không giải phóng được mặt bằng theo tiến độ, gây khó khăn rất lớn cho nhà thầu, tiến độ thi công phải kéo dài, rất nhiều thủ tục kéo theo do phải bổ sung điều chỉnh dự án
Năm 2013, nhà thầu Tokyu, nhà thầu chính phụ trách thi công đường dẫn lên cầu Nhật Tân
đã yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải thanh toán 155,9 tỷ đồng vì phía Việt Nam chậm tiến độ trong việc giải phóng mặt bằng khiến công việc của nhà thầu bị chậm hàng năm so với kế hoạch Mới đây, Huyndai E&C (Hàn Quốc) - Ghella S.p.a (Italia), Liên danh nhà thầu thi công Gói thầu CP3, Dự án Tuyến đường sắt đô thị thí điểm TP Hà Nội đòi bồi thường tới 81 triệu USD với lý do tương tự là chủ đầu tư chậm bàn giao mặt bằng [6]
Nguồn: Báo thanh niên số ra ngày 5/4/2019 [6]
1.3.2.4 Hệ thống pháp luật trong đấu thầu còn chồng chéo, chưa đồng bộ
Điển hình là sự chồng chéo quy định pháp luật về hợp đồng giữa Luật đấu thầu và Luật Xây dựng Hiện nay, cả Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 (Chương VIII) và Luật xây dựng (Chương VI) đều hướng dẫn cùng nội dung về Hợp đồng Trong đó lại có những nội dung hướng dẫn khác nhau gây nhiều vướng mắc khi thực hiện Nên thống nhất quy định trong một Luật
1.4 YÊU CẦU CHUNG VỀ NỘI DUNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng với vai trò là Chủ đầu tư các dự án được Cơ quan quyết định đầu tư giao, triển khai công tác đấu thầu gồm những nội dung như sau:
1.4.1.Các mục tiêu cơ bản cần đạt trong công tác đấu thầu
- Nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng, hạn chế và loại trừ các tình trạng như thất thoát lãng phí vốn đầu tư và các hiện tượng tiêu cực khác trong xây dựng cơ bản
- Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng cơ bản ở nước ta, là động lực, điều kiện để cho các doanh nghiệp xây dựng cạnh tranh lành mạnh trong cơ chế thị trường, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp xây dựng
- Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư tìm được các nhà thầu hợp lý nhất và có khả năng đáp ứng yêu cầu tốt nhất của dự án Đồng thời, giúp chủ đầu tư giải quyết được tình
Trang 33trạng lệ thuộc vào nhà thầu duy nhất
- Tạo môi trường lành mạnh giúp các nhà thầu nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, tạo sự công bằng và hiệu quả cao trong xây dựng Trên cơ sở nguyên tắc công khai và bình đẳng trong đấu thầu, các doanh nghiệp xây dựng phát huy đến mức cao nhất cơ hội tìm kiếm dự án, tham gia đấu thầu và kí kết hợp đồng (nếu trúng thầu), tạo công ăn việc làm cho người lao động, phát triển sản xuất kinh doanh
1.4.2 Nhân sự trong công tác đấu thầu
Nhân sự của Chủ đầu tư (BMT) tham gia vào quá trình đấu thầu có vai trò rất quan trọng Đây là những người phải rất am hiểu các quy định về đấu thầu của tổ chức quản
lý vốn, đồng thời phải có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực của gói thầu Tuỳ vào yêu cầu cụ thể của gói thầu và dự án, người tham gia có thể thuộc biên chế của BMT hoặc được BMT thuê trong thời gian thực hiện đấu thầu
Theo Khoản 7 Điều 35 Thông tư số 03/2016/TT-BKHĐT ngày 5/5/2016 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định, kể từ ngày 1/1/2018, cá nhân tham gia trực tiếp vào việc lập, thẩm định hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu; đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất; thẩm định kết quả mời quan tâm, kết quả mời sơ tuyển, kết quả lựa chọn nhà thầu thuộc tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp, doanh nghiệp, đơn vị tư vấn đấu thầu, ban quản lý dự án chuyên nghiệp, đơn vị mua sắm tập trung phải có chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu [7]
1.4.3 Trình tự thực hiện công tác đấu thầu
Trình tự thực hiện công tác đấu thầu tại Ban quản lý dự án được tiến hành theo ba bước chính: Chuẩn bị đấu thầu, Thực hiện đấu thầu, Ký kết và thực hiện hợp đồng
1.4.3.1 Chuẩn bị đấu thầu
Chuẩn bị đấu thầu bao gồm các công việc mà BMT cần thiết phải thực hiện trước khi
tổ chức đấu thầu chính thức, đó là những công việc:
- Chuẩn bị nhân sự cho đấu thầu
