1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực quản lý đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê tả lam tỉnh nghệ an

103 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời hiện nay, ngoài nhiệm vụ phòng chống lũ, hệ thống các tuyến đê còn làm nhiệm vụ giao thông có vai trò để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng như cơ đê Tả Lam tuyến

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả

Phạm Hồng Thương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Vũ Thanh Te đã giành thời gian, công sức cũng như tâm huyết hướng dẫn khoa học giúp tác giả hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Chi cục Thủy lợi Nghệ An và các đồng nghiệp đã đóng góp

ý kiến, hỗ trợ chuyên môn giúp tác giả hoàn thành luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên khuyến khích, chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Quá trình thực hiện luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, học viên kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn cùng chia sẻ những kinh nghiệm và đóng góp ý kiến

để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019

Tác giả

Phạm Hồng Thương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

6 Kết quả dự kiến đạt được 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU HIỆN NAY 5

1.1 Tổng quan về hệ thống đê điều ở Việt Nam 5

1.1.1 Khái quát chung về hệ thống đê điều nước ta 5

1.1.2 Vai trò của hệ thống đê điều đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 7

1.1.3 Hệ thống đê sông Việt Nam 8

1.1.4 Hệ thống đê biển Việt Nam 10

1.2 Tổng quan về hệ thống đê điều tỉnh Nghệ An 11

1.2.1 Đê sông 11

1.2.2 Đê cửa sông 11

1.2.3 Đê biển 12

1.3 Tình hình quản lý đê điều ở Việt Nam trong những năm vừa qua 13

1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam 13

1.3.2 Tình hình đầu tư cho xây dựng và quản lý đê điều 13

1.3.3 Hệ thống các chính sách về quản lý đê điều của Việt Nam 13

1.3.4 Những tồn tại trong việc quản lý hệ thống đê điều trong nước hiện nay 15

1.3.5 Đánh giá về năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian qua 19

1.4 Kinh nghiệm công tác quản lý đê điều của một số nước trên thế giới 21

1.4.1 Hệ thống đê điều Hà Lan 22

1.4.2 Hệ thống đê điều Nhật Bản 24

1.4.3 Hệ thống đê biển của Mỹ 26

Kết luận chương 1 27

Trang 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC QUẢN

LÝ ĐÊ ĐIỀU 28

2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý hệ thống đê điều 28

2.1.1 Yêu cầu, nội dung và nguyên tắc quản lý đê điều 30

2.1.2 Nguyên tắc trong quản lý đê điều 30

2.2 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý đê điều 31

2.2.1 Mức độ hoàn thiện về tổ chức bộ máy quản lý đê điều 31

2.2.2 Mức độ hoàn thiện hệ thống các chính sách về quản lý đê điều 31

2.2.3 Công tác quy hoạch và quản lý đê điều theo quy hoạch hệ thống đê điều 32

2.2.4 Sự chuẩn bị sẵn sàng phương án hộ đê 32

2.2.5 Giảm thiểu các vi phạm về luật đê điều và phòng chống thiên tai 35

2.2.6 Tình hình áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong xây dựng và quản lý đê điều 35

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực quản lý hệ thống đê điều 35

2.4 Những sự cố thường xảy ra với các công trình đê điều và giải pháp xử lý 38

2.4.1 Các sự cố xảy ra liên quan đến đê điều 38

2.4.2 Nguyên nhân 47

2.5 Phương pháp đánh giá chất lượng công trình đê điều giai đoạn vận hành 48

2.5.1 Phương pháp đánh giá 48

2.5.2 Áp dụng đánh giá chất lượng đê điều trong giai đoạn vận hành 50

2.5.3 Các thang cấp xác định chất lượng đê 54

Kết luận chương 2 55

CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI TUYẾN ĐÊ TẢ LAM - TỈNH NGHỆ AN 56

3.1 Giới thiệu chung về Chi cục thủy lợi Nghệ An 56

3.1.1 Sơ đồ tổ chức 56

3.1.2 Vị trí, chức năng của Chi cục Thủy lợi Nghệ An 56

3.2 Một số kết quả đạt được của Chi cục thủy lợi Nghệ An 57

3.2.1 Các kết quả đạt được 57

3.2.2 Các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân phát sinh 57

3.3 Đánh giá thực trạng chất lượng đê Tả Lam theo phân cấp rủi ro 59

Trang 5

3.3.1 Tổng quan về đê Tả Lam 59

3.3.2 Kết quả đánh giá chất lượng tuyến đê Tả Lam 61

3.4 Đánh giá thực trạng công tác quản lý đê điều 62

3.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý đê tả Lam 62

3.4.2 Kế hoạch đầu tư xây dựng và quản lý hệ thống đê điều tuyến đê tả Lam 65

3.4.3 Phương án bảo vệ tuyến đê tả Lam 67

3.4.4 Thực hiện phương châm 4 tại chỗ 69

3.4.5 Những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý đê tả Lam 70

3.4.6 Nguyên nhân 72

3.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê Tả Lam - tỉnh Nghệ An trong thời gian sắp tới 73

3.5.1 Các căn cứ đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực quản lý 73

3.5.2 Nâng cao năng lực quản lý đê trong khâu quy hoạch đê điều 74

3.5.3 Nâng cao năng lực về tổ chức quản lý đê điều 75

3.5.4 Nâng cao năng lực cán bộ làm công tác quản lý đê 80

3.5.5 Giải pháp tăng cường công tác duy tu, sửa chữa hệ thống đê điều 82

3.5.6 Nâng cao năng lực quản lý trong công tác giám sát thi công 82

3.5.7 Tăng cường công tác quản lý đê điều 83

3.6 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc quản lý đê điều 86

Kết luận chương 3 90

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

KẾT LUẬN 91

KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Tập kết vật liệu trái phép (nguồn: internet) 17

Hình 1.2: Nạn chặt phá rừng đầu nguồn (nguồn: internet) 18

Hình 1.3: Xây dựng lấn chiếm hành lang bảo vệ đê (nguồn: internet) 18

Hình 1.4: Xe có tải trọng lớn đi lại trên đê 19

Hình 1.5: Hệ thống đê, đập ngăn triều Maeslant Hà Lan (nguồn: internet) 23

Hình 1.6: Đê an toàn cao ở Nhật Bản (nguồn: internet) 25

Hình 1.7: Mặt cắt sông Los Angeles ở Mỹ (nguồn: internet) 26

Hình 2.1: Sạt lở mái đê phía sông do sóng 38

Hình 2.2: Sạt lở mái đê phí song do dòng chảy 39

Hình 2.3: Thẩm lậu mái đê ở phía đồng 40

Hình 2.4: Trượt nông mái đê phía đồng 41

Hình 2.5: Trượt sau mái đê phía sông 41

Hình 2.6: Đùn sủi ở ao hồ, thùng đấu 42

Hình 2.7: Nguy cơ nước tràn qua mặt đê tại vị trí xung yếu 43

Hình 2.8: Hình ảnh nứt dọc thân đê Hữu Đuống tại K42 44

Hình 2.9: Xói hạ lưu cống lấy nước qua đê 46

Hình 2.10: Mạch sủi ở hạ lưu cống 46

Hình 2.11: Xác định giá trị P dùng để phân cấp chất lượng công trình 50

Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Chi cục thủy lợi Nghệ An 56

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1: Tiêu chí cho điểm theo chiều cao đê 50

Bảng 2-2: Tiêu chí cho điểm theo loại đê 50

Bảng 2-3: Tiêu chí cho điểm theo loại nền 51

Bảng 2-4: Tiêu chí cho điểm theo tuổi đê 51

Bảng 2-5: Tiêu chí cho điểm theo tình trạng đê 51

Bảng 2-6: Chỉ số tình trạng công trình 52

Bảng 2-7: Tiêu chí cho điểm theo HQSCĐ (C) 52

Bảng 2-8: Loại HQSCĐ ảnh hưởng đến hạ du 53

Bảng 2-9: Thang phân cấp chất lượng công trình theo cấp rủi ro 54

Bảng 3-1: Bảng đánh giá chất lượng tuyến đê tả Lam 61

Bảng 3-2: Bảng tổng hợp xây dựng đường cứu hộ cứu nạn 64

Bảng 3-3: Các trọng điểm xung yếu 67

Bảng 3-4: Các khu vực trọng điểm xung yếu 67

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

CTXD Công trình xây dựng UBND Ủy ban nhân dân

TTG Thủ tướng chính phủ PTNT Phát triển nông thôn PTTH Phát thanh truyền hình BCH Ban chỉ huy

PCTT Phòng chống thiên tai TKCN Tìm kiếm cứu nạn

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bão lũ diễn ra phức tạp Hàng năm

có tới hàng trăm cơn mưa, bão xảy ra gây ra lũ lớn Việt Nam cũng là nơi mà nhiều dòng sông đổ ra biển cả Để góp phần chống lại sự đe dọa và ảnh hưởng nặng nề của bão lũ, sự xâm nhập của nước biển, từ ngàn năm nay dân tộc ta với biện pháp cơ sở nhất nhưng cũng có giá trị khoa học lâu dài nhất là đắp đê ngăn lũ

Hệ thống đê ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản, mùa màng và tính mạng của người dân Tuy nhiên, nhiều tuyến đê xây dựng từ lâu, hiện đã xuống cấp, không đủ sức chống chịu với tình hình mưa bão ngày càng phức tạp và ác liệt hơn Bên cạnh đó, Luật Đê điều, Luật phòng chống thiên tai đã được phổ biến rộng rãi nhưng ý thức chấp hành luật về đê điều của một bộ phận tổ chức, cá nhân ở các địa phương vẫn chưa chuyển biến

Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất so với cả nước (16.492,5km2), trong đó: Miền núi và trung du chiếm 83%, đồng bằng, ven biển chiếm 17% Địa hình đa dạng, khí hậu khắc nghiệt Mật độ sông suối lớn Có 6 con sông chảy trực tiếp ra biển, gồm: sông Cả, sông Hoàng Mai, sông Mai Giang, sông Thái, sông Bùng, sông Cấm; Trong

đó lớn nhất là sông Cả có tổng diện tích lưu vực là 27.200km2 (phần chảy trên lãnh thổ Lào chiếm 9.470km2) với độ dài sông là 531 km (170km chảy trên đất Lào) Phần trên đất Việt Nam chảy qua 3 tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa Có chiều dài bờ biển dài 82 km; 419km đường biên giới Có 21 huyện, thành, thị, trong đó có 10 huyện miền núi, 7 huyện đồng bằng, 1 thành phố và 3 thị xã Dân số toàn tỉnh trên 3,1 triệu người (đứng thứ 4 so với cả nước hiện nay) Hệ thống đê tỉnh Nghệ An có tổng chiều dài là 493km Trong đó:

Đê Tả Lam - đê cấp III: 68,22km; Đê Tả - Hữu Lam - đê cấp IV: 87,479Km; Đê bao nội đồng; 150,094 Km; Đê cửa sông: 129,194Km; Kè cửa sông: 4,583Km; Đê biển: 41,783Km; Kè biển: 11,65Km

Trang 10

Mặc dù về mặt đê và kết cấu mặt đê hàng năm đều được Trung ương, tỉnh đầu tư cải tạo, nâng cấp, nhưng qua từng mùa mưa bão một số hạng mục đê điều trên đê vẫn bộc

lộ những điểm yếu phải xử lý

Để bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão, Chi cục Thủy Lợi Nghệ An tiến hành tổng kiểm tra, đánh giá hiện trạng công trình đê điều trước mùa mưa lũ hàng năm nhằm xác định các trọng điểm cần lưu ý, đề xuất các phương án xử lý trong trường hợp xảy ra sự

cố Tuy nhiên do kinh phí hạn chế nên việc đầu tư chủ yếu cho việc đắp củng cố hoàn thiện mặt cắt đê, xử lý các điểm sạt lở xung yếu đe dọa an toàn đê điều, việc củng cố, sửa chữa hoặc làm mới chưa được quan tâm đúng mức

Đồng thời hiện nay, ngoài nhiệm vụ phòng chống lũ, hệ thống các tuyến đê còn làm nhiệm vụ giao thông có vai trò để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng như

cơ đê Tả Lam tuyến từ Huyện Nam Đàn đến xã Nghi Thái huyện Nghi Lộc là Quốc lộ 46C (Đường vành đai sinh thái du lịch Quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Cửa Lò),… Trong những năm gần đây do yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, việc xây dựng nhà ở, bến bãi sản xuất kinh doanh và nhiều hoạt động phát triển kinh tế có liên quan đến đê điều dẫn đến tình trạng vi phạm Luật Đê điều, Luật phòng chống thiên tai gây ảnh hưởng đến an toàn của đê điều, đe dọa đến sự an toàn của cộng đồng và các hoạt động kinh tế trong khu vực vào mùa mưa bão

Với nhiệm vụ đa mục tiêu như vậy, việc thay đổi, hoàn thiện lại công tác quản lý nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ an toàn đê điều của tỉnh Nghệ An nói chung là nội dung quan trọng cấp thiết cần được quan tâm xem xét và giải quyết như một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

Qua quá trình làm việc tại Chi cục Thủy lợi Nghệ An, trong đó tham gia quản lý tuyến

đê Tả Lam, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn với tên gọi “Nâng cao năng lực quản

lý đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê tả Lam - tỉnh Nghệ An” với

mong muốn nghiên cứu những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hệ thống

đê điều một cách có hiệu quả an toàn dọc tuyến đê Tả Lam nói riêng và các tuyến đê trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung trong thời gian sắp tới để góp phần vào phát triển kinh tế tỉnh nhà

Trang 11

2 Mục đích của đề tài

- Phân tích xác định thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực công tác quản

lý và bảo vệ an toàn đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê Tả Lam - tỉnh Nghệ An

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý hệ thống đê điều hiện nay của tuyến đê Tả Lam trong công tác phòng chống thiên tai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tuyến đê Tả Lam từ K0 đến K104+200 trong giai đoạn năm 2015-2020

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách tiếp cận

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận thực tiễn

và khoa học trong công tác quản lý chất lượng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có;

- Phương pháp thống kê, phân tích

- Phương pháp khảo sát chuyên gia

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

5.1 Ý nghĩa khoa học

Tổng quan cơ sở lý luận về quản lý chất lượng tuyến đê Tả Lam - tỉnh Nghệ An

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đề xuất một số giải pháp nâng cao nâng cao năng lực quản lý và an toàn đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê Tả Lam, tỉnh Nghệ An

Trang 12

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Trình bày tổng quan về hệ thống đê điều trong và ngoài nước, hệ thống đê điều tỉnh Nghệ An Qua đó đã phân tích, đánh giá xác định được một số nguyên nhân cũng như biện pháp khắc phục các dạng hư hỏng đê thường gặp

- Đánh giá hiện trạng về năng lực quản lý hệ thống đê Tả Lam, các nguyên nhân do quản lý gây ra sự cố đê điều

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực quản lý và an toàn đê điều trong công tác phòng chống thiên tai tuyến đê Tả Lam, tỉnh Nghệ An

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU VÀ QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU HIỆN NAY

1.1 Tổng quan về hệ thống đê điều ở Việt Nam

1.1.1 Khái quát chung về hệ thống đê điều nước ta

Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, có rừng núi trùng điệp, có đồng bằng châu thổ lớn và cao nguyên hùng vĩ Ở Việt Nam có hơn 2.370 con sông có chiều dài

từ 10km trở lên, trong đó có 109 sông chính, tạo nên mạng lưới dày đặc và những đồng bằng phì nhiêu hiện nay, nhưng cũng gây nên không ít tai họa cho các thế hệ người dân Việt Nam [1] Việt Nam với địa hình đặc biệt có bờ biển dài dọc theo lãnh thổ, sông suối rất nhiều, trong đó có những con sông quốc tế đến Việt Nam là điểm hạ lưu cuối cùng như sông Hồng, sông Cửu Long, nên việc xây dựng đê để ngăn nước ngập lụt là điều tất yếu

Vào buổi đầu Công nguyên, sau khi chiếm được nước ta, Cao Biền cho đắp đê bao quanh thành Đại La Đê dài 2.125 trượng 8 thước (khoảng 8.500m), cao 1 trượng 5 thước (khoảng 6m), việc đóng lỵ sở đô hộ của phong kiến Trung Hoa tại Thành Luy Lâu (ngày nay thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) chắc chắn không thể thực hiện được nếu như không có đê, bởi những vùng đất thấp như vậy trong điều kiện tự nhiên của lũ sông Hồng hằng năm, thường xuyên sẽ bị ngập vài ba mét trở lên trong vòng 1 đến 2 tháng trong năm [2]

Lịch sử ghi nhận quá trình hình thành hệ thống đê điều Việt Nam từ thời Lý - Trần Vừa mới lên ngôi Lý Công Uẩn - vị vua đầu tiên của một triều đại được đánh giá là

"mở đầu công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc

và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập" Nhà

Lý cũng là một triều đại rất coi trọng nông nghiệp Đắp đê trị thủy đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia, không thể phó mặc cho sự tự phát của dân chúng Nhưng cũng mãi đến năm 1077 triều đình mới đứng ra chủ trương đắp những con đê quy mô lớn Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt (Sông Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30 km) [2]

Trang 14

Sang đến đời Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyến sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối, cải tạo một số tuyến vòng vèo bất hợp lý Về cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến đê sông Hồng và sông Cầu Về kỹ thuật đắp đê thời kỳ này là một bước nhảy vọt, tạo nên thế nước chảy thuận hơn, mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được tuyến đê, chiều cao đê từng đoạn cho phù hợp với đường mặt nước lũ Ngoài việc đắp đê, nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt, đặt thành trách nhiệm cho chính quyền các cấp “Năm nào cũng vậy, vào tháng sáu, tháng bảy (mùa lũ) các viên đê sứ phải đích thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nặng nhẹ mà khiển phạt” [2]

Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thống đê điều đã

có và phát triển tiếp lên Theo sách Đại Nam thực lục thì dưới triều Nguyễn năm đó vua còn cho đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Bộ Đến tháng 9 năm 1809, triều Nguyễn đã ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc Bộ với các quy định rất chặt chẽ về việc kiểm tra, phòng chống lũ và gia cố hệ thống đê điều hàng năm

Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tầm quan trọng và kinh tế chính trị của Bắc Kỳ Vì vậy, ngay từ những ngày đầu thiết lập nền đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trọng đến tình hình đê điều và trị thuỷ của Việt Nam Trong quá trình cai trị của mình, chính quyền Pháp đã gặp phải không ít những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và nhà cửa Sau trận lụt lịch sử đó, trước áp lực của dư luận, chính quyền thực dân đã nghiên cứu thực hiện một kế hoạch đắp đê Bắc

