Do đó, trong thời gian qua Thành Phố Thủ Dầu Một có nhiều bước phát triển trong kinh tế, xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình giao thông trên địa bàn.Trên địa bàn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Lê Viễn Chi học viên lớp cao học 24QLXD11-CS2 chuyên ngành “Quản lý xây
dựng” niên hạn 2016 - 2018, Trường Đại học Thủy lợi – Cơ sở 2 Thành phố Hồ Chí Minh
Là tác giả luận văn thạc sĩ với đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất
lượng công trình xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Thành Phố Thủ
Dầu Một, Tỉnh Bình Dương” Tôi cam đoan các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Tp Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả
Lê Viễn Chi
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Xây dựng với đề tài: “Giải pháp hoàn thiện
công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây
dựng Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương” được hoàn thành với sự giúp đỡ
của Phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học, Khoa Công trình - Trường Đại học Thủy lợi, cùng các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp và gia đình
Học viên xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Võ Công Hoang và PGS TS Lê Trung Thành đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và cung cấp các kiến thức khoa học
cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc khoa Công trình, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học trường Đại học Thủy Lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho học viên hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của mình
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót
và rất mong nhận được hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, năm 2019
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TRONG XÂY DỰNG GIAO THÔNG 2
1.1 Hiện trạng giao thông vận tải đường bộ Việt Nam 4
1.1.1 Thực trạng vốn phát triển GTĐB Việt Nam 6
1.1.2 Nhu cầu vốn cho việc phát triển GTĐB Việt Nam 8
1.2 Quản lý chất lượng công trình giao thông 10
1.2.1 Khái niệm về chất lượng công trình 10
1.2.2 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng 10
1.2.3 Hệ thống hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các giai đoạn dự án hiện nay 12
1.3 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng ở nước ta và trên thế giới 13
1.3.1 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng giao thông ở nước ta hiện nay 13
1.3.2 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng trên thế giới 15
1.4 Một số tồn tại trong công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình giao thông hiện nay 17
1.4.1 Điểm qua hư hỏng tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình trong thời gian qua 18
1.4.2 Nguyên nhân……….26
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG THI CÔNG CÔNG TRÌNH 29
2.1 Cơ sở hệ thống văn bản pháp qui về Quản lý chất lượng công trình 29
2.2 Quản lý chất lượng thi công xây dựng và trách nhiệm các bên tham gia 35
2.2.1 Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng 35
2.2.2 Vai trò QLCLCTXD của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình 35
2.2.3 Trách nhiệm của các bên liên quan trong công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng 36
Trang 42.3 Các yêu cầu về chất lượng trong quá trình thi công đường giao thông đô thị 39
2.3.1 Đánh giá chất lượng vật tư, vật liệu, sản phẩm xây dựng 39
2.3.2 Công tác thi công nền đường 41
2.3.3 Công tác thi công móng đường (Móng cấp phối đá dăm) 43
2.3.4 Công tác thi công mặt đường bê tông nhựa chặt (BTNC) 47
2.4 Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) ảnh hưởng đến chất lượng công trình giao thông đô thị 61
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận 61
2.4.2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng và phân nhóm các yếu tố 65
2.5 Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến công tác quản lý chất lượng thi công các dự án giao thông đường bộ trên địa bàn Thành Phố Thủ Dầu Một 67
2.5.1 Thống kê kết quả khảo sát 67
2.5.2 Tỉ lệ của đối tượng được khảo sát 71
2.5.3 Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha 76
2.5.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 78
2.5.5 Hàm hồi quy chuẩn hóa 82
Kết luận chương 2 84
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC DỰ ÁN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 86
3.1 Giới thiệu Ban Quản lý đầu tư xây dựng công trình Thành Phố Thủ Dầu Một 86
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn: 86
3.1.2 Cơ cấu tổ chức – nhân sự 87
3.1.3 Trách nhiệm quyền hạn của tổ chức và cá nhân 90
3.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình giao thông đô thị trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một 94
3.2.1 Danh mục công trình giao thông do ban quản lý gần đây 94
3.2.2 Thực trạng về quản lý chất lượng công trình giao thông đô thị tại Ban 95
3.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình giao thông đô thị trên địa bàn Thành phố Thủ Dầu Một 97
3.3.1 Giải pháp về tổ chứcthực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng xây dựng 98
3.3.2 Nâng cao hiệu quả công tác đơn vị tư vấn giám sát 98
Trang 53.3.3 Yêu cầu về tư vấn thiết kế trong quá trình quản lý chất lượng công trình
giao thông đô thị 100
3.3.4 Yêu cầu năng lực kinh nghiệm và khả năng thi công của đơn vị xây lắp 100 3.3.5 Đổi mới quy trình quản lý chất lượng xây dựng của Ban QLDA 101
3.3.6 Nâng cao năng lực ban Quản lý đầu từ xây dựng công trình Thành phố Thủ Dầu Một 102
3.4 Đề xuất một số giải pháp khác cần lưu ý để nâng cao quản lý chất lượng 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
A KẾT LUẬN 105
B HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 106
C KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 109
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ 18
Hình 1.2: Sập nhịp cầu chợ Đệm tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương 19
Hình 1.3: Dự án đường sắt đô thị tuyến Cát Linh – Hà Đông 20
Hình 1.4: Dự án đường ô tô vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (Hải Phòng) lộ nhiều sai sót kỹ thuật 22
Hình 1.5: Thi công dầm thép cầu Vàm Cống 23
Hình 1.6: Vết nứt trên dầm ngang cầu Vàm Cống 23
Hình 1.8: Tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai 24
Hình 1.9: Tuyến đường Trường sơn đoạn qua tỉnh Gia Lai 24
Hình 1.11: Đường đại lộ Mai Chí Thọ - An Phú - Q2 - TP.HCM 25
Hình 2.1: Thành phần đơn vị từng công tác của các đối tượng được khảo sát 71
Hình 2.2: Kinh nghiệm làm việc trong ngành xây dựng của đối tượng được khảo sát 72
Hình 2.3: Vị trí công tác hiện tại của đối tượng được khảo sát 73
Hình 2.4: Loại dự án các đối tượng được khảo sát từng tham gia công tác 74
74
Hình 2.5: Các đối tượng được khảo sát có biết về quản lý chất lượng công trình hay không 74
Hình 2 6: Sự cần thiết về quản lý chất lượng xây dựng trong dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông kỹ thuật 75
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tổng hợp các loại giao thông đường bộ 5
Bảng 1.2 Thực trạng tính theo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông [15] 6
Bảng 1.3 Thực trạng vốn đầu vào ngành Đường bộ so với các ngành khác [16] 7
Bảng 1.4 Dự kiến nhu cầu vốn cho phát triển GTĐB từ năm 2015 - 2020 [16] 8
Bảng 1.6 Vốn nâng cấp, mở rộng QL1, đường Hồ Chí Minh [16] 9
Bảng 1.7 Vốn đầu tư phát triển đường cao tốc [16] Đơn vị: Tỉ đồng 9
Bảng 1.8 Vốn đầu tư đường bộ ven biển, đường tỉnh, đường bộ đô thị (HN&HCM), đường GTNT [16] 9
Bảng 2.1 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động xây dựng 30
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá vật liệu phối trộn tại công trường 40
Bảng 2-2: Kiểm tra chất lượng vật liệu đất đắp nền đường 42
Bảng 2-3: Kiểm tra vật liệu cấp phối đá dăm trước và trong quá trình thi công 44
Bảng 2-4:Yêu cầu về kích thước hình học và độ bằng phẳng của lớp móng bằng CPĐD 47
Bảng 2-5: Các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu với bê tông nhựa chặt (BTNC) 48
Bảng 2-6: Các chỉ tiêu cơ lý quy định cho đá dăm 49
Bảng 2- 7: Các chỉ tiêu cơ lý quy định cho cát 51
Bảng 2-8: Các chỉ tiêu cơ lý quy định cho bột khoáng 52
Bảng 2-9: Các chỉ tiêu của bột khoáng 52
Bảng 2-10: Các chỉ tiêu cơ lý quy định cho nhựa đường 54
Bảng 2-11: Kiểm tra vật liệu trong quá trình sản xuất hỗn hợp bê tông nhựa 56
Bảng 2-12: Kiểm tra tại trạm trộn 57
Bảng 2-13: Kiểm tra trong khi thi công lớp bê tông nhựa 58
Bảng 2-14: Sai số cho phép của các đặc trưng hình học 59
Bảng 2- 15: Tiêu chuẩn nghiệm thu độ bằng phẳng 60
Bảng 2-16: Tiêu chuẩn nghiệm thu độ nhám mặt đường 60
Bảng 2-17: Thống kê về thông tin khảo sát 68
Bảng 2-18: Thống kế mức độ ảnh hưởng của các yếu tố 70
Bảng 2-19: Số trường hợp tính toán 76
Bảng 2-20: Tổng thống kê các yếu tố 76
Bảng 2-21: Số trường hợp tính toán 77
Bảng 2-22: Tổng thống kê các yếu tố 78
Bảng 2-23: Kết quả kiểm định KMO and Bartlett 78
Bảng 2-24 Ma trận nhận tố đã xoay 79
Bảng 2-25 KMO and Bartlett's Test 79
Bảng 2-26 Ma trận nhân tố xoay 80
Bảng 3.1 Thống kê tình hình thực hiện các dự án năm 2017-2018 94
Trang 8- CLCTXD : Chất lượng công trình xây dựng
- CĐT-BQL : Chủ đầu tư Ban quản lý
- NSNN : Ngân sách nhà nước
- QLCLXD : Quản lý chất lượng xây dựng
- QLCL : Quản lý chất lượng
- TVGS : Tư vấn giám sát
- BTN : Bê tông nhựa
- GTVT : Giao thông vận tải
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trên thực tế phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới đã cho thấy không một nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện nếu không có một nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc Bên cạnh đó, để có được cơ sở hạ tầng vững chắc thì công tác quản lý thi công giữ vai trò quan trọng quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng cho một nền kinh tế
Để quản lý tốt chất lượng công trình, trước hết cần phải xác định rõ quản lý chất lượng công trình xây dựng bao gồm nhiều nội dung từ khâu quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu
tư, thực hiện đầu tư đến kết thúc đầu tư
Quản lý chất lượng công trình xây dựng trong quá trình thi công đang được đặt lên hàng đầu trong công tác quản lý dự án Nâng cao chất lượng trong quá trình thi công trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi sự tham gia của nhiều đơn vị từ Chủ đầu tư, Tư vấn giám sát, Tư vấn thiết kế, Nhà thầu xây dựng vai trò địa phương có dự án, tham gia giám sát cộng đồng Các hoạt động quản lý chất lượng cần phải được quan tâm ngay từ đầu để tránh xảy
ra các vấn đề liên quan đến chất lượng mới tìm cách xử lý khắc phục
Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước Với vị trí thuận lợi, Bình Dương có điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa với các tỉnh và cả nước, thu hút đầu tư, tiếp nhận các thông tin và công nghệ tiên tiến để hình thành các khu công nghiệp và đô thị lớn, có tiềm năng lớn và nhiều lợi thế để tham gia vào quá trình liên kết, hợp tác và phát triển với các địa phương trong nước và quốc tế Thành phố Thủ Dầu Một hiện nay là đô thị loại I của Tỉnh Bình Dương, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km Thủ Dầu Một có các trục đường chính như quốc lộ 13 hay còn gọi là Đại Lộ Bình Dương (lộ giới 36m, quy mô
06 làn xe) kết nối TP.HCM và các tỉnh Tây Nguyên, đường Mỹ Phước - Tân Vạn (đã mở rộng 32m, quy mô 06 làn xe, lộ giới quy hoạch 64m) là con đường vận chuyển hàng hóa huyết mạch của tỉnh Bình Dương kết nối TP.HCM và các KCN của tỉnh, đường Phạm Ngọc Thạch - Hùng Vương (quy 08 - 10 làn xe) kết nối khu đô thị hiện hữu và khu đô thị thành phố Mới Ngoài ra còn hệ thống các đường tỉnh như ĐT 741 (Nguyễn Văn Thành),
ĐT 742 (Huỳnh Văn Lũy), 743 (Phú Lợi), ĐT 744 (Nguyễn Chí Thanh), quy mô từ 04 -
06 làn xe kết nối các các huyện, thị lân cận và hệ thống các các đường nội thị được đầu tư
cơ sở hạ tầng hoàn thiện Các tuyến đường quy hoạch trong tương lai: đường cao tốc
Trang 10TP.HCM - Thủ Dầu Một - Chơn Thành, tuyến xe buýt nhanh từ thành phố mới Bình Dương kết nối với Suối Tiên, metro kết nối TP.HCM và thành phố mới Bình Dương
Do đó, trong thời gian qua Thành Phố Thủ Dầu Một có nhiều bước phát triển trong kinh
tế, xã hội và đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình giao thông trên địa bàn.Trên địa bàn Thành Phố Thủ Dầu Một, Thành Phố Thủ Dầu Một hiện có một số công trình giao thông sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước do Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng của Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thực hiện quản lý Trong quá trình triển khai thực hiện thi công tại nhiều công trình xây dựng vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, vẫn bộc lộ nhiều sai sót trong quản lý nói chung và trong từng khâu từ quy hoạch xây dựng đến kết thúc đầu tư, hậu quả rất nhiều công trình xảy ra sự cố trong quá trình xây dựng, trong quản lý vận hành, làm thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân đáng kể
Vì lý do trên, tôi lựa chọn đề tài có tiêu đề là: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu công tác quản lý chất lượng dự án xây dựng công trình giao thông của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Thành Phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, từ đó xác định các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nâng cao công tác quản lý cho Ban quản lý dự
án công trình giao thông tại Thành Phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
3 Phạm vi nghiên cứu và Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
- Hoàn thiện quản lý chất lượng công trình giao thông
Đối tượng nghiên cứu
- Ban quản lý dự án thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đánh giá tổng quan
- Thu thập và điều tra số liệu
- Phân tích số liệu xác định yếu tố ảnh hưởng bằng phương pháp SPSS
5 Ý Nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Hệ Thống hóa cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình giao thông
Trang 11Ý Nghĩa thực tiễn: Đề xuất Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Thành Phố Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương và có thể áp dụng cho các ban có chức năng tương tự
6 Kết quả đạt được
- Xác định các nhân tố và nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng trên phương diện chủ đầu tư, xếp hạng ảnh hưởng các nhân tố được xác định
- Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng thi công các dự án giao thông đường bộ trên địa bàn Thành Phố Thủ Dầu Một một cách có hệ thống đối với các bên tham gia vào thi công (như tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công, …) và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Thành Phố Thủ Dầu Một
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH
TRONG XÂY DỰNG GIAO THÔNG 1.1 Hiện trạng giao thông vận tải đường bộ Việt Nam
Việt Nam đang trên đà hội nhập và phát triển Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu đó, một trong những lĩnh vực trọng tâm đã và đang được nhà nước tập trung đầu tư với tỷ trọng lớn đó là xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông hiện đại từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong thời điểm hiện tại và tương lai
Đặc thù của lãnh thổ Việt Nam là hẹp và kéo dài từ Bắc vào Nam, nước ta có hệ thống giao thông bao gồm đầy đủ các phương thức vận tải như đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển và đường hàng không
Hiện nay do mật độ phát triển dân số ngày càng cao, nhất là ở các thành phố đô thị, nhu cầu vận chuyển đi lại lớn đã kéo theo đó là tình trạng tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường xảy ra khá phổ biến Do vậy việc đáp ứng đủ cơ sở hạ tầng giao thông đang là một vấn đề cấp thiết đặt ra đòi hỏi nhà nước cần có những giải pháp toàn diện và hiệu quả Trong những năm gần đây với sự tập trung đầu tư lớn của Nhà nước từ nhiều nguồn vốn: vốn ngân sách, vốn vay tín dụng và nguồn vốn xã hội…, trên khắp cả nước đã có
sự phát triển vượt bậc về số lượng công trình cơ sở hạ tầng giao thông Nhiều công trình
có quy mô lớn đã hoàn thành đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả to lớn về kinh tế và xã hội ví dụ như đường Hồ Chí Minh, hầm Hải Vân, cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, đường cao tốc Láng – Hòa Lạc, hầm vượt sông Sài Gòn, tuyến Cao tốc Nội Bài - Lào Cai, cầu Nhật Tân…hiện có rất nhiều công trình lớn đang được triển khai xây dựng như TP HCM
- Long Thành - Dầu Giây, Bến Lức - Long Thành, Đà Nẵng - Quảng Ngãi, Hà Nội - Hải Phòng và đang xúc tiến chuẩn bị đầu tư tuyến Dầu Giây - Phan Thiết theo hình thức PPP Trong số này, dự án thành phần 2 của cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây
đã hoàn thành và đưa vào khai thác đoạn km4+000 - km23+900, hiện Tổng công ty Đầu
tư phát triển đường cao tốc VN (VEC) đang tăng tốc triển khai nốt đoạn Km23+900 - Km54+983 Các tuyến đường sắt cao tốc nội đô, đường sắt cao tốc Bắc Nam Khởi động
dự án Cầu Đại Ngãi và cầu Châu Đốc
Theo Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT đường bộ đến năm 2020 và định hướng đến 2030, hiện trạng GTĐB của Việt Nam được tổng kết như sau [3]:
Tổng chiều dài đường bộ nước ta hiện có trên 258.200 km, trong đó, quốc lộ và cao tốc
Trang 1318.744 km, chiếm 7,26%; đường tỉnh 23.520 km, chiếm 9,11%; đường huyện 49.823
km, chiếm 19,30%; đường xã 151.187 km, chiếm 58,55%; đường đô thị 8.492 km, chiếm 3,29% và đường chuyên dùng 6.434 km, chiếm 2,49%
Bảng 1.1: Tổng hợp các loại giao thông đường bộ
Về tiêu chuẩn kỹ thuật: đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao (cao tốc, cấp I, cấp II) chiếm tỷ trọng rất thấp chỉ đạt 7,51% Tỷ lệ đường đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cấp III, cấp IV chiếm 77,73%; còn lại đường có tiêu chuẩn kỹ thuật thấp (cấp V, cấp VI) chiếm tỷ lệ là 14,77% Qua thực trạng số liệu trên cho thấy, tổng chiều dài đường bộ nước ta đến năm 2010 hiện
có khoảng 258.200km Trong đó, hệ thống QL gồm 104 tuyến QL, 5 đoạn tuyến cao tốc với tổng chiều dài 18.744km Mạng lưới GTĐB được phân phối tương đối hợp lý khắp cả nước và cải thiện rõ rệt trong những năm qua
Tuy nhiên, trên thực tế, đến năm 2010, đường bộ Việt Nam có quy mô nhỏ bé, tiêu chuẩn
kĩ thuật thấp Tính riêng QL tỉ lệ đường có quy mô 4 làn trở nên có khoảng 1.050km, chiếm 6%; đường 1 làn xe khoảng 3.620km, chiếm 20,8%; chất lượng mặt đường xấu: Tỉ
lệ QL tốt đạt 7.485km, chiếm 43%; trung bình 6.383km, chiếm 37%; tỉ lệ đường xấu và rất xấu 3.571km, chiếm 20% Nhiều đoạn tuyến QL chưa đảm bảo tiêu chuẩn kĩ thuật: Trên các tuyến QL có khoảng trên 400 đèo dốc, trong đó có khoảng 100 đèo nguy hiểm, đường quanh co khúc khuỷu, có nhiều cua gấp, tầm nhìn hạn chế, độ dốc lớn phổ biến từ
10 ÷ 12% (có nơi dốc hơn 15%), thiếu cầu vượt sông Hiện nay, trên toàn tuyến QL và tỉnh lộ có 7.234 cầu/187.287km, trong đó cầu vĩnh cửu chiếm khoảng 70% Các tuyến đường bộ kết nối các phương thức vận tải khác chưa tốt, các tuyến đường bộ kết hợp nối với cảng biển lớn đang trong tình trạng quá tải, tiêu chuẩn kĩ thuật thấp
Trang 14Mạng lưới đường bộ Việt Nam tính đến tháng 02/2014 có khoảng 300.000km đường các loại, chia thành QL, đường tỉnh, đường huyện, đường xã và đường chuyên dùng
Hệ thống QL của Việt Nam tính đến thời điểm tháng 02/2014 có chiều dài khoảng 19.457km và gần 5.000 cầu đường bộ Đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao và trung bình (cấp I, II, III) chiếm 47%, còn lại 53% là đường cấp thấp (cấp IV chiếm 32%, cấp V chiếm 21%) Tỷ lệ đường có chiều rộng nền, mặt đường theo đúng cấp kỹ thuật còn thấp, chủ yếu có yếu tố hình học về bán kính cong, chiều rộng châm chước; chiều rộng mặt đường ≥7m có khoảng 46%, mặt đường 5 ÷ 6,9m khoảng 33%, khoảng 21% còn lại là mặt đường có bề rộng dưới 5m
Tính đến năm 2014, hệ thống đường bộ đã được thay đổi và phát triển nhiều, đặc biệt là
hệ thống đường cao tốc Đường cao tốc đã được hoàn thành nhiều, nâng tầm phát triển của GTĐB lên một tầm cao, thể hiện sự hiện đại và phát triển
1.1.1 Thực trạng vốn phát triển GTĐB Việt Nam
Bảng 1.2 Thực trạng tính theo nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông [15]
1 Ngân sách nhà nước và vay nước ngoài 52.07 35,71
3 Huy động ngoài Ngân sách nhà nước 33.8 23,18
Qua bảng số liệu trên cho thấy, cơ cấu nguồn vốn cho phát triển hạ tầng giao thông đã được huy động từ nhiều nguồn khác nhau Nguồn vốn NSNN chiếm tỉ trọng lớn song không phải là nguồn chủ yếu, quyết định Vốn ngoài ngân sách đã chiếm một tỉ lệ lớn cho thấy các lực lượng (nhà đầu tư) đã và đang đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng giao thông Đây
có thể sẽ là một nguồn quan trọng trong tương lai
Nguồn trái phiếu Chính phủ chiếm tỉ lệ lớn nhất, cho thấy sự đóng góp của nhân dân là
vô cùng quan trọng Qua biểu đồ trên có thể thấy rằng, nếu có sự đồng thuận cao giữa Nhà nước và nhân dân, các nhà đầu tư thì chúng ta có thể huy động đủ vốn cho phát triển
hạ tầng giao thông
Trang 15Bảng 1.3 Thực trạng vốn đầu vào ngành Đường bộ so với các ngành khác [16]
1 Ngành Đường bộ 127.741 (vốn vay nước ngoài 27.646) 87,60
2 Ngành Hàng hài 11.278 (vổn vay nước ngoài 3.962) 7,73
3 Ngành Đường sắt 2.860 (vốn vay nước ngoài 313) 1,96
5 Ngành Đường sông 1.648 (vốn vay nước ngoài 259) 1,13
Cơ cấu nguồn vốn theo Ngành giai đoạn 2001 - 2010 phát triển cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư ở các ngành (Đường bộ, Đường biển, Đường sắt, Đường sông, Hàng không), tuy nhiên, tổng số vốn đầu tư cho GTĐB là chiếm nhiều nhất (87,6%) Điều này cho thấy tính cấp thiết, nhu cầu của việc phát triển GTĐB Mặc dù trong nhiều năm đầu tư như vậy
và với nguồn vốn lớn song hiện nay GTĐB vẫn còn thiếu nhiều, cần mở rộng, phát triển mới, nâng cấp và sửa chữa thì mới đáp ứng được nhu cầu phát triển giao thông cho đất nước
Bên cạnh đó, vốn đầu tư cho công tác bảo trì QL luôn thiếu trầm trọng, chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu Năm 2013, kinh phí cấp cho công tác bảo trì QL chỉ là 4.187 tỷ đồng/nhu cầu là 11.063 tỷ đồng, đạt 38% (không bao gồm các khoản chi liên quan khác như: Chi xử lý trạm thu phí, trả nợ QL5; trả nợ các dự án vay vốn đầu tư theo văn bản 3170/KTN của TTCP, mua trạm cân di động…)
Năm 2014, kinh phí cấp cho công tác bảo trì cũng chỉ được 4.640 tỷ đồng/nhu cầu là 12.360 tỷ đồng, đạt 38% Với nguồn vốn hạn hẹp như vậy nên công tác bảo trì đường bộ thiếu sự chủ động: Hỏng đâu sửa đấy, không thực hiện sửa chữa theo quy định về sửa chữa định kỳ (trung, đại tu) để đảm bảo ngăn chặn sự xuống cấp của công trình (trong tổng số 19.100km QL, có: 9.937km quá thời hạn sửa chữa lớn 8 năm và 2.577km đến hạn phải sửa chữa vừa 4 năm)
Ngoài ra việc phải thực hiện khắc phục bão lũ bước 1 hàng năm rất lớn với thiệt hại từ
200 - 500 tỷ đồng, phải cân đối trong kế hoạch vốn cấp hàng năm càng làm việc thiếu vốn của BTĐB thêm trầm trọng
Trang 161.1.2 Nhu cầu vốn cho việc phát triển GTĐB Việt Nam
Bảng 1.4 Dự kiến nhu cầu vốn cho phát triển GTĐB từ năm 2015 - 2020 [16]
Bảng 1.5 Dự kiến nhu cầu vốn phát triển GTĐB đến năm 2020 theo các loại hình GTĐB
[16] Quốc lộ (không bao gồm QL1, đường HCM)
Trang 17Bảng 1.6 Vốn nâng cấp, mở rộng QL1, đường Hồ Chí Minh [16]
Qua bảng số liệu trên, đường bộ cao tốc khoảng cần đến 446.289 tỷ đồng, bình quân 49.092 tỷ đồng/năm, trong đó riêng cao tốc Bắc Nam phía Đông cần 209.173 tỷ đồng, bình quân 26.147 tỷ đồng/năm Đường bộ cao tốc là yêu cầu thực tiễn của một đất nước phát triển, vì vậy cũng cần thiết phải đầu tư để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nhanh, theo kịp quốc tế
Bảng 1.7 Vốn đầu tư phát triển đường cao tốc [16] Đơn vị: Tỉ đồng
(km)
Giá trị (Triệu đồng)
A Các dự án đã hoàn thành ( 5 tuyến) 167
B Các dự án hoàn thành giai đoạn 2013 -
2020
1.851 446.289.669
1 Cao tốc Bắc - Nam (10 tuyến) 776 209.172.796
4 Vành đai Hà Nội, TP HCM (3 tuyến) 94,6 45.744.331
Trang 18Với tất cả các loại hình giao thông này đều cần đến nguồn vốn để phát triển đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước không ngừng
1.2 Quản lý chất lượng công trình giao thông
1.2.1 Khái niệm về chất lượng công trình
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế Ví dụ: một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng
Xuất phát từ sơ đồ này, việc phân công quản lý cũng được các quốc gia luật hóa với nguyên tắc: Những nội dung “phù hợp” (tức là vì lợi ích của xã hội, lợi ích cộng đồng) do Nhà nước kiểm soát và các nội dung “đảm bảo” do các chủ thể trực tiếp tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng (chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, tư vấn kiểm định và các nhà thầu thi công xây dựng) phải có nghĩa vụ kiểm soát
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên, nó là kết quả tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này “Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức đảm bảo chất lượng”
Việc định hướng và kiểm soát về chất lượng thường bao gồm lập chính sách, mục tiêu, hoạch định, kiểm soát, đảm bảo và cải tiến chất lượng
1.2.2 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng
Kiểm tra chất lượng công trình xây dựng
Một phương pháp phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với qui định là bằng cách kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận nhằm sàng lọc và loại ra bất cứ một
bộ phận nào không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật Theo định nghĩa, kiểm tra
Trang 19chất lượng là hoạt động như đo, xem xét , thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính Như vậy kiểm tra chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý
“chuyện đã rồi” Và vào những năm 1920 người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Khái niệm kiểm soát chất lượng Quality Control – QC ra đời
Kiểm soát chất lượng QC
Theo định nghĩa, kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng Để kiểm soát chất lượng, kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm.Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm kém chất lượng
Kiểm soát chất lượng toàn diện TQC
Thuật ngữ kiểm soát chất lượng toàn diện Total Quality Control–TQC được Feigenbaum định nghĩa như sau: Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nỗ lực phát triển, duy trì và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau vào trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép hoàn toàn thỏa mãn khách hàng Quản lý chất lượng toàn diện TQM: TQM được định nghĩa là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mỗi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội
Mô hình quản lý chất lượng theo hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM
Giáo sư Nhật Bản Histoshi Kume (Nhật) : Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là một dụng pháp quản lý đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bền vững của một
tổ chức thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả các thành viên nhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng ISO 8402: 1994: Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt được sự thành công lâu dài nhờ việc thỏa mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho các thànhviên của tổ chức đó và cho xã hội
Mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất cho phép Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi khía
Trang 20cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phân và mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra
1.2.3 Hệ thống hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các giai đoạn
dự án hiện nay
Quản lý chất lượng công trình là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình
Theo Nghị định 46/2015/NĐ – CP ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, xuyên suốt các giai đoạn từ khâu khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình Nếu tạm gác vấn đề quy hoạch sang một bên thì hệ thống hoạt động quản
lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác Có thể gọi chung là công tác giám sát là giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tùy theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ Có thể tóm tắt về nội dung và chủ thể giám sát theo các giai đoạn của dự án xây dựng:
Trong giai đoạn khảo sát ngoài sự giám sát của chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát xây dựng cần phải có chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát
Trong quá trình thiết kế, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu
Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng công trìnhvà nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư, giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
Trong giai đoạn bảo hành, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó.Ngoài ra còn có giám sát của nhân dân về chất lượng công trình xây dựng.Có thể nói quản lý chất lượng cần được coi trọng trong tất cả các giai đoạn từ giaiđoạn khảo sát thiết kế thi công cho tới giai đoạn bảo hành công trình xây dựng
Trang 211.3 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng ở nước ta và trên thế giới
1.3.1 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng giao thông ở nước ta hiện nay
Hệ thống tổ chức quản lý ngành giao thông vận tải
- Trong hệ thống tổ chức quản lý ngành giao thông đường bộ Việt Nam thì Cục Đường
bộ Việt Nam là tổ chức trực thuộc Bộ GTVT thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành giao thông vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước
- Cục Đường bộ Việt Nam có tư cách pháp nhân, có con dấu, được hưởng kinh phí từ ngân sách Nhà nước, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội
Tên giao dịch viết bằng tiếng Anh:Vietnam RoadAd ministration, viết tắt là VRA
- Cục Đường bộ Việt Nam thông qua các Khu quản lý đường bộ để quản lý hệ thống quốc lộ và thông qua các cơ quan giao thông vận tải địa phương để quản lý hệ thống đường địa phương và các đoạn, tuyến quốc lộ được ủy thác
Quản lý hệ thống quốc lộ:
- Nhiệm vụ quản lý hệ thống quốc lộ được giao cho các Khu quản lý đường bộ
* Khu quản lý đường bộ là tổ chức trực thuộc Bộ, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được
mở tài khoản riêng tại ngân hàng, có con dấu riêng và hoạt động theo điều lệ, quy chế
do Bộ quy định
- Quản lý hệ thống quốc lộ hiện nay gồmcó:
+ Khu quản lý đường bộ II: Trụ sở chính tại Hà Nội, quản lý các tuyến quốc lộ thuộc các tỉnh phía Bắc và về phía Nam đến hết địa phận tỉnh Ninh Bình
+ Khu quản lý đường bộ IV: Trụ sở chính tại thành phố Vinh – tỉnh Nghệ An, quản lý các tuyến quốc lộ thuộc địa phận tỉnh Thanh Hóa và về phía Nam đến hết địa phận tỉnh Thừa Thiên Huế (đèo HảiVân)
+ Khu quản lý đường bộ V: Trụ sở chính tại Đà Nẵng, quản lý các tuyến quốc lộ thuộc các tỉnh từ Đà Nẵng vào đến hết địa phận tỉnh Khánh Hòa và các tỉnh Tây Nguyên + Khu quản lý đường bộ VII: Trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh, quản lý các tuyến quốc lộ thuộc các tỉnh từ Ninh Thuận trở vào và toàn bộ các tỉnh phía Nam
- Khu quản lý đường bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình thông qua các đơn vị nội
bộ là các Công ty công ích sửa chữa và quản lý đườngbộ
* Công ty công ích sửa chữa & quản lý đường bộ là đơn vị trực thuộc Khu quản lý
đường bộ, thừa hành nhiệm vụ quản lý giao thông đường bộ, thực hiện bảo dưỡng sửa
Trang 22chữa thường xuyên, trung đại tu đường bộ và XDCB Đồng thời phối hợp với các địa phương để đảm bảo giao thông trên địa bàn quản lý
+ Tổ chức nội bộ của Công ty công ích sửa chữa và quản lý đường bộ gồm có : Đội quản lý đường bộ (Hạt QLĐB), Đội XDCB, Thanh tra giao thông, Đội xe máy thiết bị
* Tổ chức của các Đội quản lý đường bộ (Hạt QLĐB) bao gồm các Tổ quản lý đường bộ (Cung ĐB) và bộ phận Tuần đường
1.3.2 Quản lý hệ thống đường địa phương (bao gồm đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị) và các đoạn, tuyến quốc lộ được Trung ương ủy thác quản
lý
- Đây là một trong số các nhiệm vụ của UBND các tỉnh và thành phố, UBND các tỉnh và thành phố thông qua các Sở GTVT để thực hiện nhiệm vụ của mình
* Sở GTVT là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, có trách nhiệm giúp UBND tỉnh
quản lý Nhà nước về lĩnh vực GTVT trong phạm vi toàn tỉnh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ GTVT
+ Sở GTVT thông qua các Công ty quản lý và xây dựng đường bộ (Đoạn QLĐB) để thực hiện nhiệm vụ quản lý các tuyến đường tỉnh, đường đô thị, các đoạn, tuyến quốc lộ được
ủy thác
*Công ty quản lý & xây dựng đường bộ là tổ chức doanh nghiệp Nhà nước hoạt động
công ích có các chức năng chính sau:
Chức năng tham mưu và quản lý về lĩnh vực Giao thông đường bộ:
- Thực hiện nhiệm vụ theo các Nghị định của Nhà nước về lĩnh vực quản lý hành lang bảo vệ công trình giao thông đường bộ và trật tự an toàn giao thông
Các Công ty quản lý và xây dựng đường bộ thực hiện nhiệm vụ công ích theo kế hoạch Nhà nước giao hang năm:
- Quản lý, bảo dưỡng sửa chữa cầu, cống, đường quốc lộ và tỉnh lộ trong phạm vi được giao quảnlý
- Sản xuất, sửa chữa lắp đặt và bảo vệ các công trình thiết bị phương tiện phục vụ an toàn giao thông trong phạm vi quảnlý
Chức năng quản lý Kinh tế – Kỹ thuật ngành:
- Thực hiện đúng các chế độ, chính sách, định mức, của Nhà nước
Trang 23Các cơ quan này có trách nhiệm trực tiếp quản lý các tuyến đường huyện và xây dựng, chỉ đạo lực lượng nhân dân làm đường và bảo vệ đường ở các xã do UBND và các HTX nông nghiệp phụ trách
1.3.3 Công tác về quản lý chất lượng xây dựng trên thế giới
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng
là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan nhà nước thẩm định, xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người có chức trách thực hiện giám sát xây dựng nhà nước có quyền tự
a Hoa Kỳ
Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản vì
Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu thiết kế, thi công tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành, chứng chỉ do Chính phủ cấp, kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên,
Trang 24phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
b Liên bang Nga
Luật xây dựng đô thị của Liên bang Nga quy định khá cụ thể về quản lý chất lượng công trình xây dựng Theo đó, tại Điều 53 của Luật này, giám sát xây dựng được tiến hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản nhằm kiểm tra
sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết kế, với các quy định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ đồ mặt bằng xây dựng của khu đất.Giám sát xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng Chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra sự phù hợp các công việc đã hoàn thành với hồ sơ thiết kế Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan giám sát xây dựng nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xây dựng Việc giám sát phải được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng công trình, căn cứ vào công nghệ kỹ thuật xây dựng
và trên cơ sở đánh giá xem công trình đó có bảo đảm an toàn hay không Việc giám sát không thể diễn ra sau khi hoàn thành công trình Khi phát hiện thấy những sai phạm về công việc, kết cấu, các khu vực kỹ thuật công trình,chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể yêu cầu giám sát lại sự an toàn các kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình sau khi loại bỏ những sai phạm đã có Các biên bản kiểm tra các công việc, kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình được lập chỉ sau khi đã khắc phục được các sai phạm Việc giám sát xây dựng của cơ quan nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình xây dựng cơ bản mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các cơ quan nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mẫu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồdo ra vào đi lại tại các công trình xây dựng cơ bản trong thời gian hiệu lực giám sát xây dựng nhà nước
c.Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu thực hiện giám sát trong lĩnh vực xây dựng công trình từ những năm
1988 Vấn đề quản lý chất lượng công trình được quy định trong luật xây dựng Trung Quốc Phạm vi giám sát xây dựng các hạng mục công trình của Trung Quốc rất rộng, thực hiện ở các giai đoạn, như: giai đoạn nghiên cứu tính khả thi thời kỳ trước khi xây dựng, giai đoạn thiết kế công trình, thi công công trình và bảo hành công trình - giám sát các công trình xây dựng, kiến trúc Người phụ trách đơn vị giám sát và kỹ sư giám sát đều không được kiêm nhiệm làm việc ở cơ quan nhà nước Các đơn vị thiết kế và thi công,
Trang 25đơn vị chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư của công trình đều chịu sự giám sát
Quy định chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công công trình phải phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn Nhà nước Nhà nước chứng nhận hệ thống chất lượng đối với đơn vị hoạt động xây dựng Tổng thầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng trước chủ đầu tư Đơn
vị khảo sát, thiết kế, thi công chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình thực hiện, chỉ được bàn giao công trình đưa vào sử dụng sau khi đã nghiệm thu Quy định về bảo hành, duy tu công trình, thời gian bảo hành do Chính phủ quy định
Đối với hai chủ thể quan trọng nhất là Chính quyền và các tổ chức cá nhân làm ra sản phẩm xây dựng, quan điểm của Trung Quốc thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật xây dựng là “Chính quyền không phải là cầu thủ và cũng không là chỉ đạo viên của cuộc chơi Chính quyền viết luật chơi, tạo sân chơi và giám sát cuộc chơi”
d Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, Chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn về phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản l giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc
Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các
cá nhân để được các Chủ đầu tư giao việc
1.4 Một số tồn tại trong công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình giao thông hiện nay
Đánh giá tổng quát về chất lượng công trình giao thông trong những năm vừa qua
Những năm vừa qua, các nguồn lực dành cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông
Trang 26được tăng cao Mỗi năm trong ngành giao thông đưa vào khai thác hàng ngàn km đường
bộ, hàng trăm chiếc cầu đường bộ, đường sắt, cùng các cảng biển, cảng hàng không và những tuyến đường thủy (Ví dụ, trong năm 2009 đã xây dựng mới và cải tạo khoảng 750km đường bộ, trên 20km cầu và các công trình khác, đưa vào sử dụng trên 30 dự án, khối lượng thực hiện khoảng 33.000 tỷ đồng; trong năm 2010 đã xây dựng mới và cải tạo khoảng 1.000km đường bộ, trên 8.700m cầu, các công trình nhà ga, sân đỗ , đưa vào sử dụng trên 30 dự án, khối lượng thực hiện khoảng 39.000 tỷ đồng) Các công trình xây dựng đưa vào sử dụng đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới Nhìn chung chất lượng công trình tại các dự án đầu tư khi đưa vào khai thác đã đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên cũng có không ít dự án khi vừa mới đưa vào sử dụng đã xuất hiện những hư hỏng tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình, kể cả trong quá trình xây dựng, gây bức xúc cho xã hội
1.4.1 Điểm qua hư hỏng tại một số hạng mục hoặc bộ phận công trình trong thời gian qua
1.4.1.1 Trong quá trình xây dựng:
Trong quá trình thi công xây dựng, đã xảy ra những hư hỏng tại một số dự án như: Lún sụt nền đường, sạt lở ta luy nền đường, lún và sụt lở đường hai đầu cầu, mặt đường bị rạn nứt hoặc bong bật; Mố cầu bị chuyển vị, dầm cầu bị nghiêng đổ trong quá trình thi công, sập đà giáo thi công , Một số hình ảnh xảy ra sự cố trong quá trình thi công:
a Công trình: Nhịp dẫn Cầu Cần Thơ
Hình 1.1: Sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ
Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ là một trong những thảm họa cầu đường và tai nạn xây dựng nghiêm trọng nhất tại Việt Nam xảy ra vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại xã Mỹ Hòa, thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long Hai nhịp cầu dẫn cao khoảng 30 mét giữa ba trụ cầu đang được xây dựng thì bị đổ sụp, kéo theo giàn giáo cùng nhiều công nhân, kỹ sư đang làm việc xuống đất
Trang 27Nguyên nhân: Theo kết quả điều tra, sự cố xảy ra trong quá trình thi công tại hai nhịp
neo của cầu Cần Thơ, mỗi nhịp dài 40 m Qua kiểm tra địa chất, hàng cọc gần phía trụ P14 có mũi cọc tựa trên lớp cát xốp và hàng cọc gần phía trụ P13 có mũi cọc tựa trên lớp cát chặt vừa Điều này dẫn tới hàng cọc gần trụ P14 bị lún nhiều hơn hàng cọc gần trụ P13 làm đài móng trụ tạm T13 nghiêng về trụ P14 Độ lún lệch theo tính toán đạt 12 mm
- gây mất ổn định trụ tạm T13 và sau đó là sự sụp đổ của các kết cấu bên trên
b Công trình : Cầu chợ đệm tuyến cao tốc Sài Gòn Trung Lương
Hình 1.2: Sập nhịp cầu chợ Đệm tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương
Nguyên nhân: Công trình cầu qua khu vực Chợ Đệm thuộc dự án đường cao tốc TPHCM
- Trung Lương, do Công ty cổ phần cầu 11 Thăng Long, thuộc Ban quản lý dự án Mỹ Thuận thi công Được biết Ban quản lý dự án Mỹ Thuận cũng là đơn vị chủ đầu tư cầu Cần Thơ.Dự án đường cao tốc TPHCM - Trung Lương có tổng chiều dài hơn 60km, trong
đó 14,5km là cầu cạn đi qua nhiều khu vực của miền châu thổ sông Cửu Long, nối huyện Bình Chánh (TPHCM) và huyện Châu Thành (Tiền Giang) Tổng vốn đầu tư cho dự án là gần 10.000 tỷ đồng Khởi công xây dựng vào năm 2005, công trình dự kiến sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2009 Nguyên nhân ban đầu được công ty nhận định có thể dầm bị lắc do gió hoặc do việc hạ dây cáp hai đầu dầm không đều nhau
Trang 28c Dự án đường sắt đô thị Hà Nội, tuyến Cát Linh - Hà Đông xảy ra sự cố nghiêm trọng tại điểm thi công ga Hà Đông trên đường Trần Phú (đối diện bến xe Hà Đông cũ) Sự cố này xảy ra trong quá trình đổ bê tông thi công xà
mũ trụ H7, hệ thống sàn, đà giáo và bê tông xà mũ H7 bị sụt xuống đường
Hình 1.3: Dự án đường sắt đô thị tuyến Cát Linh – Hà Đông
Nguyên nhân: Dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông được khởi động lại hồi cuối
tháng 11/2014 sau sự cố rơi thép tại điểm thi công nhà ga Thanh Xuân 3 hôm 6/11 khiến
1 người tử vong và 2 người bị thương Dự án này được thi công theo hình thức Tổng thầu EPC do Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt Trung Quốc là tổng thầu Ban Quản
lý dự án Đường sắt Bộ Giao thông vận tải là đại diện chủ đầu tư Dự án dài 13,5 km từ Cát Linh đến Hà Đông, có 12 ga
Ở góc độ kỹ thuật, các chuyên gia giao thông đều khẳng định cần phải siết chặt lại thiết
kế dự án một cách nghiêm túc Theo Ông Trịnh Xuân Cường, chuyên gia Tổ tư vấn của
Bộ GTVT, qua khảo sát, cấu tạo đà giáo của dự án không phù hợp, quy trình thi công không đúng bản vẽ thiết kế phê duyệt và phải điều chỉnh Vụ sụt xà mũ vừa qua là do việc
kê giàn giáo không chắc, chứ không phải do quá trình đổ bê tông gây ra
Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ (Bộ GTVT) Hoàng Hà nhận định: Khảo sát đà giáo
và đối chiếu thấy rằng, đà giáo kém ổn định, kém liên kết, khả năng cấu tạo không thống nhất Hệ thống đà giáo có khả năng chịu tác động ngang kém nên lệch tâm Thêm vào đó
là tư vấn, nhà thầu đã không giám sát chặt chẽ
Trang 29d Dự án đường ô tô vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (Hải Phòng) sắp được hoàn tất, nhưng mới đây kết quả kiểm tra cho thấy công trình vẫn còn nhiều sai sót kỹ thuật
Hội đồng nghiệm thu Nhà nước các công trình xây dựng vừa công bố kết quả kiểm tra tuyến đường ôtô vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (Hải Phòng) Tại thời điểm kiểm tra, phần cầu chính của dự án đã cơ bản hoàn thành Đơn vị thi công đang hoàn thiện hệ thống vạch sơn, điện chiếu sáng Tổng khối lượng thi công đến nay của dự án ước đạt 94% Cầu Tân Vũ - Lạch Huyện thuộc dự án đường bộ Tân Vũ - Lạch Huyện (TP Hải Phòng) được Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt tháng 10/2010, có tổng mức đầu tư 11.850
tỷ và công trình dự kiến thông xe vào tháng 8-2017 Tuy nhiên, trong thời gian xây dựng các nhà thầu chưa tuân thủ theo các biện pháp thi công, quy trình quản lý chất lượng đã được phê duyệt Tư vấn giám sát chưa kiểm soát chặt chẽ công tác thi công tại công trường, tiềm ẩn nhiều rủi ro ảnh hưởng đến chất lượng, tuổi thọ công trình
Theo kết quả kiểm tra về chất lượng công trình có một số tồn tại như: một số vị trí móng đường cấp phối đá dăm (bên bờ Cát Hải) có biểu hiện phân tầng, bề mặt rời rạc; chưa chú trọng thi công đảm bảo độ chặt lớp cấp phối đá dăm tại vị trí mép lề đường.Chất lượng thi công lớp bê tông nhựa C12,5 trên mặt cầu qua quan sát cho thấy, độ bằng phẳng không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật; thi công mối nối dọc chưa tốt; bề mặt tồn tại nhiều vệt lu lốp; một số vị trí bề mặt bê tông nhựa rời rạc, độ rỗng lớn
Đáng nói, theo hồ sơ thi công lớp bê tông nhựa, giai đoạn lu sơ bộ có thời gian lu kéo dài
và nhiệt độ suy giảm nhiều (từ 153 độ C - 132 độ C) trong khi giai đoạn thực hiện lu lốp hình thành cường độ thì lại ngắn và nhiệt độ của cấp phối chưa tốt (132 độ C- 93 độ C)
Trang 30Hình 1.4: Dự án đường ô tô vượt biển Tân Vũ - Lạch Huyện (Hải Phòng) lộ nhiều sai sót
kỹ thuật
Ngoài ra, gối cao su bản thép có độ phình hai bên hông rất lớn trong khi chưa có hoạt tải Một số vị trí mối nối các đốt dầm SBS được làm kín bằng keo Epoxy có hiện tượng bị thấm nước và hiện tại nước đọng trong lòng hộp
Về cầu sông Cấm, thi công 1 dầm "T" không đảm bảo kích thước hình học theo thiết kế nên khi lắp đặt bị vượt cao độ khoảng 5cm so với các dầm còn lại Hiện tại đã thi công liên kết các dầm nên việc khắc phục, sửa chữa là rất khó khăn Ngoài ra, hiện nền đường đầu cầu sông Cấm vẫn tiếp tục lún so với dự báo của thiết kế Để đẩy nhanh tiến độ thông
xe nhà thầu dự kiến sử dụng biện pháp tăng tải để giảm thời gian lún Tuy nhiên, nhà thầu chưa có các bản tính toán cụ thể để chứng minh rằng việc tăng tải này không ảnh hưởng đến điều kiện an toàn chịu lực của két cấu của mố đã được thi công hoàn thành trước đó, ghi nhận trên báo Vietnamnet
e Sự cố cầu Vàm Cống
Cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu, nối huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) và quận Thốt Nốt (TP Cần Thơ), mới được hợp long ngày 29/9 Cầu dài 2,9 km, phần bắc qua sông dài 870 m, trong đó nhịp chính gồm 73 đốt dầm thép có tổng chiều dài 450 m Các nhịp dầm thép có
Trang 31tổng trọng lượng khoảng 6.600 tấn Khi lắp đặt, mỗi đốt dầm nặng khoảng 90 tấn được cẩu lên từ sà lan Dầm ngang bị xé là một trong những thanh dầm trong đốt dầm đó
Hình 1.5: Thi công dầm thép cầu Vàm Cống
Chiều 14/11/2017, trong quá trình thi công khe co giãn tại trụ P29, các đơn vị tư vấn, nhà thầu phát hiện dầm ngang trên đỉnh trụ P29 bị nứt Vết nứt rộng hơn 4cm, kéo dài ngang dầm khoảng 2m (nguồn vnexpress.net)
Hình 1.6: Vết nứt trên dầm ngang cầu Vàm Cống
1.4.1.2 Trong quá trình khai thác:
Bên cạnh đó, một số công trình mới đưa vào sử dụng đã bộc lộ khiếm khuyết về chất lượng gây bức xúc trong dư luận xã hội như tình trạng trồi sụt, bong tróc mặt đường Đại
lộ Đông Tây, mặt cầu Thăng Long, đường cao tốc TP.HCM - Trung Lương, tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai ( km 83) Yên Bái đi phú Thọ, tuyến đường Trường sơn đoạn
Trang 32qua tỉnh Gia lai, Đại lộ Mai Chí Thọ - Q2 - TP.HCM, Quốc lộ 91 (Cần Thơ), Quốc lộ 48 (Nghệ An - Dự án WB4), một số đoạn trên QL1A (Hợp phần bảo trì dự án WB4), Quốc lộ 27B, tuyến tránh Phú Yên Một số hình ảnh xảy ra trong quá trình khai thác :
a Công trình : Tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai (Km 83 ) Yên Bái đi Phú Thọ
Hình 1.7: Tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai
Nguyên nhân: Tuyến đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai dài 245 km với 8 gói thầu (A1-A8)
vừa thông xe ngày 21/9 vừa qua nhưng đã xảy ra hiện tượng lún theo hình vòng cung, trên hướng từ Lào Cai về Hà Nội Một số đoạn tuyến cũng bị lún tại các gói thầu A2, A3
và A4.Để xác định nguyên nhân chính xác và có biện pháp xử lý triệt để, VEC đã tổ chức khoan bổ sung địa chất với mật độ dày hơn, kết quả lỗ khoan cho thấy vết nứt nằm trên triền đá yên ngựa dưới tầng đất yếu có độ nghiêng khoảng 30 độ; với nền đường đắp cao
từ 7-9 m cùng với hai bên bị tích nước sau các cơn bão số 3 và số 4 đã tạo nên vết nứt nêu trên
b Công trình: Tuyến đường Trường sơn đoạn qua tỉnh Gia Lai
Hình 1.8: Tuyến đường Trường sơn đoạn qua tỉnh Gia Lai
Trang 33Nguyên nhân: Địa chất của tuyến đường từ huyện Kông Chro đi huyện Ia Pa là đất bùn
ngậm nước, khi mưa xuống, nền đường sẽ rất mềm Do vậy, để đảm bảo chất lượng công trình đòi hỏi phải thực hiện theo những kỹ thuật đặc thù, kỹ lưỡng, ít nhất phải vét hết lớp đất bên trên (có thể sâu xuống 1-1,5 mét) và thay bằng cát, nếu cần thiết phải dùng thêm lớp vải chống thấm (loại vật liệu chuyên dùng trong xây dựng giao thông) Tuy nhiên, do đơn vị tư vấn không nghiên cứu kỹ địa chất ở đây nên thay vì phải làm đường bê tông xi măng thì lại làm bê tông nhựa Ông Trần Biểu- Trưởng phòng Kinh tế-Hạ tầng huyện Kông Chro cũng nhận xét tương tự: “Nguyên nhân khiến tuyến đường nhanh chóng hư hỏng chủ yếu do đơn vị tư vấn và thi công không điều nghiên kỹ kết cấu địa chất trên địa bàn”
c Công trình: Đường đại lộ Mai Chí Thọ - An Phú - Q2 - TP.HCM bị lún hằn vệt bánh xe
Hình 1.9: Đường đại lộ Mai Chí Thọ - An Phú - Q2 - TP.HCM
Nguyên nhân: Theo ông Trường, mặc dù đã được sửa nhiều lần nhưng đại lộ Đông Tây
đoạn thuộc quận 2, TP.HCM (tên mới là đại lộ Mai Chí Thọ) vẫn lún sâu, trồi nhựa Sau nhiều lần lấy mẫu và kiểm tra toàn diện, nguyên nhân lún được xác định do sử dụng bê tông nhựa không chuẩn.Ngoài ra, một nguyên nhân khác là do dự báo lượng xe tải, container ra vào cảng Cát Lái không chính xác (dự báo trước khi làm đường là 10.000 lượt xe/ngày, nay lên 22.000 lượt xe/ngày), dẫn đến thiết kế sử dụng lớp bê tông nhựa cho lượng xe chưa chính xác Tại hội thảo, nhiều chuyên gia ngành giao thông cho rằng tình trạng lún mặt đường chủ yếu do nguyên nhân thiết kế, thi công và xe quá tải
Chất lượng các công trình xây dựng đến nay về cơ bản là đảm bảo, ngày càng được nâng cao và được kiểm soát tốt hơn Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khiếm khuyết về CLCTXD ở các cấp độ khác nhau, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khắc phục
Trang 341.4.2 Nguyên nhân
1.4.2.1 Nguyên nhân khách quan:
Bao gồm công tác giải phóng mặt bằng, do nguồn vốn đầu tư hạn hẹp dẫn đến hạn chế trong việc xác định quy mô đầu tư của dự án, cùng với sự phát triển nhanh về lưu lượng giao thông vận tải đặc biệt là các phương tiện có tải trọng lớn và chịuảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, biến đổi khí hậu
1.4.2.2 Nguyên nhân chủ quan:
Các chủ thể tham gia dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến kết thúc dự án (Chủ đầu tư, Tư vấn, Nhà thầu thi công ) cụ thể là:
- Công tác khảo sát thiết kế, lựa chọn giải pháp thiết kế, sử dụng vật liệu xây dựng và công nghệ thi công: Công tác tư vấn KSTK còn nhiều hạn chế, nhất là bước lập dự án và thiết kế cơ sở chưa đảm bảo chất lượng, nên đến giai đoạn khảo sát thiết kế kỹ thuật phải điều chỉnh, bổ sung, nhiều trường hợp phải điều chỉnh qui mô, giải pháp kỹ thuật, kéo dài thời gian thực hiện
Việc tổ chức đấu thầu tuyển chọn tư vấn, từ Tư vấn lập dự án, Tư vấn KSTK đến Tư vấn thẩm tra, Tư vấn giám sát, Tư vấn kiểm định chất lượng trong điều kiện hiện nay còn mang nặng tính hình thức, kém tính cạnh tranh, ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án
- Quy trình thiết kế, quy trình thi công chuyên ngành chưa phù hợp: Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật, công nghệ chưa đảm bảo sự lựa chọn tối ưu về kinh tế
kỹ thuật và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng dự án
- Sự tuân thủ trong quá trình thi công và năng lực của nhà thầu: Nhìn chung, hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu chưa tuân thủ đầy đủ theo các điều kiện về quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn kỹ thuật của dự án; Các biện pháp đảm bảo an toàn công trình, an toàn lao động, thực hiện các quy định về môi trường còn bị coi nhẹ Các công trường xây dựng triển khai thiếu khoa học, mặt bằng thi công bề bộn; Bộ máy kiểm soát chất lượng
và chi phí cho việc đảm bảo chất lượng của nhà thầu chưa được quan tâm đúng mức Nguy cơ vi phạm chất lượng công trình xây dựng là lớn và tiềm ẩn
- Đầu tư thiết bị và công nghệ của các đơn vị thi công hạn chế (trong đó có lý do cơ chế khoán cho đơn vị, đơn vị dưới công ty), không có điều kiện đổi mới công nghệ và thiết bị
- Quản trị tài chính doanh nghiệp yếu kém; Tính toán chi phí quản lý, phục vụ thi công chưa đúng
- Chưa có chính sách quản trị nguồn nhân lực
Trang 35- Công tác quản lý, giám sát trong quá trình thực hiện: Công tác quản lý, giám sát chất lượng công trình xây dựng của Chủ đầu tư, Ban QLDA, Giám sát xây dựng, Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế còn nhiều điểm yếu, thiếu tính chuyên nghiệp Đội ngũ TVGS chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý chất lượng trên công trình, chưa kiên quyết
xử lý các vi phạm về chất lượng
- Đấu thầu giá thấp để thắng thầu, dẫn đến yếu kém về chất lượng trong thi công, không
đủ chi phí đảm bảo chất lượng công trình
- Kinh phí bảo trì, duy tu, sửa chữa công trình không đủ nên công trình xuống cấp, không đảm bảo được tuổi thọ công trình
Trang 36Kết luận chương 1
- Trong thời gian qua, công tác QLCLCTXD - yếu tố quan trọng quyết định đến CLCTXD đã có nhiều tiến bộ Với sự gia tăng về số lượng và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển, cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác QLCLCTXD, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi chất lượng, hiện đại… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, đáp ứng được các yêu cầu xã hội, góp phần thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân
- Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong tróc đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Chính vì thế
mà việc quản lý chất lượng công trình xây dựng rất cần được quan tâm Vấn đề cần thiết đặt ra đó là làm sao để công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng có hiệu quả Chương 1 đã trình bày gần như là đầy đủ cái nhìn tổng quan về các khái niệm cũng như là
vai trò của hoạt động “Quản lý chất lượng công trình xây dựng” Qua đó nhận thấy việc nghiên cứu nâng cao vai trò “Quản lý chất lượng công trình xây dựng” góp phần quan trọng trong sự thành công cho quá trình “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình” là
rất cần thiết đáp ứng với yêu cầu thực tiễn và hoàn toàn phù hợp với chuyên ngành
“Quản lý xây dựng”
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, phần tiếp theo của luận văn: Chương 2 sẽ trình bày
cơ sở lý luận khoa học liên quan đến vấn đề “Quản lý chất lượng công trình xây dựng”;
Chương 3 sẽ phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng thi công các dự án giao thông đường bộ trên địa bàn Thành phố Thủ
Dầu Một- Bình Dương”
Trang 37CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
CHẤT LƯỢNG TRONG THI CÔNG CÔNG TRÌNH 2.1 Cơ sở hệ thống văn bản pháp qui về Quản lý chất lượng công trình
Hệ thống các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Quy chế đang được áp dụng trong xây dựng hiện nay;
- Hướng dẫn Cục Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông xác định chi phí đầu tư ban đầu hệ thống xử lý nước thải trong quá trình thi công xây dựng Ban hành kèm theo Quyết định số 603/BXD-KTXD ngày 22/10/2018 của Bộ Giao Xây dựng
- Quy chế Tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trong ngành giao thông vận tải Ban hành kèm theo Quyết định số 22/2008/QĐ-BGTVT ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng
Bộ Giao thông vận tải
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng và bảo trì công trình;
- Nghị định 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 06 năm 2014 của Chính phủ về Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu;
- Căn cứ Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 23 tháng 03 năm 2015 của Chính phủ về Quản
lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
- Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình;
- Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/07/2013 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết một
số nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Thông tư số 03/2011/TT-BXD ngày 06/04/2011 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng
- Quyết định 310/QĐ-BDHDA ngày 27/3/2013 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Quy chế Điều hành thực hiện Đề án "Tăng cường năng lực kiểm định chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam"
- Quyết định số 1207/QĐ-BXD ngày 02/12/2013 của Bộ Xây dựng về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng
Trang 38- Chỉ thị số 03/CT-BXD ngày 11/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc tăng cường quản lý chất lượng đảm bảo an toàn hệ thống giàn giáo sử dụng trong thi công xây dựng công trình
Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động xây dựng công trình kết cấu hạ tầng giao thông đang được áp dụng để QLCL công trình xây dựng được liệt kê như bảng dưới đây
Bảng 2.1 Các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong hoạt động xây dựng
I TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ
2 Tiêu chuẩn thiết kế áo đường mềm 22TCN 211–2006
3 Tiêu chuẩn thiết kế mặt đường mềm 22TCN274-2001
(AASHTO)
4 Tiêu chuẩn thiết kế áo đường cứng 22TCN 223-1995
5 Tiêu chuẩn thiết kế đường giao thông nông thôn 22TCN 210-1992
6 Tiêu chuẩn thiết kế Đường cao tốc TCVN 5729-1993
8 Kỹ thuật thiết kế đường phố đường quảng trường đô thị 20TCN 104-1983
10 Công trình giao thông trong vùng có động đất 22TCN 221-1995
12 Bộ neo bêtông DUL T13, T15 VÀ D13, D15 22TCN 267-2000
13 Hầm đường sắt và hầm đường ôtô TCVN 4527-1988
15 Quy trình thiết kế bến phà bến cầu phao đường bộ 22TCN 86-1986
16 Quy trình thí nghiệm bê tông xi măng 22TCN 60-1984
17 Quy trình thiết kế cầu cống theo trạng thái giới hạn 22TCN 18-1979
Trang 39Quy trình thí nghiệm và đánh giá cường độ nền đường
và kết cấu mặt đường mềm của đường ô tô bằng thiết
bị đo động FWD
22TCN 335-06
5 Sơn tín hiệu giao thông, lớp phủ phản quang trên biển
7 Sơn tín hiệu giao thông, sơn vạch đường hệ dung môi 22TCN 283-2002
8 Sơn tín hiệu giao thông, sơn vạch đường hệ nước 22TCN 284-2002
9 Sơn phủ kim loại - Phương pháp thử trong điều kiện
tự nhiên
22TCN 300-2002
10
Dầm cầu thép và kết cấu thép Yêu cầu kỹ thuật chế
tạo và nghiệm thu trong công xưởng 22TCN 288-2002
11 Tiêu chuẩn vật liệu nhựa đường đặt 22TCN 279-2001
12 Xác định độ nhám của mặt đường đo bằng phương pháp
Quy trình thử nghiệm xác định modul đàn hồi chung
của áo đường mềm bằng cần đo võng Benkelman 22TCN 251-1998
15 Sơn dùng cho cầu thép và kết cấu thép 22TCN 235-1997
16 Sơn tín hiệu giao thông dạng lỏng trên nền bê tông 64TCN 92-95
Trang 40xi măng và bê tông nhựa đường
17 Sơn tín hiệu giao thông dạng lỏng trên nền bê tông
Quy trình thí nghiệm bột khoáng chất dùng cho bê
21
Quy trình thí nghiệm phân tích nhanh thành phần hạt
của đất trong điều kiện hiện trường
22TCN 56-84
22
Quy trình thi công và nghiệm thu dầm cầu thép liên
kết bằng bu lông cường độ cao
22TCN 24-84
23 Quy trình kỹ thuật sản xuất và sử dụng nhựa pha
dầu trong sửa chữa mặt đường ôtô
22TCN 21-84
24 Quy trình thí nghiệm phân tích nhanh thành phần hạt
của đất trong điều kiện hiện trường