- Sơ tuyển Nhà thầu đối với những gói thầu bắt buộc phải sơ tuyển
Trang 34- Chuẩn bị Danh sách ngắn đối với các gói thầu cạnh tranh hạn chế
- Chuẩn bị HSMT và tiêu chí đánh giá hồ sơ dự thầu
1.4.3.2 Thực hiện đấu thầu
Trong giai đoạn này, BMT thực hiện những công việc sau:
- Thông báo mời thầu và phát hành HSMT
- Nhận hồ sơ dự thầu
- Mở thầu
- Đánh giá hồ sơ dự thầu
- Thông báo kết quả lựa chọn Nhà thầu
1.4.4 Ký kết và thực hiện hợp đồng
BMT và Nhà thầu trúng thầu sẽ hoàn thiện các điều khoản và ký kết hợp đồng thực hiện gói thầu Trong trường hợp không có Nhà thầu nào trúng thầu thì BMT cần làm
rõ nguyên nhân và tiến hành đấu thầu lại
Để đạt được hiệu quả cao thì BMT không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn được Nhà thầu tốt mà còn phải tiếp tục giám sát, theo dõi Nhà thầu trong quá trình thực hiện hợp đồng Với những gói thầu có yêu cầu kỹ thuật phức tạp hoặc có quy mô lớn thì BMT cần thiết phải thuê tổ chức tư vấn giám sát độc lập để đảm bảo tính khách quan
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả luận văn đã trình bày những nội dung tổng quát về dự án đầu
tư xây dựng Nêu được bản chất của công tác đấu thầu và các khái niệm liên quan, các phương thức và hình thức đấu thầu dự án đầu tư xây dựng hiện nay Tác giả đã nêu ra được những tồn tại cũng như những kết quả đạt được trong công tác đấu thầu ở nước
ta trong thời gian vừa qua Đồng thời trình bày những yêu cầu cơ bản cần đạt được đối với công tác đấu thầu xây dựng ở Ban QLDA công trình xây dựng Những nội dung trên sẽ là tiền đề để tác giả phân tích những nội dung về cơ sở khoa học trong đấu thầu trong Chương 2 tiếp theo
Trang 35CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU CÁC DỰ
ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
2.1 CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU
Luật xây dựng 2014 đã khắc phục những hạn chế tồn tại và có nhiều điểm mới phù hợp hơn so với Luật xây dựng 2003 như:
Hiện nay, đa số các dự án sử dụng vốn nhà nước đều lựa chọn áp dụng mô hình tổ chức ban quản lý dự án để trực tiếp quản lý từng dự án đầu tư xây dựng đơn lẻ Cách làm này dẫn đến gia tăng về số lượng ban quản lý dự án, nhưng hạn chế về năng lực
Để khắc phục, Luật đã bổ sung quy định hình thức ban quản lý chuyên nghiệp, ban quản lý khu vực đối với các công trình đầu tư công Không chỉ áp dụng với các dự án vốn ngân sách, những dự án chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cũng phải vận hành theo cơ chế này
Luật cũng tập trung vào vấn đề đổi mới kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng ở tất
cả các khâu của quá trình đầu tư Trong đó, yêu cầu cơ quan chuyên môn về xây dựng phải tăng cường kiểm soát quá trình xây dựng trong tất cả các khâu nhằm chống thất thoát lãng phí, nâng cao chất lượng công trình xây dựng Nhằm giúp giảm bớt đi nhiều
số lượng các ban quản lý dự án, tiết kiệm kinh phí, khắc phục tình trạng dự án kéo dài,
Trang 36đội giá, chất lượng kém, thất thoát
Phạm vi của Luật xây dựng điều chỉnh các hoạt động đầy tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao bảo hành, bảo trì các công trình xây dựng Áp dụng đối với các
dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn
Thống nhất quản lý nhà nước về trật tự xây dựng thông qua việc cấp giấy phép xây dựng, bảo đảm công khai, minh bạch về quy trình, thủ tục cấp giấy phép xây dựng Đặc biệt quy định việc cấp giấy phép xây dưng sẽ được thực hiện theo cơ chế một cửa liên thông nhằm rút ngắn thời gian, tránh gây phiền hà cho dân và doanh nghiệp
Luật Xây dựng sửa đổi xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư xây dựng, phân công, phân cấp hợp lý giữa các bộ, ngành, địa phương Theo
đó, những quy định mới ở nội dung này sẽ xác định xoay quanh nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương
2.1.2 Luật đấu thầu số 43/2013/QH13
Luật Đấu thầu 2013 (có hiệu lực từ 1/7/2014) đã thực hiện phân cấp triệt để trong đấu thầu Đồng thời quy định chặt chẽ về trách nhiệm giải trình của người có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, tránh tình trạng khép kín trong đấu thầu
Luật Đấu thầu 2013 được ban hành đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về mua sắm, sử dụng vốn Nhà nước, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của Nhà nước
Theo đó, Luật đã chú trọng ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, ưu đãi đối với nhà thầu và hàng hóa sản xuất trong nước
Luật Đấu thầu năm 2013 đã sửa đổi một số quy định hiện hành về ký kết, thực hiện và quản lý hợp đồng nhằm tăng cường trách nhiệm của nhà thầu và chủ đầu tư trong quá trình thực hiện hợp đồng, tránh tình trạng áp dụng loại hợp đồng không phù hợp với tính chất của gói thầu, điều chỉnh giá hợp đồng, điều chỉnh hình thức hợp đồng, điều
Trang 37chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng một cách tùy tiện, gây lãng phí…
Đặc biệt Luật đã thực hiện phân cấp triệt để trong đấu thầu.Đồng thời quy định chặt chẽ về trách nhiệm giải trình của người có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, tránh tình trạng khép kín trong đấu thầu
Luật Đấu thầu năm 2013 được đánh giá là có bước tiến trong việc tăng cường giám sát, xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu
Cụ thể, Luật Đấu thầu năm 2013 đã bổ sung quy định về yêu cầu giám sát của cộng đồng trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu và thực hiện theo hợp đồng, bổ sung trách nhiệm về giám sát của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cá nhân đối với từng loại hoạt động trong quá trình đầu thầu để có cơ sở quy định chế tài xử lý vi phạm tương ứng với từng hành
vi vi phạm
2.1.3 Luật đầu tư công số 49/2014/QH13
Luật đầu tư công ban hành ngày 18 tháng 06 năm 2014 được kết cấu thành 6 chương với 108 điều (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015) Luật quy định việc quản lý
và sử dụng các nguồn vốn đầu tư công, các tổ chức, cá nhân tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động đầu tư công, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công thuộc đối tượng
áp dụng của Luật
Luật Đầu tư công bao quát được việc quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư công, bao gồm các nguồn vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước, công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và tại nước ngoài
Luật đã thể chế hóa quy trình quyết định chủ trương đầu tư Từ điều 17 đến điều 37 luật quy định thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; điều kiện và trình tự, thủ tục quyết định chủ trương đầu tư đối với từng chương trình, dự án quan trọng quốc gia và
Trang 38Đổi mới mạnh mẽ công tác lập kế hoạch đầu tư; chuyển từ việc lập kế hoạch ngắn hạn, hàng năm sang kế hoạch trung hạn 5 năm, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
Tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự
án đầu tư công Đây cũng là lần đầu tiên công tác theo dõi, đánh giá thực hiện kế hoạch đầu tư và các chương trình, dự án đầu tư công được quy định trong Luật, phù hợp với thông lệ quốc tế
Theo đó, luật quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về đầu tư công Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến đề xuất chủ trương đầu tư; quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án; theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm và các chế tài xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân, cũng như người đứng đầu các tổ chức, cơ quan có liên quan đến quản lý đầu tư công
2.1.4 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP
Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 22/6/2014 gồm 15 Chương với 130 Điều quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu.Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2014 Thay thế Nghị định 85/2009/NĐ-
CP, Nghị định 68/2012/NĐ-CP, Quyết định 50/2012/QĐ-TTg Nghị định số
Trang 3963/2014/NĐ-CP có một số điểm mới nổi bật so với các quy định về đấu thầu trước đây, cụ thể như sau:
Một là, chính sách ưu đãi trong đấu thầu Để cụ thể hóa quy định các đối tượng được hưởng ưu đãi khi tham gia đấu thầu của Luật Đấu thầu năm 2013, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP đã quy định chi tiết về cách tính ưu đãi cho nhà thầu trong nước khi tham dự đấu thầu quốc tế, ưu đãi cho nhà thầu khi tham dự đấu thầu trong nước, ưu đãi cho hàng hóa trong nước
Hai là, các gói thầu dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp và hỗn hợp khi tổ chức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế được áp dụng theo phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt, việc mở thầu sẽ được tiến hành 2 lần, lần thứ nhất mở hồ sơ đề xuất
kỹ thuật để đánh giá mà không bị ảnh hưởng bởi đề xuất tài chính của nhà thầu Chỉ có những hồ sơ đề xuất kỹ thuật vượt qua bước đánh giá về kỹ thuật mới được mở hồ sơ
đề xuất về tài chính để đánh giá Quy định này sẽ khắc phục tình trạng nhà thầu có hồ
sơ dự thầu không đáp ứng đủ yêu cầu về kỹ thuật (đảm bảo đủ kinh nghiệm, năng lực, chất lượng…) nhưng vẫn trúng thầu vì bỏ giá thấp dẫn đến chất lượng các công trình không đáp ứng được yêu cầu của hồ sơ mời thầu
Ba là, hạn mức chỉ định thầu Theo đó, hạn mức chỉ định thầu đối với gói thầu dịch vụ
tư vấn, dịch vụ phi tư vấn có giá gói thầu không quá 500 triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có giá gói thầu không quá 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển (thấp hơn nhiều hạn mức chỉ định thầu tại Nghị định số 85/2009/NĐ-CP)
Để hạn chế chỉ định thầu tràn lan, đồng thời khuyến khích các nhà thầu tự nâng cao năng lực, kinh nghiệm, uy tín, tính cạnh tranh thông qua đấu thầu rộng rãi, Nghị định
số 63/2014/NĐ-CP đã giảm hạn mức chỉ định thầu; đồng thời mở rộng hạn mức chào hàng cạnh tranh (gói thầu dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp đơn giản, thông dụng có giá gói thầu không quá 5 tỷ đồng) để giúp chủ đầu tư, bên mời thầu thuận lợi hơn trong việc áp dụng hình thức này
Bốn là, phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu Luật Đấu thầu năm 2013 đã bổ sung một
số phương pháp mới trong đánh giá hồ sơ dự thầu so với Luật Đấu thầu năm 2005 Để
Trang 40cụ thể hóa các phương pháp đánh giá này, Nghị định số 63/2014/NĐ-CP đã quy định
cụ thể về tiêu chuẩn đánh giá tương ứng với từng loại phương pháp đánh giá, giúp chủ đầu tư, bên mời thầu có thêm các công cụ lựa chọn nhà thầu linh hoạt, hiệu quả
Năm là, đã cụ thể hóa nhiều quy định mới của Luật Đấu thầu năm 2013 về mua sắm tập trung, đấu thầu qua mạng, bổ sung nhiều quy định mới để giảm thiểu thủ tục hành chính cho nhà thầu - doanh nghiệp, tăng tính trách nhiệm của các đối tượng được phân cấp trong đấu thầu…
2.1.5 Nghị định 32/2015/NĐ-CP
Ngày 25/03/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 32/2015/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng Nghị định này có hiệu lực từ ngày 10/05/2015 và thay thế Nghị định 112/2009/NĐ-CP
Nghị định này quy định: Quản lý chi phí đầu tư xây dựng gồm: tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng, chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng, thanh toán và quyết toán hợp đồng xây dựng; thanh toán và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình; quyền và nghĩa vụ của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng
và nhà thầu tư vấn trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Cũng theo Nghị định này, việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng phải được thực hiện theo các căn cứ, nội dung, cách thức, thời điểm xác định tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu xây dựng, định mức xây dựng, giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng của công trình đã được người quyết định đầu tư, chủ đầu tư thống nhất sử dụng phù hợp với các giai đoạn của quá trình hình thành chi phí theo quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Nghị định này
Nghị định có một số điểm mới đáng chú ý như sau:
Về cấu trúc nghị định: bổ sung chương "Chi phí quản lý dự án và chi phí tư vấn đầu
tư xây dựng" (Không còn chương "Điều kiện năng lực của các tổ chức, cá nhân tư vấn quản lý chi phí")
Về một số khái niệm mới: xuất hiện các khái niệm như dự toán gói thầu, chi phí hạng