Bộ tương đối quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn vận dụng như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn

để cắt lũ; đắp đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cố đê hiện tại và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đối; có kế hoạch duy tu đê điều hàng năm

Việt Nam là một nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với địa hình địa mạo phong phú, các triền núi phía Tây, Tây Bắc, phía Đông bao bọc bởi biển, hệ thống sông ngòi dày đặc Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển

Trang 15

dọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt Hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn bộ vùng châu thổ trước nguy cơ ngập lụt

Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có khoảng 7.700 km đê, trong đó hơn 5.000 km

là đê sông, còn lại là đê biển với khối lượng đất ước tính là 520 triệu m3 Sự hình thành hệ thống đê thể hiện sự đóng góp, cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thế kỷ qua Mặc dù tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo tính ổn định cao đối với lũ lớn, tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến đê sông hay hệ thống đê biển là rất to lớn và không thể phủ định Hàng năm, hệ thống đê này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt sau khi xảy ra lũ lớn, đê sông đã từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu chống lũ đặt ra của từng thời kỳ

1.1.2 Vai trò của hệ thống đê điều đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Hệ thống đê điều của nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ tài sản, mùa màng, tính mạng của người dân, giúp góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú Lượng mưa trung bình hàng năm của cả nước đạt gần 2000mm Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có khoảng

2360 con sông với chiều dài từ 10km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển đông Tổng lượng dòng chảy trung bình vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62%

là từ lãnh thổ bên ngoài Phân bố mưa và dòng chảy năm không đều, 75% lượng mưa

và dòng chảy tập trung vào 3-4 tháng mùa mưa Mùa mưa lại trùng vào mùa mưa bão nên Việt Nam luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lụt Việt Nam với đặc thù là nước có đường bờ biển dài hơn 2000km vì thế tầm quan trọng của các hệ thống đê sông và đê biển là cực kỳ quan trọng Hàng năm Việt Nam đón nhận hơn 10 cơn bão từ biển đông, cùng với các hiện tượng thời tiết khác về mùa mưa bão khiến mực nước các sông thường dâng lên rất nhanh Bão vào Việt Nam ngày càng mạnh, sóng vào từ các cơn bão thường rất lớn vì vậy đối với Việt Nam hệ thống đê điều là cực kỳ quan trọng để bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân và của nhà nước Bởi vậy, ngay từ khi hòa bình lập lại, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm đầu tư cho hệ thống các công trình đê điều với đội ngũ cán bộ đã được đào tạo bài bản, tâm

Trang 16

huyết với nghề, tăng cường áp dụng công các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quản lý

và vận hàng các công trình

Công tác quản lý hệ thống đê điều, biện pháp phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai trong thời gian qua cũng được quan tâm đặc biệt, nhiều hệ thống đê điều được xây mới góp phần giảm số người chết và thiệt hại kinh tế

Ngoài ra hệ thống đê điều còn góp phần hình thành mạng lưới giao thông quan trọng, giúp tăng lưu lượng giao thông Mục tiêu ban đầu của các công trình đê điều chỉ nhằm ngăn và chống lũ, bảo vệ các khu vực được hưởng lợi từ công trình mang lại Nhưng

do quá trình phát triển xã hội, công trình đê điều từng bước được đầu tư để cải tạo, nâng cấp đáp ứng nhu cầu khai thác sử dụng tổng hợp Công trình đê không còn chỉ là công trình bằng đất thực hiện mục tiêu phòng chống lũ mà còn là công trình giao thông phát triển kinh tế vùng

1.1.3 Hệ thống đê sông Việt Nam

Đê sông của Việt Nam không nối liền nhau mà tạo thành dãy theo hệ thống các sông Việc phân loại đê do Chính phủ quy định dựa vào các tiêu chí như: Số dân được bảo

vệ, tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế, xã hội; đặc điểm lũ, bão của từng vùng; diện tích và phạm vi địa giới hành chính; độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; lưu lượng lũ thiết kế Có nhiều cách phân loại hệ thống đê điều: Phân loại theo nhiệm vụ của đê điều: Hệ thống đê điều hiện nay được chia làm nhiều loại tương ứng với từng nhiệm vụ ở từng khu vực khác nhau:

Đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ;

Đê sông là đê ngăn nước lũ của sông;

Đê biển là đê ngăn nước biển;

Đê cửa sông là đê chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển;

Đê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt;

Đê bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông;

Đê chuyên dùng là đê bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt

Trang 17

Phân loại đê điều theo cấp đê : Có 5 cấp đê (cấp I, II, III, IV, V) Việc phân cấp đê do Chính phủ quy định dựa theo các tiêu chí sau:

Số dân được đê bảo vệ;

Tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội;

Đặc điểm lũ, bão của từng vùng;

Diện tích và phạm vi địa giới hành chính;

Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế;

Lưu lượng lũ thiết kế

Hệ thống đê ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thống đê sông Hồng và hệ thống đê sông Thái Bình, đây là hệ thống đê sông có quy mô lớn nhất nước ta với tổng chiều dài khoảng 2.012 km Nhìn chung, đê có chiều cao phổ biến từ 5 ÷ 8 mét, có nơi cao tới

11 mét Trong đó đê thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm 18 tuyến với tổng chiều dài khoảng 1.314 km dọc theo các sông: Đà, Thao, Lô, Hồng, Đuống, Luộc, Trà Lý, Đào, Ninh Cơ và sông Đáy, đoạn đê cấp đặc biệt (đê hữu sông Hồng thuộc nội thành Hà Nội) là 37,09km

Đê thuộc hệ thống sông Thái Bình bao gồm 27 tuyến với tổng chiều dài khoảng 698km dọc theo các sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thái Bình, Kinh Thầy, Lai

Vu, Cà Lồ, Văn Úc, Lạch Tray, Hóa, Cấm, Bạch Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh

Các tuyến đê ở các tỉnh miền Trung bao gồm tuyến đê thuộc hệ thống sông Mã và sông Cả đây là hai hệ thống sông lớn ở Bắc Trung Bộ Hệ thống đê sông Mã, sông Cả

có tổng chiều dài là 381,47km, trong đó chiều dài đê thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1km; Chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km Thượng nguồn của hai hệ thống sông này chưa có hồ chứa để tham gia điều tiết lũ, vì vậy đê vẫn là biện pháp công trình duy nhất và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chống lũ Hiện tại tuyến đê thuộc hai hệ thống sông này chỉ còn khoảng 31 km đê thấp so với thiết kế, khoảng 164km có mặt cắt đê nhỏ, mái dốc chưa có cơ, thân đê còn nhiều

Trang 18

khuyết tật, nền đê nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn biến rất phức tạp, nhiều đoạn đê sát sông

Ở miền Nam hệ thống đê điều chủ yếu là đê biển và đê cửa sông, đê sông ở miền Nam

có kết cấu đơn giản, chủ yếu là đê bao, đê bối ngăn mặn

- Phát triển nông nghiệp, thủy sản ở ĐBSCL trên cơ sở dòng chảy kiệt sông Mê Công

và xâm nhập mặn Xâm nhập mặn là hiện tượng phức tạp ở vùng sông ảnh hưởng triều Bài toán xâm nhập mặn trước đây luôn gắn với khai thác và sử dụng dòng chảy kiệt cả ở thượng lưu Mê Công và ĐBSCL, nay lại thêm tác động của nước biển dâng nên càng phức tạp Quản lý dòng chảy kiệt được xem là chiến lược quan trọng nhất

“Đảm bảo an ninh dòng chảy kiệt” là yếu tố sống còn đối với sự phát triển ổn định và bền vững của ĐBSCL trong tương lai

- Để phát triển và phát triển bền vững, kiểm soát lũ được xem là hướng đi tất yếu ở vùng ngập lụt ĐBSCL Tuy nhiên, cần lưu ý những vấn đề về chuyển đổi sản xuất linh hoạt ở vùng không kiểm soát lũ để lợi dụng tối đa nguồn lợi từ lũ; Tác động tương hỗ của kiểm soát lũ đến dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn; Hiệu quả và hệ quả của bảo vệ sản xuất lúa 3 vụ trong vùng ngập lũ; Tác động của kiểm soát lũ ở mức độ cao đến các

hệ sinh thái vùng lũ; Tác động của kiểm soát lũ đến ổn định lòng sông, kênh, cửa sông

và bờ biển; Tận dụng nguồn nước lũ để phát triển nông nghiệp/thủy sản, vệ sinh đồng ruộng, không làm giảm lợi ích từ các trận lũ trung bình và lũ nhỏ; Tác động giảm lũ từ

hệ thống hồ chứa thượng lưu đến lũ và dòng chảy kiệt

1.1.4 Hệ thống đê biển Việt Nam

Trải qua thời gian dài xây dựng và phát triển nước ta hiện nay đã có khoảng 2700 km

đê biển, đê cửa sông trải khắp từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Đê biển của ta không liền tuyến mà bị ngăn cách nhiều đoạn bởi 114 cửa sông lớn nhỏ khác nhau Chính vì vậy mà tổng chiều dài đê cửa sông xấp xỉ bằng đê trực tiếp biển Trong tổng số 117 huyện ven biển thì có 105 huyện có đê biển Tổng chiều dài kè biển là 364km và số cống dưới đê biển là 1.235 cái Dọc ven biển Việt Nam có rất nhiều đảo và quần đảo trong đó có 120 đảo lớn Hầu hết các tuyến đê biển hiện nay có nhiệm vụ bảo vệ sản xuất nông nghiêp Ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá vùng có đê biển bảo vệ sản xuất

