1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại công ty trách nhiệm hữu hạn thủy lợi thanh chương, nghệ an

100 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương được UBND tỉnh Nghệ An, Bộ Nông nghiêp & PTNT quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp nhiều công trình cải thiện hệ thống đầu mối hồ đậ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Nguyễn Trí Hiệp

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn thạc sĩ, tác giả đã được sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng - Khoa Công trình, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học Trường Đại học Thủy lợi, đặc biệt là PGS TS Nguyễn Trọng Tư, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, các nhà quản lý, bạn bè, đồng nghiệp cùng sự nỗ lực của bản thân Đến nay, tác giả đã hoàn thành Luận

văn thạc sĩ với đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An”, thuộc chuyên ngành Quản lý xây dựng

Các kết quả đạt được của Luận văn là những đóng góp về mặt khoa học trong quá trình nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác giám sát thi công sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi ở huyện Thanh Chương Tuy nhiên, trong khuôn khổ Luận văn và do điều kiện thời gian và hiểu biết có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những lời chỉ bảo và góp ý của các thầy, cô giáo và các đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Trọng Tư, các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng - Khoa Công trình, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học Trường Đại học Thủy Lợi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành tốt Luận văn của mình

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Trí Hiệp

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết quả đạt được 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 5

1.1 Đặc điểm thi công công trình thủy lợi 5

1.1.1 Khái niệm về công trình thủy lợi 5

1.1.2 Đặc điểm công trình thủy lợi 6

1.1.3 Vai trò của công trình thủy lợi 7

1.1.4 Đặc trưng thi công các công trình thủy lợi 8

1.1.5 Chất lượng thi công công trình thủy lợi 9

1.2 Chất lượng và quản lý chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi 12

1.2.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng hiện nay 12

1.2.2 Đặc điểm quản lý chất lượng thi công công trình 14

1.2.3 Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng 15

1.2.4 Những vấn đề còn tồn tại 16

1.3 Công tác quản lý chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công 21

1.3.1 Vai trò của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 21

1.3.2 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng 22

1.3.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình 25

1.4 Những sự cố thường gặp trong xây dựng công trình thủy lợi 29

1.4.1 Quy định về sự cố công trình 29

1.4.2 Một số nguyên nhân, sự cố thường gặp trong giai đoạn thi công xây dựng 31

1.4.3 Ví dụ một số sự cố điển hình 36

Trang 4

1.5 Yêu cầu nâng cao chất lượng thi công công trình 43

Kết luận chương 1 44

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 45

2.1 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng 45

2.1.1 Các văn bản trong giám sát chất lượng xây dựng 45

2.1.2 Căn cứ tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát chất lượng xây dựng 46

2.1.3 Nội dung giám sát 46

2.2 Cơ sở về công tác giám sát chất lượng thi công 48

2.2.1 Khái quát chung về công tác giám sát 48

2.2.2 Yêu cầu về năng lực công tác giám thi công 50

2.3 Công tác giám sát chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi 53

2.3.1 Đánh giá chung 53

2.3.2 Những hạn chế của công tác giám sát chất lượng thi công công trình thủy lợi hiện nay 54

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế của công tác giám sát chất lượng thi công công trình thủy lợi hiện nay 55

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác giám sát chất lượng công trình 56

2.4.1 Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước 57

2.4.2 Cơ cấu tổ chức quản lý 57

2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư trong giai đoạn thi công công trình 58

2.4.4 Công tác đấu thầu và lưa chọn nhà thầu 60

2.4.5 Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ 60

2.4.6 Năng lực của cán bộ giám sát 61

2.4.7 Năng lực của đơn vị thi công 62

2.4.8 Công tác phối hợp giữa các chủ thể 64

2.4.9 Điều kiện thời tiết khí hậu 65

2.4.10 Điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn sông ngòi 66

Kết luận chương 2 69

Trang 5

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÁC CÔNG TRÌNH THỦY

LỢI TẠI CÔNG TY TNHH THỦY LỢI THANH CHƯƠNG, NGHỆ AN 70

3.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An 70

3.1.1 Sơ đồ bộ máy công ty 70

3.1.2 Chức năng 71

3.1.3 Nhiệm vụ 71

3.2 Thực trạng công tác giám sát chất lượng công trình tại công ty, phân tích thực trạng 72

3.2.1 Giai đoạn năm 2010 72

3.2.2 Giai đoạn năm 2012 74

3.2.3 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay 74

3.2.4 Những kết quả đạt được 75

3.2.5 Đánh giá thực trạng công tác giám sát 76

3.2.6 Phân tích những tồn tại và nguyên nhân 78

3.3 Giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng công trình tại công ty 80

3.3.1 Giải pháp nâng cao năng quản lý cho lãnh đạo 80

3.3.2 Nâng cao năng lực giám sát công trình xây dựng của chủ đầu tư 81

3.3.3 Chuyển hình thức lựa chọn nhà thầu thi công 82

3.3.4 Thực hiện rà soát, kiểm tra điều kiện khởi công 82

3.3.5 Tăng cường chất lượng công tác thi công 83

3.3.6 Giám sát thi công 83

3.3.7 Giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị 85

3.3.8 Giải pháp trang bị năng lực máy móc thiết bị và công nghệ 86

3.3.9 Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng 87

Kết luận chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Cát chảy khi đào móng xây nhà làm đổ nhà bên cạnh ở Quảng Ninh 31

Hình 1.2: Bê tông bị nứt gãy 34

Hình 1.3: Hiện trường sự cố vỡ hầm dẫn dòng thủy điện Sông Bung 2 36

Hình 1.4: Sự cố sạt lở mái kè đê sông Mã 37

Hình 1.5: Sự cố khi nạo vét kênh thủy lợi 37

Hình 1.6: Nước tràn đỉnh đập hồ chứa nước Đầm Hà Động 38

Hình 1.7: Thân đập bị trôi ở hồ chứa nước Đầm Hà Động 39

Hình 1.8: Gãy cửa van ở hồ chứa nước Đầm Hà Động 39

Hình 1.9: Sự cố thấm qua thân đập hồ chứa nước Yang Kang Thượng 40

Hình 1.10: Sự cố sạt lở mái kênh đập Châu Bình 41

Hình 1.11: Sự cố hỏng trụ cầu máng dẫn nước hồ chứa nước Sông Dinh 3 42

Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương 70

Hình 3.2: Sơ đồ giám sát chất lượng xây dựng công trình 84

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3-1: Bảng phân tích nguyên nhân của các hạn chế trong giai đoạn thi công 79

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

PTNT Phát triển nông thôn CTXD Công trình Xây dựng CLCTXD Chất lượng công trình xây dựng QLCL Quản lý chất luọng

CTTL Công trình thủy lợi

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

GPMB Giải phóng mặt bằng GSTC Giám sát thi công

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi ngày càng được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Nhiều công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao về thiết kế, đòi hỏi công nghệ thi công mới đã được sử dụng mà không cần sự trợ giúp từ nước ngoài Các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương được xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp đã thấy rõ sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong vấn đề phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn

Bên cạnh những kết quả to lớn đó, một vấn đề được tất cả các cấp, ngành quan tâm đó

là chất lượng thi công sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng trong quá trình thi công xây dựng, sửa cữa, nâng cấp Công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật ngày nay đã được ứng dụng các phần mềm tính toán rất nhiều, có nhiều chương trình tính toán vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vừa mang tính thẩm mỹ cao Nhưng trong giai đoạn thi công, máy móc chỉ giải phóng được một phần công việc nặng nhọc, còn những công việc liên quan mật thiết đến chất lượng công trình, yếu tố con người vẫn đóng vai trò chủ chốt Giám sát thi công xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, sửa chữa, nâng cấp; công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không đảm bảo chất lượng đã sụt lún, vỡ đập, vỡ kênh gây mất an toàn, nguy hiểm đến tính mạng con người, ảnh hưởng đến công tác tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh; nhiều công trình có chất lượng không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí, tốn kém

Tăng cường công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành Luật Xây dựng, chính phủ đã ban hành các Nghị định, các ban ngành đã có các thông tư hướng dẫn công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng

Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công vẫn đang là vấn đề

Trang 10

bức xúc hàng đầu trong xây dựng công trình, giám sát thi công công trình còn mang tính chủ quan, đối phó, chưa quyết liệt dẫn đến hiện tượng rút ruột công trình vẫn đang xảy ra

Trong những năm qua, Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương được UBND tỉnh Nghệ An, Bộ Nông nghiêp & PTNT quan tâm đầu tư sửa chữa, nâng cấp nhiều công trình cải thiện hệ thống đầu mối hồ đập, kênh mương do công ty quản lý, bên cạnh những kết quả đạt được và hiệu quả từ các công trình mang lại, vẫn còn nhiều mặt hạn chế, thiếu sót, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng công trình trong giai đoạn thi công

Với mục đích tìm ra giải pháp để nâng cao công tác giám sát chất lượng các công trình

trong giai đoạn thi công, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An” để làm luận văn tốt nghiệp của mình, với mong

muốn có những đóng góp thiết thực trong việc nâng cao năng lực giám sát chất lượng công trình thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ những kết quả đạt được làm cơ sở cho học viên có thêm kiến thức về quản lý chất

Trang 11

trong giai đoạn thi công sửa chữa, nâng cấp các công trình khác được tốt hơn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu áp dụng cho đối tượng là sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về lĩnh vực nâng cao năng lực giám sát chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình Thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Đánh giá công tác quản lý chất lượng đã và đang thực hiện để rút ra những bài học kinh nghiệm

- Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các biện pháp quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công của các công trình thủy lợi và các công trình kè bảo vệ chống sạt lở

bờ sông đã thi công, các tài liệu đã công bố

- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp hệ thống đối chiếu với các văn bản pháp quy về quản lý chất lượng

- Phương pháp chuyên gia

6 Kết quả đạt được

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công công trình thủy lợi trong thời gian vừa qua, qua đó đánh giá những kết quả đạt được và những mặt tồn tại hạn chế và các nguyên nhân ảnh hưởng để từ đó tìm ra những giải pháp khắc phục, hoàn thiện

- Đánh giá thực trạng công tác giám sát chất lượng thi công sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi tại Công ty TNHH thủy lợi Thanh Chương trong những năm vừa

Trang 12

qua, công tác quản lý chất lượng thi công khi công trình vừa triển khai thi công vừa phải đảm bảo tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các địa phương vùng hưởng lợi

- Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp có căn cứ khoa học, phù hợp và khả thi với điều kiện thực tiễn thi công, sửa chữa, nâng cấp các công trình Thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An

- Từ kết quả nghiên cứu của luận văn, đóng góp vào việc nâng cao năng lực giám sát chất lượng thi công các công trình thủy lợi nói chung và thi công, sửa chữa, nâng cấp các công trình Thủy lợi tại Công ty TNHH Thủy lợi Thanh Chương, Nghệ An nói riêng

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG SỬA CHỮA, NÂNG CẤP CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 Đặc điểm thi công công trình thủy lợi

1.1.1 Khái niệm về công trình thủy lợi

Hiện nay, công tác đầu tư xây dựng phát triển nông nghiệp nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cũng như thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học Để tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đòi hỏi nông thôn phải

có một cơ sở hạ tầng đảm bảo, mà trước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực cơ bản có tính chất quyết định Thuỷ lợi đáp ứng các yêu cầu về nước một trong những điều kện tiên quyết để tồn tại và phát triển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất Đồng thời thuỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước, không ngừng nâng cao đời sống cả về kinh tế và văn hoá - xã hội Tuy nhiên, khái niệm về công trình thủy lợi mới chỉ được đưa ra ở một số tài liệu sau:

Theo Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội số 32/2001/PL-UBTV QH10 ngày 04 tháng 04 năm 2001 về khai thác và bảo vệ công trinhg thủy lợi đưa ra khái niệm công trình thủy lợi như sau: “Công trình thuỷ lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh và bờ bao các loại” [1]

Theo Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19 tháng 06 năm 2017 thì: “Công trình thủy lợi là công trình hạ tầng kỹ thuật thủy lợi bao gồm đập, hồ chứa nước, cống, trạm bơm, hệ thống dẫn, chuyển nước, kè, bờ bao thủy lợi và công trình khác phục vụ quản

lý, khai thác thủy lợi” [2]

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8418:2010, công trình thủy lợi được định nghĩa như sau: “Công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng nhằm khai thác các mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái, bao gồm: hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, kênh, công trình trên kênh và

bờ bao các loại” [3]

Trang 14

Theo giáo trình Thủy công: “Công trình được xây dựng để sử dụng nguồn nước gọi là công trình thủy lợi” [4]

Như vậy, có thể thấy công trình thủy lợi là công trình thuộc kết cấu hạ tầng được xây dựng để sử dụng nguồn nước và đây là biện pháp điều hoà giữa yêu cầu về nước với lượng nước đến của thiên nhiên trong khu vực; đó cũng là sự tổng hợp các biện pháp nhằm khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn nước, đồng thời hạn chế những thiệt hại

do nước có thể gây ra

1.1.2 Đặc điểm công trình thủy lợi

Các hệ thống thủy lợi đều phục vụ đa mục tiêu, trong đó có tưới, tiêu, cấp nước sinh hoạt, thủy văn, sản xuất công nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất đai, môi trường, sinh thái

Vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thường rất lớn, bình quân phải đầu tư thấp nhất cũng 50÷100 triệu đồng

Công trình thủy lợi muốn phát huy hiệu quả cao phải được xây dựng đồng bộ, khép kín từ đầu mối (phần do Nhà nước đầu tư) đến tận ruộng (phần do dân tự xây dựng) Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một vùng nhất định theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của nhà nước, tập thể hay cá nhân trực tiếp quản

lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử dụng nước

Hệ thống công trình thủy lợi nằm rải rác ngoài trời, trải trên diện rộng, có khi qua các khu dân cư, nên ngoài tác động của thiên nhiên, còn chịu tác động trực tiếp của con người (người dân)

Hiệu quả của công trình thủy lợi hết sức lớn và đa mục tiêu khi hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, các công trình thủy lợi cơ bản đảm bảo công suất, ổn định so với thiết kế, đảm bảo nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu úng, phòng chống lũ

Trang 15

1.1.3 Vai trò của công trình thủy lợi

- Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2,0÷2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4÷2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ;

- Tăng năng suất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực;

- Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới; Góp phần vào việc xoá đói giảm nghèovà chống hiện tượng sa mạc hoá;

- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch, ;

- Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân khu vực hưởng lợi, giải quyết nhiều vấn đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước;

- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đập, đê điều, kè, trạm bơm, … từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất

Thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển và góp phần vào chương trình mục tiêu quốc gia xây dưng nông thôn mới, đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước

Trang 16

Vì vậy, để khai thác, phát huy hiệu quả bền vững các công trình thủy lợi sau đầu tư cùng với việc tăng cường tuyên truyền thay đổi nhận thức của người dân trong bảo vệ các công trình thủy lợi, việc bố trí nguồn vốn đầu tư cho việc sửa chữa hư hỏng trong quá trình vận hành cần được đặc biệt quan tâm Có như vậy, công trình mới thực sự phát huy hết hiệu quả, góp phần đắc lực đảm bảo nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, mang lại những mùa vàng bội thu

1.1.4 Đặc trưng thi công các công trình thủy lợi

1.1.4.1 Đặc điểm của công trình

- Xây dựng trên các dòng sông, suối, kênh rạch hoặc bãi bồi móng công trình nhiều khi sâu dưới mặt đất tự nhiên của lòng sông, suối, nhất là mực nước ngầm nên trong quá trình thi công không tránh khỏi những ảnh hưởng bất lợi của dòng nước mặt, nước ngầm và nước mưa, …

- Khối lượng thi công công trình thường lớn và thường phức tạp do công trình trải dài (dạng tuyến) qua nhiều vị trí có địa hình, địa chất phức tạp (biện pháp thi công công trình thay đổi)

- Đa số các công trình thủy lợi là dùng vật liệu địa phương, vật liệu tại chỗ

- Trong quá trình thi công vừa phải đảm bảo các công việc được thực hiện trong môi trường khô ráo như công tác thi công hố móng…, vừa phải đảm bảo các yêu cầu dùng nước để phục vụ sinh hoạt, sản xuất của người dân vùng dự án

1.1.4.2 Đặc điểm thi công trong và trên mặt nước

Các công trình thuỷ lợi đều chịu ảnh hưởng của nước nên gặp rất nhiều khó khăn do nước gây nên Vì vậy khi thi công các công trình thuỷ lợi cần phải nghiên cứu và vận dụng các phương pháp thi công hợp lý để giảm bớt ảnh hưởng của nước để sao cho đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến độ thi công và hạ giá thành xây dựng

1.1.4.3 Đặc điểm thi công trong điều kiện tự nhiên phức tạp

- Trong điều kiện địa chất yếu

Trang 17

Các công trình thuỷ lợi thường nằm trên nền địa chất yếu nên khả năng chịu lực của nền là rất nhỏ, bởi vậy khi xây dựng các công trình này phải quan tâm đến sự gia tải của công trình trên nền đất, biện pháp thi công, sự ổn định của các công trình lân cận

- Điều kiện sóng gió

Sóng gió làm cho các phương tiện thi công bị chao đảo nghiêng ngả và làm việc rất khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hoạt động neo đậu của phương tiện, đến độ chính xác của công tác cẩu lắp qua đó ảnh hưởng tới chất lượng và tiến độ thi công công trình Cho nên khi tiến hành thi công cần phải lựa chọn phương tiện, biện pháp neo đậu, thời gian thi công cho thích hợp

- Vùng thi công chịu ảnh hưởng của sự dao động mực nước

Sự dao động mực nước trên sông, trên biển là một yếu tố khách quan biến đổi phức tạp Vì vậy cần phải tìm hiểu để có thể lợi dụng hoặc khắc phục các ảnh hưởng của sự dao động này trong quá trình thi công

- Tính chất ăn mòn

Trong môi trường nước thường có các chất ăn mòn vì vậy các loại vật liệu xây dựng như sắt, thép …khi thi công trong môi trường nước bị ảnh hưởng bởi tính ăn mòn

- Ảnh hưởng của dòng chảy

1.1.5 Chất lượng thi công công trình thủy lợi

1.1.5.1 Khái niệm về chất lượng xây dựng

Khái niệm chất lượng xây dựng (CLXD) đã xuất hiện từ lâu Tuy nhiên, hiểu như thế nào là CLXD lại là vấn đề không đơn giản CLXD là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế - xã hội Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về CLXD Mỗi khái niệm đều có những cơ

sở khoa học và nhằm giải quyết những mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế Dưới đây là một số quan niệm về CLXD:

Trang 18

- CLXD là sự tuyệt vời, hoàn hảo tuyệt đối của sản phẩm xây dựng Quan niệm này mang tính triết học, trừu tượng, khó có thể có sản phẩm xây dựng nào đạt đến sự hoàn hảo theo cảm nhận của con người

- CLXD được phản ánh bởi các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm Chất lượng là cái cụ thể và có thể đo lường được thông qua các chỉ tiêu đánh giá Quan niệm này đã đồng nghĩa CLXD với các thuộc tính hữu ích thông qua các chỉ tiêu đánh giá Tuy nhiên, sản phẩm xây dựng có thể có nhiều thuộc tính hữu ích nhưng không được người tiêu dùng đánh giá cao Cách quan niệm này làm tách biệt chất lượng khỏi nhu cầu của khách hàng, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường

- CLXD là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kinh tế

kỹ thuật đã được đặt ra, đã được thiết kế trước Quan niệm có tính cụ thể, dễ đo lường đánh giá CLXD và dễ xác định rõ ràng những chỉ tiêu kỹ thuật cần đạt được cũng như các biện pháp nâng cao chất lượng qua việc giảm sai hỏng trong xây dựng Tuy nhiên quan niệm này quá chú trọng và thiên về kỹ thuật xây dựng đơn thuần chỉ phản ánh mối quan tâm đến việc đạt được những chỉ tiêu chất lượng đặt ra, mà quên mất việc đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng CLXD được xem xét tách rời với nhu cầu của thị trường do đó có thể làm sản phẩm xây dựng bị tụt hậu không đáp ứng được sự biến động rất nhanh của nhu cầu thị trường

- CLXD là sự đảm bảo về độ đồng đều và độ tin cậy, với chi phí thấp và phù hợp thị trường Quan niệm này thừa nhận rằng CLXD có nhiều thang bậc, một sản phẩm xây dựng có thể ở mức thấp theo thang bậc này nhưng lại ở mức cao ở thang bậc khác Điều này rõ ràng phù hợp với quan điểm cho rằng chất lượng là những gì khách hàng cần đến hoặc yêu cầu do khẩu vị riêng Yêu cầu luôn luôn thay đổi nên một phần quan trọng của công sức bỏ ra cho chất lượng cần dành để nghiên cứu thị trường Cách tiếp cận giá trị - lợi ích này, thể hiện chất lượng phải thoả mãn nhu cầu khách hàng không thể với bất kỳ giá nào mà phải được ràng buộc trong những giới hạn chi phí nhất định

Đó cũng là hiệu quả của quản lý chất lượng tốt, tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm xây dựng trên thị trường

Trang 19

Khách hàng là người xác định chất lượng chứ không phải chủ quan của các nhà quản

lý hay thiết kế Chất lượng sản phẩm xây dựng luôn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu và xu hướng vận động, biến đổi trên thị trường

- Định nghĩa chất lượng của tổ chức ISO: Để giúp cho hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp được thống nhất, dễ dàng, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hàng hoá ISO trong bộ tiêu chuẩn ISO 8402:1994 đã đưa ra định nghĩa chất lượng: ''Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn những nhu cầu cụ thể hoặc tiềm ẩn” Định nghĩa này đã được đông đảo các quốc gia chấp nhận và Việt Nam đã ban hành thành tiêu chuẩn quốc gia của mình TCVN 8402:1999

- Quan niệm về chất lượng toàn diện: Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu và

là vấn đề tổng hợp Sản phẩm xây dựng muốn đáp ứng được các yêu cầu sử dụng thì phải có các đặc tính về công dụng phù hợp Để tạo ra được tính chất đó cần có những giải pháp kỹ thuật thích hợp Nhưng chất lượng còn là vấn đề kinh tế, sự thoả mãn của khách hàng không phải chỉ bằng những tính chất công dụng mà còn bằng chi phí bỏ ra

để có được sản phẩm đó và sử dụng nó Bên cạnh đó, chất lượng trong thực tế còn được thể hiện ở khía cạnh thời điểm được đáp ứng yêu cầu Giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn là một yếu tố vô cùng quan trọng trong thoả mãn nhu cầu hiện nay Trong những năm gần đây, sự thoả mãn của khách hàng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như các dịch vụ đi kèm và đặc biệt là tính an toàn đối với người sử dụng Từ những năm

1990 trở lại đây, người ta còn hết sức chú trọng đến độ tin cậy của sản phẩm xây dựng

Từ đó có thể hình thành khái niệm chất lượng tổng hợp: Chất lượng chính là sự thoả mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện sau:

+ Đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và dịch vụ đi kèm;

+ Giá cả phù hợp;

+ Thời hạn giao hàng;

+ Tính an toàn và độ tin cậy

Trang 20

1.1.5.2 Chất lượng thi công công trình thủy lợi

Chất lượng thi công công trình thủy lợi có thể hiểu là tổng hợp chất lượng của các yếu

tố cấu thành khi thi công công trình thủy lợi như: Công nghệ thi công, chất lượng máy móc thiết bị, trình độ tay nghề của công nhân, trình độ tổ chức và quản lý thi công Chất lượng thi công được hình thành từ các công việc, kết cấu đơn lẻ đến các bộ phận, các giai đoạn xây dựng cuối cùng là công trình, với mục tiêu đảm bảo công trình được thi công theo đúng thiết kế và đưa công trình vào sử dụng theo đúng hợp đồng được ký kết đảm bảo chất lượng, phát huy hết hiệu quả công trình

1.2 Chất lượng và quản lý chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi

1.2.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng hiện nay

1.2.1.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Trong những năm gần đây, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản tăng nhanh về số lượng, loại hình và quy mô Vì vậy công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng cơ bản được quan tâm hàng đầu nhằm đảm bảo hiệu quả nguồn vốn đầu tư, chất lượng và tính bền vững của công trình Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình, các cơ quan quản lý nhà nước theo sự phân cấp đã thực hiện như:

- Đã ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý để việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng được thống nhất hiệu quả

- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư thiết bị máy móc hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng

- Tăng cường quản lý chất lượng công trình xây dựng thông qua các tổ chức chuyên đánh giá về chất lượng tại các hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định, thanh tra xây dựng …

- Thực hiện công tác hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh

Trang 21

thiết kế, thi công công trình Tổ chức kiểm tra, thẩm định chất lượng các công trình xây dựng trước khi đưa vào sử dụng và kiểm tra, thẩm định giá trị đã đầu tư vào các

dự án

- Có chính sách khuyến khích, khen thưởng các đơn vị, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực xây dựng có thành tích xuất sắc

Các chủ trương chính sách, văn bản pháp quy, biện pháp quản lý hiện có về cơ bản đã

đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ: Cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án đến các nhà thầu thi công, nhà thầu tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát… thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự, quy trình quản lý chất lượng công trình xây dựng thì công trình sẽ bảo đảm về chất lượng xây dựng và hiệu quả đầu tư

1.2.1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia

Chủ đầu tư; đơn vị tư vấn giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm tra; nhà thầu xây lắp là ba chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh nếu

dự án đầu tư xây dựng công trình mà ba chủ thể này có đủ trình độ năng lực, kinh nghiệm và thực hiện nghiêm các quy định về quản lý chất lượng thi công công trình thì công trình sẽ đảm bảo chất lượng, tiến độ và hiệu quả

Một yếu tố khác đó là sự phối hợp giữa chủ đầu tư và địa phương nơi có dự án đi qua cũng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt với những dự án có công tác giải phóng mặt bằng tái định cư Ở những dự án có sự phối hợp tốt giữa chủ đầu tư và địa phương thì việc triển khai nhanh và bàn giao mặt bằng đầy đủ cho nhà thầu thi công sẽ giúp việc

tổ chức thi công khoa học, hợp lý hơn, dây chuyền thi công liên tục không bị gián đoạn Ngoài ra việc tham gia giám sát cộng đồng của người dân cũng góp phần quan trọng nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình

1.2.1.3 Quản lý chất lượng công trình trong các giai đoạn

a Quản lý chất lượng trong giai đoạn khảo sát, thiết kế xây dựng

Quản lý chất lượng công trình ngay từ giai đoạn khảo sát, thiết kế là bước rất quan trọng để tạo ra sản phẩm có chất lượng, hiện nay các đơn vị tư vấn thiết kế thường lập

Trang 22

dự án theo kinh nghiệm ước tính suất đầu tư, chưa được thực sự chú trọng đến tính hiệu quả của dự án Số lượng các đơn vị tư vấn nhiều nhưng nhiều đơn vị năng lực và kinh nghiệm còn yếu Thời gian thực hiện công tác lập dự án, công tác khảo sát thiết

kế gấp không đủ để nghiên cứu đề ra các giải pháp và hồ sơ có chất lượng cao

b Quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công

Quản lý chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công đang được đặt lên hàng đầu trong công tác quản lý dự án, để nâng cao chất lượng trong quá trình thi công đòi hỏi sự tham gia của nhiều đơn vị từ chủ đầu tư, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế Các hoạt động quản lý chất lượng cần phải được quan tâm hơn nữa để tránh xảy ra các vấn đề liên quan đến chất lượng mới tìm cách xử lý khắc phục

1.2.2 Đặc điểm quản lý chất lượng thi công công trình

Quá trình thi công CTXD thường diễn ra trên phạm vi rộng, nhiều hạng mục khác nhau, loại hình kết cấu không đồng nhất, phương pháp thi công không đồng nhất, kích thước lớn, tính hoàn chỉnh cao, chu kỳ xây dựng dài, chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện

tự nhiên Do đó, chất lượng thi công công trình sẽ khó kiểm soát hơn so với chất lượng quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp Quản lý chất lượng công trình có một số đặc điểm chính sau:

- Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình như: công tác khảo sát, thiết kế, nguyên vật liệu đầu vào, máy móc, thiết bị, đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn, khí tượng, công nghệ thi công, biện pháp thao tác, biện pháp kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất,… đều ảnh hưởng đến chất lượng thi công

- Dễ xảy ra thay đổi chất lượng: do thi công công trình không giống như sản xuất sản phẩm công nghiệp Hơn nữa, do có nhiều yếu tố mang tính ngẫu nhiên và yếu tố mang tính hệ thống ảnh hưởng đến chất lượng thi công công trình nên dễ nảy sinh thay đổi

về chất lượng

- Nhiều quá trình xây lắp được tác nghiệp theo phương pháp thủ công nên chịu ảnh hưởng đáng kể vào sức khỏe và tay nghề của người thợ

Trang 23

- Kiểm tra chất lượng sau khi hoàn thành công trình xây dựng: Không thể tháo dỡ, loại

bỏ từng bộ phận sản phẩm, cũng không thể thay đổi cấu kiện như sản phẩm công nghiệp thông thường khác để kiểm tra chất lượng Sau khi phát hiện chất lượng công trình không đạt yêu cầu, cũng không thể đổi hàng hay trả lại như những sản phẩm hàng hóa khác

- Chất lượng xây dựng chịu sự ràng buộc của tiến độ và phân bổ chi phí đầu tư: Trong trường hợp thông thường, căn cứ vào sự phân bổ chi phí đầu tư, tiến độ được lập tuân thủ theo đúng yêu cầu thì chất lượng sẽ là tốt nhất, ngược lại tiến độ thi công không phù hợp như: Thi công quá nhanh chất lượng khó đảm bảo hay thi công kéo dài dễ gặp biến động về giá cả ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình

1.2.3 Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng

Chất lượng thi công xây dựng công trình phải được kiểm soát từ công đoạn thiết kế tổ chức thi công, mua sắm, sản xuất, chế tạo các sản phẩm xây dựng, vật liệu xây dựng, cấu kiện và thiết bị được sử dụng vào công trình cho tới công đoạn thi công xây dựng, chạy thử và nghiệm thu đưa hạng mục công trình, công trình hoàn thành vào sử dụng Trình tự quản lý chất lượng công trình được quy định như sau:

- Quản lý chất lượng đối với vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị sử dụng cho công trình xây dựng

+ Tổ chức thực hiện thí nghiệm kiểm tra chất lượng và các chứng chỉ, chứng nhận, các thông tin, tài liệu có liên quan tới sản phẩm xây dựng theo quy định của hợp đồng xây dựng, quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và quy định của pháp luật khác có liên quan;

+ Kiểm tra chất lượng, số lượng, chủng loại của sản phẩm phù hợp với yêu cầu của hợp đồng xây dựng;

- Quản lý chất lượng của nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng công trình

- Giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư, kiểm tra và nghiệm thu công việc xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình

Trang 24

- Giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế trong thi công xây dựng công trình

- Thí nghiệm đối chứng, thí nghiệm thử tải và kiểm định xây dựng trong quá trình thi công xây dựng công trình

- Nghiệm thu các giai đoạn thi công xây dựng, bộ phận (hạng mục) công trình xây dựng (nếu có)

- Nghiệm thu hạng mục, toàn bộ công trình hoàn thành để đưa vào khai thác, sử dụng

- Kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định

- Lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, lưu trữ hồ sơ của công trình và bàn giao công trình xây dựng cho đơn vị quản lý

1.2.4 Những vấn đề còn tồn tại

Hiệu quả của các công trình thuỷ lợi mang lại vẫn chưa làm hài lòng các nhà quản lý, các chủ đầu tư, chưa tương xứng với năng lực công trình mà nhà nước và nhân dân đã đầu tư xây dựng Nguyên nhân chủ yếu là do sự bất cập về mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng và cơ chế quản lý Quản lý công trình thuỷ lợi vẫn còn theo cơ chế bao cấp, “xin cho” đã không huy động được các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế và người được hưởng lợi tham gia đầu tư xây dựng và quản lý công trình Qua kiểm tra thực tế cho thấy còn nhiều công trình thuỷ lợi chưa đảm bảo chất lượng

để xảy ra những tồn tại về kỹ thuật mà nguyên nhân chính là do có nhiều hạn chế, thiếu sót ở các bước: Khảo sát, thiết kế, thẩm tra hồ sơ, thi công xây dựng, giám sát thi công Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng không tuân thủ đúng các quy định pháp luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng

Quy trình kỹ thuật trong thi công xây dựng chưa tuân thủ nghiêm túc, nhất là sử dụng chưa đúng cấp phối vật liệu trong thi công Tình trạng bớt xén vật liệu trong xây dựng; quy trình quy phạm kỹ thuật thi công xây dựng quản lý chưa chặt chẽ Công tác giám sát của chủ đầu tư, của nhà thầu tư vấn giám sát chưa chặt chẽ, thiếu trách nhiệm, chưa

Trang 25

thí nghiệm chất lượng còn buông lỏng Năng lực của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, các đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công xây dựng còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm củng cố kiện toàn Công tác nắm bắt về tình hình chất lượng, báo cáo chất lượng của chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án còn chưa kịp thời, chưa đảm bảo theo đúng yêu cầu quy định Cụ thể như sau:

Đối với Chủ đầu tư:

Hầu hết các công trình do công ty làm chủ đầu tư thì Phòng Kế hoạch kỹ thuật quản lý

về chất lượng giám sát, phân công cán bộ của phòng, trạm trưởng trạm quản lý thủy nông có công trình thi công trực tiếp giám sát chủ đầu tư Một số cán bộ không có chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực xây dựng, sự hiểu biết về xây dựng cũng như công tác quản lý chất lượng xây dựng còn nhiều hạn chế

Khi lựa chọn nhà thầu các chủ đầu tư chưa kiểm tra, kiểm soát đầy đủ thông tin về năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu đủ năng lực thực sự và có kinh nghiệm tham gia thực hiện dự án Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, việc lựa chọn đơn

vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư của Dự án Một số công trình việc

tổ chức đấu thầu chỉ mang tính chất hình thức, thủ tục

Đối với tư vấn xây dựng:

Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng ra đời và phát triển rất nhanh về số lượng Nhưng những đơn vị thực sự có năng lực không nhiều, phần lớn các doanh nghiệp năng lực hoạt động chuyên môn hạn chế, thiết bị, công nghệ của các đơn vị tư vấn chậm đổi mới, dẫn đến chất lượng hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, công tác giám sát, chất lượng chưa cao, còn nhiều sai sót Đánh giá về hoạt động và chất lượng một số lĩnh vực Tư vấn xây dựng, còn một số tồn tại cụ thể như sau:

Về công tác khảo sát: Hiện tượng không lập nhiệm vụ khảo sát diễn ra khá phổ biến ở công trình tuyến huyện, tuyến xã, hồ sơ khảo sát của nhiều công trình không có Nhật

ký khảo sát, không có nhiệm vụ và phương án khảo sát được chủ đầu tư phê duyệt Một số công trình khảo sát địa chất chưa phù hợp về vị trí hố khoan, số lượng hố khoan và chiều sâu khoan Các số liệu thí nghiệm, phân tích chỉ tiêu cơ lý một số công

Trang 26

trình không do phòng thí nghiệm hợp chuẩn thực hiện, số liệu khảo sát chưa phù hợp với thực tế, chủ trì khảo sát chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của nghị định 46/2015/NĐ-CP [5]

Về công tác thiết kế: Hầu hết các công trình có quy mô nhỏ: Phần thuyết minh tính toán kết cấu mang tính hình thức (không tính toán nội lực, không khảo sát đánh giá lưu lượng xe và tải trọng xe khi thiết kế đường, cầu; Thực hiện không đúng hoặc không đủ các điều kiện địa chất thủy văn khi thiết kế các công trình cầu, tràn, đê, đập) Các cầu, cống thiết kế định hình mà không thiết kế theo tình hình thực tế Hồ sơ không chỉ định

rõ cường độ cốt thép sử dụng và không chỉ định rõ cốt liệu đá trong bê tông Cá biệt, một số công trình, số liệu khảo sát trong hồ sơ không đúng với hiện trạng thực tế Hồ

sơ thiết kế không có nhiệm vụ thiết kế được chủ đầu tư phê duyệt Hầu hết các hồ sơ thiết kế chưa lập quy trình bảo trì cho công trình, đơn vị thiết kế không thực hiện giám sát tác giả theo quy định Một số hồ sơ thiết kế Chủ trì thiết kế chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của NĐ 46/2015/NĐ-CP [5]

Về công tác thẩm tra thiết kế, dự toán: Theo Nghị định 46/2015/NĐ- CP [5], Công tác thẩm tra thiết kế dự toán là do các doanh nghiệp Tư vấn thực hiện, nhưng trách nhiệm thực hiện của tư vấn thẩm tra chưa thực hiện nghiêm túc theo quy định của Pháp luật xây dựng Những sai sót trong thiết kế tư vấn thẩm tra không phá thiện được Nhiều công trình tư vấn thẩm tra ký kết hợp đồng với chủ đầu tư thẩm tra toàn bộ từ khâu thiết kế bản vẽ thi công đến dự toán công trình, nhưng thực tế chỉ thẩm tra phần dự toán, không có hoặc nêu không đẩy đủ các nội dung thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công Một số công trình chủ đầu tư không lưu hồ sơ năng lực về tư vấn thẩm tra Chủ trì thẩm tra không đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định Nhiều công trình thực hiện công tác thẩm tra chỉ mang tính thủ tục, hình thức, chưa chú trọng đến chất lượng thẩm tra, các Chủ đầu tư chưa kiểm tra chặt chẽ điều kiện năng lực của đơn vị tư vấn thẩm tra Công tác kiểm tra, kiểm soát về lĩnh vực này đối với cơ quan quản lý chưa được quan tâm đúng mức

Trang 27

Về công tác tư vấn giám sát:

Chất lượng xây lắp công trình được quyết định một phần chủ yếu ở khâu giám sát thi công, tư vấn giám sát giúp các Chủ đầu tư giám sát và quản lý thực hiện dựán với nhiệm vụ: Kiểm soát chất lượng công trình; Kiểm soát khối lượng; Kiểm soát tiến độ, giúp Chủ đầu tư trong việc phát hiện những bất hợp lý trong thiết kế, dự toán, trong tổ chức thi công, giúp Chủ đầu tư nghiệm thu, thanh quyết toán đưa công trình vào sử dụng Thực trạng hiện nay tư vấn giám sát yếu về năng lực, hiểu biết về Pháp luật xây dựng còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức được tầm quan trọng của công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng;

Tư vấn giám sát chưa bám vào nhiệm vụ giám sát và hợp đồng giám sát để thực hiện công tác giám sát thi công Chưa giúp Chủ đầu tư kiểm tra điều kiện năng lực của các nhà thầu so với Hồ sơ trúng thầu (Bộ máy chỉ đạo thi công, nhân lực, máy móc, thiết

bị thi công, biện pháp thi công công trình, an toàn lao động, chất lượng vật tư, vật liệu đưa vào xây dựng .) Chưa kiểm tra, kiểm soát được Hồ sơ quản lý chất lượng: Ghi chép Nhật ký giám sát chưa thể hiện được đầy đủ công tác quản lý chất lượng của chủ đầu tư; Không nhận xét hoặc không thường xuyên đánh giá chất lượng sau mỗi ngày hoặc mỗi ca làm việc trong nhật ký công trình; không kiểm tra kiểm soát các tài liệu làm căn cứ nghiệm thu dẫn đến các Biên bản nghiệm thu không đảm bảo quy định hiện hành Hầu hết các công trình Biên bản nghiệm thu công việc, giai đoạn thiếu các căn

cứ nghiệm thu, và các thông số kỹ thuật thi công thực tế của đối tượng nghiệm thu, cá biệt còn có những công trình áp dụng sai tiêu chuẩn kỹ thuật Hồ sơ quản lý chất lượng chưa được quan tâm, chưa thể hiện được chất lượng thi công công trình Công tác lập

hồ sơ quản lý chất lượng chỉ mang tính hình thức, chưa phản ánh được các thông số kỹ thuật thực tế của công trình

Các doanh nghiệp Tư vấn khi thực hiện nhiệm vụ giám sát không kiểm tra, kiểm soát

và theo dõi chặt chẽ, hoạt động của cán bộ được cử làm công tác này, việc lưu trữ hồ

sơ quản lý chất lượng (Nhật ký giám sát, các báo cáo chất lượng, các văn bản đề xuất, kiến nghị, các thay đổi bổ sung, các biên bản nghiệm thu) hầu hết chưa được các đơn

vị tư vấn giám sát quan tâm

Trang 28

Một số đơn vị tư vấn giám sát bố trí cán bộ giám sát không đúng chuyên ngành phù hợp, chưa có chứng chỉ hành nghề giám sát, bố trí một tư vấn giám sát đồng thời trong cùng một thời điểm, giám sát nhiều công trình, cán bộ giám sát không phải là hợp đồng lao động dài hạn của đơn vị

Việc không tuân thủ quy định về điều kiện và năng lực hoạt động của Tư vấn giám sát theo nghị định 46/2015/NĐ-CP [5] dẫn đến chất lượng công tác giám sát chưa cao, giám sát chưa làm hết trách nhiệm, chất lượng công trình vẫn chưa được kiểm soát theo hồ sơ thiết kế được duyệt một cách đầy đủ

- Về lĩnh vực thí nghiệm: Hầu hết các phòng thí nghiệm được kiểm tra chưa thực hiện nghiêm túc công tác quản lý theo quy định như: Chưa áp dụng kịp thời các Tiêu chuẩn

kỹ thuật về thí nghiệm vật liệu xây dựng Một số phòng thí nghiệm không tổ chức lấy mẫu thí nghiệm tại hiện trường, không có mẫu lưu tại phòng thí nghiệm Bố trí cán bộ thí nghiệm chưa qua các lớp đào tạo thí nghiệm viên, cá biệt còn có đơn vị Trưởng phòng thí nghiệm chưa được đào tạo qua lớp quản lý phòng thí nghiệm

Công tác quản lý chất lượng của Các doanh nghiệp xây lắp:

Trong hầu hết các doanh nghiệp xây lắp lớn đã có cố gắng nhiều trong việc tổ chức bộ máy cán bộ và đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất, còn phần lớn các doanh nghiệp năng lực hoạt động của cán bộ thi công còn hạn chế, công nhân kỹ thuật hầu hết là hợp đồng thời vụ, chưa được đào tạo bài bản, máy móc thiết bị thi công chưa đảm bảo được so với Hồ sơ Dự thầu

Hệ thống quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp có quy mô lớn thực hiện tốt, các doanh nghiệp nhỏ không thành lập hệ thống quản lý chất lượng hoặc có thành lập cũng chỉ là hình thức, chất lượng chưa cao Nhiều doanh nghiệp bố trí chỉ huy trưởng công trình và cán bộ kỹ thuật, thiết bị thi công chưa đúng với hồ sơ dự thầu, chưa thực hiện nghiêm túc các cam kết trong hợp đồng xây lắp Việc lập hồ sơ quản lý chất lượng còn mang tính đối phó như: Ghi chép nhật ký công trình chưa đảm bảo quy định Công tác nghiệm thu nội bộ còn mang tính hình thức Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng còn mang tính đối phó Không lập bản vẽ

Trang 29

hoàn công hoặc lập bản vẽ hoàn công không đúng quy định Chất lượng thi công một

số công việc chưa đảm bảo Hồ sơ thiết kế được duyệt như:

Thi công các khớp nối của các công trình đập, tràn, các khe lún, các lớp đá dăm đệm phần kè mái, độ dốc mái chưa đảm bảo yêu cầu thiết kế; Bố trí các khe co giãn của các đường bê tông chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Quy trình thi công các lớp đất đắp chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Các công trình kênh, mương hầu hết thi công bằng gạch nên chất lượng, tuổi thọ công trình không được lâu dài Thi công các vị trí tiếp giáp giữa đường và cống, cầu, tràn, lề đường không đảm bảo chất lượng Thi công công tác đắp đất không đảm bảo trình tự kỹ thuật (chiều dày lớp đắp, máy móc đầm nén và phương pháp đầm…) Đặc biệt là các vị trí mái taluy

Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượng một số công trình thực hiện chưa nghiêm túc, còn mang tính đối phó

1.3 Công tác quản lý chất lượng sửa chữa, nâng cấp các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công

1.3.1 Vai trò của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng

Mỗi sản phẩm xây dựng đều cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Các thuộc tính này phản ánh mức độ chất lượng đạt được của sản phẩm đó Mỗi thuộc tính chất lượng của sản phẩm xây dựng thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế - kỹ thuật phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Đối với những nhóm sản phẩm khác nhau, những yêu cầu về các thuộc tính chất lượng cũng khác nhau Tuy nhiên, những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng xây dựng gồm:

- Các thuộc tính kỹ thuật: Nhóm thuộc tính này phản ánh công dụng, chức năng của chất lượng xây dựng, được qui định bởi các chỉ tiêu kết cấu, thành phần cấu tạo và đặc tính về cơ, lý, hóa của vật liệu xử dụng Các yếu tố này được thiết kế theo những tổ hợp khác nhau đảm bảo độ bền lâu và hiệu quả sử dụng sản phẩm xây dựng

- Các yếu tố thẩm mỹ: Nhóm thuộc tính này phản ánh đặc trưng về sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính hiện đại

Trang 30

- Tuổi thọ công trình: Đây là yếu tố đặc trưng cho chất lượng xây dựng giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định trên cơ sở bảo đảm đúng các yêu cầu về mục đích, điều kiện sử dụng và chế độ bảo dưỡng qui định Tuổi thọ là một yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn của người tiêu dùng

- Độ tin cậy: Độ tin cậy được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất lượng xây dựng và đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển thị trường của mình

- Độ an toàn: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành, an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất yếu, bắt buộc phải có đối với chất lượng xây dựng

- Mức độ gây ô nhiễm: Cũng giống như độ an toàn, mức độ gây ô nhiễm được coi là một yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ đối với chất lượng xây dựng

- Tính tiện dụng: Phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển, bảo quản,

dễ sử dụng và khả năng thay thế khi có những bộ phận bị hỏng

- Tính kinh tế: Đây là yếu tố rất quan trọng đối với chất lượng xây dựng, khi sử dụng

có tiêu hao nguyên liệu, năng lượng Tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trong xây dựng và sử dụng trở thành một trong những yếu tố quan trọng phản ánh chất lượng xây dựng và khả năng cạnh tranh trên thị trường

Do vậy cùng với công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng thì công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng là một nhiệm vụ rất quan trọng trong việc quản lý đầu

tư xây dựng cơ bản Nếu chúng ta thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình sẽ giảm thiểu tối đa những lãng phí, thất thoát trong quá trình xây dựng và làm tăng tuổi thọ công trình, tăng hiệu quả vốn đầu tư xây dựng công trình

1.3.2 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Chất lượng công trình xây dựng là vấn đề hết sức quan trọng, nó có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh tế, đời sống của con người và sự phát triển bền vững Trong thời

Trang 31

định đến chất lượng công trình xây dựng - đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh đội ngũ công nhân các ngành xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết

bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi… góp phần vào hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân; xây dựng hàng chục triệu m2 nhà ở, hàng vạn trường học, công trình văn hoá, thể thao, … thiết thực phục vụ và nâng cao đời sống của nhân dân Đặc biệt ở nước ta vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân chiếm tỷ trọng rất lớn trong thu nhập quốc dân, cả nước là một công trình xây dựng

Vì vậy để tăng cường quản lý dự án, chất lượng công trình xây dựng, các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương đã:

- Ban hành các văn bản pháp quy như Luật, Nghị định, Thông tư, các tiêu chuẩn, quy phạm xây dựng nhằm tạo ra môi trường pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng

- Đề ra các chủ trương chính sách khuyến khích đầu tư thiết bị hiện đại, sản xuất vật liệu mới, nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học trong xây dựng, đào tạo cán bộ, công nhân nhằm nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu quản lý đầu tư xây dựng nói chung và quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng

- Tăng cường quản lý chất lượng thông qua các tổ chức chuyên lo về chất lượng tại các Hội đồng nghiệm thu các cấp, các cục giám định chất lượng, phòng giám định

- Có chính sách khuyến khích các đơn vị, tổ chức thực hiện theo tiêu chuẩn về quản lý chất lượng, tuyên dương các đơn vị đăng ký và đạt công trình huy chương vàng chất lượng cao của ngành, công trình chất lượng tiêu biểu của liên ngành

Phải thấy rằng với những văn bản pháp quy, các chủ trương chính sách, biện pháp quản lý đó về cơ bản đã đủ điều kiện để tổ chức quản lý chất lượng công trình xây dựng Chỉ cần các tổ chức từ cơ quan cấp trên chủ đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý, các

Trang 32

nhà thầu (khảo sát, tư vấn lập dự án đầu tư, xây lắp) thực hiện đầy đủ các chức năng của mình một cách có trách nhiệm theo đúng trình tự quản lý, quy phạm nghiệm thu công trình xây dựng

Tuy nhiên bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít các công trình

có chất lượng kém, không đáp ứng yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong bộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Quá trình áp dụng các văn bản pháp quy vào thực tế còn nhiều vấn đề cần phải sửa đổi

bổ sung nhằm tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, đó là:

* Những quy định, ràng buộc về việc đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong Luật Đấu thầu còn thiếu cụ thể và chưa cân đối giữa yếu tố chất lượng thi công và giá

dự thầu Đó là những quy định có liên quan đến đánh giá năng lực nhà thầu, quy định

về chất lượng công trình hồ sơ mời thầu hiện nay còn mang tính hình thức, thủ tục Đặc biệt là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu lại căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảm bảo chất lượng đến hiệu quả đầu tư cả vòng đời dự án

* Những quy định chế tài xử lý, phân rõ trách nhiệm của các tổ chức cá nhân trong quản lý chất lượng còn thiếu cụ thể Chế tài chưa đủ mạnh để răn đe phòng ngừa:

- Đối với giai đoạn lập dự án, thiết kế, khảo sát đó là những quy định chế tài đối với chủ đầu tư khi vi phạm trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng, đối với các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thẩm định là những quy định chế tài khi họ vi phạm các quy định về quản lý chất lượng

- Đối với giai đoạn xây dựng đó là những điều quy định chế tài đối với các chủ thể về quản lý chất lượng trong quá trình đấu thầu, xây dựng bảo hành, bảo trì

Cần có chế tài cụ thể vi phạm điều nào, điểm nào thì xử lý thế nào? Phạt bao nhiêu

Trang 33

thế nào thì thu hồi giấy phép kinh doanh, gây hậu quả mức nào thì truy cứu trách nhiệm hình sự, …

* Các hoạt động về xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp đến con người, môi trường, đến tài sản Các doanh nghiệp hoạt động xây dựng phải là các doanh nghiệp kinh doanh có điều kiện Vì vậy cần phải ban hành các quy định về năng lực của tổ chức này với các quy định trong giấy phép kinh doanh phù hợp với từng cấp, loại hình công trình (cấp nào, loại hình công trình nào thì được tham gia họa động xây dựng cấp và loại hình công trình tương đương)

* Về công tác đào tạo còn mất cân đối giữa thầy và thợ, lực lượng lao động hiện nay chủ yếu là lao động nông nhàn, thợ được đào tạo qua trường lớp rất hiếm Công tác đào tạo cán bộ quản lý dự án, chủ đầu tư chưa được coi trọng, nhiều chủ đầu tư, ban quản lý dự án làm trái ngành trái nghề, không đủ trình độ năng lực lại không được đào tạo kiến thức quản lý dự án

* Công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng, quản lý chất lượng xây dựng còn chưa được coi trọng đúng mức và hoạt động còn hạn chế, thiếu một mạng lưới kiểm định chất lượng xây dựng trong phạm vi cả nước, đặc biệt là nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức này còn hạn chế Hoạt động kiểm định chất lượng xây dựng chỉ diễn ra khi có yêu cầu của chủ đầu tư hoặc khi công trình có sự cố

1.3.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng của các chủ thể trực tiếp tham gia xây dựng công trình

Chủ đầu tư, tổ chức tư vấn (giám sát, thiết kế, khảo sát, thẩm định), nhà thầu xây lắp là

ba chủ thể trực tiếp quản lý chất lượng công trình xây dựng Thực tế đã chứng minh rằng dự án, công trình nào mà ba chủ thể này có đủ trình độ năng lực quản lý, thực hiện đầy đủ các quy định hiện này của nhà nước tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý chất lượng trong các hợp đồng kinh tế, tổ chức chuyên nghiệp thì tại đó công tác quản lý chất lượng tốt và hiệu quả

1.3.3.1 Chủ đầu tư - Ban quản lý

Chủ đầu tư là người chủ động bỏ vốn ra để đặt hàng công trình xây dựng, họ là người chủ đưa ra các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng cho các nhà thầu trong quá trình

Trang 34

lập dự án, khảo sát, thiết kế, đến giai đoạn thi công xây lắp vận hành bảo trì, vì vậy họ

là chủ thể quan trọng nhất quyết định chất lượng công trình xây dựng

Đối với chủ đầu tư là vốn của tư nhân, của nước ngoài (nhà tư bản) đồng tiền bỏ ratừ túi tiền riêng của họ nên việc quản lý dự án nói chung cũng như quản lý chất lượng nói riêng của cả quá trình được hết sức quan tâm, từ quá trình thẩm định, duyệt hồ sơ thiết

kế đến cả giai đoạn thi công xây lắp, bảo trì Trừ công trình nhỏ lẻ họ tự quản lý còn

đa số các dự án họ đều thuê tổ chức tư vấn chuyên nghiệp thực hiện quản lý chất lượng công trình thông qua các hình thức: Tổ chức tư vấn quản lý dự án, tổ chức tư vấn giám sát độc lập để kiểm tra chất lượng công trình suốt vòng đời của dự án

Trường hợp các dự án có vốn đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước thì chủ đầu tư là ai? Các chủ đầu tư hiện nay không phải là chủ đồng tiền vốn đầu tư, thực chất chủ đầu tư được Nhà nước uỷ nhiệm để quản lý vốn đầu tư xây dựng, họ không phải chủ đầu tư “thực sự”, được thành lập thông qua quyết định hành chính Thực trạng hiện nay nhiều chủ đầu tư không có đủ năng lực, trình độ, thiếu hiểu biết về chuyên môn xây dựng, nhiều trường hợp làm kiêm nhiệm, vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng còn rất hạn chế

Vì vậy nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu việc tách chức năng chủ đầu tư là ông chủ đồng vốn nhà nước đồng thời là người trực tiếp quản lý sử dụng công trình với tư vấn quản lý dự án (là đơn vị làm thuê) thông qua hợp đồng kinh tế Tổ chức tư vấn quản lý

dự án, tư vấn giám sát là tổ chức chuyên nghiệp, độc lập (trừ các dự án quy mô nhỏ)

1.3.3.2 Tổ chức tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế

Với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của nhà nước và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, khảo sát, thiết kế tăng rất nhanh, lên đến hàng nghìn đơn vị Bên cạnh một số các đơn vị tư vấn, khảo sát thiết kế truyền thống lâu năm, có

đủ năng lực trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát thiết kế năng lực trình

độ còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ Mặt khác kinh phí cho công việc này còn thấp, dẫn đến chất lượng của công tác lập dự án, khảo sát, thiết kế chưa

Trang 35

+ Đối với giai đoạn lập dự án

- Khảo sát chưa kỹ, lập dự án theo chủ quan của cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư

- Khâu thẩm định dư án chưa được coi trọng Các ngành tham gia còn hình thức, trình

độ năng lực của cán bộ thẩm định còn hạn chế

+ Đối với lĩnh vực khảo sát, thiết kế

- Khảo sát phục vụ thiết kế còn sơ sài, thiếu độ tin cậy

- Hệ thống kiểm tra nội bộ của tổ chức khảo sát thiết kế chưa đủ, chưa tốt còn tình trạng khoán trắng cho cá nhân, tổ đội

- Công tác thẩm định còn sơ sài, hình thức

1.3.3.3 Tổ chức tư vấn giám sát

Là người thay mặt cho chủ đầu tư trực tiếp giám sát, nghiệm thu các công việc trong suốt quá trình xây dựng thông qua việc kiểm tra công việc hàng ngày, ký các biên bản nghiệm thu từng phần, từng bộ phận công trình

Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới thường sử dụng tổ chức tư vấn giám sát chuyên nghiệp, độc lập Các cán bộ làm vịêc trong tổ chức tư vấn giám sát này thường

là những cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm cao, có đạo đức nghề nghiệp, lương khá cao Do vậy việc thực hiện việc giám sát chất lượng rất chặt chẽ, bài bản Đối với công trình trong nước là công trình trọng điểm, quan trọng có đơn vị tư vấn giám sát độc lập, có đủ năng lực và uy tín thì ở đó việc quản lý chất lượng chắc chắn

Trang 36

1.3.3.4 Nhà thầu thi công xây lắp

Đây là chủ thể quan trọng, quyết định đến việc quản lý và đảm bảo chất lượng thi công công trình xây dựng

Thời gian qua các nhà thầu trong nước đã phát triển rất nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhận rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng và thương hiệu, là uy tín của đơn vị mình, là vấn đề sống còn trong cơ chế thị trường

Tuy nhiên, thời gian qua lại có không ít công trình thi công không đảm bảo chất lượng gây lún sụt, sập đổ nhiều công trình thấm, dột, bong bộp, nứt vỡ, xuống cấp rất nhanh

mà nguyên nhân của nó là:

- Còn khá nhiều nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong thực tế nhiều đơn vị không thực hiện các quy định này; không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, phó mặc cho giám sát của chủ đầu tư

- Một điều rất quan trọng đối với các nhà thầu là việc lập biện pháp tổ chức thi công công trình, đặc biệt đối với các công trình lớn, trọng điểm, nhiều công việc có khối lượng lớn, phức tạp, ứng dụng nhiều công nghệ mới, nếu làm tốt công việc này thì đã bảo đảm phần rất quan trọng để quản lý chất lượng công trình Rất tiếc rằng thời gian qua công việc này chưa được các nhà thầu quan tâm đúng mức dẫn đến các sai phạm,

sự cố công trình (ví dụ biện pháp thi công cầu Cần Thơ, thi công Thuỷ điện Sông Tranh, sự cố nứt cầu Vàm Cống…)

- Nhiều đơn vị đã xây dựng và được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO 9001 - 2000 nhưng khi triển khai vẫn còn hình thức, chủ yếu là ở văn phòng công ty mà thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng

- Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các

Trang 37

nhân tự do, công nhân thời vụ, đã thế việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế

- Một số nhà thầu, do những nguyên nhân khác nhau, đã hạ giá thầu một cách thiếu căn cứ để có công trình hoặc do phải “chi” nhiều khoản ngoài chế độ (tiêu cực) cho đối tác hoặc bản thân dính tiêu cực, tư túi cá nhân… nên đã tìm cách “hạ chất lượng sản phẩm” để bù đắp

Quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn bảo trì: Công tác bảo trì công trình qua các công đoạn duy tu, sửa chữa nhỏ, sửa chữa vừa và lớn nhằm đảm bảo chất ượng công trình trong giai đoạn sử dụng đến hết niên hạn hoặc kéo dài niên hạn sử dụng Đó

là công việc có ý nghĩa rất lớn

Hiện nay công tác này được thực hiện chủ yếu ở các công trình giao thông, đập lớn, một số công trình công nghiệp, do đó đã kịp thời sửa chữa các khuyết tật Công việc duy tu, sửa chữa định kỳ đã được thực hiện bởi các lực lượng chuyên nghiệp nhằm bảo

vệ gìn giữ công trình có được chất lượng sử dụng tốt nhất đảm bảo sử công trình đúng niên hạn tuổi thọ theo thiết kế Tuy nhiên nguồn kinh phí còn hạn chế, công tác bảo trì còn chưa được coi trọng đúng mức, nhiều công trình không được bảo dưỡng, sửa chữa kịp thời đúng thời hạn làm công trình xuống cấp nhanh chóng (thép làm cầu bị rỉ, dầm

bê tông nứt vỡ, lớp bảo vệ bị phá hỏng dẫn đến ăn mòn cốt thép, đê đập bị sụt lở, nhà cửa bị thấm dột, hư hại thép chịu lực) thậm chí nhiều công trình không có kế hoạch, nguồn vốn để thực hiện duy tu bảo trì, điển hình là các nhà chung cư, công trình phúc lợi xã hội công cộng (trường học, bệnh viện…) dẫn đến công trình xuống cấp, tuổi thọ rất ngắn hỏng trước thời hạn, gây lãng phí tiền của rất lớn mà không ai chịu trách nhiệm

1.4 Những sự cố thường gặp trong xây dựng công trình thủy lợi

1.4.1 Quy định về sự cố công trình

Theo khoản 34 điều 3 Luật xây dựng số 50/2014 [6] định nghĩa: Sự cố công trình xây dựng là hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép, làm cho công trình xây dựng hoặc kết cấu phụ trợ thi công xây dựng công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một

Trang 38

phần hoặc toàn bộ trong quá trình thi công xây dựng và khai thác sử dụng công trình Theo định nghĩa này, sự cố có thể được phân chi tiết hơn thành các loại sau:

Sự cố sập đổ: Bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình bị sập đổ phải dỡ bỏ để xây dựng lại toàn bộ hoặc một phần

Sự cố về biến dạng: Nền, móng bị lún; kết cấu bị nghiêng, vặn, võng… làm cho công trình có nguy cơ sập đổ hoặc không thể sử dụng được bình thường phải sửa chữa mới dùng được

Sự cố sai lệch vị trí: Móng, cọc móng sai lệch vị trí, hướng; sai lệch vị trí quá lớn của kết cấu hoặc chi tiết đặt sẵn… có thể dẫn tới nguy cơ sập đổ hoặc không sử dụng được bình thường phải sửa chữa hoặc thay thế

Sự cố về công năng: công năng không phù hợp theo yêu cầu; chức năng chống thấm, cách âm, cách nhiệt không đạt yêu cầu; thẩm mỹ phản cảm…phải sửa chữa, thay thế

để đáp ứng công năng của công trình

+ Cấp sự cố được chia thành ba cấp theo mức độ hư hại công trình và thiệt hại về người, bao gồm sự cố cấp I, cấp II, cấp III như sau:

• Sự cố cấp I bao gồm:

- Sự cố công trình xây dựng làm chết từ 6 người trở lên

- Sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp I trở lên hoặc hư hỏng có nguy cơ gây sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp I trở lên;

• Sự cố cấp II bao gồm:

- Sự cố công trình xây dựng làm chết từ 1 đến 5 người;

- Sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp II, cấp III hoặc hư hỏng có nguy cơ gây sập, đổ công trình, hạng mục công trình cấp II và cấp III

• Sự cố cấp III bao gồm:

Trang 39

1.4.2 Một số nguyên nhân, sự cố thường gặp trong giai đoạn thi công xây dựng

1.4.2.1 Sự cố xói ngầm

a) Khái niệm: hiện tượng các hạt đất đá nhỏ bị lôi cuốn khỏi vị trí ban đầu dưới tác dụng cơ học của dòng thấm dẫn tới trong đất đá hình thành các lỗ rỗng, khe rỗng, làm sụt lún mặt đất, gây hư hỏng công trình

b) Nguyên nhân:

- Đất rời, không đồng nhất, có độ rỗng lớn để các hạt nhỏ đi qua dễ dàng

- Đất có các hạt D/d > 20

- 2 tầng thấm nước khác nhau (từ lớp thấm yếu sang lớp thấm mạnh)

- Năng lượng dòng thấm phải đủ lớn, dòng thấm chảy rối và trong cát I > 5

c) Ảnh hưởng: Gây mất ổn định về cường độ, làm biến dạng, lún không đều, gây thấm mất nước ở các công trình ngăn nước

d) Biện pháp xử lý: -Gia cố đất đá: đầm chặt, phụt vữa xi măng

- Điều tiết dòng thấm: sân phủ, tường cừ, màn chống thấm,

- Tạo lớp đất chống xói ngầm: thiết bị lọc ngược, móng cọc,

1.4.2.2 Sự cố cát chảy

Hình 1.1: Cát chảy khi đào móng xây nhà làm đổ nhà bên cạnh ở Quảng Ninh

Trang 40

a) Khái niệm:

Hiện tượng các dòng bùn cát chảy vào công trình đào cắt qua nó, làm hố móng bị biến dạng, các công trình ở gần hố móng sẽ không ổn định Thường là cát hạt nhỏ, cát hạt mịn, cát pha, bùn sét pha chứa hữu cơ đồng thời bão hòa nước

b) Điều kiện phát sinh cát chảy:

-Đối với đất: đất rời, giữa các hạt không có lực dính kết hoặc có nhưng rất nhỏ, bão hòa nước

-Áp lực thủy động của dòng nước ngầm truyền vào các hạt đất khi mở hố móng, hố đào làm cho hạt đất di chuyển theo hướng gradien thấm

Điều kiện để xảy ra hiện tượng cát chảy (theo I V Popov): Ø ≥ γđn

Trong đó: Ø là áp lực thủy động; γđn là trọng lượng thể tích đẩy nổi của hạt đất

c) Phân loại:

- Cát chảy thật: còn gọi là chảy xúc biến, có lẫn chất hữu cơ, hạt keo và hạt phân tán nhỏ (hồ, đầm lầy, ) Khi ngừng bơm nước thì cát có hiện tượng dẫn chảy, nước chảy vào công trình là đục Chảy tựa dịch thể dẻo nhớt, sau khi nước tách ra, hình dạng như cái bánh đa Khi bị hong khô, tạo thành đất dính khá cứng, sáng màu hơn ban đầu, tạo các tấm giòn dễ vỡ

- Cát chảy giả: đặc điểm là rất dễ thoát nước, nước thoát ra là trong Khi ngừng bơm nước thì cát không chảy vào công trình, nốt chân in trên cát bị xoá, nước thoát ra, đụn cát có dạng hình nón

d) Ảnh hưởng: gây nguy hiểm trong thi công xây dựng, gây trượt, sụt khi đào, làm biến dạng bề mặt công trình liền kề, bất lợi khi đặt móng công trình, cản trở tiến độ thi công, tăng khối lượng đào

e) Biện pháp xử lý: Bóc bỏ đối với tầng đất chảy nằm trên, mỏng Tháo khô vùng cát chảy trong thời gian xây dựng: hạ thấp mực nước ngầm bằng các giếng khoan Làm

Ngày đăng: 12/04/2021, 08:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Giáo trình Thủy công - GS.TS. Ngô Trí Viềng (Chủ biên); Nhà xuất bản xây dựng [5]. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Nghị định số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thủy công
Tác giả: Giáo trình Thủy công - GS.TS. Ngô Trí Viềng (Chủ biên); Nhà xuất bản xây dựng [5]. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản xây dựng [5]. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015)
Năm: 2015
[10]. PGS. TS Nguyễn Bá Uân. Bài giảng Quản lý dự án xây dựng nâng cao [11]. Bộ tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001-2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý dự án xây dựng nâng cao
[1]. Ủy ban thường vụ Quốc hội số 32/2001/PL-UBTV QH10 ngày 04 tháng 04 năm 2001 về khai thác và bảo vệ công trinhg thủy lợi đưa ra khái niệm công trình thủy lợi Khác
[2]. Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19 tháng 06 năm 2017 Khác
[3]. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8418:2010 công trình thủy lợi - quy trình quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng cống Khác
[6]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật số 50/2014/QH13, Luật Xây dựng, Hà Nội Khác
[7]. Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 59/2015/NĐ- CP ngày 18/06/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Hà Nội Khác
[8]. Thông tư số 17/2016/TT-BXD ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2016 hướng dẫn về tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng Khác
[9]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật số 43/2013/QH13, Luật Đấu thầu, Hà Nội Khác
[12]. Các quy phạm, tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành Khác
[13]. Internet. Một số trang web điện tử của các bộ, ngành, của tỉnh Nghệ An; Các tư liệu đăng báo và các tài liệu khác có liên quan Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w