- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1.TS THÂN VĂN VĂN
2 PGS TS ĐINH TUẤN HẢI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả Luận văn
Trần Huỳnh
Trang 4ơn chân thành đến những người thân, quý thầy cô, các đồng nghiệp và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy TS Thân Văn Văn và thầy PGS.TS Đinh Tuấn Hải đã tận tình hướng dẫn, đóng góp ý kiến và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng - khoa Công trình cùng các thầy, cô giáo thuộc các Bộ môn khoa Kinh tế và Quản lý, phòng Đào tạo Đại học và Sau Đại học trường Đại học Thủy Lợi tất cả các thầy cô, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong hai năm học vừa qua
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các đồng nghiệp tại Ban QLDA Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc và các bạn bè cùng những người thân đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu Do trình độ, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giải rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý độc giả
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Cách tiếp cận 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết quả dự kiến đạt được 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 4
1.1 Khái quát về quản lý chất lượng công trình tại Việt Nam 4
1.1.1 Chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 4
1.1.2 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng 5
1.1.3 Những kết quả đã đạt được về quản lý chất lượng công trình 6
1.1.4 Những yếu kém trong công tác quản lý chất lượng công trình 7
1.2 Tình hình quản lý chất lượng công trình tại Vĩnh Phúc 10
1.2.1 Thẩm quyền kiểm tra thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình 12
1.2.2 Trách nhiệm của các đơn vị quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tại tỉnh Vĩnh Phúc 13
1.2.3 Công tác QLCL công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 15
1.3 Kết luận chương 1 17
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 19
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng 19
2.2 Sự đổi mới trong hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng 21
Trang 62.3 Cơ sở khoa học về quản lý chất lượng công trình 23
2.3.1 Tổ chức đảm bảo chất lượng công trình xây dựng 23
2.3.2 Kiểm soát chất lượng công trình xây dựng 26
2.3.3 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng 27
2.4 Chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng 33
2.4.1 Đặc điểm của xây dựng ảnh hưởng đến vấn đề chất lượng 33
2.4.2 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 34
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng công trình xây dựng 41
2.5.1 Nhóm yếu tố bên ngoài 41
2.6 Chức năng nhiệm vụ của Ban QLDA trong công tác QLCL công trình xây dựng 44
2.7 Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN NÔNG NGHIỆP & PTNT VĨNH PHÚC 47
3.1 Giới thiệu chức năng nhiệm vụ, quy chế làm việc và mô hình tổ chức của Ban QLDA Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Phúc 47
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 47
3.1.2 Vị trí, chức năng nghiệm vụ và quyền hạn của Ban 47
3.1.3 Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của các phòng 50
3.1.4 Quy chế làm việc của Ban 55
3.1.5 Năng lực và kinh nghiệm của Ban 60
3.1.6 Giới thiệu một số Dự án Ban QLDA NN&PTNT Vĩnh Phúc đang triển khai thực hiện 62
3.2 Thực trạng tình hình công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban QLDA Nông nghiệp & PTNT Vĩnh Phúc 66
3.2.1 Tình hình thực hiện các dự án đầu tư tại ban 66
3.2.2 Đặc điểm chung của các Dự án tại Ban QLDA NN & PTNT Vĩnh Phúc 67
3.2.3 Mô hình QLCL tại Ban QLDA NN&PTNT Vĩnh Phúc 68
3.2.4 Chức năng, nhiệm vụ của các thành phần trong công tác QLCL tại Ban 68
3.2.5 Kết quả đạt được trong công tác QLCL tại Ban 71
3.3 Một số tồn tại và hạn chế trong công tác QLCL tại Ban QLDA NN&PTNT Vĩnh Phúc 73
Trang 73.3.1 Tồn tại và hạn chế trong khâu tổ chức bộ máy của Ban 73
3.3.2 Tồn tại và hạn chế trong quản lý chất lượng quá trình triển khai dự án 75
3.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình tại Ban QLDA NN&PTNT tỉnh Vĩnh Phúc 79
3.4.1 Giải pháp bổ sung nhân sự cho bộ máy làm việc và cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý của Ban 79
3.4.2 Giải pháp nâng cao chất lượng hồ sơ khảo sát, thiết kế 83
3.4.3 Giải pháp đẩy nhanh công tác đền bù, giải phóng mặt bằng 85
3.4.4 Giải pháp nâng cao chất lượng thi công xây dựng công trình 86
3.4.5 Giải pháp về quản lý chất lượng nhân sự 88
3.4.6 Đảm bảo cơ sở vật chất, tăng cường công tác kiểm tra hướng dẫn của các cơ quan QLNN cho công tác quản lý chất lượng 91
3.5 Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Các thành tố chính của một dự án 25
Hình 2.2 Quan hệ giữa Quy chuẩn và Tiêu chuẩn 28
Hình 2.3 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng 30
Hình 2.4 Các hoạt động xây dựng liên quan đến hệ thống văn bản pháp luật 30
Hình 2.5 Mô hình quản lý nhà nước về chất lượng công trình 32
Hình 3.1 Đập phụ số 4 hồ chứa nước Đồng Mỏ 63
Hình 3.2 Cầu Yên Dương 64
Hình 3.3 Tràn xả lũ hồ Xạ Hương 66
Hình 3.4 Phân cấp QLCL tại Ban QLDA NN&PTNT Vĩnh Phúc 68
Hình 3.5 Sơ đồ đề xuất tái cơ cấu bộ máy làm việc tại Ban 82
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tổng số công trình xây dựng trong kỳ báo cáo 16
Bảng 3.1 Thống kê số dự án ban thực hiện trong 5 năm gần đây 72
Bảng 3.2 Thống kê nhân sự tại các Ban QLDA chuyên ngành tỉnh Vĩnh Phúc 74
Bảng 3.3 Tổng hợp các dự án chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng 76
Bảng 3.4 Các dự án điều chỉnh thiết kế do thiếu xót trong công tác khảo sát thiết kế 77 Bảng 3.5 Tính toán đề xuất bổ sung nhân sự 81
Bảng 3.6 Định mức chi phí giám sát công tác khảo sát xây dựng 83
Bảng 3.7 Ước tính thời gian chậm tiến độ hoàn thành các dự án 86
Trang 10UBND Ủy ban nhân dân
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCXD Tiêu chuẩn xây dựng
QCXD Quy chuẩn xây dựng
TCCT Tiêu chuẩn công trình
TCN Tiêu chuẩn ngành
BXD Bộ Xây dựng
QLNN Quản lý nhà nước
TVGS Tư vấn giám sát
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng hiện nay đang trên đà phát triển và ngành mũi nhọn đi đầu vẫn là công nghiệp, ngành công nghiệp xây dựng đang rất được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để có thể đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu
tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng thì mới có thể phát triển một cách toàn diện, vì thế ngành công nghiệp xây dựng chính là nền móng quan trọng cho sự phát triển kinh tế của đất nước
Để xây dựng ngày một phát triển hơn nữa thì ngoài việc đổi mới công nghệ, chú trọng đến vấn đề môi trường thì công tác đảm bảo an toàn lao động chính là một phần quan trọng không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đó chính là tiền đề
để ngành công nghiệp xây dựng có thể đứng vững trên thị trường xây dựng Việt Nam cũng như Quốc tế
Tỉnh Vĩnh Phúc thuộc Vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ
và vùng Thủ đô Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.370,73 km2 Vĩnh Phúc có một thành phố, một thị xã, 7 huyện với 137 xã, phường, thị trấn Vĩnh Phúc có nhiều tuyến giao thông quốc gia Vĩnh Phúc là vùng đất có bề dày lịch sử – văn hóa lâu đời, với hàng trăm di tích lịch sử – văn hóa gắn với các danh lam cảnh thắng nổi tiếng Người dân Vĩnh Phúc có truyền thống lao động cần cù, hiếu học, thông minh, năng động và sáng tạo
Vĩnh Phúc đang phấn đấu “Đến năm 2018 xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp; trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và trở thành thành phố Vĩnh Phúc vào những năm 30 của thế kỷ XXI” Mục tiêu đó đòi hỏi tỉnh Vĩnh Phúc phải khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng
Ban Quản lý Dự án NN&PTNT Vĩnh Phúc trực thuộc sở Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc, được giao quản lý các Dự án có tính cấp thiết, thực hiện nhiệm vụ xây dựng,
Trang 12phát triển tỉnh Vĩnh Phúc Các Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, các công trình thủy lợi phục vụ sự phát triển nông nghiệp và nông thôn… trên toàn tỉnh đã và đang được hình thành Việc sử dụng đất để triển khai các Dự án phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của các chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng đến cả đời sống vật chất, tinh thần của người dân
Để tìm hiểu những nguyên nhân của vấn đề, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình, tác giả lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban Quản lý Dự án Nông nghiệp
và PTNT Vĩnh Phúc” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết và phân tích, đánh giá những mặt hạn chế, các nguyên nhân dẫn đến hiệu quả quản lý chất lượng công trình, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban quản lý Dự án Nông nghiệp
và PTNT Vĩnh Phúc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc
- Tiếp cận hệ thống văn bản pháp luật trong công tác quản lý chất lượng công trình;
Trang 13- Tiếp cận hồ sơ, tài liệu các công trình xây dựng do ban Quản lý Dự án Nông nghiệp
và PTNT Vĩnh Phúc đã hoàn thành và đang triển khai thực hiện;
- Tiếp cận các kết quả đã nghiên cứu về công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng trong nước cũng như ngoài nước, cập nhật các văn bản pháp luật hiện hành
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiếp cận cơ sở lý thuyết liên quan đến quản lý chất lượng công trình;
- Phương pháp tiếp cận các văn bản, quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết;
- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin;
- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
5 Kết quả đạt được
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng công trình tại Ban quản lý Dự
án NN&PTNT Vĩnh Phúc đối với các Dự án đầu tư xây dựng công trình Đánh giá thực trạng về quản lý chất lượng công trình tại Ban quản lý Dự án NN&PTNT Vĩnh Phúc
Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban quản lý Dự án NN&PTNT Vĩnh Phúc
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
1.1 Khái quát về quản lý chất lượng công trình tại Việt Nam
1.1.1 Chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.1.1.1 Chất lượng công trình xây dựng
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO 9000-2000 [1]đưa ra khái niệm:
“Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn Nói cách khác, chất lượng
là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các mặc định vốn có”
Theo Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ngày 02 tháng 8 năm 2000 của Bộ Xây dựng[2]:
“Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với các đặc tính về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của nhà nước” Quan niệm hiện đại về chất lượng công trình xây dựng: Xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như công năng sử dụng, độ tiện dụng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tin cậy, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đặc biệt đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình) Chất lượng công trình xây dựng được hiểu không chỉ từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người quản lý sử dụng mà còn có trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng và các vấn đề liên quan khác, một số vấn đề cơ bản mang tính quyết định đến chất lượng công trình xây dựng đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng
về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập Dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục
vụ Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chất lượng Dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽ thiết kế
Trang 15- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ kỹ sư, công nhân lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ kỹ sư, công nhân xây dựng
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ
mà còn ở tiến độ xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác sử dụng
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả
mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng
- Vấn đề môi trường cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của Dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành Dự án
1.1.1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan có chức năng quản lý thông qua các văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn, quy định Các cơ quan có chức năng quản lý kiểm soát chất lượng bằng biện pháp lập kế hoạch kiểm tra giám sát đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng công trình trong khuôn khổ một hệ thống
1.1.2 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng có vai trò to lớn đối với các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng, nâng cao hiệu quả của công trình trong quá trình xây dựng, khai thác và vận hành, vai trò đó được thể hiện cụ thể là:
Trang 16- Đối với các đơn vị quản lý nhà nước, quản lý chất lượng công trình xây dựng nhằm đảm bảo chất lượng trong quá trình khai thác vận hành, thoả mãn yêu cầu của xã hội, phát huy tối đa công năng và hiệu quả kinh tế của công trình xây dựng, giảm chi phí đầu tư và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
- Đối với các doanh nghiệp tham gia xây dựng công trình việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ tiết kiệm thời gian, nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động Quản lý chất lượng công trình xây dựng là yếu tố quan trọng, quyết định sức cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng, là tư liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng tới tăng năng suất lao động, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
1.1.3 Những kết quả đã đạt được về quản lý chất lượng công trình
Hoạt động xây dựng là loại hình hoạt động đặc thù, sản phẩm của hoạt động này phần lớn là những sản phẩm đơn chiếc và không bao giờ cho phép có phế phẩm, vì vậy chất lượng, giá thành và thời gian xây dựng luôn là mục tiêu cho ngành xây dựng ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng công trình, cùng với sự phát triển nền kinh tế quốc dân, quy mô hoạt động xây dựng trong những năm qua ngày càng mở rộng, thị trường xây dựng ngày càng sôi động, tính xã hội của quá trình xây dựng ngày càng cao, địa vị của ngành xây dựng trong phát triển kinh tế và xã hội ngày càng quan trọng Các Dự án công trình của ngành xây dựng nước ta đã thực sự góp phần tạo nên dáng vóc mới của đất nước như các khu đô thị mới với những tòa cao ốc, các công trình nông nghiệp phát triển nông thôn, các công trình giao thông hiện đại
Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành xây dựng nước ta cũng đạt được sự tăng tốc khá hoàn hảo có khả năng tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thế giới, đồng thời tạo sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý trong đó
có công nghệ quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng, quản lý Dự án nói chung Nhìn nhận về sự đổi mới trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng thời gian qua chúng ta cần nhìn lại sự đổi mới theo hướng pháp chế hoá hoạt động xây dựng ngày một hoàn thiện theo tiến trình đổi mới nền kinh tế
Trang 17Trong những năm qua công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng các Dự án, công trình tiếp tục được tăng cường trên phạm vi cả nước, nhất là các Dự án sử dụng vốn nhà nước, việc thực hiện tiền kiểm thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình đã tạo bước đột phá trong phòng chống lãng phí, tham nhũng, phòng ngừa được nhiều sai phạm, rủi ro trước khi triển khai xây dựng công trình Quá trình thực hiện công tác thẩm tra đã đi vào nề nếp, chất lượng thiết kế đã được nâng lên, đã cắt giảm và tiết kiệm đáng kể cho chi phí ngân sách nhà nước Cho đến năm 2017, chất lượng công trình xây dựng cơ bản là đảm bảo, từng bước được nâng cao và kiểm soát tốt hơn Qua việc kiểm tra nghiệm thu trước khi công trình đưa vào khai thác và sử dụng theo nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ [3]ban hành thì hầu hết các công trình được nghiệm thu đều đạt kết quả tốt và được hội đồng nghiệm thu đánh giá cao và đồng ý đưa vào sử dụng, bên cạnh đó còn 1 số ít các công trình xây dựng chưa được hội đồng nghiệm thu đồng ý đưa vào sử dụng, hội đồng nghiệm thu yêu cầu sửa chữa khắc phục khiếm khuyết trước khi đưa vào sử dụng
Những năm gần đây, công tác quản lý đầu tư xây dựng nói chung, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng ngày càng được nâng cao, phần lớn chất lượng các công trình về cơ bản đã được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu thiết kế để đưa vào vận hành, khai thác sử dụng an toàn, hiệu quả Công tác quản lý năng lực hoạt động xây dựng, công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành trong hoạt động đầu tư xây dựng được đẩy mạnh
1.1.4 Những yếu kém trong công tác quản lý chất lượng công trình
Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam trong những năm qua còn tồn tại những vấn đề hạn chế như sau:
- Tính đồng bộ của các văn bản: Việc thiếu đồng bộ giữa các văn bản, ban hành chưa kịp thời, nội dung chưa nhất quán, là một vấn đề gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thể tham gia thực hiện, chính vì thế để quản lý có hiệu quả cao, thuận tiện cho các chủ thể tham gia thực hiện thì việc thống nhất quản lý một cách đồng bộ về mặt định hướng của các văn bản là hết sức cần thiết
- Tính cụ thể và chi tiết của các văn bản: Việc ban hành các văn bản thiếu cụ thể, chi tiết, biên độ vận dụng lớn gây ra rất nhiều khó khăn cho các Chủ thể khi thực hiện
Trang 18chức năng quản lý của mình Với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính
cụ thể và chi tiết tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến tính hiệu lực và hiệu quả của các văn bản
là rất hạn chế, gây khó khăn cho người quản lý và người thực hiện
- Sự thay đổi thường xuyên của các văn bản: việc điều chỉnh sửa đổi các văn bản nhiều lần và đặc biệt trong thời gian ngắn làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của các Chủ thể khi tham gia hoạt động xây dựng, công tác quản lý định mức, đơn giá, chi phí… của Chủ đầu tư, bên cạnh đó khi có biến động giá cả thị trường, việc ban hành các văn bản hướng dẫn chưa kịp thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhà thầu khi tham gia xây dựng tác động đến chất lượng xây dựng
- Với đặc điểm của các Dự án xây dựng là có tính liên tục, thời gian thực hiện khá dài, giá trị lớn, trong khi đó tính ổn định của các văn bản hướng dẫn thực hiện thấp sẽ có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả của các Dự án đầu tư xây dựng
- Kiểm soát chặt chẽ quá trình xây dựng: mấu chốt quan trọng trong hệ thống văn bản hiện tại là chưa có quy định cụ thể về việc minh mạch thông tin của nhà thầu xây dựng Thực tế đó làm cho cả cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng cũng như Chủ đầu tư đều thiếu thông tin, nên chưa kiểm soát chặt chẽ được năng lực thực tế của các nhà thầu Đồng thời, chưa kiểm soát chặt chẽ được chất lượng của công trình xây dựng, dẫn tới những sai sót, thất thoát chi phí rất lớn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, gây bức xúc dư luận xã hội trong những năm gần đây
- Đầu tư dàn trải, phối hợp thiếu đồng bộ: tình trạng đầu tư dàn trải tràn lan trong những năm qua đã dẫn đến tình trạng thiếu vốn trầm trọng, nợ đọng xây dựng cơ bản ngày càng tăng
- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng cũng gặp nhiều khó khăn, một bộ phận người dân chưa nhận thức đầy đủ về mục đích, tầm quan trọng của công tác đầu tư xây dựng công trình Trong khi đó, cấp ủy, chính quyền địa phương thường thiếu sự hợp tác với các đơn vị Chủ đầu tư, thiếu sự phối hợp vận động tuyên truyền nâng cao nhận thức trong nhân dân, dẫn đến một số công trình chậm tiến độ
- Năng lực các nhà tư vấn: do chính sách quy định hoạt động trong lĩnh vực xây dựng khá thoáng, các đơn vị tư vấn xây dựng và tư vấn thiết kế được đăng ký thành lập ngày càng nhiều nhưng năng lực chưa được thẩm định, chưa đáp ứng được yêu cầu phần
Trang 19nào cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn bị đầu tư Dự án, quá trình triển khai thi công công trình và quyết toán vốn đầu tư hoàn thành Việc lựa chọn nhà thầu của các Chủ đầu tư còn thiếu khách quan, minh bạch đã làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ công trình xây dựng cơ bản
- Năng lực nhà thầu thi công, nhà cung cấp vật tư, vật liệu: trong những năm gần đây,
hệ thống văn bản pháp luật trong ngành xây dựng đã cơ bản được hoàn thiện, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại liên quan đến công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu nên việc lựa chọn nhà thầu còn hạn chế Trong thời gian qua nhiều nhà thầu sẵn sàng hạ giá để trúng thầu, nhưng lại thi công kém chất lượng, hoặc kéo dài, chậm tiến độ, thua lỗ dẫn đến nhiều hệ lụy Nhà nước vẫn chưa có cơ chế rõ ràng để ngăn chặn, loại trừ các nhà thầu yếu kém về năng lực Có nhiều trường hợp nhà thầu dù thi công công trình trì trệ, chậm tiến độ hoặc chất lượng có vấn đề tại một Dự án này, nhưng ngay sau đó lại được dự thầu và trúng thầu tại một Dự án khác, do đó về năng lực khó có thể đáp ứng các yêu cầu mà các Chủ đầu tư đề ra, hiện tượng thông thầu, tạo hồ sơ đẹp diễn ra khá phổ biến hiện nay khiến tình hình lựa chọn nhà thi công xây dựng công trình càng gây
lo lắng hơn trong dư luận xã hội
- Giám sát cộng đồng: Quy định giám sát cộng đồng tại Nghị định 80/2005/NĐ-CP ngày 14/4/2005 của Chính phủ[4], dân cư sinh sống trên địa bàn tự nguyện theo dõi, đánh giá việc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, Chủ đầu tư, các Ban QLDA, các nhà thầu và đơn vị thi công Dự án trong quá trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về những vi phạm các quy định về quản lý đầu tư để kịp thời ngăn chặn và xử lý các việc làm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản Nhà nước, xâm hại lợi ích của cộng đồng Trong thực tế hiệu quả giám sát cộng đồng không cao, bởi nhân dân không nắm được về mặt kỹ thuật trong ngành xây dựng Bên cạnh đó, chế độ cho giám sát cộng đồng không có nên hoạt động thiếu hăng hái, thiếu nhiệt tình
- Quản lý vốn: Công tác quản lý vốn hiện có chưa hiệu quả Chi phí tư vấn, chi phí quản lý và chi phí khác chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng mức đầu tư dẫn đến tình trạng đầu tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách cao hơn Dự án có nguồn ngoài ngân sách, hoặc tổng mức đầu tư một số Dự án cao hơn Dự án cùng quy mô
Trang 20trong khu vực các nước lân cận nhưng chất lượng chưa cao Mỗi Dự án đều xét đến yêu tố cần thiết đầu tư để mang lại lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội nhưng thiếu định hướng phát triển tổng thể, đầu tư dàn trải dẫn đến thiếu vốn, kéo dài tiến độ và ảnh hưởng đến chất lượng công trình
- Năng lực quản lý của Chủ đầu tư: Thực trạng một số đơn vị được giao làm Chủ đầu
tư theo quy định pháp luật không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, năng lực quản lý trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, mặc dù có quy định thuê đơn vị, cá nhân tư vấn QLDA nhưng không thường xuyên kiểm tra, kiểm soát dẫn đến buông lỏng công tác QLCL công trình hoặc ủy thác cho nhà thầu tư vấn quản lý, làm cho chất lượng công trình không đạt như mong muốn
- Một số đơn vị có đủ năng lực chuyên môn như các Ban QLDA nhưng nhân sự trực tiếp theo dõi công trình chưa đủ năng lực chuyên môn và kỹ năng làm việc cũng là một trong những tồn tại trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện Dự
án Cùng với đó là bất cập về chế độ tiền lương còn chưa phù hợp cũng là nguyên nhân không thu hút được nguồn nhân lực có chất lượng cao
- Công tác phối hợp giữa các ngành còn nhiều bất cập, nhất là trong việc phối hợp xác định những tiêu chí phục vụ cho việc lập các Dự án đầu tư như việc chậm xác định quy mô đầu tư, chưa xác định công năng sử dụng ngay từ khi lập hồ sơ Do đó khi triển khai thi công thường xuyên phải thay đổi, chỉnh sửa thiết kế, chưa chủ động phối hợp thường xuyên, để giải quyết cụ thể từng công việc
1.2 Tình hình quản lý chất lượng công trình tại Vĩnh Phúc
Để bắt nhịp với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, hướng đến thành phố Vĩnh Phúc trong tương lai, hàng năm, trên địa bàn tỉnh có hàng trăm công trình được đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau Song, nếu các công trình xây dựng đầu tư không đúng mức, để xảy ra sự cố, chất lượng công trình không đảm bảo sẽ làm tổn hao tài sản của Nhà nước, của nhân dân Vì vậy, thời gian qua, Sở Xây dựng phối hợp cùng với các sở, ban, ngành có liên quan quản lý chặt chẽ chất lượng công trình từ khâu thẩm định dự án đến khi công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng
Trang 21Theo báo cáo của Sở Xây dựng, từ đầu năm đến hết quý II năm 201, Sở đã tiến hành thẩm định 8 dự án; 64 báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế dự toán; 42 dự toán phương án khảo sát xây dựng; với tổng giá trị thẩm định gần 2.257 tỷ đồng, cắt giảm gần 108 tỷ đồng so với tổng giá trị chủ đầu tư trình, góp phần tiết kiệm cho Ngân sách Nhà nước Nhờ hệ thống các cơ chế, chính sách, pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thời gian gần đây, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đã có những chuyển biến tích cực Nhìn chung, các công trình xây dựng đã đáp ứng được yêu cầu, tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, đáp ứng yêu cầu mỹ quan đô thị; công tác thi công đảm bảo được chất lượng; tuân thủ đúng các quy định về chất lượng công trình Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số công trình chất lượng thiết kế chưa cao; chưa tuân thủ đầy đủ
về quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật; thi công chưa đúng với hồ sơ thiết kế được duyệt
Để quản lý chặt chẽ chất lượng công trình xây dựng, thời gian qua, Sở Xây dựng tích cực phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan, UBND cấp huyện, cấp xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền; hướng dẫn tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; các tiêu chuẩn, quy chuẩn, cũng như vật liệu xây dựng sử dụng trong thiết kế, thi công công trình cho các chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng; chỉ đạo phòng, ban chuyên môn nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư xây dựng, thẩm định thiết
kế dự toán; tập trung nâng cao năng lực của các chủ đầu tư thông qua kiểm tra, sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề; giám sát chặt chẽ hoạt động đấu thầu đối với các dự
án do tỉnh quyết định đầu tư
Bên cạnh đó, Sở Xây dựng đã phối hợp cùng các đơn vị có liên quan tăng cường công tác thanh tra về quản lý chất lượng công trình xây dựng đối với các đơn vị tham gia hoạt động xây dựng; kiểm tra nghiệm thu trước khi bàn giao và đưa vào sử dụng; kiểm tra điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng của các đơn vị tư vấn trên địa bàn tỉnh Thực hiện kiểm tra chất lượng và nghiệm thu trước khi đưa vào sử dụng 102 công trình, trong đó, có 92 công trình được chấp thuận, tổ chức bàn giao, nghiệm thu và đưa vào sử dụng; phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan kiểm tra công tác nghiệm thu 36 công trình, kiểm tra chất lượng 20 công trình Đồng thời, kiểm tra điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng của hơn 50 đơn vị tư vấn
Trang 22Tuy nhiên, hiện nay, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đang gặp phải không ít khó khăn Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư, quản lý chất lượng công trình xây dựng đã hoàn chỉnh, nhưng ban hành rời rạc, còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện; đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định, quản lý chất lượng công trình xây dựng còn hạn chế, chưa tương xứng với khối lượng công việc cần phải làm; năng lực, trình độ của đơn vị tư vấn còn nhiều hạn chế gây khó khăn cho công tác thẩm định, cũng như công tác QLCL công trình xây dựng; các chủ đầu tư còn chưa thực sự quan tâm đến công tác báo cáo quản lý chất lượng công trình, việc báo cáo khởi công và nghiệm thu công trình còn nhiều thiếu sót; công tác bảo trì công trình chưa được chủ đầu tư triển khai đầy đủ v.v
Để khắc phục những khó khăn đó, đảm bảo chất lượng cho các công trình xây dựng, thời gian tới, Sở Xây dựng Vĩnh Phúc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền; hướng dẫn tổ chức thực hiện các văn bản mới về đầu tư, quản lý chất lượng công trình xây dựng cho các chủ đầu tư, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn; tập trung nâng cao năng lực cho các chủ đầu tư thông qua sát hạch, cấp chứng chỉ hành nghề; tiến hành kiểm tra các đơn vị tư vấn; kiểm tra chặt chẽ chất lượng công trình trước khi bàn giao và đưa vào sử dụng
1.2.1 Thẩm quyền kiểm tra thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình
1.2.1.1 Thẩm quyền thẩm tra, thẩm định thiết kế các công trình
Quy định cụ thể thẩm quyền thẩm tra thiết kế các công trình đối với Sở Xây dựng, Sở
kế hoạch và đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Sở Công Thương, UBND cấp huyện
1.2.1.2 Thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng
Quy định cụ thể thẩm quyền kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng đối với Sở Xây dựng và các Sở quản lý chuyên ngành ngành (Sở Giao thông vận tải,
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương)
Trang 231.2.2 Trách nhiệm của các đơn vị quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng tại tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.2.1 Trách nhiệm của Sở xây dựng
Sở Xây dựng là cơ quan đầu mối giúp UBND tỉnh thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn, thực hiện các việc sau:
- Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn
- Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp huyện, các tổ chức và cá nhân tham gia xây dựng công trình thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng Kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất công tác quản lý chất lượng của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình và chất lượng các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh
- Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức giám định chất lượng công trình xây dựng khi được yêu cầu và tổ chức giám định nguyên nhân sự cố theo quy định (Điều 49 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình[3]; theo dõi, tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh về tình hình sự cố trên địa bàn
- Kiểm tra công tác nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào sử dụng theo quy định Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh định kỳ, đột xuất về việc tuân thủ quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng và tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn
- Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp và báo cáo Bộ Xây dựng về tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn định kỳ hằng năm và đột xuất; báo cáo danh sách các nhà thầu vi phạm quy định về quản lý chất lượng công trình khi tham gia các hoạt động xây dựng trên địa bàn
1.2.2.2 Trách nhiệm của các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành :
Sở Giao thông vận tải; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Công Thương; Sở
Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm cụ thể như sau:
Trang 24- Chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng kiểm tra thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch và kiểm tra đột xuất công tác quản lý chất lượng của tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình chuyên ngành và chất lượng các công trình xây dựng chuyên ngành trên địa bàn đối với các công trình xây dựng Thẩm tra thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình chuyên ngành theo quy định
- Phối hợp với Sở Xây dựng tổ chức giám định chất lượng công trình xây dựng chuyên ngành khi được yêu cầu và tổ chức giám định nguyên nhân sự cố đối với công trình xây dựng chuyên ngành; tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Xây dựng về tình hình chất lượng công trình xây dựng chuyên ngành trên địa bàn định kỳ hằng năm và đột xuất
1.2.2.3 Trách nhiệm của UBND cấp huyện và các phòng chuyên môn giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
- Hướng dẫn UBND cấp xã, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về QLCL công trình xây dựng
- Giao cho các phòng chuyên môn theo chuyên ngành quản lý kiểm tra định kỳ, đột xuất việc tuân thủ quy định về QLCL công trình xây dựng đối với các công trình có sử dụng vốn ngân sách nhà nước do UBND cấp huyện quyết định đầu tư, UBND cấp xã quyết định đầu tư (hoặc được UBND tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện, UBND cấp
xã quyết định đầu tư), các công trình do UBND cấp huyện cấp giấy phép xây dựng trên địa bàn
- Phối hợp với Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành kiểm tra công trình xây dựng trên địa bàn khi được yêu cầu Báo cáo sự cố và giải quyết sự cố theo quy định (Điều 47, Điều 48 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình)[3];Tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh
và Sở Xây dựng định kỳ hàng năm, đột xuất việc tuân thủ quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng và tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn
- Các phòng chuyên môn theo chuyên ngành quản lý trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn của Sở Xây dựng, Sở kế hoạch và đầu tư, sở Tài chính, Sở Giao thông vận tải, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Trang 25Sở Công Thương, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng chuyên ngành trên địa bàn, có trách nhiệm trình Chủ tịch UBND cấp huyện ban hành các văn bản triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn Giúp UBND cấp huyện:
+ Hướng dẫn UBND cấp xã, các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng trên địa bàn thực hiện các quy định của pháp luật về QLCL công trình xây dựng
+ Kiểm tra định kỳ, đột xuất việc tuân thủ quy định về QLCL công trình xây dựng Kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng, thẩm tra thiết kế xây dựng công trình theo quy định
- Giúp UBND cấp huyện báo cáo sự cố và giải quyết sự cố công trình; tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh và Sở Xây dựng định kỳ hàng năm, đột xuất việc tuân thủ quy định về QLCL công trình xây dựng và tình hình chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn
1.2.3 Công tác QLCL công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.3.1 Công tác quản lý đầu tư xây dựng công trình
- Công tác quản lý đầu tư xây dựng được tăng cường, góp phần tích cực chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng, nâng cao chất lượng công trình và quản lý chi phí xây dựng
- Công tác QLCL công trình theo quy định tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình[3] đã được Sở Xây dựng và các sở có quản lý xây dựng chuyên ngành, địa phương triển khai nghiêm túc và đi vào nề nếp Thông qua thẩm tra thiết kế, dự toán của các cơ quan chuyên môn về xây dựng đã góp phần tích cực phòng chống thất thoát, lãng phí, khắc phục các sai sót về thiết kế, việc kiểm tra công tác nghiệm thu cũng đã giúp khắc phục được các khiếm khuyết về chất lượng trước khi đưa công trình vào khai thác, sử dụng
- Theo báo cáo của Sở Xây dựng, từ đầu năm đến hết quý II năm 2017, Sở đã tiến hành thẩm định 8 dự án; 64 báo cáo kinh tế kỹ thuật, thiết kế dự toán; 42 dự toán phương án khảo sát xây dựng; với tổng giá trị thẩm định gần 2.257 tỷ đồng, cắt giảm gần 108 tỷ đồng so với tổng giá trị chủ đầu tư trình, góp phần tiết kiệm cho Ngân sách
Trang 26Nhà nước Qua kiểm tra công tác nghiệm thu trước khi đưa công trình vào khai thác,
sử dụng thì 100% số công trình đạt yêu cầu, đủ điều kiện đưa vào sử dụng Nhìn chung chất lượng công trình xây dựng cơ bản là đảm bảo, từng bước được nâng cao và kiểm soát tốt hơn
- Công tác quản lý năng lực hoạt động xây dựng, công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành trong hoạt động đầu tư xây dựng tiếp tục được quan tâm, đẩy mạnh
- Phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu tư vấn và dịch vụ hỗ trợ phát triển (Đơn vị trực thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức lớp tập huấn Luật Xây dựng [5], Luật Đấu thầu [6], các Nghị định, các thông tư hướng dẫn và các văn bản mới ban hành cho các sở, ngành và các đơn vị có liên quan trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn tỉnh
- Phối hợp với các sở ngành có liên quan kiểm tra tình hình thực hiện công tác quản lý đầu tư xây dựng, QLCL công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Tổ chức thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thiết kế dự toán, tăng cường công tác giám sát chất lượng xây dựng các công trình Kiểm tra, đánh giá điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, tư vấn xây dựng của các đơn vị, tổ chức tư vấn, các Ban QLDA
1.2.3.2 Công tác QLCL công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc năm 2017
Tổng số công trình, Dự án đầu tư xây dựng đang được thi công xây dựng trên địa bàn:
Bảng 1.1Tổng số công trình xây dựng trong kỳ báo cáo
Đặc biệt I II III IV
Trang 27Trong năm 2017, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc không xảy ra các sự cố gây thiệt hại về người và công trình
a, Tình hình chất lượng và quản lý công trình xây dựng:
- Về chất lượng khảo sát, thiết kế thông qua công tác thẩm tra thiết kế theo Điều 16 và Điều 22 Nghị định 46/2015/NĐ-CP[3]
- Chất lượng thiết kế các công trình cơ bản đảm bảo chất lượng thiết kế, tuy nhiên cũng còn một vài hồ sơ chưa đảm bảo, chủ yếu chưa áp dụng đúng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn chủ yếu áp dụng cho công trình, qua quá trình thẩm tra đã cắt giảm chi phí đầu tư
b, Chất lượng thi công xây dựng thông qua công tác kiểm tra trong quá trình thi công
và nghiệm thu:
- Trong năm 2017, trên địa bành tỉnh Vĩnh Phúc không có tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng bị xử phạt vi phạm hành chính và đăng tải trên cổng thông tin điện tử và không có công trình bị đình chỉ thi công xây dựng
c, Kết quả kiểm tra chất lượng công trình định kỳ và đột xuất theo quy định tại Điều
32 Thông tư 10/2013/TT-BXD ngày 25/7/2013 Quy định chi tiết một số nội dung về Quản lý chất lượng công trình xây dựng[3]
- Các công trình được kiểm tra cơ bản đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện
1.3 Kết luận chương 1
Hàng năm nguồn vốn đầu tư dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 20-25% GDP, vì vậy QLCL công trình xây dựng rất cần được quan tâm Thời gian qua còn có những công trình kém chất lượng, không đủ điều kiện đưa vào sử dụng hoặc không phát huy được hiệu quả thúc đẩy kinh tế xã hội, gây lãng phí, thất thoát nguồn vốn Để đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả của các công trình xây dựng đối với công cuộc phát triển đất nước cần phải nâng cao hiệu quả QLCL công trình xây dựng một cách tối ưu, có hệ thống và nghiêm túc thực hiện
Đối với tỉnh Vĩnh Phúc, UBND tỉnh giao cho sở Xây dựng làm đầu mối thống nhất quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Trong năm
Trang 282017 và nửa đầu năm 2018, sở xây dựng đã phối hợp cùng các sở chuyên ngành, các đơn vị tham gia công tác xây dựng tiến hành kiểm tra chất lượng và nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng nhiều công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh, đa số các công trình đều đảm bảo về chất lượng, đáp ứng được yêu cầu về kỹ, mỹ thuật, phát huy hiệu quả đầu tư cao, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Đối với một đơn vị sự nghiệp như Ban QLDA Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc có chức năng QLDA, đại diện chủ đầu tư tham gia các hoạt động đầu tư xây dựng công trình nên công tác QLCL công trình xây dựng là yếu tố cốt lõi, quyết định đến chất lượng, hiệu quả của các Dự án đâu tư xây dựng mà Ban phụ trách, vì vậy cần phải có những giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Ban QLDA Nông nghiệp và PTNT Vĩnh Phúc để tạo ra các sản phẩm xây dựng có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
và góp phần phát triển nền kinh tế xã hội của cả nước
Trang 29CHƯƠNG 2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Hệ thống pháp luật Việt Nam được phân theo từng cấp, văn bản quy phạm pháp luật cao nhất là Luật do Quốc hội ban hành, tiếp theo là các Nghị định do Chính phủ ban hành, Thông tư do các Bộ có thẩm quyền ban hành với mục đích hướng dẫn thực hiện các Nghị định, ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn chi tiết do các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương ban hành như là các Chỉ thị, Quyết định
Trong hệ thống cơ sở pháp lý về QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam, quy phạm pháp luật cao nhất là Luật xây dựng số 50/2014/QH13[7] do Quốc hội ban hành ngày 18/06/2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 thay thế Luật xây dựng số 16/2003/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 26/11/2013 Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014
Luật xây dựng năm 2014 gồm 10 Chương, 168 điều Quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng
Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng gồm có 8 (tám) Nghị định đó là:
- Nghị định số 32/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25/3/2015 về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng[8]
- Nghị định số 37/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 22/4/2015 hướng dẫn về Hợp đồng xây dựng[9]
- Nghị định số 44/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 06/5/2015 Quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch xây dựng[10]
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/5/2015 về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng[3]
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/6/2015 về Quản lý
dự án đầu tư xây dựng[11]
Trang 30- Nghị định số 119/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 13/11/2015 Quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng[12]
- Nghị định số 53/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 8/5/2017 Quy định các giấy tờ hợp pháp về đất đai để cấp giấy phép xây dựng[13]
- Nghị định số 42/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 5/4/2017 sửa đổi Nghị định 59/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/6/2015 của Chính Phủ về Quản
lý dự án đầu tư xây dựng[14]
Trong công tác QLCL công trình xây dựng tại Việt Nam, nội dung chi tiết và trình tự thực hiện được quy định rõ tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 12/5/2015[3] về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thay thế cho Nghị định số 15/2013/NĐ-CP của chính phủ ban hành ngày 06/02/2013 về Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP gồm 8 Chương, 57 Điều quy định về QLCL công trình
và bảo trì xây dựng trong các công tác: Khảo sát, thiết kế, thi công và nghiệm thu công trình xây dựng; quản lý an toàn, giải quyết sự cố trong thi công xây dựng, khai thác và
sử dụng công trình xây dựng; bảo hành công trình xây dựng
Các Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ gồm có
06 (sáu) Thông tư của Bộ Xây dựng đó là:
- Thông tư số 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 Quy định về quản lý chất lượng xây dựng và bảo trì nhà ở riêng lẻ do Bộ Xây dựng ban hành
- Thông tư số 04/2016/TT-BXD ngày 10 tháng 3 năm 2016 Quy định giải thưởng về chất lượng công trình xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 Quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- Thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày 26 tháng 10 năm 2016 của Bộ Xây dựng Quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Trang 31- Thông tư số 01/2017/TT-BXD ngày 06/02/2017 Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí khảo sát xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- Thông tư số 03/2017/TT-BXD ngày 16/3/2017 Hướng dẫn xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành
Để thực hiện tốt công tác QLCL công trình xây dựng tại tỉnh Vĩnh Phúc, căn cứ vào các văn bản pháp quy được ban hành mới và đánh giá tình hình thực tế tại địa phương, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 11/4/2017 về việc Phân cấp thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình
và ủy quyền kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, thay thế các Quyết định số 30/2013/QĐ-UBND ngày 05/12/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành quy trình thẩm tra thiết kế xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh và Quyết định số 29/2013/QĐ-UBND ngày 28/11/2013 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành quy định quản lý chất lượng công trình trên địa bàn tỉnh
Quyết định số 11/2017/QĐ-UBND ngày 11/4/2017 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm 4 (bốn) Điều quy định cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn về công tác QLCL công trình cho Sở Xây dựng, các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, các UBND cấp huyện trực thuộc UBND tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Sự đổi mới trong hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng
Sự nghiệp đổi mới đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vực quản lý đầu tư và xây dựng, cùng với sự phát triển nền kinh tế quốc dân liên tục, nhanh chóng và lành mạnh, quy mô hoạt động xây dựng trong những năm qua ngày càng mở rộng, thị trường xây dựng ngày càng sôi động, tính xã hội của quá trình xây dựng ngày càng cao, địa vị của ngành xây dựng trong phát triển kinh tế và xã hội ngày càng quan trọng Ngành xây dựng nước ta đã thực sự góp phần tạo nên dáng vóc mới của đất nước với đủ các công trình về hạ tầng, giao thông, thủy lợi, công nông nghiệp hiện đại, mang tầm vóc vĩ mô và đạt các chuẩn mực quốc tế
Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành xây dựng nước ta cũng đạt được sự tăng tốc khá hoàn hảo có khả năng tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại của thế giới, đồng thời tạo sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý trong đó
Trang 32có công nghệ QLCL công trình xây dựng nói riêng và quản lý dự án đầu tư xây dựng nói chung
Nhìn nhận về sự đổi mới trong lĩnh vực Quản lý đầu tư xây dựng và QLCL công trình xây dựng trong thời gian qua chúng ta cần nhìn lại sự đổi mới theo hướng pháp chế hoá hoạt động xây dựng ngày một hoàn thiện, phù hợp với tốc độ phát triển và điều kiện thực tế nước ta, cập nhật cùng tiến trình đổi mới nền kinh tế
- Nghị định 232/CP ngày 6/6/1981: Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản (lấy nguyên tắc hạch toán kinh tế và hiệu quả đầu tư làm thước đo của quản lý xây dựng cơ bản)
- Nghị định 385/HĐBT ngày 7/11/1990: sửa đổi bổ sung thay thế Nghị định 232/CP (bản chất đối tượng quản lý nền kinh tế nhiều thành phần)
- Nghị định 177/CP ngày 20/10/1994: đã điều chỉnh khái niệm quản lý xây dựng cơ bản thành" Quản lý đầu tư và xây dựng" và "quản lý công trình xây dựng" thành quản
- Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Nghị định 49/2008/NĐ-CP ngày 18/14/2008 của Chính phủ về sửa đổi, sổ sung một
số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình
- Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình
Trang 33- Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình[3]
Hiện nay hệ thống văn bản pháp lý về QLCL công trình ở nước ta đang từng bước cơ bản hoàn thiện, tạo ra môi trường pháp lý phù hợp với quá trình thực hiện trong thực tiễn, thuận lợi cho các Chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng Cụ thể như sau:
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động xây dựng Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng đã được tăng cường, ngành xây dựng phát triển, thúc đẩy nền kinh tế đất nước
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP đã đẩy mạnh công tác QLCL, là cơ sở pháp lý quan trọng
để cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng kiểm soát chặt chẽ hơn chất lượng công trình, từ khâu khảo sát thiết kế, thi công, nghiệm thu đến khi đưa công trình vào hoạt động Cơ quan Nhà nước sẽ thẩm tra về thiết kế, tính an toàn của công trình, nghiệm thu công trình, chỉ đưa vào sử dụng những công trình đảm bảo về chất lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển đất nước
- Các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng đang từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện thực tế, tạo nên khung pháp lý rõ ràng về QLCL, đồng thời giúp cho các chủ thể tham gia trong hoạt động xây dựng thực hiện được thuận lợi, dễ dàng
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào các văn bản pháp lý để có thể kiểm soát tốt hơn và có các biện pháp kịp thời để xử lý những công trình kém chất lượng, khắc phục những tồn tại yếu kém trong công tác QLCT công trình xây dựng
2.3 Cơ sở khoa học về quản lý chất lượng công trình
2.3.1 Tổ chức đảm bảo chất lượng công trình xây dựng
Tổ chức đảm bảo chất lượng xây dựng là nhiệm vụ quan trọng trong sản xuất xây dựng, tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng bao gồm việc xây dựng tiêu chí
Trang 34của sản phẩm xây dựng, biện pháp tổ chức sản xuất xây lắp nhằm đạt các tiêu chuẩn, kiểm tra nhằm thực hiện đầy đủ quy trình, quy phạm và từng khâu phải kiểm tra chất lượng công trình
2.3.1.1 Một số khái niệm liên quan đến công trình xây dựng
a, Dự án đầu tư xây dựng công trình
Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Trình tự thực hiện Dự án đầu tư xây dựng gồm 03 (ba) giai đoạn được quy định tại Khoản 1 Điều 50 của [5] và được nêu rõ tại Khoản 1 Điều 6 của [11] như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án;
- Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng
b, QLDA đầu tư xây dựng công trình
Là một trong những công tác của lĩnh vực hoạt động xây dựng, đó là việc cân đối giữa các yếu tố quy mô, tiến độ, chi phí và nguồn lực Nói một cách tổng quát, điều này có
Trang 35nghĩa là lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát các công việc của dự án, xác định và lên lịch cho các nguồn lực thực hiện công việc này, tập hợp các công việc để thực hiện mục tiêu của dự án
Hình 2.1Các thành tố chính của một dự án
2.3.1.2 Đảm bảo chất lượng công trình xây dựng trong quá trình thực hiện Dự án
Quản lý chất lượng công trình là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, đơn vị QLDA, nhà thầu, các tổ chức và cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình
Theo[7] QLCL phải xuyên suốt tất cả các quá trình triển khai Dự án, từ khâu khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình đến thi công và khai thác sử dụng công trình xây dựng
Hoạt động QLCL công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xây dựng, nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳ theo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ
Trong quá trình thực hiện công tác khảo sát, ngoài sự giám sát của chủ đầu tư nhà thầu khảo sát xây dựng phải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát của mình để đảm bảo chất lượng
Trong quá trình thực hiện thiết kế công trình, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế công trình
Trang 36Chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thi công công trình
Trong quá trình thực hiện thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng, giám sát của đơn vị tư vấn giám sát, giám sát thi công xây dựng công trình và nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
Trong giai đoạn bảo hành, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình
có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó Ngoài ra còn có giám sát của nhân dân về chất lượng công trình xây dựng
2.3.2 Kiểm soát chất lượng công trình xây dựng
Kiểm soát là thiết lập một hệ thống đo lường theo dõi và dự báo những biến động của
dự án về quy mô, kinh phí và thời gian Mục đích của chức năng này là xác định và dự phòng những biến động của dự án để kịp thời thực hiện những hành động điều chỉnh Quá trình theo dõi dự án cần phải được báo cáo liên tục và đúng lúc để đơn vị quản lý
có thể đáp ứng kịp thời trong quá trình thực hiện dự án Kiểm soát thường là nhiệm vụ khó khăn nhất nhưng lại là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, vì vậy đòi hỏi đơn vị quản lý phải có đủ năng lực kinh nghiệm và linh hoạt trong quá trình thực hiện dự án
Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp, nhằm theo dõi quá trình triển khai thực hiện dự án, đồng thời loại trừ những nguyên nhân gây bất lợi
và nâng cao hiệu quả các hoạt động trong quá trình triển khai thực hiện dự án ở mọi giai đoạn để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
Đây là một bước tiến bộ của quản lý chất lượng nhằm kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng như con người, vật liệu, máy móc…, đồng thời kiểm soát cả quá trình thực hiện và phòng ngừa rủi ro Nội dung kiểm soát các yếu tố này nhằm đảm bảo chất lượng, phải thường xuyên kiểm soát đồng bộ tất cả các yếu tố và duy trì ở cùng một mức chất lượng vì chỉ cần một yếu tố kém chất lượng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của toàn bộ dự án
Trang 37Kiểm soát chất lượng là nhằm điều khiển cho công trình đạt chất lượng và tìm ra các biện pháp loại bỏ nguyên nhân gây ra các rủi ro:
- Đầu vào: Kế hoạch về quản lý chất lượng, đo đạc chất lượng, danh mục kiểm tra chất lượng, thông tin thực thi công việc, các yêu cầu thay đổi đã được chấp thuận…
- Công cụ và kỹ thuật: Biểu đồ nguyên nhân và hậu quả, biểu mẫu kiểm tra, các loại biểu đồ tần suất, phân tích xu hướng, lấy mẫu xác xuất, thanh tra, kiểm tra
- Đầu ra: Phát hiện kịp thời các khuyết tật, các yếu tố bất lợi, đánh giá tình hình thực trạng và đề ra các giải pháp khắc phục sửa chữa để đảm bảo chất lượng
2.3.3 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng
Cơ sở khoa học trong QLCL công trình xây dựng là những dữ liệu đã kiểm chứng thông qua quá trình nghiên cứu, khảo sát thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường được trong những hoạt động liên quan đến xây dựng, các quy định chỉ dẫn kỹ thuật và chi tiết về đặc tính kỹ thuật trong hoạt động xây dựng được nêu trong quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn công trình, là những yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ, được áp dụng cho tất cả các công trình xây dựng trong phạm vi toàn quốc
2.3.3.1 Quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn công trình
a, Quy chuẩn xây dựng
Quy chuẩn xây dựng là các quy định bắt buộc áp dụng trong hoạt động xây dựng bo
Bộ Xây dựng ban hành Đó là văn bản quy định các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu, bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi hoạt động xây dựng và các giải pháp, các tiêu chuẩn xây dựng (TCXD) được sử dụng để đạt được các yêu cầu đó[15]
Tuy nhiên, mỗi quốc gia có quy chuẩn xây dựng (QCXD) khác nhau do có các quy định cho các thông số kỹ thuật ở mỗi công trình tại mỗi quốc gia là khác nhau Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam hiện tại được ban hành cùng với Quyết định số 682/BXD-CSXD ngày 14/12/1996 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng
Trang 38Khi thiết kế công trình xây dựng tại quốc gia nào, người thiết kế đều cần phải lưu ý đến quy chuẩn xây dựng của quốc gia đó để thiết kế công trình cho phù hợp và đúng quy định Bên cạnh quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng cũng là một vấn đề cần tham khảo trong công tác thiết kế
b, Tiêu chuẩn xây dựng
TCXD là các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số kỹ thuật và các chỉ số tự nhiên được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành hoặc công nhận để áp dụng trong hoạt động xây dựng TCXD gồm tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng và tiêu chuẩn khuyến khích
áp dụng, tại Việt Nam TCXD do Bộ xây dựng ban hành [15]
c, Tiêu chuẩn công trình
TCCT là các quy định về chuẩn mực kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật, trình tự thực hiện các công việc kỹ thuật, các chỉ tiêu, các chỉ số được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền lập riêng áp dụng cho một hoặc nhiều công trình xây dựng cụ thể Tiêu chuẩn công trình có thể lấy từ tiêu chuẩn trong và ngoài nước hoặc những quy định, yêu cầu riêng của công trình cho từng công việc mà tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện
Hình 2.2Quan hệ giữa Quy chuẩn và Tiêu chuẩn
Trang 392.3.3.2 Thẩm quyền ban hành quy chuẩn, TCXD và tiêu chuẩn công trình
- Quy chuẩn xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
- Tiêu chuẩn xây dựng:
+ Các tiêu chuẩn xây dựng Việt nam do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành
+ Các Tiêu chuẩn xây dựng liên quan đến các chuyên ngành (Thủy lợi, Y tế, giao thông v.v) có thể do các Bộ, Ngành khác ban hành sau khi có sự thoả thuận nhất trí của BXD
- Tiêu chuẩn công trình: Do các tổ chức có thẩm quyền hoạt động xây dựng ban hành
và chịu trách nhiệm trước pháp luật
2.3.3.3 Nội dung và hình thức áp dụng:
- Quy chuẩn là văn bản pháp quy kỹ thuật quy định các yêu cầu tối thiểu, các ngưỡng, các mức bắt buộc phải được tuân thủ trong mọi hoạt động xây dựng trên phạm vi toàn quốc
- Tiêu chuẩn là văn bản kỹ thuật trong đó các nội dung quy định không được trái với Quy chuẩn; Đa phần tiêu chuẩn ban hành dưới dạng bắt buộc áp dụng, một số ít tiêu chuẩn được xếp vào loại khuyến khích áp dụng; Các tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng cho toàn bộ các công trình xây dựng cho cả nước, ngoài ra các công trình mang tính đặc thù của ngành còn áp dụng thêm các Tiêu chuẩn của ngành trong quá trình triển khai thực hiện
- Tiêu chuẩn công trình là tài liệu hướng dẫn, quy định kỹ thuật áp dụng riêng cho một công trình cụ thể, là tài liệu pháp lý trực tiếp cho quá trình hoạt động của công trình
2.3.3.4 Mô hình hệ thống QLCL công trình xây dựng ở Việt Nam
Hệ thống tổ chức đảm bảo chất lượng công trình xây dựng ở nước ta đang tìm cách thay thế cơ chế thanh tra để phát hiện chất lượng kém sang cơ chế ngăn ngừa để không xảy ra tình trạng kém chất lượng đối với sản phẩm công trình xây dựng Điều đó có nghĩa là
Trang 40cần tạo ra năng lực về pháp lý và kỹ thuật để tập trung chú ý vào các giai đoạn, đặc biệt giai đoạn đầu để đảm bảo mọi thông số đầu vào đều phải có chất lượng và có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặt ra đối với chất lượng công trình xây dựng
Hình 2.3Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng
Hình 2.4Các hoạt động xây dựng liên quan đến hệ thống văn bản pháp luật
2.3.3.5 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Là hoạt động can thiệp gián tiếp thông qua công cụ pháp luật tác động vào công tác quản lý sản xuất hằng ngày của các chủ thể tham gia (Chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà