Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, qu
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn thạc sĩ "Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ
trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên" là công
trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Duy Phú Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
đều là trung thực
Thái Nguyên, năm 2018
Tác giả
Thân Thị Quyên
Trang 2Tác giả xin chân thành cảm ơn tới PGS.TS Bùi Duy Phú - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cán bộ, công chức, viên chức UBND huyện Phú Bình, các bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và triển khai thu thập số liệu phục vụ luận văn Xin cảm ơn các hộ gia đình trên địa bàn huyện Phú Bình mà tác giả tiến hành điều tra thu thập số liệu, ý kiến phục vụ cho nghiên cứu luận văn đã hợp tác và hỗ trợ tác giả nhiệt tình
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong các nhà khoa học, quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp chỉ bảo, giúp đỡ để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2018
Tác giả luận văn
Thân Thị Quyên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cách tiếp cận 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH 5
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 5
1.1.1 Giới và giới tính 5
1.1.2 Gia đình và kinh tế gia đình 8
1.1.3 Vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội 9
1.1.4 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 11
1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 15
1.2 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan 19
1.3 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20
Trang 41.3.1 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
của một số nước trên thế giới 20
1.3.2 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở Việt Nam 22
1.3.3 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở tỉnh Thái Nguyên 23
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triên kinh tế gia đình ở huyện ở Việt Nam 24
1.3.5 Bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triên kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình 24
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHÚ BÌNH 27
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 29
2.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 36
2.2 Thực trạng vai trò lao động nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 39
2.2.1 Khái quát thực trạng lao động nữ ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 39
2.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình tại các hộ điều tra 42
2.2.3 Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ huyện Phú Bình trong thúc đẩy phụ nữ phát triển kinh tế gia đình 52
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình 56
2.3.1 Ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài 56
2.3.2 Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong 60
2.4 Đánh giá chung về vai trò của phụ nữ huyện Phú Bình trong phát triển kinh tế gia đình 61
2.4.1 Những kết quả đạt được 61
2.4.2 Những tồn tại làm hạn chế vai trò của phụ nữ huyện Phú Bình trong phát triển kinh tế gia đình 62
Trang 52.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 63
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN 65
3.1 Quan điểm và định hướng nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình huyện Phú Bình 65
3.1.1 Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của huyện Phú Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 65
3.1.2 Quan điểm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình huyện Phú Bình 68
3.1.3 Định hướng nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình huyện Phú Bình 70
3.2 Những thuận lợi, khó khăn trong việc nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình huyện Phú Bình 71
3.3 Giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình huyện Phú Bình 73
3.3.1 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ 73
Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ kết hợp với giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức trong đông đảo phụ nữ 74
3.3.2 Thực hiện hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới; tham gia hoàn thiện luật pháp, chính sách về bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ 75
3.3.3 Tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động hỗ trợ xây dựng người phụ nữ phát triển toàn diện 76
3.3.4 Tích cực tham mưu, đề xuất công tác cán bộ nữ 77
3.3.5 Nhóm giải pháp đối với Hội phụ nữ huyện Phú Bình trong việc thúc đẩy phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 87
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNVC Công nhân viên chức
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2012 – 2017 30
Bảng 2.2: Kinh tế trang trại của huyện Phú Bình 32
Bảng 2.3: Phân loại phụ nữ từ 18 tuổi của huyện Phú Bình năm 2017 39
Bảng 2.4: Trình độ học vấn của lao động nữ huyện Phú Bình năm 2017 40
Bảng 2.5: Thống kê kết quả đào tạo nghề, giới thiệu việc làm cho lao động nữ năm 2017 41
Bảng 2.6: Thống kê ngành kinh tế của các hộ gia đình huyện Phú Bình năm 2017 42
Bảng 2.7: Mức sống của các hộ sản xuất nông nghiệp điều tra 43
Bảng 2.8: Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý, điều hành sản xuất trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 44
Bảng 2.9: Phân công lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 45
Bảng 2.10: Vai trò kiểm soát các nguồn lực và tài chính gia đình của phụ nữ trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 46
Bảng 2.11: Vai trò tạo ra thu nhập của phụ nữ trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 47
Bảng 2.12: Vai trò trong sinh hoạt hàng ngày của phụ nữ trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 49
Bảng 2.13: Vai trò kiểm soát các nguồn lực và tài chính gia đình của phụ nữ trong các hộ kinh doanh và hộ công nhân viên được điều tra 50
Bảng 2.14: Mức độ đóng góp của phụ nữ trong thu nhập của gia đình trong trong các hộ kinh doanh và hộ công nhân viên được điều tra 51
Bảng 2.15: Vai trò trong sinh hoạt hàng ngày của phụ nữ trong các hộ kinh doanh và hộ công nhân viên huyện Phú Bình, năm 2017 52
Bảng 2.16: Kết quả thực hiện phong trào thi đua, năm 2017 57
Bảng 2.17: Kết quả thực hiện phong trào thi đua của phụ nữ huyện Phú Bình 59
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Biểu đồ 2.1 Phân loại phụ nữ từ 18 tuổi của huyện Phú Bình năm 2017 39Biểu đồ 2.2 Vai trò kiểm soát các nguồn lực và tài chính gia đình của phụ nữ trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 46Biểu đồ 2.3 Mức độ đóng góp của phụ nữ trong thu nhập của gia đình trong các hộ sản xuất nông nghiệp huyện Phú Bình, năm 2017 48
Trang 9
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng không chỉ trong mỗi gia đình và trong mọi hoạt động xã hội; bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người, cụ thể trong lĩnh vực hoạt động vật chất, trong lĩnh vực hoạt động tinh thần và ở bất cứ nơi nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của người phụ nữ Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… Ngày nay ở các địa phương, cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, xây dựng nông thôn mới mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động quản lý và hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Phú Bình là một huyện trung du phía Đông nam tỉnh Thái Nguyên, có diện tích tự nhiên là 271,51 km2, dân số là 144.940 người, trong đó nam là 70.220 người và nữ là 74.720 người Phú Bình là một huyện nông nghiệp, trong những năm gần đây kinh tế Phú Bình đang có sự bứt phá theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ
và giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, phụ nữ ở huyện Phú Bình đã có rất nhiều cống hiến cho sự phát triển kinh tế - xã hội, cũng như chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương Với 51 % dân số và trên 60% lao động là nữ đang làm nông nghiệp, với đức tính cần cù, chịu khó, chị em đã tạo ra một khối lượng nông sản lớn,
do vậy trong nhiều năm Phú Bình luôn là huyện dẫn đầu trong toàn tỉnh về sản lượng lương thực cây có hạt
Tuy nhiên, vẫn có nhiều khó khăn, cản trở để người phụ nữ có thể khẳng định vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế gia đình, xây dựng nông thôn mới như: trình độ học vấn, chuyên môn khoa học kỹ thuật, cơ hội tiếp cận thông tin, tình trạng sức khỏe, việc thực hiện thiên chức của người phụ nữ Qua quá trình công tác và nghiên cứu
Trang 10trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho các cấp hội phụ nữ
là vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình hiện nay như thế nào? những thuận lợi và khó khăn để người phụ nữ có thể thực hiện được vai trò của mình? những yếu tố tác động đến việc nâng cao vai trò của người phụ nữ như thế nào? Để nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình cần thực hiện các giải pháp gì?
Để có thể trả lời các câu hỏi đặt ra ở trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: Giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nhằm góp phần nâng cao vai trò và vị thế của người phụ
nữ trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh
tế gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình trong giai đoạn tới
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình trên địa bàn huyện Phú Bình trong các điều kiện kinh tế khác nhau như hộ sản xuất nông lâm nghiệp, hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ và hộ công nhân viên chức
Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
- Giải pháp thực hiện cho giai đoạn 2018 - 2022
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Nghiên cứu vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình là một vấn đề khá toàn diện Chính vì vậy phương pháp tiếp cận nghiên cứu của luận văn vừa mang tính liên ngành vừa là phương pháp luận nghiên cứu mang tính xã hội học, đồng thời là phương pháp luận nghiên cứu các quy luật phát triển kinh tế theo vùng, lãnh thổ, nó bao gồm các phương pháp cụ thể như sau:
- Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): Nhằm nghiên cứu đặc tính của giới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến giới
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành: Nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ thể hiện trong các ngành, các lĩnh vực, mối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực đối với phát triển kinh
tế gia đình
Trang 12- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế vi mô: Đánh giá tình hình phát triển kinh tế gia đình, các yếu tố tác động đến kết quả, hiệu quả kinh tế gia đình
- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: Nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong các hệ thống sản xuất các loại hình cây trồng, vật nuôi, kinh doanh thương mại, dịch vụ, thu nhập từ lương và các khoản thu nhập khác, các yếu tố trong phát triển kinh tế của địa phương, của hộ gia đình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu; Phương pháp thu thập số liệu; Phương pháp xử lý số liệu; Phương pháp phân tích đánh giá
5 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
- Luận văn hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế gia đình, kinh tế địa phương nói riêng Những kinh nghiệm về vai trò của phụ nữ tham gia phát triển kinh tế gia đình của một số quốc gia trên thế giới và ở một số địa phương trong nước
- Thông qua việc nghiên cứu thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên để đề xuất những giải pháp chung nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình và trong phát triển kinh tế địa phương
- Kết quả nghiên cứu luận văn là tài liệu cho các cơ quan chức năng của địa phương, đặc biệt là Hội Phụ nữ huyện Phú Bình tham khảo trong việc xây dựng chính sách về phụ nữ và động viên phụ nữ tham gia xây dựng kinh tế gia đình và phát triển kinh tế địa phương trong tiến trình xây dựng nông thôn mới Luận văn là công trình khoa học
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là tài liệu giúp cho Hội Phụ nữ huyện Phú Bình xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ trên địa bàn huyện Phú Bình
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
1.1.1 Giới và giới tính
1.1.1.1 Khái niệm
* Giới (Sexual): Là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của nữ giới và nam
giới trong tự nhiên Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ [1] Khái niệm về “Giới” xuất hiện ban đầu tại các nước nói tiếng Anh vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX Đến thập kỷ 80 thì nó xuất hiện tại Việt Nam
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, thể chế chính trị, xã hội cụ thể
Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
* Giới tính (Gender): Là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên
cả khía cạnh sinh học và xã hội Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và đã gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và
có thể thay đổi được [1]
Các đặc trưng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền (Ví dụ: trong sự di truyền giống nòi, người nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính
XX thì thuộc về nữ giới, người nào có nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam giới) Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học như tạo ra trứng, mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng Về mặt sinh lý học,
nữ giới khác với nam giới
Trang 14Các đặc trưng giới tính là kết quả của một quá trình tiến hoá rất lâu dài của loài người trong lịch sử Do vậy, các biến đổi giới tính cũng đòi hỏi phải tốn rất nhiều thời gian với những điều kiện và sự can thiệp rất đặc biệt Sự khác nhau về giới tính không hàm chứa sự bất bình đẳng, tức là vị thế sinh học của nam và nữ là ngang nhau
1.1.1.2 Đặc điểm của giới
Giới có những đặc điểm cơ bản như sau: [3]
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được (Ví Dụ: Phụ nữ có thể làm được những việc mà tưởng trừng chỉ có nam giới mới làm được và ngược lại: phụ nữ có thể làm Tổng thống, làm chủ tịch nước… còn nam giới có thể làm đầu bếp, thuê thùa may vá….)
1.1.1.3 Nguồn gốc và sự khác biệt về giới
Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người, bảo đảm cho việc tái sản xuất con người và xã hội Sự khác biệt về giới đã quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong xã hội
Bắt đầu từ khi sinh ra là đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là bé trai hay bé gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của bố mẹ Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình như bé trai thích đá bóng còn bé gái thích nhảy dây…
Những tri thức xã hội cũng hướng theo sự khác biệt về giới khi trẻ lớn lên bắt đầu đi học Chẳng hạn như nam giới được hướng theo những ngành kỹ thuật, phải có thể lực tốt và tư duy cao Còn nữ giới có thể lực yếu hơn thường được hướng theo các ngành
nữ công và những ngành cần có sự khéo léo, tỉ mỉ…Tất cả các tác động vô tình hay hữu ý của xã hội đều làm tăng sự khác biệt về giới trong xã hội Tuy nhiên, người ta lại thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác biệt về giới
Phụ nữ thường được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành
Trang 15phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác hơn nam giới
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng về giới này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội và ít bị ràng buộc hơn bởi con cái, gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Để thay đổi quan hệ giới các đặc trưng của giới cần phải vượt qua những quan niệm cũ, tức là cần phải bắt đầu từ việc thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội về giới và quan hệ giới Hơn nữa, nam - nữ lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận với cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn, tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, từ điều kiện và cơ hội đi học tập, bồi dưỡng trình
độ chuyên môn, tiếp cận và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau,
từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với giới cũng
có sự khác nhau
Sự khác biệt về giới và giới tính là nguyên nhân cơ bản gây nên bất bình đẳng trong xã hội Trong nhiều năm gần đây, hầu hết các nước đã dần đánh giá đúng mức vai trò của phụ nữ, kết quả là thực hiện các mục tiêu “Bình đẳng nam nữ” để giải phóng sức lao động và xây dựng củng cố thêm nền văn minh nhân loại Tuy nhiên mức độ bình đẳng
đó tuỳ thuộc vào từng quốc gia và giảm dần theo chiều tăng của sự phát triển đối với mỗi nước trên thế giới
1.1.1.4 Vai trò của giới
Vai trò giới thể hiện ở ba loại hình:
- Vai trò sản xuất: Được thể hiện trong lao động sản xuất dưới mọi hình thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội
Là những công việc do phụ nữ và nam giới thực hiện nhằm tạo ra thu nhập hoặc để tự
Trang 16tiêu dùng Chúng bao gồm các hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần hoặc tạo
ra những dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gia đình
Ví dụ: Vai trò sản xuất của phụ nữ ở nông thôn bao gồm công việc trồng trọt, chăn nuôi, làm vườn, làm hàng thủ công… Vai trò sản xuất của phụ nữ ở thành thị bao gồm việc làm công ăn lương trong các cơ quan, xí nghiệp, làm thuê cho chủ tư nhân hoặc kinh doanh, buôn bán…
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì và phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: các công việc nội trợ, chăm sóc nuôi dạy con cái,… vai trò này hầu như là thuộc về phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng như: tham gia các hoạt động phụ nữ tại địa phương, các hoạt động y tế thôn bản, các dự án tại địa phương…[3]
1.1.2 Gia đình và kinh tế gia đình
1.1.2.1 Khái niệm gia đình
Gia đình là cái gốc của con người, nơi con người sinh ra, bắt đầu một cuộc sống Khái niệm gia đình thường dùng để chỉ một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở quan
hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó Gia đình là một
tổ chức xã hội lịch sử, là một thiết chế xã hội đặc thù, là một xã hội thu nhỏ với tất cả các mối quan hệ xã hội ràng buộc với nhau [6]
C Mác viết về gia đình: “Hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con Đó là gia đình.” Chủ nghĩa Mác coi gia đình là một trong những nhân tố đầu tiên tham gia quyết định sự hình thành và phát triển của lịch sử, quan hệ giữa gia đình và
xã hội như quan hệ giữa tế bào với cơ thể sống [6]
Nói đến gia đình là nói đến nhóm tâm lý - tình cảm xã hội đặc thù, các mối quan hệ
Trang 17trong gia đình, sự cấu kết giữa các thành viên trong gia đình bắt nguồn từ quan hệ
huyết thống ruột thịt và quan hệ tình cảm, trách nhiệm
1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm kinh tế gia đình
Kinh tế gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, kinh tế gia đình cũng có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi
vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phát điểm thấp, kinh tế gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến Đây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kinh tế gia đình có vị trí rất quan trọng, tồn tại lâu dài và là bộ phận hợp thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa Cùng với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, kinh tế gia đình góp phần khai thác mọi tiềm năng phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập của nhân dân, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Hiện nay, kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình [6]
1.1.3 Vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Trước hết, phụ nữ có vai trò quan trọng không thể thiếu được trong mỗi gia đình Ảnh hưởng của phụ nữ tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống gia đình và ngày càng trở nên quyết định hơn
Trên toàn thế giới lao động nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Họ chiếm hơn 50% trong tổng số lao động; Số giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông nghiệp Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác, lao động
nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được nâng cao
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: lao động nữ là người sáng
Trang 18tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình Một phần tử số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ Tuy vậy sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều các nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt: đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội thấp kém Trong 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là lao động nữ Có ít nhất 1/2 triệu lao động nữ
tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ
Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc: "Lao động nữ chiếm 13% trong Quốc hội, 14% trong cương vị lãnh đạo, quản lý hay cán bộ cao cấp của doanh nghiệp" Theo điều tra của Văn phòng quốc tế về việc làm thì lao động nữ nhận tiền ít hơn nam giới 25% Ngân hàng thế giới nghiên cứu về "bạo lực trên cơ sở giới" tại Việt Nam cho thấy: 80% các gia đình điều tra có ba vợ bị chồng mắng chửi và 15% các bà vợ bị chồng đánh
Ở Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam và được thể hiện qua Tám chữ vàng mà người đã tặng cho những người phụ nữ Việt Nam: "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" Những phẩm chất ấy được thể hiện qua sự anh hùng chống giặc ngoại xâm, đảm việc nước giỏi việc nhà, cần cù chịu khó, hết lòng vì chồng con vì gia đình và vì xã hội Trong những thời kỳ khác phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam cũng được phát huy mạnh mẽ dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào và ngày nay đòi hỏi người phụ nữ phải “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” Ngày nay, so với các nước khác trong khu vực thì người phụ nữ Việt Nam có điều kiện hơn để tiếp cận với giáo dục, học tập, việc làm và tham gia vào lĩnh vực quản lý Hiện nay họ đã giữ một số vị trí quan trọng trong xã hội như: Chủ tịch Quốc Hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng, Thứ tưởng, Vụ trưởng, Tổng giám đốc, giám đốc, Tuy nhiên so với quốc tế thì tỷ lệ phụ nữ là đại biểu quốc hội của Việt Nam còn thấp và có xu hướng giảm dần cụ thể, số nữ đại biểu quốc hội chiếm 21,77% ở khóa VII; 18% ở khóa VIII; 18,84% ở khóa IX; 26,2% ở khóa X; 27,31% ở khóa XI; 25,76% ở khóa XII và 24,4% ở khóa XIII Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội
Nghĩa vụ công dân và chức năng làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã
Trang 19hội Trình độ học vấn của phụ nữ cũng ngày được nâng cao hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết
1.1.4 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
Trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng lao động nữ luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của đất nước, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (1946) đã công nhận quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giới trên mọi phương diện Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng được phát triển Lao động nữ là người đóng góp chính cho nền kinh tế và đấu tranh chống đói nghèo bằng cả những công việc được trả công và không được trả công ở gia đình, ngoài cộng đồng và nơi làm việc; Tỷ lệ lao động nữ tham gia các ngành nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng cao Nhiều khâu trong sản xuất nông nghiệp do lao động nữ đảm nhiệm Việc trao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân đã cho phép kinh tế gia đình phát triển thuận lợi và đa dạng Ngoài sản xuất nông nghiệp nhiều gia đình đã làm thêm các ngành nghề khác và theo đó thu nhập của các hộ cũng được tăng thêm Người lao động nữ được chủ động hơn trong sắp xếp công việc đồng áng, chăm lo con cái và thu vén nhà cửa
Lao động nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực với trí lực và thể lực dồi dào phát triển ngày càng cao Trong phát triển kinh tế gia đình, vai trò của phụ nữ được thể hiện trong nhiều phương diện như trong lao động sản xuất, trong phân công lao động, trong công việc sinh hoạt hàng ngày của gia đình…
Với tư cách là người tham gia và thường là chủ thể các hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất, người phụ nữ góp phần quan trọng vào đảm bảo các nhu cầu đời sống của gia đình
Về tính chất trực tiếp, phụ nữ tạo ra kinh tế cho gian đình bằng các sản phẩm tự cung,
tự cấp và trao đổi hàng hóa với khối lượng rất đáng kể Trong lao động mang tính gián tiếp, người phụ nữ làm tới 70% số lượng công việc gián tiếp mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình Phụ nữ là nhân lực lao động quyết định đến mức thu nhập kinh tế của mỗi gia đình, là hạt nhân tạo nên môi trường văn hóa trong gia đình Và họ cũng là chủ thể
Trang 20về tổ chức, quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh tế của gia đình
1.1.4.1 Vai trò của phụ nữ trong lao động sản xuất
Trong lao động sản xuất, lao động nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết quả làm việc của lao động nữ Thế nhưng họ lại có rất ít hoặc không có quyền sở hữu trong gia đình Đây là sự bất công lớn đối với lao động nữ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước, các vùng, các miền còn chưa phát triển cả về kinh tế và nhận thức
“Thân cò lặn lội bờ ao - Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non" đó là người phụ nữ của ngày xưa, nhưng trong xã hội hiện đại ngày nay, phụ nữ đã chủ động, tự tin và nhiều người còn giữ kinh tế, là lao động chính tạo nguồn thu nhập chính cho cuộc sống gia đình “phụ nữ chống nửa trời” Những hoạt động tạo thu nhập mà phụ nữ tham gia
để cùng chồng chia sẻ gánh nặng kinh tế gia đình rất đa dạng, phong phú, đó là: làm công ăn lương; trồng trọt, chăn nuôi, kinh doanh buôn bán, dịch vụ, sản xuất thủ công… Không chỉ lao động tại chỗ, hàng vạn phụ nữ nông thôn đã phải xa quê hương,
xa chồng con, di cư tới những vùng kinh tế phát triển hơn, cả trong nước và ngoài nước, chịu đựng những khó khăn, thiếu thốn về vật chất và tinh thần để lao động kiếm sống nhằm cải thiện đời sống gia đình
Trước những diễn biến phức tạp nền kinh tế thị trường, của thời tiết, của dịch bệnh… phụ nữ vẫn tích cực và chủ động trong các hoạt động tạo thu nhập, đóng góp vào kinh
tế gia đình, góp phần xoá đói giảm nghèo; nâng cao thu nhập cho gia đình, làm giàu chính đáng
1.1.4.2 Vai trò của phụ nữ trong phân công lao động trong gia đình
Bên cạnh người đàn ông trong gia đình thì người phụ nữ cũng đóng vai trò là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình Ngày nay, mặc dù có nhiều phụ nữ tham gia vào các công việc của xã hội và thành công không kém nam giới, nhưng nhìn chung công việc nội trợ, quản lý gia đình vẫn còn là mảng công việc chủ yếu do phụ nữ đảm trách Phụ nữ là người tay cầm chìa khóa, quyết định chi tiêu mọi việc trong gia đình, từ đi chợ, nấu ăn, giặt giũ đến quét dọn, bày trí, sắp xếp, mua sắm Đó là mảng công việc lặt vặt, tỉ mỉ, chiếm nhiều thời gian nhưng không thể không có Người phụ nữ đã sắp
Trang 21xếp, tổ chức gia đình theo suy nghĩ, nhận thức và tính năng động của mình Ngoài ra, phụ nữ có vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình So với phụ
nữ, nam giới có nhiều điểm không thể sánh bằng Bởi lẽ họ không có những đức tính như người phụ nữ Hàng ngày, sau một ngày làm việc tất bật, mệt nhọc, nam giới cần
có một không gian ấm cúng, một nơi để nghỉ ngơi, và gia đình đóng vai trò quan trọng này Để điều hòa được các mối quan hệ gia đình và phân công lao động trong gia đình một cách hợp lý đòi hỏi những đức tính đảm đang, dịu dàng, biết thông cảm, chịu khó
và sự tinh tế ở người phụ nữ
1.1.4.3 Vai trò của phụ nữ trong kiểm soát các nguồn lực và tài chính của gia đình
Ngoài việc trực tiếp tham gia lao động sản xuất tạo thu nhập, phụ nữ còn là người tổ chức, động viên, tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình tham gia hoạt động kinh tế, tăng thu nhập cho gia đình và đảm nhiệm vai trò của người giữ “tay hòm chìa khóa” cho gia đình Trong bối cảnh giá cả sinh hoạt leo thang mà thu nhập khiêm tốn của người lao động chưa được cải thiện, công việc nội trợ trở nên khó khăn hơn bởi nó đòi hỏi người phụ nữ phải cân đối các khoản thu chi, tính toán một cách khoa học và cũng rất cần “nghệ thuật” bếp núc để luôn đảm bảo cơm dẻo canh ngọt, đủ dưỡng chất cho cả nhà, quần áo mới cho con đến trường…
1.1.4.4 Vai trò của phụ nữ trong việc tạo ra thu nhập của gia đình
Trong xã hội hiện đại, phụ nữ được tạo điều kiện học tập, trau dồi kiến thức, chủ động,
tự tin để hướng ngoại tham gia vào các công tác xã hội, phát triển bản thân, đứng vững vàng hơn trên vị thế phụ nữ hiện đại Phụ nữ ngoài thiên chức làm vợ, làm mẹ họ còn tham gia góp phần quan trọng xây dựng kinh tế gia đình, là người lao động chính, tạo thu nhập để duy trì ổn định cuộc sống gia đình
Theo quan niệm truyền thống, người chồng là “trụ cột” trong gia đình, chịu trách nhiệm chính trong việc tạo thu nhập cho gia đình Người vợ chủ yếu lo thu vén nhà cửa, nuôi dạy con cái, làm việc nhà, chăm sóc sức khỏe, bữa ăn, giấc ngủ cho chồng con Tục ngữ Việt Nam có câu: “đàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp” Ngày nay, quan niệm truyền thống đó đã có những thay đổi; vai trò của người phụ nữ không chỉ giới hạn ở việc bếp núc mà phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò là “trụ cột” thứ hai trong gia đình, cùng với nam giới chia sẻ trách nhiệm kinh tế, tổ chức tốt cuộc sống vật chất cho gia đình
Trang 22Trong xã hội hiện đại, vai trò của người phụ nữ được đánh giá ngang bằng với nam giới, đó là:“đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Khi nhịp sống ngày càng sôi động và
có nhiều thay đổi thì vị trí, vai trò của người phụ nữ trong gia đình lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Họ không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao vị thế của mình Phụ
nữ là những người vợ, người mẹ mẫu mực, là nền tảng của sự hạnh phúc gia đình Hơn nữa, trong văn hóa của người Việt Nam, gia đình là cái gốc của con người, là tế bào của
xã hội Gia đình có tốt thì xã hội mới phồn vinh, thịnh vượng và phát triển Ở nước ta, Nghị quyết số 11-NQ/TW của bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đầy mạnh CNH-HĐH đất nước đã khẳng định: “Phụ nữ vừa là người lao động, người công dân, vừa là người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” [6]
1.1.4.5 Vai trò của phụ nữ trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình
Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, lao động
nữ còn đảm nhiệm chức năng người vợ, người mẹ - đó chính là thiên chức của họ Họ phải làm hầu hết công việc không tên và không được trả lương, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội Họ phải lo từng bữa cơm cho gia đình, chăm sóc dạy bảo con cái - là những thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước sau này đang ngày càng tốt hơn trong trường học đầu đời đó chính là gia đình
mà người phụ nữ, người mẹ là người thầy tận tâm, tận lực dạy bảo chăm lo
1.1.4.6 Vai trò của phụ nữ trong sinh hoạt cộng đồng
Trong sinh hoạt cộng đồng: Lao động nữ tham gia hầu hết các hoạt động diễn ra ở xóm, làng, thôn, bản như: việc họ hàng, việc làng, việc xóm góp phần giữ gìn và
phát triển giá trị cộng đồng
Như vậy, dù được thừa nhận hay không được thừa nhận, thực tế trong cuộc sống hàng ngày và những gì lao động nữ làm đã khẳng định vai trò của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong bước tiến của nhân loại Lao động nữ cũng phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được nam giới chia sẻ, thông cảm cả
về hành động lẫn tinh thần, xã hội cũng cần có những chương trình trợ giúp để lao động nữ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
Trang 231.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
1.1.5.1 Các yếu tố bên ngoài
1.1.5.1.1 Yếu tố về xã hội
Quan niệm về giới, những phong tục, tập quán trong xã hội là những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến vai trò của lao động nữ trong việc phát triển kinh tế hộ Lao động nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì thì việc nội trợ vẫn là thuộc trách nhiệm vụ người phụ nữ, đây là quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay
Sự tồn tại của những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của các chị em, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình Họ không thể
đi xa, vắng nhà lâu ngày hay phó mặc việc nhà cho chồng hay cho gia đình được Gánh nặng mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và nội trợ gia đình đè nặng nên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn làm cho các chị em phụ nữ không thể tập trung sức lực, thời gian và trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội Chính sự tồn tại của những quan niệm, hủ tục trên đã khiến nhiều chị em trở nên không mạnh dạn trong việc làm ăn, không năng động sáng tạo bằng nam giới và họ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội
Như vậy, quan niệm về giới, sự bất bình đẳng nam nữ và phong tục tập quán đã là một nguyên nhân cơ bản cản trở sự tiến bộ và vai trò của lao động nữ trong việc phát triển kinh tế - xã hội
1.1.5.1.2 Yếu tố về chính sách
Chính sách có ảnh hưởng lớn đến sự tham gia của phụ nữ vào phát triển kinh tế gia đình Nếu Nhà nước có nhiều chính sách quan tâm, tạo điều kiện, khuyến khích phụ nữ làm kinh tế sẽ góp phần phát huy vai trò của nữ giới trong việc phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Ngày nay, ở cả Việt Nam và thế giới đều ngày càng có nhiều chính sách khuyến khích lao động nữ tham gia vào phát triển kinh tế - xã hội
1.1.5.1.3 Yếu tố về điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương
Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương cũng ảnh hưởng quan trọng đến vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế
Trang 24Nếu địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, ổn định thì người phụ nữ có nhiều cơ hội tốt về việc làm, có thể kiếm được thu nhập cao và đảm bảo cuộc sống gia đình tốt Tuy nhiên nếu điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương gặp nhiều khó khăn thì người phụ nữ sẽ gặp nhiều trở ngại trong vấn đề phát triển kinh tế gia đình
1.1.5.2 Các yếu tố bên trong
1.1.5.2.1 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của phụ nữ
Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật là yếu tố vô cùng quan trọng Trước đây khi phụ nữ không được đầu tư cho học hành, trình độ thấp khiến cho người phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế gia đình Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế,
do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn
Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63 % công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới)
Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp
và thấp hơn so với nam giới Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
1.1.5.2.2 Yếu tố về sức khoẻ
Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình
Trang 25là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
1.1.5.2.3 Khả năng tiếp nhận thông tin của phụ nữ
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất ít Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác Phụ nữ nếu có cơ hội tiếp nhận thông tin tốt sẽ có nhiều điều kiện tốt để phát triển kinh tế gia đình, ngược lại những phụ nữ không có nhiều điều kiện tiếp cận với thông tin kinh tế - văn hóa, kỹ thuật…sẽ gặp trở ngại nhiều hơn trong vấn đề làm kinh tế
1.1.5.2.4 Yếu tố nội tại của người phụ nữ
Một yếu tố khác không thể không nhắc đến là yếu tố nội tại của người phụ nữ, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
1.1.5.3 Vai trò của Hội phụ nữ trong thúc đẩy phụ nữ phát triển kinh tế gia đình
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới Hội là thành viên của Mặt trận
Trang 26Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên đoàn phụ nữ Dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ ASEAN
Từ những tổ chức tiền thân cho đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hội được tổ chức thành 4 cấp:
- Trung ương
- Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương (gọi chung là cấp tỉnh)
- Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương (gọi chung là cấp huyện)
- Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi là cấp cơ sở)
Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam có vai trò đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ; tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước Đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới
Hội Phụ nữ có các nhiệm vụ sau:
- Tuyên truyền, giáo dục phụ nữ về chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
Trang 27- Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;
- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trên thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình
Hội Phụ nữ là nơi sinh hoạt đời sống tinh thần giúp trang bị kiến thức cho phụ nữ, khuyến khích phụ nữ phát triển bản thân, phát triển kinh tế gia đình, đồng thời thông qua hội có nhiều chương trình, dự án được thực hiện nhằm hỗ trợ chị em phụ nữ phát triển kinh tế gia đình
1.2 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan
Liên quan đến đề tài luận văn, đã có nhiều công trình công bố, tiêu biểu như:
Nguyễn Thị Kim Thoa (2000), Vị thế và vai trò xã hội của người phụ nữ trong gia
đình nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay (Qua nghiên cứu tại tỉnh Nam Định), Luận
án Tiến sĩ Triết học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Luận án đã góp tiếng nói về vị thế và vai trò xã hội của người phụ nữ trên các phương diện đối với gia đình và sự phát triển chung của xã hội, đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao vai trò và
vị thế của người phụ nữ nông thôn ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay
Hoàng Bá Thịnh (2001), Vai trò của người phụ nữ trong công nghiệp hóa nông thôn
(Nghiên cứu khu vực đồng bằng sông Hồng), Luận án Tiến sĩ Khoa học Xã hội, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Công trình này đã nghiên cứu một số vấn
đề lý luận về công nghiệp hóa nông thôn, thực trạng vai trò của người phụ nữ ở khu vực đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn, trình bày một
số quan điểm chỉ đạo và một số giải pháp nhằm phát huy vai trò đó
Nguyễn Thị Thúy (2011), Sự tham gia và quyền quyết định của phụ nữ nông thôn
trong gia đình và xã hội (Nghiên cứu trường hợp phụ nữ đang tham gia trong hệ thống
chính trị cơ sở tại 4 xã của tỉnh Thanh Hóa), Luận án Tiến sĩ Xã hội học, Học viện Khoa học xã hội Luận án đã cho thấy biến đổi kinh tế, xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua đã và đang làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội ở nông thôn, trong đó có quan hệ sắp xếp về phân công lao động
Vương Thị Vân (2009), Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên
Trang 28địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại
học Kinh tế & QTKD – Đại học Thái Nguyên Luận văn đã hệ thống hoá cơ sở lý luận
và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi; Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên Đồng thời tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn Phú Lương
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, đặc biệt là vai trò phát triển kinh tế Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình của một số nước trên thế giới
1.3.1.1 Đối với Na uy
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI)
và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Na Uy có một hệ thống luật pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ
Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển Là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930 Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển [7]
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép.Với lĩnh vực lao động và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không được hạn chế tuyển một giới Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc
Trang 29như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau.Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ Đặc biệt Luật bình đẳng giới có 1 mục quy định: "Khi thành lập và bổ nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng, ban có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất là 40%" Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì Chính phủ không cho phép thành lập Do vậy, đến nay
cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt được tỷ lệ trung bình 43% nữ Bên cạnh đó, một Cơ quan thanh tra về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và Bình đẳng giới cũng ra đời giúp Chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết.Chế độ nghỉ thai sản và chăm sóc con cái cũng được Luật đề ra rất tốt Khi mang thai, nếu người phụ nữ đã đi làm ít nhất là 6 tháng trong vòng 10 tháng thai nghén sẽ được nghỉ chế độ và hưởng lương với số tiền không quá 6 lần số tiền bảo hiểm quốc gia cơ bản Khi sinh nở, người mẹ được nghỉ 52 tuần hưởng 80% hoặc nghỉ 42 tuần hưởng 100% lương Trong thời gian này, mẹ phải nghỉ 3 tuần trước khi sinh, bố phải nghỉ bốn tuần theo chế độ người cha Ngoài ra, bố và mẹ được nghỉ từ 10 đến 20 ngày/năm chăm con ốm (kể cả với con nuôi) Quỹ thời gian này người bố và mẹ tuỳ ý sử dụng trong thời gian 2 năm Nếu người phụ nữ không đi làm và không được hưởng chế độ nghỉ đẻ thì sẽ được hưởng 32.138 NOK khi sinh con (tương đương với 80.500.000 đồng Việt Nam) [10]
Từ năm 1992, bố mẹ không đi làm mà phải nuôi con dưới 7 tuổi đều được hưởng ba khoản trợ cấp một năm của Chính phủ Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì không áp dụng trong gia đình Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70%; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục [7]
1.3.1.2 Ở một số nước khác
Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì khuyến nông thường xuyên ghé thăm hơn Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các
Trang 30thông tin hay những lời khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người chồng của mình Còn ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia thì những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn bè và hàng xóm Rất ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ [7]
1.3.2 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Quyền bình đẳng của phụ nữ đã được ghi trong Điều 26 Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: "Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nêu rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ; thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng” Trở về trước Bộ Chính trị có Nghị quyết Nghị quyết số 11- NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và gần đây nhất là Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới
Theo thống kê 2015, lao động nữ chiếm 58,02% lực lượng lao động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; sản xuất hơn 60% sản phẩm nông nghiệp Như vậy, phụ nữ nông thôn Việt Nam là một trong hai chủ thể kinh tế quan trọng; mang lại thu nhập cho các hộ gia đình, và đang có vai trò, vị trí đặc biệt trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn Hiện nay, biến đổi của lao động nữ đang diễn ra theo ba xu hướng cơ bản; nâng cao chất lượng lao động nữ đáp ứng nhu cầu lao động của thời kỳ mới; từng bước chuyển dần từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp, thương mại và dịch vụ; và chủ động, tích cực tham gia thị trường lao động quốc tế trong và ngoài nước
Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách nâng cao chất lượng, hiệu quả của lao động nông thôn nói chung và lao động nữ nông thôn nói riêng Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” và Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-
2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày
Trang 3130/6/2017 Các đề án nếu được triển khai có hiệu quả sẽ giúp phụ nữ có thu nhập ổn định, giúp giảm nghèo và nâng cao vị thế
Ngoài chính sách dạy nghề, Nghị quyết 26-NQ/TW cũng nhấn mạnh mục tiêu tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn, qua đó các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã được triển khai rộng khắp [12]
1.3.3 Kinh nghiệm về nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở tỉnh Thái Nguyên
Cần có sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy, sự tạo điều kiện của chính quyền các cấp, sự phối hợp đồng bộ, toàn diện của các ngành, các địa phương đối với công tác Hội Cấp ủy, chính quyền cần có những chỉ đạo quyết liệt đối với các ngành chuyên môn để các chính sách về bình đẳng giới đã ban hành đi vào cuộc sống
Các cấp Hội cần nắm chắc tâm tư nguyện vọng, nhu cầu của hội viên, phụ nữ để có những giải pháp hỗ trợ thích hợp, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội; cấp trên phải sâu sát cơ sở, sâu sát với cấp dưới, chú trọng hỗ trợ các cơ sở yếu và khó khăn Trong công tác chỉ đạo, phải luôn bám sát sự chỉ đạo của Hội cấp trên và nhiệm
vụ chính trị của địa phương; chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng công tác sơ, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, nhân rộng mô hình hoạt động có hiệu quả, các gương phụ
nữ điển hình tiên tiến Chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất chính sách, giám sát và phản biện xã hội để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho phụ nữ
Cán bộ Hội phải chuyên tâm, nhiệt tình, năng động, dám nghĩ dám làm, vì lợi ích của phụ
nữ Cán bộ chủ chốt có bản lĩnh chính trị, có năng lực, phẩm chất đạo đức đáp ứng với yêu cầu trong tình hình mới Chủ động học tập, nghiên cứu và tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, chính trị, kỹ năng trong công tác Hội
Các tầng lớp phụ nữ trong tỉnh cần phát huy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, tích cực tham gia hoạt động Hội, phấn đấu vì sự bình đẳng và phát triển, khẳng định vai trò của mình trong gia đình và xã hội, không ngừng hoàn thiện bản thân cả về trình độ và năng lực, rèn luyện các phẩm chất đạo đức “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”
Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng để động viên khuyến khích kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực
Trang 321.3.4 Bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triên kinh tế gia đình ở huyện ở Việt Nam
Từ thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở một số nước và ở Việt Nam đã nêu ở trên, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm về nâng cao vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện ở Việt Nam như sau:
Một là: UBND huyện cần cụ thể hóa, đồng thời có các kế hoạch phù hợp để khích lệ, tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế tại địa phương; cần có những hính sách khuyến khích phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt là kinh tế hộ
Hai là: cần tăng cường các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình UBND huyện cần có nhiều hoạt động liên tục, thường xuyên khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển kinh tế gia đình đặc biệt là kinh tế hộ
Ba là: làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để phụ nữ nhận thức được khả năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung
Bốn là: kiên quyết xóa bỏ những định kiến, những quan điểm sai lệch về giới, kiên quyết đấu tranh những hành vi vi phạm quyền bình đẳng về giới, những hành vi vi phạm đến quyền của người phụ nữ, những trường hợp bạo lực gia đình…
Năm là: cần khuyến khích để nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả tại các địa phương; đồng thời tiếp tục làm tốt công tác phối hợp với các ngân hàng để có nguồn vốn cho chị
nữ trong phát triển kinh tế gia đình ở huyện Phú Bình như sau:
Thứ nhất, cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình tại địa phương bằng nhiều hình thức tuyên truyền, giáo dục, vận động để nâng cao nhận thức của mọi người về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình
Trang 33nhất là kinh tế hộ
Thứ hai, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế gia đình Hội Phụ
nữ cần có nhiều hoạt động liên tục, thường xuyên khuyến khích, động viên, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển kinh tế gia đình
Thứ ba, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để phụ nữ nhận thức được khả năng, vai trò, nhiệm vụ của mình trong phát triển kinh tế gia đình nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung
Thứ tư, kiên quyết xóa bỏ những định kiến, những quan điểm sai lệch về giới, kiên quyết đấu tranh những hành vi vi phạm quyền bình đẳng về giới, những hành vi vi phạm đến quyền của người phụ nữ, những trường hợp bạo lực gia đình…
Thứ năm, cần khuyến khích để nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả tại các địa phương; đồng thời tiếp tục làm tốt công tác phối hợp với các ngân hàng để có nguồn vốn cho chị em vay
*Kết luận chương 1:
Đời sống của mỗi cá nhân trong xã hội luôn được bắt đầu từ phạm vi gia đình, mỗi gia đình luôn là một tế bào của xã hội, trong đó người phụ nữ trong gia đình luôn được xem là hạt nhân của tế bào đó; đồng thời,gia đình cũng là nơi thể hiện thực chất của sự bình đẳng
và nâng cao địa vị của người phụ nữ
Hiện nay, những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại đã phần nào hỗ trợ người phụ nữ trong công việc nội trợ, giảm bớt sức lao động của người phụ nữ trong gia đình Song, phụ
nữ vẫn là người làm chính công việc nhà, từ việc bếp núc tới việc dạy dỗ con cái, chăm lo đời sống tinh thần cho các thành viên trong gia đình Cộng với thời gian làm việc ngoài xã hội, quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần, việc học tập nâng cao trình độ kiến thức của phụ nữ là rất hiếm hoi, thậm chí ở một số đối tượng phụ nữ như công nhân, người buôn bán, quỹ thời gian này gần như không có Bên cạnh đó, nguy cơ bạo lực gia đình đang là mối đe dọa cho một số không nhỏ phụ nữ
Trang 34Để người phụ nữ đảm đương được vai trò của mình, đồng thời phát huy được hết khả năng bản thân để phát triển trong thời hiện đại, yếu tố tự thân của mỗi phụ nữ là rất quan trọng Chỉ khi nào tính tích cực, chủ động của người phụ nữ được khơi dậy, phụ nữ mới vừa có thể đảm đương tốt công việc ngoài xã hội, vừa duy trì được mối quan hệ gia đình bền chặt, một tổ ấm hạnh phúc Điều cần làm là làm sao để gia đình và xã hội tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho phụ nữ phát huy được khả năng của mình, đó là: người phụ nữ có công việc ổn định để đảm bảo cuộc sống, có cơ hội học tập nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, các đoàn thể, câu lạc bộ, có thời gian hưởng thụ văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, chăm sóc sức khỏe
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN PHÚ BÌNH
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phú Bình là một huyện nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên Huyện Phú Bình nằm ở phía Nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26 km, cách thành phố Bắc Ninh 50km Huyện Phú Bình giáp huyện Đồng Hỷ về phía Bắc; giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phổ Yên về phía Tây Phía Đông và Nam giáp tỉnh Bắc Giang (các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên và Yên Thế)
Địa hình của Phú Bình thuộc nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng và nhóm hình thái địa hình gò đồi Nhóm cảnh quan địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với độ cao địa hình 10-15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi
Trang 36thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân bố dọc sông Cầu Nhóm cảnh quan hình thái địa hình gò đồi của Phú Bình thuộc loại kiểu cảnh quan gò đồi thấp, trung bình, dạng bát úp, với độ cao tuyệt đối 50 - 70m Trước đây, phần lớn diện tích nhóm cảnh quan hình thái địa hình núi thấp có lớp phủ rừng nhưng hiện nay lớp phủ rừng đang bị suy giảm, diện tích rừng tự nhiên hầu như không còn Địa hình của huyện có chiều hướng dốc xuống dần từ Đông Bắc xuống Đông Nam, với độ dốc 0,04% và độ chênh lệch cao trung bình là 1,1 m/km dài
Độ cao trung bình so với mặt nước biển là 14m, thấp nhất là 10m thuộc xã Dương Thành, đỉnh cao nhất là Đèo Bóp, thuộc xã Tân Thành, có chiều cao 250 m Diện tích đất có độ dốc nhỏ hơn 8% chiếm đa số, nên địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng lúa nước Địa hình có nhiều đồi núi thấp cũng là một lợi thế của Phú Bình, đặc biệt trong việc tạo khả năng, tiềm năng cung cấp đất cho xây dựng
cơ sở hạ tầng như giao thông, công trình thủy lợi, khu công nghiệp
Huyện Phú Bình có 20 đơn vị hành chính gồm thị trấn Hương Sơn và 19 xã, trong đó
có 7 xã miền núi Các xã của huyện gồm Bàn Đạt, Bảo Lý, Dương Thành, Đào
Xá, Điềm Thụy, Hà Châu, Kha Sơn, Lương Phú, Nga My, Nhã Lộng, Tân Đức, Tân Hòa, Tân Khánh, Tân Kim, Tân Thành, Thanh Ninh, Thượng Đình, Úc
Kỳ và Xuân Phương
Theo số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện, “Phú Bình có tổng diện tích đất tự nhiên 24.936 ha, trong đó đất nông nghiệp có 20.219 ha, (chiếm 81%), trong đó đất sản xuất nông nghiệp 13.570 ha (chiếm 54,3%), đất lâm nghiệp 6.218 ha (chiếm 25%), đất nuôi trồng thủy sản 431 ha (chiếm 1,7%); đất phi nông nghiệp 4.606 ha (chiếm 18,5 %) và đất chưa sử dụng 111 ha (chiếm 0,5%) Như vậy trong cơ cấu đất đai của huyện, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tới 54,3% trong khi đất lâm nghiệp chỉ chiếm 25% Điều đó chứng tỏ nông nghiệp vẫn giữ vị trí hàng đầu trong kinh tế của huyện
Về cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, trong tổng số 13.570 ha, có 7.450 ha trồng lúa (chiếm 55%), 2.690 ha trồng cây hàng năm khác (chiếm 20%) và 3.430 ha trồng cây lâu năm (chiếm 25%) Như vậy mặc dù là một huyện trung du nhưng cây trồng chủ đạo vẫn là lúa, và cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả không phải là thế mạnh của sản xuất nông nghiệp của huyện
Trang 37Về dân số : Dân số huyện Phú Bình là 138.819 người, với mật độ dân số đạt 552
người/km2, đạt tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,43% Mật độ dân số không đồng đều giữa các xã trong huyện, xã có mật độ dân số cao trên 1000 dân/km2 (xã Nhã Lộng, Thành Ninh, Hà Châu), xã có mật độ dân số thấp chỉ đạt 400 người/km2 (xã Bàn Đạt, Tân Khánh) Trong tổng dân số của huyện thì nông thôn chiếm 91,43%, dân số thành thị chiếm 7,57% nếu phân theo giới tính thì trong tổng dân số nam giới chiếm 48,45%, và
nữ giới chiếm 51,55%
Về lao động: Huyện Phú Bình có khoảng 83.269 lao động trong độ tuổi, chiếm 59,98%
dân số, trong đó có 78.886 lao động đang làm việc trong nền kinh tế Nếu phân theo ngành thì lao động làm trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu với 78%, còn lại là lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ
Nhìn chung lao động của huyện Phú Bình khá dồi dào, nhưng chủ yếu là lao động giản đơn, phân bố chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, với trình độ tay nghề chưa được đào tạo Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề thấp, hạn chế lớn nhất là vấn đề tạo việc làm cho người lao động Lực lượng lao động trẻ, đã được đào tạo nghề có xu hướng thoát ly khỏi địa bàn huyện để tìm công ăn việc làm tại các thành phố lớn và các tỉnh khác Tình trạng
đó có ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và thực hiện chuyển dịch có cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá [14]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế
2.1.2.1 Thực hiện các chỉ tiêu kinh tế của huyện năm 2017
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt 16,5%
- Thu nhập bình quân đầu người đạt: 46 triệu đồng/người/năm, vượt chỉ tiêu đề ra
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (giá so sánh 2010) đạt: 2.042,5 tỷ đồng,
bằng 99,5% kế hoạch
- Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (giá so sánh 2010) đạt: 14.078,3 tỷ đồng,
bằng 261,39% kế hoạch, tăng 102,8% so với cùng kỳ
Trang 38- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt: 125 tỷ đồng, bằng 174,5% kế hoạch, tăng 48,4% so với cùng kỳ (trong đó: thu cân đối 61,8 tỷ đồng; thu tiền sử dụng đất 27,5 tỷ đồng; ghi thu, ghi chi 35,7 tỷ đồng)
- Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt: 78.361 tấn, bằng 107,1% kế hoạch
- Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt (giá thực tế) đạt: 88 triệu đồng, đạt 102,3%
kế hoạch, tăng 03 triệu đồng so với cùng kỳ
- Số xã đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới hết năm 2017 là 10 xã, tăng 03 xã so với năm 2016, vượt 01 xã so với kế hoạch Tỉnh giao
- Diện tích trồng rừng mới 407 ha; đạt 119,7% kế hoạch, tăng 9,5% so với cùng kỳ
- Tỷ lệ che phủ rừng 22,72%, đạt kế hoạch
- Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt: 29.586 tấn, bằng 101% kế hoạch
- Số trường học đạt chuẩn quốc gia: 54 trường, tăng 03 trường so với năm 2016, hoàn thành kế hoạch
- Giảm tỷ suất sinh thô 0,25‰, vượt kế hoạch (kế hoạch giảm 0,2‰)
- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 14 %, đạt kế hoạch
- Số lao động có việc làm tăng thêm: 3.300 lao động, bằng 104,9% kế hoạch
- Tỷ lệ hộ nghèo thực hiện hết năm 2017 là 8,75 %, giảm 2,12% so với đầu năm (năm 2016 là 10,87%), vượt kế hoạch
- Tỷ lệ dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh: đạt 87%, bằng 102,4 kế hoạch
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Phú Bình giai đoạn 2012 – 2017
Chỉ tiêu ĐVT 2012 2013 2014 2015 2016 2017
Tổng giá trị sản xuất Triệu 5.020,3 5.416,3 6.489,6 13.450,6 15.669,8 21.456,8
1 Nông lâm nghiệp - Thuỷ sản Triệu 2.232,6 2.336,1 2.634,9 2.989,4 2.056 2.042,5
2 Công nghiệp và xây dựng Triệu 1.800,4 1.934,3 2.392,3 8.136,3 9.511,8 14.078,3
3 Thương mại và dịch vụ Triệu 987,2 1.145,9 1.462,3 2.324,8 4.102 5.336
Nguồn: UBND huyện Phú Bình
Trang 392.1.2.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới
Năm 2017, các cấp ủy đảng, chính quyền huyện Phú Bình đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục khó khăn do ảnh hưởng xấu của thời tiết, chủ động phòng trừ sâu bệnh; tích cực chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng cánh đồng một giống… Chỉ đạo triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp; tổ chức thực hiện thí điểm
“dồn điền, đổi thửa”, xây dựng cánh đồng lớn sản xuất nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao tại 03 xã (Tân Đức, Xuân Phương, Úc Kỳ) Tổng diện tích cây lương thực năm 2017 đạt 15.387 ha, bằng 105,9% kế hoạch; tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 78.361 tấn, bằng 107,1% kế hoạch Các cây trồng khác nhìn chung diện tích, năng xuất, sản
lượng đều đạt và vượt kế hoạch Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt (giá thực tế)
đạt 88 triệu đồng, bằng 102,3% kế hoạch, tăng 3 triệu đồng so với cùng kỳ
Trong chăn nuôi, làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, không xảy ra dịch bệnh nguy hiểm trên địa bàn Tổng đàn gia súc, gia cầm duy trì ổn định Hiện nay trên địa bàn huyện
có 6 hợp tác xã, 11 tổ hợp tác xã, 255 trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động hiệu
quả (tăng 13 trang trại so với năm 2015) Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 29.586 tấn,
bằng 101% kế hoạch Nuôi trồng thủy sản được quan tâm phát triển; tổng sản lượng đạt 2.770 tấn, tăng 14,4% so với cùng kỳ (Bảng 2.2)
Công tác trồng rừng đạt kết quả tốt; diện tích trồng rừng mới 407 ha; đạt 119% kế hoạch, tăng 9,5% so với cùng kỳ Công tác chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng được thực hiện hiệu quả, không xảy ra cháy rừng trên địa bàn huyện
Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các cấp ủy đảng, chính quyền tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tích cực Xây dựng Đề án thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện các nguồn vốn hỗ trợ xây dựng nông thôn mới cho các xã; chỉ đạo ưu tiên nguồn lực cho các xã đăng ký về đích năm 2017; phân
bổ 18.600 tấn xi măng xây dựng 129 tuyến đường giao thông nông thôn với tổng chiều dài 92,3km Kết thúc năm 2017, huyện tăng 03 xã đạt chuẩn nông thôn mới so với năm
2016 (Thượng Đình, Điềm Thụy và Tân Đức), nâng tổng số toàn huyện lên 10/20 xã đạt chuẩn, bằng 50% số xã Bình quân toàn huyện đạt 16,1 tiêu chí/xã
Trang 40Bảng 2.2: Kinh tế trang trại của huyện Phú Bình
TT Địa điểm (xã,tt)
Tổng số trang trại
(tr.trại)
Chăn nuôi lợn
(tr.trại)
Trồng trọt
(tr.trại)
Chăn nuôi gia cầm
(tr.trại)
Chăn nuôi tổng hợp
(tr.trại)
Chăn nuôi thủy sản
Nguồn: Phòng Nông nghiệp huyện Phú Bình
2.1.2.2 Sản xuất công nghiệp, thương mại dịch vụ và xây dựng cơ bản
Sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Phú Bình phát triển cả về số lượng và quy mô; riêng khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hiện tại có 35 công tyđang sản xuất tại Khu công nghiệp Điềm Thụy Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn năm 2017 đạt 14.078,3 tỷ đồng, bằng 261,39% kế hoạch, tăng 102,8 % so với cùng kỳ Hoạt động của các HTX, làng nghề, hộ sản xuất kinh doanh duy trì ổn định Hiện nay toàn huyện có 8 HTX hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, 10 làng nghề truyền thống Huyện xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình về phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và làng nghề giai đoạn 2016 – 2020