Trang 19

3 vụ, còn đối với các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sản xuất 2 vụ, có nơi 3 vụ Có khoảng

300 km đê biển để nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh những năm gần đây Theo

số liệu thống kê, đê cửa sông chia làm 3 vùng:

+ Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Hậu Lộc - Thanh Hóa),

+ Trung Bộ (Nam Thanh Hóa đến Bình Thuận)

+ Nam Bộ (từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Kiên Giang)

1.2 Tổng quan về hệ thống đê điều tỉnh Nghệ An

Hệ thống đê tỉnh Nghệ An có tổng chiều dài là 493km [3] Trong đó:

- Đê Tả Lam - đê cấp III: 68,22km;

- Đê Tả - Hữu Lam - đê cấp IV: 87,48Km;

- Đê bao nội đồng: 150,09Km;

- Đê cửa sông: 129,19Km; Kè cửa sông: 4,58Km;

- Đê biển: 41,78Km; Kè biển: 11,65Km;

1.2.1 Đê sông

Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt), tuy nhiên 6 trong số này là các sông ngắn ven biển có chiều dài dưới 50 km, duy nhất có sông Cả với lưu vực 15.346 km2, chiều dài 361 km Địa hình núi thấp và gò đồi chiếm tỷ trọng lớn nên mạng lưới sông suối trong khu vực khá phát triển với mật độ trung bình đạt 0,62 km/km2 nhưng phân bố không đều trong toàn vùng Vùng núi có độ dốc địa hình lớn, chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển mạnh trên 1 km/km2, còn đối với khu vực trung du địa hình gò đồi nên mạng lưới sông suối kém phát triển, trung bình đạt dưới 0,5 km/km2 Tuy sông ngòi nhiều, lượng nước khá dồi dào nhưng lưu vực sông nhỏ, điều kiện địa hình dốc nên việc khai thác sử dụng nguồn nước sông cho sản xuất và đời sống gặp nhiều khó khăn

1.2.2 Đê cửa sông

Đê cửa sông có tổng chiều dài là 129,19 km, các tuyến đê này có nhiệm vụ chống lũ vùng cửa sông của các sông: Sông Mai Giang, sông Hoàng Mai, sông Thái, sông

Trang 20

Bùng, sông Cửa Lò [3] Trong đó:

- Huyện Quỳnh Lưu có 83,301km;

- Huyện Diễn Châu có 22,537km;

- Huyện Nghi Lộc có 23,356km

Phần lớn các tuyến đê cửa sông xuống cấp nhiều, chất lượng đê kém, mặt đê rộng B=(1,0  3,0) m, cao trình đỉnh đê +2.00  +3.00, mái đê m= (1,5  2,0) Các tuyến đê này chỉ chống được gió bão cấp 7, cấp 8, riêng đê Quỳnh Lộc, Quỳnh Dị và Bích Kỷ, Vạn Ngọc đã được nâng cấp chống được gió bão cấp 10 và triều cường tần suất P=5%

1.2.3 Đê biển

Nghệ An có 82km bờ biển kéo dài từ xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu đến Cửa Hội (phường Nghi Hải, Thị xã Cửa Lò) Bờ biển bị chia cắt bởi 6 cửa lạch (Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Thơi, Lạch Vạn, Cửa Lò và Cửa Hội) [3] Hiện nay có 41,783km đê biển và 11,65km kè biển gồm các tuyến:

- Đê Bãi Ngang, huyện Quỳnh Lưu: chiều dài 9,741km

- Đê Long - Thuận - Thọ, huyện Quỳnh Lưu: chiều dài 5,682km

- Đê Kim - Hải - Hùng, huyện Diễn Châu: chiều dài 9,534km

- Đê Trung - Thịnh - Thành, huyện Diễn Châu: chiều dài 11,92km

- Đê Diễn Thành, huyện Diễn Châu: chiều dài 2,322km;

- Đê La Vân, huyện Nghi Lộc: chiều dài 1,884km;

- Đê Thượng Xá, huyện Nghi Lộc: chiều dài 0,70km;

- Kè Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu: chiều dài 2,294km;

- Kè Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu: chiều dài 1,792km;

- Kè Thị xã Cửa Lò: chiều dài 7,564km

Các tuyến đê biển đã được nâng cấp đảm bảo chống được gió bão cấp 10 gặp triều cao trung bình tần suất 5% (theo chương trình nâng cấp đê biển của Chính phủ tại Quyết định số 58/2006/TTg ngày 14 tháng 03 năm 2006) Hiện trạng các tuyến đê biển được

Trang 21

thống kê và tập hợp tại bảng 2 phụ lục kèm theo

1.3 Tình hình quản lý đê điều ở Việt Nam trong những năm vừa qua

1.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở Việt Nam

Hệ thống sông ngòi, bờ biển ở Việt Nam trải dài khắp cả nước vì thế hầu như tỉnh, thành phố nào cũng có hệ thống đê điều Vì thế, bộ máy tổ chức quản lý đê điều được hình thành tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ từ trung ương đến địa phương, từ nhiều năm qua với hệ thống tổ chức bộ máy ngày càng đầy đủ về nhân lực, hình thành nhiều phòng chức năng riêng gồm:

Cấp Trung ương: Vụ Quản lý đê điều thuộc Tổng Cục Phòng Chống Thiên Tai - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

Cấp tỉnh: Chi cục đê điều và phòng chống lụt bão (nay Chi cục thủy lợi);

Cấp huyện: Lực lượng chuyên trách quản lý đê điều thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có đê được tổ chức thành các Hạt Quản lý đê trong phạm vi một huyện hoặc liên huyện

1.3.2 Tình hình đầu tư cho xây dựng và quản lý đê điều

Nguồn kinh phí bảo đảm duy tu, bảo dưỡng đê điều hiện nay được lấy từ 3 nguồn chủ yếu là: Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí duy tu, bảo dưỡng đê điều đối với các tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt; hỗ trợ sửa chữa đột xuất khắc phục sự cố đê điều đối với đê cấp IV và cấp V;

Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí duy tu, bảo dưỡng đê điều đối với đê dưới cấp III và tham gia bảo đảm duy tu, bảo dưỡng đê điều từ cấp III đến cấp đặc biệt; Đối với đê chuyên dùng của các ngành, cơ sở; kinh phí duy tu, bảo dưỡng đê điều do các chủ công trình bảo đảm

1.3.3 Hệ thống các chính sách về quản lý đê điều của Việt Nam

Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực đê điều đã được ban hành, sửa đổi phù hợp với tình hình thực tế về cách tiếp cận và phạm vi điều chỉnh, quy định về quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu

Trang 22

bổ, nâng cấp và kiên cố hóa đê điều, quản lý, bảo vệ đê, hộ đê và sử dụng đê điều Đẩy mạnh việc thực thi Pháp luật khi nhà nước đã tạo điều kiện về quyền cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động về đê điều, các hoạt động có liên quan đến đê điều thì phải đảm bảo về nghĩa vụ trách nhiệm cho quyền của mình trong lĩnh vực này Để đê điều phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng trong giai đoạn mới Nhà nước đã ban hành Luật Phòng chống thiên tai số 33/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013 có hiệu lực từ 01/5/2014 [4] nhằm mục đích cơ bản như sau:

Một là: Nâng cao hiệu lực pháp lý để điều chỉnh các vấn đề có liên quan phù hợp với tính chất quan trọng của hệ thống đê điều trong việc phòng chống lụt, bão, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ dân sinh, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh, quốc phòng

Hai là: Mở rộng phạm vi điều chỉnh; cụ thể hóa các quy định đối với các hoạt động liên quan đến đê điều như tổ chức lực lượng trực tiếp quản lý bảo vệ đê; phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động liên quan đến đê điều, giải quyết những tồn tại bất cập của Luật Phòng chống thiên tai năm 2013 đã tính tới đặc thù của đê điều ở các vùng miền khác nhau

Ba là: Hệ thống hóa các quy định dưới luật để ban hành và thực hiện có hiệu quả để bảo đảm hiệu lực pháp lý cao hơn

Tổ chức bộ máy quản lý, bảo vệ đê điều đã được Nhà nước quy định rõ trong Luật đê điều, luật phòng chống thiên tai về chức năng; nhiệm vụ; quyền hạn; trách nhiệm và biên chế cho lực lượng quản lý đê chuyên trách và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, để giúp cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đê điều Hiện nay nhiều tuyến đê biển chưa được nâng cấp, nhất là các tuyến do địa phương quản lý mới bảo đảm chống đỡ được gió cấp 8 khi triều ở mức bình thường Chính phủ

đã phê duyệt 02 Chương trình nâng cấp đê biển các tỉnh ven biển, bao gồm Chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam từ năm 2006; Chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang từ năm 2009 đến năm 2020 với tổng mức đầu tư là 19,481 tỷ đồng để nâng cấp đê biển đi qua 15 tỉnh, thành từ miền Trung

Trang 23

vào đồng bằng sông Cửu Long, gồm có xây dựng bờ kè, mở rộng trải nhựa mặt đê kết hợp với làm đường giao thông, trồng rừng chắn sóng,…

Trong Chiến lược phát triển thủy lợi Việt Nam đến năm 2020 [5] đã ghi rõ định hướng xây dựng và củng cố hệ thống đê điều ở nước ta như sau:

Củng cố các tuyến đê sông Hồng thuộc tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ để chống được lũ có mực nước tương ứng +13,1 m tại Hà Nội, các tuyến đê sông Thái Bình thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang chống được lũ có mức nước tương ứng +7,20 mét tại Phả lại Thực hiện các chương trình cứng hoá mặt đê bằng bêtông, trồng tre chắn sóng và cỏ vetiver chống xói mòn, cải tạo nâng cấp và xây dựng mới cống dưới đê, xử lý nền đê yếu, hỗ trợ cứng hoá mặt đê bối, xây dựng tràn sự cố đề phòng lũ cực hạn,

Thực hiện các chương trình nâng cấp hệ thống đê biển, xây dựng công trình phòng chống xói lở bờ sông bờ biển, khắc phục tình hình biển tiến ở vùng Hải Hậu (Nam Định), Củng cố đê biển Quảng Ninh đến Kiên Giang chống được mực nước triều tần suất 5% ứng với gió bão cấp 9 (2010) và gió bão cấp 10 (năm 2020) Hoàn chỉnh và nâng cấp hệ thống đê biển, đê cửa sông, gồm: tôn cao đỉnh, ổn định mái và chân đê, trồng cây chống sóng theo 2 chương trình: Đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam; và

Đê biển ở Duyên hải Nam trung bộ và Đồng bằng sông Cửu Long Theo số liệu của

Bộ NN và PTNT, Kế hoạch đầu tư công trung hạn về đê điều giai đoạn 2016-2020 của chúng ta như sau:

Đối với các Chương trình củng cố, nâng cấp đê sông, đê biển: Dự kiến, bố trí kinh phí cho kế hoạch 5 năm 2016-2020 là 32.946 tỷ đồng, trong đó Chương trình 58 là 6.088

tỷ đồng; Chương trình 667 là 26.856 tỷ đồng; Chương trình củng cố, nâng cấp đê sông

là 26.245 tỷ đồng Đối với công tác tu bổ và duy tu bảo dưỡng đê điều: Để chủ động trong công tác tu bổ đê điều thường xuyên và duy tu bảo dưỡng đê điều các năm 2016-

2020 bố trí kinh phí đầu tư mỗi năm khoảng 550 tỷ đồng/năm

1.3.4 Những tồn tại trong việc quản lý hệ thống đê điều trong nước hiện nay

Đối với thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về đê điều Luật phòng chống thiên tai đã thực sự đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao hiệu

Trang 24

lực quản lý nhà nước trong việc quản lý, xây dựng, tu bổ, bảo vệ đê điều Tuy nhiên, qua quá trình triển khai thực hiện còn tồn tại những hạn chế trong công tác thiên tai thể hiện rõ ở việc nhận thức của chính quyền, ý thức của người dân về phòng chống thiên tai Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy, lực lượng chủ yếu là kiêm nhiệm, chưa có chuyên trách, còn lúng túng trong triển khai phòng chống cũng như kéo dài thời gian khắc phục hậu quả Quy trình tiếp nhận viện trợ còn phức tạp, không kịp thời, giảm hiệu quả sử dụng kinh phí Ngoài ra, công tác dự báo, cảnh báo chưa đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai ngày càng cao của xã hội nhất là cảnh báo lũ quét, sạt lở đất Quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội của các bộ ngành, địa phương chưa lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai Khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng còn thấp; cơ sở vật chất cơ quan tham mưu chỉ đạo, điều hành còn hạn hẹp, thiếu công cụ hỗ trợ; Việc ứng dụng khoa học công nghệ nhất là công nghệ dự báo, cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, cảnh báo lũ từ các nước khu vực thượng lưu còn hạn chế; thiếu các vật tư, trang thiết bị chuyên dùng, đặc thù để ứng phó thiên tai, thiết bị cảnh báo tự động tại cộng đồng Sự tham gia của các ngành đối với công tác phòng chống thiên tai chưa đáp ứng yêu cầu nhất là việc tuyên truyền, vận động thông qua các hoạt động văn hóa – xã hội Thiếu nguồn lực cho phòng chống thiên tai; chưa có Quỹ phòng chống thiên tai quốc gia, bảo hiểm rủi ro thiên tai và bố trí nguồn lực sẵn sàng ứng phó như các nước trong khu vực

Ngoài ra biến đổi khí hậu, nước biển dâng tác động nhanh và mạnh hơn so với dự báo đến thời tiết, thiên tai nước ta, đồng thời các hoạt động khai thác tài nguyên (nước, rừng, cát sỏi) phía thượng nguồn hệ thống sông Hồng, sông Mê Kông đã và đang làm gia tăng rủi ro thiên tai, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của đất nước

Việc phân công, phân cấp, xã hội hóa trong công tác quản lý bảo vệ đê điều chưa được chú trọng đúng mức

Mặc dù công tác quản lý, bảo vệ đê điều cũng đã được củng cố và tăng cường, nhất là việc kiểm tra, thanh tra chấp hành Pháp luật và xử lý vi phạm về đê điều Song hiện tượng vi phạm Luật đê điều, Luật phòng chống thiên tai như: Xây dựng nhà kiên cố, nhà tạm trong hành lang an toàn, hành lang bảo vệ đê; chứa chất vật tư, chất thải trên

Trang 25

đê; đào xẻ đê không đúng quy định vẫn diễn ra gây ảnh hưởng đến công tác quản lý đê điều Một số nguyên nhân chính được đưa ra như sau:

1.3.4.1 Do khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép

Hình 1.1: Tập kết vật liệu trái phép (nguồn: internet) Khai thác cát, sỏi lòng sông là việc làm tất yếu phục vụ nhu cầu xây dựng đang ngày càng phát triển, nếu khai thác theo đúng quy hoạch, đúng giấy phép có tác dụng rất tích cực cho thoát lũ, ổn định lòng dẫn và giao thông thuỷ Tuy nhiên, hiện việc cấp giấy phép, quản lý khai thác cát, sỏi lòng sông hiện còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là các đoạn sông tại vùng giáp gianh giữa hai tỉnh (có hiện tượng lực lượng chức năng không cho khai thác bờ bên này thì chuyển sang bờ kia hoặc không cho khai thác ở khúc sông này chuyển đến khúc sông khác để khai thác), chế tài hiện chưa đủ mạnh và chưa có sự phối hợp đồng bộ của các địa phương nên việc khai thác trái phép, sai phép vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi đặc biệt có nơi việc khai thác cát trái phép ngay tại khu vực chân đê và mái kè bảo vệ bờ sông gây sạt lở

1.3.4.2 Nạn chặt phá rừng, khai thác tài nguyên vùng đầu nguồn

Làm suy giảm tầng phủ thực vật, mất khả năng điều tiết của rừng nên về mùa mưa nước lũ tập trung nhanh hơn làm gia tăng lưu tốc dòng chảy, biên độ và cường suất lũ

Trang 26

Hình 1.2: Nạn chặt phá rừng đầu nguồn (nguồn: internet)

1.3.4.3 Do phát triển các hoạt động dân sinh ra vùng ven sông, ven biển

Do sức ép về dân số, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, sự quản lý chưa chặt chẽ nên việc vi phạm, xâm chiếm bãi sông, lòng dẫn để xây dựng công trình, nhà cửa, đổ chất thải, vật liệu lấn chiếm lòng sông, việc phát triển các tuyến đê sông, bờ bao không theo quy hoạch ngày càng tăng đã làm thay đổi chế độ dòng chảy, chất tải lên bờ sông làm gia tăng diễn biến sạt lở bờ sông, bờ biển

Hình 1.3: Xây dựng lấn chiếm hành lang bảo vệ đê (nguồn: internet)

Trang 27

1.3.4.4 Do ảnh hưởng của các hoạt động giao thông đi lại trên mặt đê

Hình 1.4: Xe có tải trọng lớn đi lại trên đê Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây lên hiện tượng lún sụt, bong vỡ mặt

đê Trong những năm gần đây việc thực hiện nâng cấp, hoàn thiện, cứng hoá mặt đê thường chỉ chú trọng đến vấn đề đảm bảo cao trình an toàn chống lũ mà chưa đặt ra vấn đề kết hợp đường giao thông Mặt đê thường được thiết kế có chiều rộng từ 5 ÷ 6m; kết cấu bê tông M250 - M300# chiều dày 25cm Với chiều rộng và kết cấu mặt đê như vậy theo Tiêu chuẩn Việt Nam 4054-2005: Đường ôtô - yêu cầu thiết kế; Quy trình thiết kế áo đường cứng 22TCN 223- 95 thì đảm bảo cho những xe có tải trọng 12T đi qua Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương (đặc biệt là nhu cầu về chở hàng hoá, vật liệu xây dựng… ) thì những xe có tải trọng lớn như xe Kamaz, xe rơmooc… thường được sử dụng

1.3.5 Đánh giá về năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian qua

Qua thực tế hoạt động có thể nhận thấy, năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian quan đã được nâng cao:

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo làm quản lý đê điều đều được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, năng động, dám nghĩ, dám làm, quyết đoán Đây là những điều kiện thuận lợi để lãnh đạo quản lý hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ

Trang 28

Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đê điều đều được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong công tác chuyên môn Các cán bộ có trình độ tương đối đồng đều, có khả năng cập nhật, nắm bắt thông tin mới nhanh nhậy

Các cán bộ đều nhiệt tình, tận tụy với công việc, có sức khỏe tốt, sẵn sàng làm việc với cường độ cao trong mọi điều kiện, trên địa bàn rộng Có phẩm chất chính trị vững vàng, có tư duy kinh tế, tin tưởng vào đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Không dao động trước những diễn biến phức tạp của thế giới, nhất là âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch Nội bộ cán bộ đoàn kết, thực hiện tốt quy chế tập trung dân chủ ở cơ sở nên đã phát huy tốt trí tuệ tập thể, góp phần nâng cao chất lượng công tác

Cở sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý theo dõi đê điều ở Nghệ An

đã được trang bị tương đối đầy đủ Với lực lượng quản lý đê điều chuyên trách là Chi cục Thủy Lợi Nghệ An và các Hạt quản lý đê trực thuộc với nguồn vốn đầu tư của Nhà nước và địa phương cơ sở vật chất như trụ sở đã được đầu tư, ngoài ra còn là các hệ thống máy tính, điện thoại, bộ đàm, máy dò tổ mối, thước mét, xuồng máy, áo phao… Tuy nhiên còn một số hạn chế cần khắc phục để nâng cao năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian tới:

Tổ chức bộ máy quản lý đê điều chưa thu hút được các cán bộ có năng lực, tình trạng

là còn nhiều cán bộ chưa toàn tâm toàn ý cho công việc, sao nhãng dẫn đến chưa đáp ứng được các yêu cầu và nhiệm vụ quản lý đê điều trong điều kiện phức tạp hiện nay Trong bộ máy quản lý đê điều tinh thần đấu tranh phát hiện sai phạm còn hạn chế, còn tình trạng bao che cho các tổ chức các nhân vi phạm trong lĩnh vực đê điều của 1 bộ phận các cán bộ đê điều, dẫn đến công việc chưa giải quyết dứt điểm, chưa động viên được cấp dưới làm việc hiệu quả chính điều này cũng làm chõ hiệu quả quản lý đê điều còn hạn chế

Năng lực trình độ của 1 bộ phận cán bộ còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế còn ít, môi trường làm việc trải trên diện rộng đan xen nhiều thế hệ tư tưởng còn cục bộ chậm đổi mới ảnh hưởng đến công tác chủ đạo và điều hành quản lý đê điều

Trang 29

Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ còn chưa theo kịp với tình hình cụ thể, việc đào tạo đa phần là lý thuyết, ít thực tế nên hiệu quả chưa cao;

Chưa thu hút được nhiều cán bộ có năng lực nổi bật, một số cán bộ chưa thực sự toàn tâm, toàn ý với công việc do đó chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn kinh tế phát triển hiện nay về công tác quản lý;

Tinh thần đấu tranh phê và tự phê còn hạn chế, còn né tránh, giải quyết công việc chưa dứt điểm, lề lối, tác phong làm việc chưa chuyên nghiệp, chưa động viên được cấp dưới làm việc có hiệu quả

Tình trạng vi phạm Luật Đê điều, phòng chống thiên tai ở nhiều địa phương chưa được ngăn chặn và xử lý kịp thời; không ít lãnh đạo huyện, xã, phường chưa nhận thức đầy

đủ về trách nhiệm, tầm quan trọng của công tác quản lý, bảo vệ đê điều nên thiếu sự quan tâm chỉ đạo Thậm chí chính quyền một số địa phương còn có biểu hiện né tránh giải quyết các vụ vi phạm mà lực lượng quản lý đê phát hiện và kiến nghị Một số tổ chức, cá nhân vì lợi ích kinh tế, cố tình tình vi phạm Luật như khai thác, lập bãi tập kết cát sỏi trái phép gây ảnh hưởng đến dòng chảy, tiêu thoát lũ…

1.4 Kinh nghiệm công tác quản lý đê điều của một số nước trên thế giới

Một đặc điểm quan trọng của hệ thống đê biển các nước phát triển là công nghệ xây dựng tiên tiến; quy trình công nghệ được đảm bảo Máy móc được áp dụng trong mọi khâu của quá trình từ khảo sát, thiết kế, xây dựng, vận hành bảo dưỡng nên những hỏng hóc nhỏ trong điều kiện bình thường rất ít xảy ra, trừ những sự cố thiên tai lớn Trên thế giới, những tuyến đê đầu tiên được hình thành từ rất xa xưa, tùy mục đích khác nhau mà các tuyến đê được xây dựng thuần túy bằng đất hoặc bằng đá Mục đích chính của các tuyến đê nhân tạo là tạo lên một phòng tuyến ngăn chặn lũ lụt bảo vệ các vùng dân cư hoặc đồng ruộng trũng Cũng có những tuyến đê được hình thành với mục đích tạo ra một đường vận tải thủy nối liền các dòng sông lớn với nhau hoặc nối từ sông ra biển phục vụ phát triển thương mại hàng hải

Ở những nước như: Hà Lan, Đức, Bỉ, Anh, Đan Mạch, Mỹ, Nhật Bản, ngoài việc tăng cường hệ thống đê biển thì việc duy trì bãi trước như một giải pháp không chỉ giúp

Trang 30

tăng an toàn cho đê mà còn là chiến lược phát triển du lịch biển, vì vậy, người ta quan tâm đến những giải pháp mềm như: nuôi bãi, trồng rừng ngập mặn v.v Các đội tàu hút cát hoạt động thường xuyên làm rộng các bãi tắm, tạo thêm cảnh quan, dải đất ven biển được trồng cây chắn sóng, bài toán phát triển bền vững môi trường sinh thái biển luôn được đặt ra trong các dự án phát triển

Tùy thuộc vào đặc điểm tự nhiên, khí hậu, địa hình và trình độ phát triển của mỗi quốc gia mà các hệ thống này được phát triển ở mức độ khác nhau Một số quốc gia có hệ thống đê điều phát triển như sau:

1.4.1 Hệ thống đê điều Hà Lan

Hà Lan là một đất nước điển hình về công nghệ xây dựng đê trên thế giới do đa số lãnh thổ của đất nước này thấp hơn mực nước biển Ở Hà Lan những con đê được xây dựng sớm nhất vào khoảng thế kỷ 11 Cho đến ngày nay, Hà Lan đã có một hệ thống

đê ngày một lớn (siêu đê) bền vững bảo vệ người dân, cơ sở hạ tầng quốc gia ngăn chặn nước biển, sóng dâng với các trận lũ bão lịch sử

Hà Lan là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển Vùng trũng nhất ở dưới mực nước biển tới 6,74m là một thị trấn nhỏ thuộc thành phố Rotterdam Chính vì đặc điểm này mà người Hà Lan trở thành một trong những chuyên gia số một về thủy lợi và công trình biển với rất nhiều thành tựu đáng khâm phục Đê biển được xây dựng không cho phép nước tràn dưới tác động của sóng bão; kết cấu của đê được đặc biệt quan tâm và được kiểm soát rất chặt chẽ về chất lượng trong quá trình xây dựng thông qua một ủy ban riêng thuộc Nhà nước

Kết cấu thân đê: Đê thường có cả cơ ngoài và cơ trong kết hợp giao thông Tùy theo mức độ quan trọng mà kết cấu của đê cũng khác nhau Với đê không trực diện với biển thường là đê đất với lõi đất hoặc lõi cát bảo vệ bằng đất sét, bảo vệ mái trong và ngoài bằng hình thức trồng cỏ, tần suất thiết kế cũng thấp hơn Đối với những đê trực diện với biển thì lõi không khác so với những đê khác, nhưng nền đê được xử lý và gia cố rất cẩn thận, lớp bảo vệ khá đặc biệt Đó là các khối bảo vệ có xu hướng chuyển từ dạng “bản” như đang được sử dụng phổ biến hiện nay sang dạng cột để tăng ổn định

và dễ sửa chữa khi có sự cố, bố trí cơ ngoài đủ lớn để chiết giảm tối đa năng lượng

Trang 31

sóng leo và sóng tràn đỉnh, đồng thời đó cũng là đường giao thông kết hợp đường sửa chữa, bảo dưỡng đê khi cần thiết Việc bảo vệ mái ngoài và chân đê cũng được xem là đặc biệt quan trọng trong xây dựng đê biển Tại những vùng có tác động sóng lớn, bảo

vệ mái ngoài đê và chân đê thường được tăng cường bằng lớp vỏ hợp bởi các cấu kiện

bê tông đúc sẵn, có thể theo hình thức loại kết cấu tự chèn hoặc các khối hình lập phương (ví dụ như: Tetrapod, Accrepod, X-block hay Cube), với khối lượng từ vài tấn đến vài chục tấn thả phía bãi trước để triệt tiêu bớt năng lượng sóng trước khi sóng vào đến đê Đê biển Afsluitdijk là một trong những minh chứng điển hình với tổng chiều dài hơn 32km, rộng 90m và độ cao ban đầu là 7.25m trên mực nước biển trung bình Điều phi thường là công trình này được tiến hành trong khoảng thời gian vẻn vẹn 6 năm từ năm 1927 đến 1933

Giờ đây, hệ thống đê biển ở Hà Lan đã trở thành một bức trường thành ngăn chặn các thảm họa của biến đổi khí hậu Người ta có thể vượt trên các con đê, kè biển với tốc độ hơn 100km/giờ Đê thường xuyên được duy tu bảo dưỡng để đảm bảo không có sự cố đáng tiếc nào xảy ra Ở một số đoạn của con đê, người ta còn xây dựng các nhà hầm, khách sạn và bảo tàng phục vụ du khách từ các nơi đến tham quan và nghiên cứu kinh nghiệm của Hà Lan Mức đảm bảo chống lũ hiện tại của hệ thống đê của Hà Lan cao hơn của nước ta rất nhiều, tiến tới mức đảm bảo chống lũ ở một số khu vực của Hà Lan sẽ được nâng lên gấp 10 lần so với hiện nay, có nơi đưa lên tới tần suất 10.000 năm xuất hiện một lần

Hình 1.5: Hệ thống đê, đập ngăn triều Maeslant Hà Lan (nguồn: internet)

Trang 32

Ở Hà Lan, một Uỷ ban Châu thổ (Deltacommissie) mới được Chính phủ Hà Lan thành lập nhằm đưa ra các tư vấn với tầm nhìn dài hạn cho việc bảo vệ và phát triển bền vững vùng ven biển và các vùng đất thấp Trọng trách của Ủy Ban Châu thổ: Chính phủ Hà Lan đã yêu cầu Ủy ban Châu thổ (sau đây gọi tắt là Ủy ban) đưa ra các kiến nghị để bảo vệ các vùng ven biển Hà Lan và những vùng đất thấp bên trong trước các tác động của biến đổi khí hậu Nhiệm vụ trọng trách đặt ra là làm thế nào để đảm bảo cho đất nước Hà Lan có thể an toàn trước các biến đổi khí hậu trong một thời gian rất dài, an toàn trước nguy cơ lũ lụt trong khi vẫn duy trì được là một vùng đất hấp dẫn để sinh sống, cư trú và làm việc cũng như để giải trí và đầu tư Ủy ban đưa ra kết luận rằng nên xem xét việc mực nước biển sẽ dâng lên từ 0.65 tới 1.3 m cho đến năm 2100

và từ 2 tới 4 m cho đến năm 2200 Với việc mực nước biển dâng lên, lưu lượng nước trong sông giảm vào mùa hè, sự xâm nhập mặn theo các con sông và nước ngầm, tất cả tạo áp lực lên việc cung cấp nước ngọt cho quốc gia cũng như các ngành nông nghiệp, hàng hải và các lĩnh vực khác của nền kinh tế có liên quan tới nước

Quy hoạch sử dụng những vùng chậm lũ và phân lũ của Hà Lan, đã được áp dụng trong điều kiện BĐKH và nước biển dâng để chủ động hơn trong việc sống chung với

lũ và đạt nhiều mực tiêu hơn như việc dự trữ nguồn nước ngọt và kết hợp tạo ra những vùng đa dạng sinh học phong phú

Ở Việt Nam, đa số ở mức 50-100 năm xuất hiện một lần, riêng sông Hồng sau khi hồ Sơn La vào hoạt động thì đạt mức đảm bảo chống lũ 500 năm xuất hiện một lần Hệ thống đê của Hà Lan luôn được kết hợp làm hệ thống đường giao thông hiện đại vừa tiết kiệm đầu tư, vừa tiết kiệm đất và thuận lợi cho quản lý khai thác Quan điểm xây dựng đê thân thiện với môi trường, với hình thức đê này, kết hợp với việc trồng rừng ngập mặn và cỏ bảo vệ đê sẽ tạo ra một số ưu điểm như: Độ an toàn cao; gần gũi với thiên nhiên; bố trí giao thông thuận lợi; có thể tiếp tục sản xuất nông nghiệp; có thể kết hợp bố trí du lịch, vui chơi giải trí, hoạt động văn hóa và đô thị hóa

1.4.2 Hệ thống đê điều Nhật Bản

Là quốc gia có bốn mặt là biển, thường xuyên bị động đất, sóng thần đe dọa với nguy

cơ phá hoại hệ thống đê điều rất lớn nên Nhật Bản cũng đặc biệt quan tâm tới đê cửa sông và đê biển, mặc dù đất đai của Nhật Bản hầu hết cao hơn mực nước biển Mặt

Trang 33

khác do sông, suối thường có chiều dài ngắn và dốc nên mỗi khi có lũ thì thường xảy

ra lũ tập trung nhanh và mạnh Do đó ở Nhật Bản chú trọng việc đầu tư xây dựng các

hệ thống cảnh báo động đất và sóng thần để đảm bảo an toàn cho các công trình đê điều, các chỉ tiêu đánh giá khắt khe Hàng năm phải đánh giá và có phương án sơ tán khi thảm họa xảy ra để hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra

Hình 1.6: Đê an toàn cao ở Nhật Bản (nguồn: internet)

Vì vậy, người Nhật có nhiều biện pháp để quản lý ngăn dòng nước, trong đó đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đê với tiêu chuẩn cao (High-Standard Levees - siêu đê) Các dự án siêu đê được xây dựng từ những năm 1987 dọc theo các con sông lớn ở Kyoto và Osaka như Tonegawa, Arakawa, Tamagawa, Yodogawa và Yamatogawa Ở trong phạm vi siêu đê người ta bố trí không gian để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng đường khẩn cấp dọc theo dòng sông và quy định thiết kế với từng loại đê theo cấp công trình được giám sát chặt chẽ Đê cũng là một công trình đa mục tiêu, trong đó vấn đề giao thông được ưu tiên hàng đầu, chính vì vậy đê biển của Nhật Bản cũng được thiết kế và quản lý rất chặt chẽ, quy củ

Trang 34

1.4.3 Hệ thống đê biển của Mỹ

Hệ thống đê biển ở Mỹ đa dạng hơn do địa hình rộng và phức tạp Chính vì vậy chiến lược phòng chống thiên tai của Mỹ cũng khác dẫn tới kết cấu của đê cũng khác

Hình 1.7: Mặt cắt sông Los Angeles ở Mỹ (nguồn: internet) Hàng năm đều có báo cáo tổng hợp về kinh tế các lưu vực sông lớn để điều chỉnh quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế khu vực ven các sông lớn Tăng cường các giải pháp công trình cũng như nghiên cứu các ảnh hưởng, tác động của các dự án

Ngoài những thành phố quan trọng ven biển thì dải bờ biển rộng lớn của nước Mỹ là những khu vực không quá đông dân cư, đất lại rộng nên chiến lược đối với các vùng này là xây dựng một cơ sở hạ tầng rất tốt với hệ thống đường giao thông rộng, nhiều làn, nhiều kiểu để nếu rủi ro xảy ra thì sơ tán ra khỏi vùng nguy hiểm rất nhanh Vì vậy, kết cấu đê biển không quá kiên cố như ở Hà Lan Xu thế “tự nhiên” tác động ít nhất tới môi trường cũng là quan điểm phát triển của Mỹ Ở những khu vực xói lở tác động mạnh người Mỹ xây dựng các tường chắn sóng, tường phá sóng như một giải pháp vừa giữ ổn định bờ, vừa chống lại lũ từ biển Riêng về công trình kè bảo vệ bờ ở

Mỹ cũng rất đa dạng, các loại kè được áp dụng bao gồm từ kè đá đổ, kè bê tông đổ tại chỗ kiểu bậc, kè mảng bê tông, kè tấm bê tông tự chèn, … Ở Mỹ, hệ thống đê nổi tiếng

đã được xây dựng dọc theo sông Mississippi và sông Sacramento Đây được xem là hệ

Trang 35

thống đê lớn nhất trên thế giới với tổng chiều dài khoảng 5.600km Đê được đắp ban đầu bởi những người định cư Pháp ở Louisiana trong thế kỷ 18, chiều cao đê khi đó được đắp khoảng 0,91m chạy dài dọc theo bờ sông khoảng 80km để bảo vệ thành phố New Orleans Sau này vào năm 1882 các kỹ sư quân đội Mỹ kết hợp với Ủy ban sông Mississippi đã tiến hành mở rộng hệ thống đê sông Mississippi bảo vệ các vùng đất dọc bờ sông trải dài từ Cairo, Illinois đến đồng bằng sông Mississippi ở Louisiana với chiều cao đắp bình quân từ 7,3m đến 15m Vùng ảnh hưởng của đê sông Mái hạ lưu được khai thác sử dụng

Vai trò của hệ thống đê điều đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và đưa

ra những tồn tại trong việc quản lý hệ thống đê điều trong nước hiện nay;

Qua thực tế hoạt động quản lý đê điều, luận văn đã đưa ra được một số đánh giá về năng lực quản lý đê điều của Việt Nam trong thời gian qua

Để hiểu rõ hơn công tác quản lý đê điều và phòng chống thiên tai, Chương II tiến hành nghiên cứu cụ thể về cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác quản lý đê điều, phòng chống thiên tai nói chung và năng lực quản lý đê điều, từ đó đưa ra được những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý đê điều

Trang 36

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÊ ĐIỀU

2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý hệ thống đê điều

Quản lý đê điều là việc tổ chức bộ máy quản lý đê điều ở các cấp để nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả các công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng đê và các công trình thuộc hệ thống đê điều, vận hành hoạt động, duy tu sửa chữa, cải tạo nâng cấp, kiên cố hóa, xử lý các sự cố, quản lý bảo vệ thường xuyên, hộ đê trong những trường hợp cần thiết nhằm đảm bảo cho tuyến đê hoạt động an toàn, đáp ứng được các mục tiêu nhiệm

vụ được đặt ra về bảo vệ đời sống dân sinh, phát triển kinh tế và giữ gìn môi trường Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đê điều và phòng chống lụt bão đã được Nhà nước thể chế hóa bằng các Nghị định hướng dẫn một cách chi tiết, đồng bộ đó là:

Luật đê điều số 79/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006

Luật phòng chống thiên tai số 33/2013/QH11 ngày 19 tháng 06 năm 2013

Văn phòng quốc hội số: 34/VBHN-VPQH ngày 10 tháng 12 năm 2018 về việc sửa đổi,

bổ sung một số điều trong Luật đê điều

Nghị định số 113/2007/NĐ-CP ngày 28/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đê điều;

Nghị định số 139/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 về quy định xử phạt vi phạm hành chính về khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều; phòng chống lụt, bão;

Nghị định số 160/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống thiên tai;

Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai;

Trang 37

Quyết định số 46/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của Chính Phủ Quyết định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai;

Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế xử lý sạt

lở bờ sông, bờ biển;

Quyết định số 132/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức ngành kiểm lâm, bảo vệ thực vật, thú y và kiểm soát đê điều;

Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về việc thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai;

Quyết định số 367/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 của thủ tướng Chính phủ về việc thành lập ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai;

Thông tư số 01/2009/TT-BNN ngày 06/01/2009 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn, tuần tra, canh gác, bảo vệ đê điều trong mùa lũ;

Thông tư số 54/2013/TT-BNN ngày 17/12/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về phân cấp đê và quy định tải trọng cho phép đối với xe cơ giới đi trên đê;

Quyết định số 46/2012/QĐ-UBND ngày 20 tháng 7 năm 2012 về việc Ban hành Quy định về phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi

Nghị định số 104/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2017 về việc Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống thiên tai; khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; đê điều;

Quyết định số 93/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với kiểm soát viên đê điều tham gia trực tiếp xử lý sự cố khi có báo động lụt, bão; Thông tư liên tịch số 18/1999/TTLT/BTCCBCP-BTC-BNNPTNT của Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông hướng dẫn thực hiện Quyết định số 93/1999/QĐ-TTg ngày 05/4/1999 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với kiểm soát viên đê điều tham gia trực tiếp xử lý sự cố khi có báo động lụt, bão;

Trang 38

2.1.1 Yêu cầu, nội dung và nguyên tắc quản lý đê điều

2.1.1.1 Yêu cầu trong quản lý đê điều

Bảo đảm phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh; bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, chủ quyền lợi ích quốc gia; góp phần phát triển kinh tế - xã hội Có sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ, tu bổ, nâng cấp đê điều, tất cả các hộ gia đình, các doanh nghiệp có sử dụng đất có công trình, hoạt động trong hành lang bảo vệ

đê điều, ngoài bãi sông có liên quan đến đê điều, thoát lũ đều phải cam kết không vi phạm đến luật đê điều, phòng chống thiên tai và khi có trường hợp phát sinh được ký

bổ sung kịp thời Có sự phối kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong công tác quản lý và bảo vệ đê điều Phải bảo đảm an toàn chống được lũ thiết kế; Toàn bộ các hoạt động liên quan đến đê điều của cá nhân, doanh nghiệp đều phải lập hồ sơ quản lý theo quy định; Phải có phương án bảo vệ trọng điểm, phương án hộ đê toàn tuyến theo phương châm 4 tại chỗ: Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, cơ sở vật chất tại chỗ, hậu cần tại chỗ

2.1.1.2 Nội dung trong quản lý đê điều

Có nhiều nội dung liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương về công tác quản lý đê điều nhưng tựu chung lại có thể nhóm thành những nội dung chính sau đây:

Tổ chức bộ máy quản lý đê điều;

Xây dựng, ban hành hệ thống các chính sách về quản lý đê điều;

Quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, kiên cố hóa hệ thống đê điều;

Tổ chức bảo vệ và quản lý, sử dụng đê điều;

Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và hợp tác trong quản lý đê điều;

Xử lý các vi phạm về đê điều;

Giám sát các hoạt động trong quản lý đê điều;

2.1.2 Nguyên tắc trong quản lý đê điều

Về nguyên tắc trong lĩnh vực đê điều bao gồm đảm bảo phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh, bảo vệ tính mạng tài sản của nhân dân, chủ quyền lợi ích quốc gia, bảo

Trang 39

vệ đê điều là trách nhiệm của toàn dân, cơ quan nhà nước; tuân thủ quy hoạch, bảo đảm tính hệ thống, thống nhất đồng bộ các giải pháp, phòng chống lũ hiệu quả, kết hợp giao thông, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa của dân tộc; những nguyên tắc này đã được thể hiện rõ ở điều 5, Luật đê điều [6]

Các hành vi vi phạm về Luật đê điều phải được phát hiện sớm và xử lý ngay từ khi bắt đầu phát sinh; Tuân thủ quy hoạch phòng chống lũ, quy hoạch đê điều được phê duyệt; đảm bảo tính hệ thống, thống nhất, đồng bộ, khả năng thoát lũ trên toàn tuyến sông; kết hợp đồng bộ các giải pháp tổng thể về trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, xây dựng

hồ chứa nước ở thượng lưu, thanh thải vật cản, nạo vét lòng sông, làm thông thoáng dòng chảy, phân lũ, làm chậm lũ

Đủ công trình phụ trợ trên tuyến đê theo quy định: điếm canh đê, cột km đê, cột (bậc) thủy chí, cột mốc chỉ giới hành chính (xã, huyện, tỉnh), biển báo hạn chế tải trọng xe

cơ giới đi lại trên mặt đê, trạm barie quản lý xe cơ giới đi trên đê trong mùa lũ, bảng vị trí đã xảy ra vỡ đê và các công trình phụ trợ khác

2.2 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý đê điều

Để đánh giá chất lượng và thành quả của công tác quản lý hệ thống đê điều, chúng ta

có thể dựa vào các tiêu chí sau:

2.2.1 Mức độ hoàn thiện về tổ chức bộ máy quản lý đê điều

Tổ chức bộ máy quản lý đê điều được đánh giá là hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu khi đủ

về số lượng đội ngũ, hợp lý về mặt cơ cấu nhân sự và chuyên môn, chất lượng đội ngũ đảm bảo theo yêu cầu công việc, phân công và phối hợp công việc trong tổ chức hợp

lý, nhịp nhàng Có kế hoạch công tác cụ thể, rõ ràng, có quy trình làm việc chặt chẽ, có quy chế hoạt động rõ ràng Có quy hoạch hệ thống đê điều được phê duyệt và làm tốt công tác quản lý đê điều theo quy hoạch

2.2.2 Mức độ hoàn thiện hệ thống các chính sách về quản lý đê điều

Bên cạnh việc triển khai đầy đủ các văn bản chỉ đạo của trung ương, các ngành, địa phương, đơn vị đã phối hợp kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác PCTT-TKCN; đồng thời, đề xuất bổ sung phương án, kế hoạch, giải pháp để sẵn sàng đối phó với

Trang 40

thiên tai bão, lụt Mặt khác, tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền về các loại hình thiên tai, lụt bão và phương pháp phòng, tránh nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của cộng đồng

Tổ chức các lớp tập huấn hàng năm về công tác phòng chống thiên tai, các lớp bồi dưỡng, hướng dẫn triển khai các văn bản về công tác phòng chống thiên tai

2.2.3 Công tác quy hoạch và quản lý đê điều theo quy hoạch hệ thống đê điều

Đê điều là công trình hạ tầng kỹ thuật quan trọng, có tính hệ thống, là loại công trình

có tính an ninh quốc gia được ưu tiên và coi trọng, vì vậy quy hoạch đê điều phải luôn được coi trọng và nghiêm chỉnh thực hiện Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý đê điều của mỗi địa phương chính là bản quy hoạch được phê duyệt và quản lý thực hiện tốt

Kế hoạch đầu tư, ưu tiên kinh phí cho việc xây dựng, củng cố nâng cấp, duy tu đê và các công trình trên hệ thống đê điều và việc tổ chức triển khai thực hiện tốt kế hoạch là một trong những tiêu chí quan trọng, thể hiện sự quan tâm của các cấp, các ngành và

cơ quan quản lý đến sự an toàn và bền vững của hệ thống đê điều

Các kế hoạch nâng cấp đê điều cần phải được hoàn thành trước mùa mưa bão, nhưng đồng thời chất lượng công trình cần được đặc biệt coi trọng vì hiện nay các hiện tượng thời tiết ngày càng khó lường vì vậy chất lượng của công trình tốt sẽ giảm được các sự

cố xảy ra

2.2.4 Sự chuẩn bị sẵn sàng phương án hộ đê

Mưa lũ, lũ bão và các yếu tố bất thường của thiên tai là những yếu tố rất khó dự đoán,

vì vậy việc chuẩn bị tốt mọi yếu tố như “4 tại chỗ”, “3 sẵn sàng” và các phương án xử

lý trước mọi tình huống là cách tốt nhất trong việc ứng phó giảm nhẹ những tổn thất và

sự cố của thiên tai đối với cộng đồng

2.2.4.1 Thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ

Chỉ huy tại chỗ: Lãnh đạo, người đứng đầu đơn vị hành chính từ cấp xã, phường, quận huyện và cấp tỉnh trực tiếp chỉ huy điều phối các lực lượng và quần chúng tham gia tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu và chỉ huy ngay tại nơi xảy ra thiên tai Đồng thời, tỉnh kiện toàn Ban Chỉ huy PCTT-TKCN tỉnh; phân công trách nhiệm cụ thể các thành viên phụ

Ngày đăng: 12/04/2021, 08:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm