Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới để ứng dụng xử lý chất thải trong các khu mổ của bệnh viện.
Trang 1liên hiệp các hội KHKT Việt Nam
trung tâm nghiên cứu và triển khai
công nghệ môi trường _
Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới để hạn chế ô nhiễm trong các khu mổ bệnh viện
CNĐT: BS, CKI Trương Ngọc Sơn
Hà Nội - 2004
Trang 2DANH SáCH NHữNG NGƯờI THựC HIệN CHíNH
1 Trương Ngọc Sơn – Cán bộ kỹ thuật, Trung tâm nghiên cứu và triển khai công
nghệ môi trường (REDCET), Bác sĩ chuyên khoa I, Chủ nhiệm đề tài
2 Những người thực hiện chính:
2.1 Vũ Văn Tiễu-Chi nhánh phía Nam,Trung Tâm Nhiệt đới Việt-Nga,Tiến sĩ
2.2 Nguyễn Minh Cảo - Trung tâm REDCET, Tiến sĩ
2.3 Trần Thị Túc - Trung tâm REDCET, Kỹ sư
2.4 Trịnh Xuân Dương - Trung tâm REDCET, Kỹ sư
2.5 Vũ Tường Vân - Trung tâm REDCET, Cử nhân
DANH SáCH CáC CƠ QUAN PHốI HợP CHíNH
1 Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga
2 Bệnh viện hữu nghị Việt Nam – Cu ba Hà Nội
Trang 3Mở đầu
Bệnh viện là nơi hội tụ nhiều loại vi khuẩn và là nơi có nhiều cơ hội cho sự lây lan các bệnh truyền nhiễm Nhiễm khuẩn Bệnh viện đang là vấn đề rất nóng bỏng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo, các nước đang phát triển
- Nhiễm khuẩn bệnh viện có một tác động rất lớn làm gia tăng tần suất bệnh, tăng chi phí điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong, ngoài ra còn làm gia tăng sự trỗi dậy của các dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh
- Nhiễm khuẩn bệnh viện ngày nay đã trở thành một thách thức mang tính thời đại
Trong bệnh viện, các khu vực có nguy cơ nhiễm khuẩn cao là các khoa, phòng có bệnh nhân phơi nhiễm cao với vi khuẩn gây bệnh, đó là các khoa (phòng)
mổ, hậu phẫu
Theo thống kê cuả Hệ thống tầm soát Nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ, nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như những bệnh nhân tại khoa hồi sức cấp cứu dao động từ
10 đến 15%
Vì vậy vịệc tổ chức một Chương trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện là một nhiệm vụ cần thiết trong sự phát triển của ngành y tế Bộ y tế Việt nam từ năm
1997 đã ra quyết định thành lập Khoa chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Bắt đầu Chương trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện cũng có nghĩa là bắt đầu một chuyển biến mới trong lĩnh vực chăm sóc y tế toàn diện của mỗi quốc gia Việc chống nhiễm khuẩn ở Việt nam vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ và đang ở trong giai đoạn khởi đầu Những yêu cầu đối với các bệnh viện và tổ chức y tế cộng đồng nước ta là việc xây dựng cơ sở hạ tầng và khả năng chăm sóc sức khoẻ trước tiên phải giải quyết vấn đề chống nhiễm khuẩn bệnh viện Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc đào tạo và huấn luyện đội ngũ nhân viên có đủ năng lực để giải quyết vấn
đề nêu trên Nghĩa là yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định Vấn đề chống nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiệm vụ của tất cả mọi người từ người đầu bếp chuẩn bị thức ăn cho bệnh nhân đến những phẫu thuật viên thực hiện các cuộc mổ, đến các
Trang 4điều dưỡng viên thực hiện thay băng, đến nhân viên vệ sinh sạch khoa phòng
Từ tình hình thực tế và tính nghiêm trọng của nhiễm khuẩn bệnh viện như đã
nêu ở trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới để hạn chế ô nhiễm trong các khu mổ bệnh viện Với mục
tiêu: Thử nghiệm kỹ thuật xử lý vô khuẩn không khí bằng màng lọc cho phòng mổ Bệnh viện góp phần cải thiện môi trường Bệnh viện và hiệu quả điều trị
Trang 5Tổng quan Công nghệ lọc khí vô trùng ở nước ngoài
Nghiên cứu chống nhiễm khuẩn ở nước ngoài chủ yếu là nghiên cứu về công nghệ lọc khí Việc nghiên cứu các công nghệ xử lý môi trường nói chung và xử lý bụi, vi khuẩn, độc tố hóa chất, nước nói riêng đã được triển khai từ lâu và người ta
đã sản xuất trong phạm vi công nghiệp
Từ các loại giấy lọc đó, người ta chế tạo ra các loại phin lọc để đưa vào các thiết bị lọc không khí Tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản của phin lọc khí là phải có trở lực khí động học nhỏ, công suất lọc lớn (hàng ngàn m3/giờ) Muốn vậy diện tích hiệu dụng của phin lọc phải lớn hơn hàng chục lần (từ 10 đến 20 lần) thiết diện ngang của phin lọc
ở Việt nam
Những nghiên cứu trong lĩnh vực chế tạo vật liệu lọc bụi, vi khuẩn, độc tố hóa chất được tiến hành nhiều thập niên tại Viện Hóa học quân sự-Bộ tư lệnh Hóa học từ những năm 70 của thế kỷ 20
Sau nhiều năm nghiên cứu, đến nay có thể nói trong lĩnh vực chế tạo giấy lọc vi
khuẩn vẫn chỉ dừng lại trong phạm vi phòng thí nghiệm, chưa có thể đưa ra sản xuất trong công nghiệp với nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là chưa đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản về hệ số lọt và trở lực giấy lọc Điều đó chứng tỏ tính chất phức tạp của công nghệ sản xuất vật liệu lọc son khí vi trùng Còn các cơ
quan nghiên cứu về giấy và các nhà máy giấy của Việt nam chỉ sản xuất được các loại giấy văn phòng thông dụng, công nghệ sản xuất không đáp ứng yêu cầu chế
tạo giấy lọc vi khuẩn Điều này đã được thử nghiệm qua những đợt chế tạo công nghiệp tại Viện-giấy-Senlulo Việt Trì vào những năm 1978 - 1980
Quan điểm chung về vấn đề thông khí vô trùng bệnh viện.
Những tiến bộ trong y học và công nghệ đòi hỏi các nhu cầu điều hoà và thông khí thích hợp của các bệnh viện Điều hoà và thông khí tại bệnh viện đóng một vai trò quan trọng đối với bệnh nhân hơn là việc phát triển các tiện nghi Trong nhiều trường hợp điều hoà không khí thích hợp là yếu tố chữa bệnh và trong một số trường hợp nó đóng vai trò chính yếu, những khác biệt cơ bản giữa điều hoà không
Trang 6khí cho các bệnh viện và cho các cấu trúc xây dựng khác xuất phát từ nhu cầu hạn chế chuyển động không khí trong và giữa các khu vực khác nhau Từ nhu cầu đặc trưng thông gió và lọc gió để làm loãng bớt và tẩy bỏ ô nhiễm dưới dạng mùi và các vi sinh vật trong không khí, và từ nhu cầu nhiệt độ và độ ẩm khác nhau cho các khu vực khác nhau
Để cải thiện chất lượng không khí, người ta khuyến cáo không được sử dụng rộng rãi đèn tiệt khuẩn tia cực tím tại các bệnh viện do khó che chắn đồng thời để bảo vệ bệnh nhân và mọi người liên quan, do khả năng diệt vi sinh của tia cực tím không thể thực hiện được đặc biệt trong trường vi sinh chuyển vận trong bụi Lắp
đèn tiệt khuẩn trong các hệ thống ống dẫn có hiệu quả cao hơn
Khái niệm lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar được phát triển cho việc sử dụng phòng sạch công nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu y học Có những quan điểm ủng hộ cả hai hệ thống lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar theo chiều ngang và chiều dọc có hoặc không có các vách ngăn cố định hoặc di động xung quanh nhóm phẫu thuật Nhiều nhà nghiên cứu không tán đồng lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar cho công việc phẫu thuật nhưng có rất nhiều nhà đề xướng hệ thống khí tương tự trong tài liệu
Những hệ thống phục vụ cho các diện tích bị nhiễm bẩn cao như các phòng cách ly và các phòng giải phẫu tử thi nên duy trì áp suất khí âm so với các phòng hay hành lang tiếp giáp áp suất khí âm đạt được do cung cấp khí cho diện tích thấp hơn khí được hút đi từ đó Điều này có thể tạo ra một luồng khí đi vào khu vực xung quanh chu vi các cửa từ bên ngoài phòng Điều này có thể bị lôi cuốn vào phòng mổ từ các khu vực bị nhiễm bẩn cao Do vậy phải được điều áp cân đối với các khu vực nêu trên Điều này chỉ có thể được duy trì trong phòng cách ly hoàn toàn Để đạt đến sự điều chỉnh cân đối một cách hợp lý tất cả các cửa hay xung quanh các khe hở giữa các khu vực được điều áp, tốt nhất sử dụng vải bịt khe cửa
Trang 7có kích thước xác định (hạt hình cầu của son khí dầu DOP hoặc DEP)
- Nếu phin lọc hay màng lọc có thể giữ được đến 99,997% các hạt có đường kính 0,3 micron thì chúng hoàn toàn có thể sử dụng để thanh trùng không khí
Vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện và kiểm soát
nhiễm khuẩn bệnh viện
Nhiễm khuẩn bệnh viện có một tác động rất lớn, nó làm gia tăng tần suất bệnh, tăng chi phí điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong, ngoài ra còn làm gia tăng sự trỗi dậy của các dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh Nhiễm khuẩn bệnh viện đã trở thành một thách đố mang tính thời đại
Tình hình nhiễm trùng mắc phải trong bệnh viện ở Việt Nam chưa được đánh giá một cách quy mô và chúng ta không biết được những tổn thất về con người và tiền bạc
Vấn đề kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện là một vấn đề lớn có ý nghĩa thiết thực góp phần nâng cao chất lượng điều trị trong bệnh viện, giảm tỷ lệ lây lan, giảm tử vong, giảm chi phí điều trị do giảm dùng kháng sinh và giảm thời gian nằm viện Những kinh nghiệm về chống nhiễm khuẩn bệnh viện trên các nước cho thấy: Kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện muốn thành công cần tạo được một mạng lưới chống nhiễm khuẩn trong bệnh viện
Những yêu cầu cần thiết khi thiết kế, chế tạo thiết bị cấp khí vô
trùng cho phòng mổ bệnh viện
Thiết kế chế tạo thiết bị cho phòng mổ bệnh viện cần phải nắm được những yêu cầu kỹ thuật cơ bản đảm bảo môi trường sạch cho phòng mổ bệnh viện nhằm kiểm soát việc nhiễm khuẩn bệnh viện Khó khăn nhất hiện nay là ngành y tế chưa tiêu chuẩn hoá được các yêu cầu về thiết kế chuẩn phòng mổ bệnh viện Tình trạng chung hiện nay là các bệnh viện thiết kế xây dựng theo nhiều kiểu khác nhau, không theo một chuẩn thiết kế thống nhất gây rất nhiều khó khăn cho việc thực hiện các giải pháp kỹ thuật đảm bảo không khí vô trùng cho phòng mổ bệnh viện
Hiện tại Bộ y tế cũng chưa có các quy định về chỉ tiêu vi sinh cho phòng mổ sạch, chế độ thông khí và xử lý không khí phòng mổ Do vậy việc thiết kế phòng
mổ thường dựa vào những nguyên tắc chung có tính khuyến cáo với mục tiêu đảm bảo tốt nhất điều kiện an toàn cho những can thiệp phẫu thuật, những yêu cầu liên
Trang 8quan này bao gồm:
- Điều kiện vệ sinh
- Tiện nghi và sự thoải mái về tinh thần cho bệnh nhân
- Sự đầy đủ các phương tiện phẫu thuật
- Sự an toàn cho quá trình phẫu thuật
Tiêu chuẩn hệ thống thông khí tại khu vực phẫu thuật như sau: sự phân phối không khí phải đảm bảo bởi hệ thống khuyếch tán không khí từ trên trần nhà xuống khắp phòng tới các ống thoát khí đặt trên tường hay trên nền kỹ thuật Đáy của lỗ thông khí ra ngoài nên đặt cao ít nhất 75mm so với nền nhà Hệ thống này đảm bảo nhiệt độ từ 20 đến 24oC độ ẩm không khí từ 50 đến 60% và áp suất không khí dương so với bất kỳ phòng kế cận nào (áp suất không khí lớn hơn 15Pa so với các phòng khác)
- Phải có một thiết bị theo dõi độ chênh áp lực trong các phòng cũng như nhiệt kế và máy đo độ ẩm phải được để nơi có thể dễ dàng theo dõi
- Tường, trần và sàn nhà phải kín khít, chống thẩm thấu và cửa cần kín để duy trì áp lực dương
- Không khí trong phòng phải được lọc sạch bởi các hệ lọc hiệu quả 95% và 99,97% (lọc cuối Hepa 0,3àm)
- Không khí trong phòng được trao đổi ít nhất là 15 lần trong 1 giờ với hệ thống cung cấp 100% không khí trong sạch
- Hệ thống hồi lưu tái sử dụng thay đổi không khí ít nhất 25lần/h
- Vận tốc dòng không khí 0,1-0,3m/giây
Hiện nay, những yêu cầu nêu trên cũng vẫn còn là những khuyến cáo chưa trở thành tiêu chuẩn có tính chất pháp lý cho nên trong đề tài chúng tôi phải lựa chọn phương án sao cho phù hợp với các yêu cầu về kỹ thuật thông khí mà hiện nay
có những vấn đề còn đang tranh cãi chưa thông nhất trong giới khoa học và chuyên môn
Trang 9Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu của chúng tôi là phương pháp không truyền thống
với việc triển khai nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở áp dụng những tiến bộ kỹ thuật nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng ngoại, giá thành nội có tính cạnh tranh cao phục vụ cho sản xuất và đời sống Phương pháp nghiên cứu trên có thể rút ngắn thời gian nghiên cứu xuống rất nhiều lần, mặt khác có tác dụng thúc đẩy quá trình hội nhập và góp phần vào việc giảm khoảng cách tụt hậu của nước ta so với các nước trong khu vực
Phương pháp đánh giá chất lượng không khí trong phòng mổ
Để đánh giá chất lượng không khí trong phòng mổ, phân loại tiêu chuẩn phòng sạch và chỉ tiêu kỹ thuật thiết bị chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu sau:
- Phương pháp đếm vi khuẩn trong không khí
- Phương pháp xác định hàm lượng bụi trong không khí
- Các phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng thiết bị khử trùng không khí phòng mổ
Nghiên cứu, thiết kế chế tạo phin lọc bụi, vi khuẩn
Phin lọc bụi - vi khuẩn là một bộ phận quan trọng nhất có tính chất quyết
định đến việc thiết kế, chế tạo thiết bị cấp khí vô trùng Phin lọc khí được tính chọn sao cho vừa đảm bảo được hiệu suất lọc vừa đảm bảo được lưu lượng không khí đi qua phin lọc mà không phá vỡ kết cấu phin lọc Tuỳ theo yêu cầu về cấp độ sạch khác nhau mà người ta sử dụng các loại phin lọc có hiệu suất lọc 40-50%, 90%; 99,0%; 99,9%; 99,99%; 99,997%; 99,999%
Chế tạo phin lọc là một công nghệ hết sức phức tạp bao gồm nhiều công
đoạn với việc sử dụng những kỹ xảo mang tính bí quyết công nghệ, chính vì vậy mà ngay cả những thiết bị nhập đồng bộ từ nước ngoài vào Việt Nam vẫn thấy có những trường hợp phin lọc bị xé rách từng mảng do ứng lực nội của keo kết cấu bị
co ngót quá lớn
Trang 10Sơ đồ nguyên lý Quy trình công nghệ chế tạo phin lọc bụi, vi khuẩn
Hoàn chỉnh khuôn có phin lọc
Tiếp tục bổ sung keo kết cấu bịt kín
Chế tạo khung phin lọc
Cho phin lọc vào khung bao
Kiểm tra kín khí
Kiểm tra trở lực phin lọc
Keo dán
in lọ
Giấy lọc phế liệu
Bôi keo lên giấy làm con chèn
Cắt định hình làm con chèn
Bao bì đóng gói Nguyên liệu
giấy thiếc làm con ch
Máy cắt phôi giấy iếc KL
Tạo nếp gấp giấy thiếc trên máy
Ván ôcan hay
ôm than
Bổ sung keo dán kết
cấu điền đầy các
khe đầu múi giấy
loại bằng giấy thiếc
vào giữa các múi
Kiểm tra ngoại
Trang 11Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị cấp không khí vô khuẩn cho
những phương pháp khác nhau để đẩy dòng khí qua phin lọc
Giải pháp kỹ thuật giảm độ ồn thiết bị
Một trong những chỉ tiêu sử dụng rất quan trọng của thiết bị cấp khí vô trùng
là độ ồn phải ở mức độ vừa phải không gây ảnh hưởng tới tâm sinh lý, chất lượng
và hiệu quả công việc, thời gian làm việc liên tục với thiết bị của các kỹ thuật viên Bởi vì đây là những thiết bị sử dụng trong y tế khác hẳn với các thiết bị công nghiệp có thể cho phép độ ồn lớn hơn nhiều
* Để giảm độ ồn, trong ngành thông gió phải sử dụng các thiết bị chống ồn như ở đầu ra của quạt ly tâm nơi phát ra tiếng ồn, người ta chế tạo các hộp tiêu âm dài không dưới 2m, trong đó tầng tiêu âm được đặt xung quanh hộp có kích thước không nhỏ hơn 100mm chứa các vật liệu tiêu âm
* Phương án thứ hai có thể làm hộp cách ly để ngăn chặn âm thanh, cách này không thể thực hiện được vì thiết bị phải lấy gió và cấp gió cho hệ hở chứ không thể làm thành hệ kín cách ly được trong trường hợp các thiết bị của đề tài
*Phương án thứ 3 là nghiên cứu sự ảnh hưởng của thể tích khoang áp lực và
sử dụng các vật liệu cách âm kết quả cho thấy giảm thể tích khoang áp lực dẫn đến việc giảm độ ồn thiết bị
Thiết kế kết cấu thiết bị làm sao đảm bảo phin lọc được lắp ghép một cách chắc chắn và kín khí để không cho khí thoát ra xung quanh khoang áp lực mà chỉ đi qua phin lọc đó là một yêu cầu rất nghiêm ngặt, trong trường hợp có kẽ hở sẽ dẫn
Trang 12Nghiên cứu mô hình thiết kế, chế tạo thiết bị
Một mô hình phòng sạch phải có các phòng bổ trợ như tiền phòng ở đó được tiến hành các khâu đoạn thay quần áo, dày dép, rửa tay vô trùng, sau đó đi qua một buồng không khí vô trùng vào phòng sạch Kết cấu phòng sạch trung tâm bao gồm quạt gió cấp không khí vào các phòng Trước khi vào phòng không khí được lọc qua một hệ lọc hepa đặt trên trần kỹ thuật, số lượng phin lọc tùy thuộc vào diện tích phòng và tiêu chuẩn số lần lưu thông khí
Mô tả tóm tắt phương án thiết kế tối ưu thiết bị khử trùng không khí
Yêu cầu không khí phòng mổ phải được lọc sạch bụi - vi khuẩn bằng phin lọc HEPA, khuyến cáo không nên hồi lưu và lọc lại không khí trở lại phòng và phải
đảm bảo điều kiện môi trường tối ưu cho các phòng mổ với với nhiệt độ 20-24oC,
độ ẩm 50-60% và áp suất dương cân đối với các khu vực xung quanh 15% khí thừa
Đối với nước ta một yêu cầu rất quan trọng là giá cả phải hợp lý, phù hợp với khả năng tài chính cho lần đầu tư ban đầu và chi phí duy trì và bảo hành thấp, hiệu quả phải đạt yêu cầu
Với mục tiêu trên chúng tôi đề xuất mô hình thiết bị cấp không khí vô trùng cho phòng mổ thích hợp sử dụng trong các bệnh viện, các cơ sở chuyên về chăm sóc sức khỏe, các phòng sạch, các phòng vi sinh, xét nghiệm, thiết bị có khả năng
lọc được các hạt cực nhỏ chỉ thấy qua kính hiển vi (vi khuẩn, vi rút) sau đó có thể
hủy diệt vi khuẩn bào tử, vi rút, các loại vi trùng gây bệnh hoặc các chất kích thích sinh học như phấn hoa chẳng hạn được giữ lại trên bề mặt phin lọc Hepa bằng đèn cực tím lắp đặt trong khoang áp lực
Sau đây trình bày cấu hình tối ưu sau khi thử nghiệm chúng tôi lựa chọn Với
lý do tình trạng phòng ốc của các khu phẫu thuật ở nước ta hiện nay chưa đồng bộ nên chúng tôi đã có những phương án thiết kế thích hợp Trên các hình vẽ là những phương án được thiết kế cho các cấu trúc khu phẫu thuật khác nhau
Trang 13- Ph−¬ng ¸n thø nhÊt: ph−¬ng ¸n cơc bé
Phin lọc Hepa
Khe lấy gió
Phin lọc
sơ cấp
Quạt li tâm
Miệng gió
- Ph−¬ng ¸n thø hai: Treo thiÕt bÞ trªn t−êng
Trang 14- Ph−¬ng ¸n thø ba: ThiÕt bÞ ®−îc treo trªn trÇn.
Trang 15ứng dụng mô hình trình diễn hệ thống thiết bị xử lý không khí
cho phòng mổ bệnh viện
Chọn địa chỉ ứng dụng: Sau khi chế thử và đánh giá một số chỉ tiêu kỹ
thuật sử dụng cơ bản của thiết bị cấp gió vô khuẩn cho phòng mổ bệnh viện, nhiệm
vụ của đề tài là chọn địa chỉ ứng dụng Dự kiến ban đầu của chúng tôi là ứng dụng tại 01 phòng mổ Sau khi nghiên cứu tình trạng thực tế và đặt vấn đề với Ban giám
đốc Bệnh viện chúng tôi đã lấy Phòng hồi tỉnh trong Khu phẫu thuật của Trung tâm phẫu thuật tạo hình và Hàm mặt thuộc Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba để làm cơ sở ứng dụng Trước khi lắp đặt thiết bị vào phòng do khu vực phẫu thuật đã
được xây dựng từ rất lâu nên tình trạng trần, tường và nền của phòng đã cũ nát, chúng tôi đã phối hợp cùng với Bệnh viện cho cải tại lại mới đáp ứng được các thông số của thiết bị sau khi lắp đặt Phương án chúng tôi thực hiện ở đây là
phương án 3 như đề tài đã giới thiệu ở trên
kết quả nghiên cứu
Nhằm đánh giá tình trạng ô nhiễm phòng mổ ở một số bệnh viện chúng tôi
đã tiến hành nuôi xét nghiệm vi sinh lấy tại một số nhà mổ các bệnh viện ở Hà Nội: Viện 198, Viện mắt Hà nội, Bệnh viện Saintpaul, Bệnh viện Sóc sơn - Hà nội, Bệnh viện Đống đa - Hà nội, Bệnh viện Việt nam - Cu ba
- Đánh giá chất lượng không khí phòng Hồi tỉnh Bệnh viện Việt nam – Cu ba trước khi lắp đặt hệ thống xử lý vô trùng không khí
- Đánh giá chất lượng không khí phòng Hồi tỉnh Bệnh viện Việt nam – Cu ba sau khi lắp đặt hệ thống xử lý vô trùng không khí
- Đo hàm lượng bụi tại các vị trí khác nhau trong phòng Hồi tỉnh- Bệnh viện Việt nam - Cu ba Qua kết quả thực nghiệm cho kết quả hàm lượng bụi trung bình cộng trước khi lắp đặt thiết bị là 5757 hạt/m3 và sau khi lắp đặt thiết bị là 1358 hạt/m3 Như vậy sau khi lắp thiết bị hàm lượng bụi trung bình giảm 4399 hạt/m3 so với trước khi lắp đặt thiết bị
- Đánh giá cảm quan của các cán bộ làm việc trong phòng Hồi tỉnh- Bệnh viện Việt nam - Cu ba
Kết quả cảm quan của nhân viên làm việc tại phòng Hồi tỉnhBệnh viện Việt nam
-Cu ba cho thấy: Có sự khác biệt hoàn toàn về cảm giác của người làm việc trong phòng giữa trước và sau khi lắp đặt thiết bị
Trang 16bµn luËn Đề tài đã tổng hợp khá đầy đủ tổng quan tài liệu về tình hình nghiên cứu
trong nước và trên thế giới về kỹ thuật và công nghệ xử lý không khí khỏi bụi,
vi khuẩn Giới thiệu những kết quả nghiên cứu cơ bản về vấn đề nhiễm khuẩn, vấn để thông khí vô trùng và chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Những kết quả đảm bảo không khí vô trùng cho phòng mổ bệnh viện nêu trong phần thực nghiệm là kết quả tổng hợp của rất nhiều các yếu tố liên quan đến các khâu đảm bảo của bệnh viện nói chung và phòng mổ nói riêng Để kiểm tra thực hành phòng chống nhiễm trùng bệnh viện tại Khoa Ngoại có đến
20 nội dung yêu cầu phải được thực hành tốt [27], chưa kể đến các nội dung về
xử lý dụng cụ, xử lý chất thải, nhà giặt, xử lý đồ bẩn và rửa tay phẫu thuật… Kết quả nghiện cứu của hãng SATORIUS (Đức) về kiểm soát quá trình sản xuất và nguồn gốc nhiễm khuẩn cho thấy con người là yếu tố tiêu cực trong phòng sạch vô trùng Da, tóc, quần áo, nách và lỗ mũi là nơi khu trú một lượng lớn vi khuẩn
trực tiếp thải vào môi trường Ví dụ:Trán, da đầu và nách có đến 106 vi khuẩn/cm2; nước bọt và chất bài tiết từ lỗ mũi có đến 106-108VK/ml, hắt hơi
105VK tại vận tốc 100m/giây, đầu ngón tay 20-100VK/cm2, tay 1036×103VK/cm2 Trong một nghiên cứu “Sự hiện diện vi khuẩn trên tay nhân viên
-y tế” tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận cho thấ-y bàn ta-y của nhân viên -y
tế luôn có một lượng lớn vi khuẩn là những tác nhân góp phần vào việc nhiễm chéo bệnh lý nhiễm trùng trong bệnh viện Số lượng vi khuẩn trung bình trên tay kỹ thuật viên trước khi rửa là khoảng 35.104, sau khi rửa là 17.104 Sau khi rửa tay thường qui, số lượng vi khuẩn giảm đáng kể nhưng vẫn cao hơn liều gây
nhiễm gần 17 lần [∗][32]
Qua những số liệu nêu trên cho thấy, dù thiết bị xử lý không khí có đảm bảo độ vô trùng cấp độ cao đi chăng nữa mà các yếu tố khác như phòng ốc, con người, thiết bị và việc chấp hành các qui chế về vệ sinh bệnh viện không được thực hiện đúng thì tiêu chuẩn phòng sạch khó có thể đạt được kết quả mong muốn và tỉ lệ nhiễm trùng vết mổ sẽ tăng lên và không thể kiểm soát được Chính vì vậy đề tài tập trung một mặt tiến hành nghiên cứu tìm các giải pháp kỹ thuật nhằm tạo ra thiết bị xử lý đảm bảo vô trùng không khí cho phòng mổ bệnh viện, mặt khác rất quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu sâu các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng không khí trong môi trường phòng mổ như đã nêu ở phần trên để làm công tác tư vấn thiết kế, sửa chữa nâng cấp phòng mổ cho đúng chuẩn mực ở mức độ có thể trong điều kiện thực tế bệnh viện Do vậy việc đảm bảo môi trường sạch cho phòng mổ bệnh viện là kết quả tổng hợp của
Trang 17
rất nhiều yếu tố trong đó việc cấp không khí vô khuẩn chỉ là một yếu tố quan trọng liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe cho bác sĩ, đội ngũ kỹ thuật viên và bệnh nhân trong bệnh viện
Những số liệu bước đầu có tính chất tương đối nêu ở trên về kết quả xét nghiệm vi sinh tiến hành tại mô hình trình diễn của đề tài có thể kết luận rằng: Hệ thống thiết bị xử lý không khí cho phòng mổ vô trùng theo nguyên lý cục bộ, tạo áp suất dương có hiệu quả tốt, và khuyến cáo có thể áp dụng rộng rãi cho các phòng mổ các bệnh viện
Ở đây cũng cần thống nhất một số quan điểm khi triển khai các hệ thống xử lý không khí phòng mổ bệnh viện: Như trên đã đề cập, cho đến nay các nhà khoa học và các nhà chuyên môn chưa đi đến kết luận phương pháp cấp khí vô trùng theo nguyên lý nào là tối ưu Song họ khuyến cáo sử dụng dòng đơn hướng (laminar) là hợp lý và đem lại hiệu quả Sử dụng nguyên lý dòng laminar thổi đứng hay dòng laminar thổi ngang kinh phí vô cùng lớn khả năng tài chính của ta chắc còn lâu mới có thể đáp ứng nổi Sử dụng hệ thống trung tâm với dòng hồi lưu xử lý lại cũng chưa được thống nhất trong giới chuyên môn Còn trong trường hợp lắp đặt hệ thống trung tâm thải bỏ thì thất thoát năng lượng rất lớn, khả năng đảm bảo kinh phí để duy trì hoạt động của hệ thống là rất khó khăn Chi phí viện phí cho một ca mổ phải tăng lên gấp hàng chục lần mà bệnh nhân phải gánh chịu chắc khó thực thi trong thực tế Ví dụ 1
ca mổ ở Viện Tim chi phí khoảng 2000-3000USD, th× viƯc ¸p dơng phục vụ số lượng lớn cộng đồng dân cư lµ khã cã thĨ thùc hiƯn ®−ỵc, mà chỉ có một số ít bệnh nhân hiểm nghèo nằm giữa cái sống và cái chết bắt buộc phải vào viện Phương án lắp đặt thiết bị xử lý mà đề tài đề xuất cũng chưa phải đã được thống nhất trong giới chuyên môn Song kết quả thử nghiệm cho thấy có hiƯu qu¶ gi¶m vi khuÈn, gi¶m bơi, t¹o c¶m gi¸c tho¶i m¸i, h¬n n÷a tiÕt kiƯm ®−ỵc chi phÝ ®iỊu trÞ, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế trong nước, chi phí đầu
tư và chi phí vận hành thấp, ít phải bảo hành bảo trì, nó có thể rất thích hợp với các bệnh viện tuyến quận huyện; các bệnh viện chưa có điều kiện xây dựng mới nhưng có kinh phí sửa chữa nâng cấp Còn đối với các bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến trung ương có thể cần phải nghĩ đến việc xây dựng hệ thống xử lý trung tâm với thiết kế hiện đại đáp ứng mọi yêu cầu kỹ thuật đề ra
kÕt luËn vµ kiÕn nghÞ
1 KÕt qu¶ khảo sát tại các bệnh viện và thực tế thử nghiệm cho thấy, sử dụng tiêu chuẩn của Liên Xô (cũ) hoặc tiêu chuẩn phòng cấp I, II, III GMP ASEAN để đánh giá chất lượng phòng mổ sạch bệnh viện
2 Đã tìm được một số giải pháp kỹ thuật trong thiết kế chế tạo hệ thống
Trang 18chỉ tiêu sử dụng theo yªu cÇu chuyªn m«n kü thuËt
3 Đã xây dựng được một mô hình trình diễn tại Phòng Hồi tỉnh – Bệnh viện
Việt Nam- Cu Ba Hà Nội Sau hơn 1 năm sử dụng và kiểm tra đánh giá kết quả
vi sinh cho thấy, thiết bị xử lý không khí có hiệu quả tốt và có tính khả thi trong thực tế sử dụng
4 Kiến nghị:
4.1 Có thể áp dụng rộng rãi để xử lý không khí đảm bảo môi trường sạch
cho phòng mổ bệnh viện và các cơ sở có nhu cầu xây dựng phòng sạch nói chung
4.2 Cần xây dựng tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về thiết kế xây dựng đặc thù
và yêu cầu KT cho một nhà mổ sạch ở bệnh viện (Bản tiêu chuẩn và các khuyến cáo về xây dựng mô hình nhà mổ sạch)
Trang 19BẢN TIÊU CHUẨN VÀ CÁC KHUYẾN CÁO VỀ XÂY
DỰNG MÔ HÌNH NHÀ MỔ SẠCH
1 Việc xây dựng nhà mổ phải đạt tiêu chuẩn GMP ASEAN
2 Yêu cầu về nhà mổ phải được thiết kế theo nguyên tắc một chiều và phải
cách ly các khu sạch có các cấp độ khác nhau
3 Phòng hậu phẫu là một khu liên hoàn trong nhà mổ để sau khi bệnh nhân ra
khỏi khu mổ được đưa vào hành lang xanh và sang khu hậu phẫu (hay khu Chăm sóc đặc biệt)
4 Khu hậu phẫu cũng phải được cấp gió vô trùng có áp suất âm cân đối với các
khu lân cận
5 Nhà mổ phải được cấp khí vô trùng làm mát trung tâm hoặc cục bộ
Các phòng mổ vô trùng phải đạt áp suất dương không nhỏ hơn từ 20 – 40 Pa, còn các phòng mổ hữu trùng thì phải tạo áp suất âm cân đối với việc cấp gió vô trùng cho phòng mổ và các khu vực lân cận để tránh bị lây nhiễm do hút khí từ các khu vực lân cận vào phòng mổ
6 Chấp hành qui trình vệ sinh nhà mổ bệnh viện theo đúng qui định của Bộ Y
tế với việc sử dụng những chất khử trùng phòng ốc thế hệ mới kết hợp với các chất khử trùng truyền thống và thay đổi các chất khử trùng (4-5 loại) để tránh vi khuẩn kháng hóa chất
7 Chấp hành nghiêm các qui định về vệ sinh con người, rửa tay thường qui và
các qui định khác về trang phục bác sĩ
8 Chấp hành nghiêm các qui định về xử lý thanh trùng dụng cụ thiết bị, bệnh
nhân và các yếu tố gây nhiễm khác
9 Yêu cầu chất lượng phòng mổ về mặt vi sinh khuyến cáo đạt cấp III theo tiêu
chuẩn GMP ASEAN hay tiêu chuẩn của Liên xô trước đây
Theo tiêu chuẩn của Liên xô cũ độ nhiễm không khí trước mổ là 500 vi khuẩn/m3 không khí, và sau mổ là 1000 vi khuẩn/m3, không có các vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh đạt tiêu chuẩn sạch vi sinh Các vi khuẩn chỉ điểm vệ sinh không khí là những vi khuẩn tan máu được xác định là Saureus, Stropygenes, P aeruginosa và các nấm mốc Phòng sạch đạt tiêu chuẩn cấp III theo TC GMP SEAN trong đó không quá 3.500.000 tiểu phân cỡ 0,5 micron hoặc lớn hơn; 20.000 tiểu phân kích thước lớn hơn hoặc bằng 5 micron; và không quá 500 vi sinh vật sống trong 1m3 không khí
10 Yêu cầu trong phòng mổ về nhiệt độ là 20-25oC và độ ẩm là
Trang 20DANH SáCH NHữNG NGƯờI THựC HIệN CHíNH
1 Trương Ngọc Sơn – Cán bộ kỹ thuật, Trung tâm Nghiên cứu và Triển khai Công
nghệ Môi trường (REDCET), Bác sĩ chuyên khoa I, Chủ nhiệm đề tài
2 Những người thực hiện chính:
2.1 Vũ Văn Tiễu-Chi nhánh phía Nam,Trung Tâm Nhiệt đới Việt-Nga,Tiến sĩ
2.2 Nguyễn Minh Cảo - Trung tâm REDCET, Tiến sĩ
2.3 Trần Thị Túc - Trung tâm REDCET, Kỹ sư
2.4 Trịnh Xuân Dương - Trung tâm REDCET, Kỹ sư
2.5 Vũ Tường Vân - Trung tâm REDCET, Cử nhân
DANH SáCH CáC CƠ QUAN PHốI HợP CHíNH
1 Chi nhánh phía Nam, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga
2 Bệnh viện hữu nghị Việt Nam – Cu ba Hà Nội
Trang 21mæ BÖnh viÖn
37
3.1 m« t¶ tãm t¾t ph−¬ng ¸n thiÕt kÕ tèi −u thiÕt bÞ khö trïng kh«ng khÝ 41
3.2 øng dông m« h×nh tr×nh diÔn hÖ thèng thiÕt bÞ xö lý kh«ng khÝ cho
B¶n tiªu chuÈn vµ c¸c khuyÕn c¸o vÒ x©y dùng m« h×nh nhµ mæ s¹ch 62
Trang 22DANH MụC BảNG BIểU
Bảng 1 Hiệu suất lọc đối với các hệ thống thông khí và điều hoà
không khí tại các bệnh viện đa khoa
11
Bảng 2 Nhiễm khuẩn Bệnh viện các nước trên thế giới 22
Bảng 3 Nhiễm khuẩn Bệnh viện ở Việt nam năm 2001 22
Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm khuẩn tại Bệnh viện Nhi đồng 1- TP Hồ Chí
Minh
22
Bảng 5 Bảng các chủng loại kháng thuốc, tỷ lệ các vi khuẩn gây bệnh
kháng thuốc nuôi cấy được
Bảng 10 Số liệu cấy vi khuẩn bệnh viện Sóc sơn hà nội năm 2001 47
Bảng 11 Số liệu cấy vi khuẩn bệnh viện mắt Hà nội năm 2001 48
Bảng 12 Số liệu cấy vi khuẩn bệnh viện mắt Hà nội năm 2002 48
Bảng 13 Số liệu cấy vi sinh Bệnh viện Đống đa Hà nội năm 2001 49
Bảng 14 Số liệu cấy vi sinh bệnh viện saintpaul Hà nội 50
Bảng 15 Số liệu cấy vi khuẩn bệnh viện Saintpaul Hà Nội(Năm 2002) 51 Bảng 16 Số liệu cấy vi khuẩn bệnh viện 198 Hà nội năm 2000 52
Bảng 17 Số liệu cấy vi khuẩn các khu mổ Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba 53
Bảng 18 Số liệu kiểm tra vi sinh trước khi có hệ thống xử l ý tại Phòng
Hồi tỉnh- Bệnh viện Việt nam -Cu Ba
54
Bảng 19 Số liệu kiểm tra vi sinh sau khi có hệ thống xử l ý tại Phòng
Hồi tỉnh - Bệnh viện Việt nam -Cu Ba
55
Bảng 20 Kết quả đo vận tốc gió của hệ thống cấp không khí vô trùng 56
Bảng 21 Đo hàm lượng bụi tại các vị trí khác nhau trong phòng 57
Bảng 22 Bảng đánh giá cảm quan của các cán bộ làm việc trong phòng
Hồi tỉnh
58
Trang 23Hình 8 Một số hình ảnh về mô hình trình diễn của đề tài và hệ
thống cấp khí vô trùng tại Bệnh viện Việt Nam - Cu Ba
45
Trang 24Mở đầu
Bệnh viện là nơi hội tụ nhiều loại vi khuẩn và là nơi có nhiều cơ hội cho sự lây lan các bệnh truyền nhiễm Nhiễm khuẩn Bệnh viện đang là vấn đề rất nóng bỏng ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nghèo, các nước đang phát triển
- Nhiễm khuẩn bệnh viện có một tác động rất lớn làm gia tăng tần suất bệnh, tăng chi phí điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong, ngoài ra còn làm gia tăng sự trỗi dậy của các dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh
- Nhiễm khuẩn bệnh viện ngày nay đã trở thành một thách thức mang tính thời đại
Trong bệnh viện, các khu vực có nguy cơ nhiễm khuẩn cao là các khoa, phòng có bệnh nhân phơi nhiễm cao với vi khuẩn gây bệnh, đó là các khoa (phòng)
mổ, hậu phẫu
Theo thống kê cuả Hệ thống tầm soát Nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia, Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ, nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như những bệnh nhân tại khoa hồi sức cấp cứu dao động từ
10 đến 15%
Vì vậy vịệc tổ chức một Chương trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện là một nhiệm vụ cần thiết trong sự phát triển của ngành y tế Bộ y tế Việt nam từ năm
1997 đã ra quyết định thành lập Khoa chống nhiễm khuẩn bệnh viện
Bắt đầu Chương trình chống nhiễm khuẩn bệnh viện cũng có nghĩa là bắt đầu một chuyển biến mới trong lĩnh vực chăm sóc y tế toàn diện của mỗi quốc gia Việc chống nhiễm khuẩn ở Việt nam vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ và đang ở trong giai đoạn khởi đầu Những yêu cầu đối với các bệnh viện và tổ chức y tế cộng đồng nước ta là việc xây dựng cơ sở hạ tầng và khả năng chăm sóc sức khoẻ trước tiên phải giải quyết vấn đề chống nhiễm khuẩn bệnh viện Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc đào tạo và huấn luyện đội ngũ nhân viên có đủ năng lực để giải quyết vấn
đề nêu trên Nghĩa là yếu tố con người vẫn là yếu tố quyết định Vấn đề chống nhiễm khuẩn bệnh viện là nhiệm vụ của tất cả mọi người từ người đầu bếp chuẩn bị thức ăn cho bệnh nhân đến những phẫu thuật viên thực hiện các cuộc mổ, đến các
Trang 25điều dưỡng viên thực hiện thay băng, đến nhân viên vệ sinh sạch khoa phòng
Từ tình hình thực tế và tính nghiêm trọng của nhiễm khuẩn bệnh viện như đã
nêu ở trên chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ mới để hạn chế ô nhiễm trong các khu mổ bệnh viện Với mục
tiêu: Thử nghiệm kỹ thuật xử lý vô khuẩn không khí bằng màng lọc cho phòng mổ Bệnh viện góp phần cải thiện môi trường Bệnh viện và hiệu quả điều trị
Trang 26Phần 1 Tổng quan 1.1.Sơ lược về Công nghệ lọc khí vô trùng ở nước ngoài:
Có thể nói nghiên cứu chống nhiễm khuẩn ở nước ngoài chủ yếu là nghiên cứu
về công nghệ lọc khí Việc nghiên cứu các công nghệ xử lý môi trường nói chung
và xử lý bụi, vi khuẩn, độc tố hóa chất, nước nói riêng đã được triển khai từ lâu và người ta đã sản xuất trong phạm vi công nghiệp Trong tài liệu có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến những yếu tố nêu trên, có những tài liệu chuyên khảo về các vật liệu lọc bụi, vi khuẩn, trên cơ sở các chất liệu khác nhau [1,2], có loại chế tạo từ các sợi tổng hợp như polieste, poliamid, cũng có các loại vật liệu lọc lấy từ sợi nhân tạo như senluloacetat, sợi thuỷ tinh Một trong những yêu cầu cơ bản đối với vật liệu lọc bụi và vi khuẩn là có trở lực khí động học rất nhỏ, nghĩa là cho không khí
đi qua dễ dàng và giữ lại các hạt bụi có kích thước bất kỳ từ hệ phân tán thô lớn hơn 1 micron đến hệ phân tán tinh dưới 1 micron Để giữ lại các hạt có kích thước vô cùng nhỏ màng lọc hay giấy lọc được cấu trúc bằng 1 khung sợi trên cơ sở nhân tạo (Senluloacetat) trên nền một loại sợi tổng hợp: polieste, poliamid (nailon), polisunfon tạo ra một khung ma trận Trên khung ma trận đó được đan dát chồng chéo chằng chịt lên nhau bằng một loại sợi cùng loại hay sợi khác loại có kích thước vô cùng mảnh đường kính sợi 20-30 micron tạo thành một hệ lỗ xốp có kích thước lỗ tuỳ ý phụ thuộc vào định lượng xeo hoặc tạo thành màng xốp polimer Sự lọc bụi và vi khuẩn trong không khí qua màng lọc là do kết quả tác dụng của nhiều hiệu ứng như hiệu ứng va đập, hiệu ứng quán tính, hiệu ứng khuếch tán, hiệu ứng tĩnh điện, hiệu ứng hấp phụ và hiệu ứng sàng lọc Hiệu ứng sàng lọc nghĩa là hạt to
bị giữ lại, hạt nhỏ cho qua chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong cơ chế lọc không khí bằng màng lọc Cơ chế lọc như trên mới có thể giải thích được hiện tượng các hạt
có kích thước nhỏ hơn kích thước lỗ màng lọc vẫn bị giữ lại trên phin lọc [1,3,4,5]
và thời gian bít lỗ rất lâu Trong kỹ thuật, người ta đã chế tạo ra rất nhiều loại vật liệu lọc có khả năng lọc bụi khác nhau từ 40% đến 99,999% việc kiểm tra hiệu quả màng lọc dùng để lọc không khí sử dụng phương pháp quang học bằng thiết bị KOL-45, KOL-90 với hạt son khí tiêu chuẩn có dạng hình cầu cùng 1 kích thước
điều chế từ dioctylphtalat (DOP) [2]
Trang 27Hiện nay ở các nước có nhiều cơ sở đã sản xuất giấy lọc bụi, vi khuẩn trong phạm vi công nghiệp với các chủng loại và chất lượng khác nhau đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của sản xuất công nghiệp (*)
Từ các loại giấy lọc đó, người ta chế tạo ra các loại phin lọc để đưa vào các thiết bị lọc không khí Tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản của phin lọc khí là phải có trở lực khí động học nhỏ, công suất lọc lớn (hàng ngàn m3/giờ) Muốn vậy diện tích hiệu dụng của phin lọc phải lớn hơn hàng chục lần (từ 10 đến 20 lần) thiết diện ngang của phin lọc Công nghệ chế tạo phin lọc hiện nay chủ yếu vẫn phải tiến hành bằng phương pháp thủ công theo 2 cách chèn chống xẹp giữa các múi giấy dùng giấy thiếc gấp nếp và phương pháp chèn chỉ Các phin lọc có công suất thấp thường sử dụng “con chèn thiếc” gấp nếp, còn trong công nghiệp sử dụng “con chèn chỉ” Giấy lọc được gấp nếp theo hình zic-zắc có chiều cao múi từ 80-150mm (max) và khoảng cách giữa các đỉnh múi từ 1mm đến 4-5mm Với 2 phương pháp như trên có thể chế tạo phin lọc có kích thước và dạng hình học tuỳ ý Khi đã có nguyên liệu là giấy lọc bụi, vi khuẩn có thể chế tạo ra phin lọc và từ phin lọc có thể thiết kế chế tạo ra các loại thiết bị vô trùng không khí phục vụ cho tất cả các ngành
có nhu cầu cấp không khí vô trùng trong đó có ngành Y tế Về vấn đề này cũng có nhiều phát minh sáng chế và sách chuyên khảo đề cập tới [6,7,8 16]
1.2 ở Việt nam:
Những nghiên cứu trong lĩnh vực chế tạo vật liệu lọc bụi, vi khuẩn, độc tố hóa chất được tiến hành nhiều thập niên tại Viện Hóa học quân sự-Bộ tư lệnh Hóa học từ những năm 70 của thế kỷ 20 Với sự giúp đỡ của Liên xô (cũ) và Trung quốc, Viện hóa học quân sự được trang bị khá đầy đủ những thiết bị nghiên cứu và kiểm tra cần thiết để đánh giá chất lượng của vật liệu lọc (bụi, vi khuẩn, hóa chất
độc) cũng như các thiết bị phòng chống vũ khí: nguyên tử, sinh học, hóa học Cụ thể những thiết bị nghiên cứu chế tạo và kiểm tra giấy lọc vi trùng bao gồm nồi nấu giấy, máy nghiền, máy xeo giấy, các thiết bị kiểm tra trở lực giấy lọc, độ bền kéo
đứt và kéo rách, thiết bị đo khả năng lọc son khí sương dầu tiêu chuẩn (DOP) của giấy lọc Thiết bị nghiên cứu và kiểm tra đánh giá chất lượng các chất hấp phụ như
lò quay – dùng để than hoá và hoạt hóa than, thiết bị và qui trình tẩm xúc tác, máy sấy tầng sôi, dụng cụ đo trở lực phin lọc, độ kín thiết bị lọc, khả năng hấp phụ của
Trang 28các chất hấp phụ trên cân hấp phụ động học, cân Macben, thiết bị xác định cấu trúc
lỗ xốp của chất hấp phụ như tỷ trọng thực và tỷ trọng biểu kiến, bề mặt riêng,
đường kính lỗ xốp, sự phân bố lỗ xốp bằng phương pháp Porometer và mới đây
được nhà nước đầu tư trang bị thêm một số máy móc thiết bị mới như: thiết bị đo hấp phụ bề mặt NOVA-2200 (Hoa kỳ), sắc ký khí HP-6890 (Hoa kỳ)
Sau nhiều năm nghiên cứu, đến nay có thể nói trong lĩnh vực chế tạo giấy lọc vi
khuẩn vẫn chỉ dừng lại trong phạm vi phòng thí nghiệm, chưa có thể đưa ra sản xuất trong công nghiệp với nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là chưa đạt các chỉ tiêu kỹ thuật cơ bản về hệ số lọt và trở lực giấy lọc Điều đó chứng tỏ tính chất phức tạp của công nghệ sản xuất vật liệu lọc son khí vi trùng Còn các cơ
quan nghiên cứu về giấy và các nhà máy giấy của Việt nam chỉ sản xuất được các loại giấy văn phòng thông dụng, công nghệ sản xuất không đáp ứng yêu cầu chế
tạo giấy lọc vi khuẩn Điều này đã được thử nghiệm qua những đợt chế tạo công nghiệp tại Viện-giấy-Senlulo Việt Trì vào những năm 1978 - 1980
1.3 - Quan điểm chung về vấn đề thông khí vô trùng
bệnh viện
Những tiến bộ trong y học và công nghệ đòi hỏi các nhu cầu điều hoà và thông khí thích hợp của các bệnh viện Điều hoà và thông khí tại bệnh viện đóng một vai trò quan trọng đối với bệnh nhân hơn là việc phát triển các tiện nghi Trong nhiều trường hợp điều hoà không khí thích hợp là yếu tố chữa bệnh và trong một số trường hợp nó đóng vai trò chính yếu, những khác biệt cơ bản giữa điều hoà không khí cho các bệnh viện và cho các cấu trúc xây dựng khác xuất phát từ nhu cầu hạn chế chuyển động không khí trong và giữa các khu vực khác nhau Từ nhu cầu đặc trưng thông gió và lọc gió để làm loãng bớt và tẩy bỏ ô nhiễm dưới dạng mùi và các vi sinh vật trong không khí, và từ nhu cầu nhiệt độ và độ ẩm khác nhau cho các khu vực khác nhau
Một bệnh viện hiện đại phải có cấu trúc xây dựng mang tính đặc thù do yêu cầu thiết kế của nó ảnh hưởng đến việc bảo đảm môi trường vô trùng Trong số các
đặc trưng thiết kế liên quan tới người thiết kế xây dựng là sự liên hệ các đặc trưng này với ô nhiễm do vi khuẩn bay trong không trung và ảnh hưởng của nó đối với tỷ
Trang 29lệ nhiễm trùng
Ngoài việc cung cấp một môi trường sạch không có bụi, mùi, ô nhiễm hoá chất, người thiết kế xây dựng còn phải đối mặt, như trên đã đề cập, với chất lượng không khí khi thiết kế môi trường bệnh viện – môi trường bị ô nhiễm do vi khuẩn trong không gian bệnh viện Người ta cho rằng, các hệ thống không khí được thiết
kế hợp lý khi sử dụng các thiết bị lọc khí hiệu quả cao, có thể tạo môi trường không khí không có vi khuẩn, đó là không khí ngoài trời hay không khí được luân chuyển
từ bên trong khu vực cần xử lý
Nếu được lọc và duy trì hợp lý, khi dùng màng lọc để thông khí không khí sẽ không bị nhiễm khuẩn
Ô nhiễm không khí do sự hiện diện của con người và các hoạt động của họ
đối với mức độ ô nhiễm không khí đã thể hiện trong các nghiên cứu môi trường
được tiến hành tại các bệnh viện trong thời gian gần đây
Những nghiên cứu thống kê tỷ lệ nhiễm trùng với sự có mặt vi khuẩn trong không khí đã không được tiến hành một cách có hệ thống mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu đã nêu rất rõ mối quan hệ giữa tỷ lệ nhiễm trùng vết thương và chất lượng không khí
Vì thiếu thông tin đầy đủ, các tài liệu nghiên cứu y học có thể đưa ra mức độ hay giới hạn cho phép ô nhiễm vi khuẩn trong không khí ở các khu vực khác nhau của bệnh viện Tuy nhiên, tất cả các tài liệu y học đều nhất trí độ ô nhiễm nên giữ mức tối thiểu đặc biệt, ở các khu vực nhạy cảm như phòng mổ, phòng sinh, phòng chăm sóc trẻ, những nơi chăm sóc bệnh nhân bỏng và chăm sóc tăng liều điều trị Cùng với việc kiểm soát mùi, việc thông khí đáp ứng được các biện pháp làm loãng môi trường ô nhiễm vi khuẩn và như một tác nhân lưu chuyển có thể loại bỏ
sự ô nhiễm đó Số lần thông khí theo yêu cầu trong một giờ để tạo ra môi trường phù hợp cho khu vực riêng biệt tại bệnh viện sẽ phụ thuộc vào chức năng hoạt động của khu vực, số người liên quan, mức độ nguy hiểm mà bệnh nhân phải gánh chịu
Để cải thiện chất lượng không khí, người ta khuyến cáo không được sử dụng rộng rãi đèn tiệt khuẩn tia cực tím tại các bệnh viện do khó che chắn đồng thời để bảo vệ bệnh nhân và mọi người liên quan, do khả năng diệt vi sinh của tia cực tím không thể thực hiện được đặc biệt trong trường vi sinh chuyển vận trong bụi Lắp
Trang 30đèn tiệt khuẩn trong các hệ thống ống dẫn có hiệu quả cao hơn
Một yếu tố quan trọng khác trong việc đảm bảo chất lượng không khí là phải
lấy khí ở những địa điểm không gần mặt đất, không kề cận với nơi thải khói bụi
của bệnh viện hoặc các khu nhà tiếp giáp kế bên, vì như vậy sẽ tạo nguy cơ đưa khí
bị ô nhiễm nguy hiểm từ các nguồn như khói xe, thuốc trừ sâu, vi khuẩn từ rác rưởi
xâm nhập không khí Người ta nhận thấy hầu hết việc lấy khí ngoài trời ở những
nơi thải khói bụi gây nên tình trạng ô nhiễm thứ cấp
Về việc lấy khí ngoài trời như đề cập ở trên càng xa nguồn ô nhiễm càng tốt
và khoảng cách thường không dưới 7,6m (25feet) Phần lấy khí ngoài trời phục vụ
cho các hệ thống trung tâm nên đặt càng cao càng tốt và không dưới 6 feet tức
1,83m cách mặt đất, hoặc nếu lắp trên mái thì cách trên mái 0,91m Các kết quả
nghiên cứu cho rằng 90% các hạt tìm thấy trong môi trường bệnh viện có đường
kính lớn hơn 5 àm và đường kính trung bình của chúng thường từ 6àm đến 14àm
- ở các khu vực nhạy cảm yêu cầu hiệu suất lọc đến 95% Các thiết bị lọc
Hepa đã qua kiểm tra hiệu suất lọc đối với DOP 99,997% nên được sử dụng vào
các hệ thống cung cấp khí phục vụ các phòng chữa trị lâm sàng cho bệnh nhân có
tình trạng dễ bị nhiễm trùng cao do bệnh bạch cầu và bỏng Trong hệ thống lọc nên
đặt áp kế để đo áp suất suy giảm qua phin lọc, từ đó xác định thời điểm cần thay
thế phin lọc Bảng dưới đây đưa ra số liệu về hiệu suất lọc đối với các hệ thống
thông khí và điều hoà không khí tại các bệnh viện đa khoa
Bảng 1 - Hiệu suất lọc đối với các hệ thống thông khí và điều hoà không khí tại
các bệnh viện đa khoa
Trang 31a- Gồm các khu phòng mổ, phòng sinh, nhà an dưỡng, phòng hồi sức, các khu vực tăng liều điều trị
Dữ liệu đưa ra trong bảng 1 mô tả mức độ nhiễm bẩn có thể bị phân tán trong không khí tại môi trường bệnh viện do các hoạt động thường ngày đối với công tác chăm sóc bệnh nhân
Do các hoạt động cần thiết đó và hậu quả phân tán vi khuẩn các hệ thống xử
lý khí nên được thiết kế có cấu trúc sao để chuyển động khí làm giảm thiểu sự lan rộng tình trạng nhiễm bẩn Khái niệm lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar
được phát triển cho việc sử dụng phòng sạch công nghiệp đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu y học Có những quan điểm ủng hộ cả hai hệ thống lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar theo chiều ngang và chiều dọc có hoặc không có các vách ngăn cố định hoặc di động xung quanh nhóm phẫu thuật Nhiều nhà nghiên cứu không tán đồng lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar cho công việc phẫu thuật nhưng có rất nhiều nhà đề xướng hệ thống khí tương tự trong tài liệu
Lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar trong các phòng phẫu thuật được
định nghĩa như dòng khí phần lớn là đơn hướng khi không bị cản trở Cấu trúc lưu chuyển khí theo phương pháp Laminar đơn hướng thông thường có vận tốc 90±20 fpm (0,46± 0,1m/s) Sử dụng các hệ thống lưu chuyển không khí theo phương pháp Laminar trong các phòng phẫu thuật bị giới hạn do chưa có sự chấp thuận của các
tổ chức nghiên cứu Y học như uỷ ban môi trường Phòng phẫu thuật của hội phẫu thuật Mỹ
Các hệ thống hút đặc biệt loại bỏ khí trực tiếp khỏi những phần thấp ở phía dưới của nhóm phẫu thuật xung quanh bàn phẫu thuật đang được sử dụng tại một
số bệnh viện Cần có nhiều dữ liệu chứng minh tính hiệu quả của chúng trước khi phương pháp đó có thể được sử dụng cho phòng mổ đa khoa
Các hệ thống lưu chuyển không khí theo phương pháp Laminar được ghi nhận như một bằng chứng hứa hẹn dùng cho các phòng chữa trị bệnh nhân dễ mắc chứng nhiễm trùng cao Trong số các bệnh nhân đó là bệnh nhân bỏng nặng và
đang trải qua phương pháp điều trị bằng phóng xạ, hoá trị liệu, cấy ghép cơ quan,
Trang 32Một lượng nhỏ không khí có thể được hút đi ở phía trần nhà bên trên diện tích bàn mổ để loại bỏ sự tập trung hơi gây mê và giảm thiểu sự tích tụ nhiệt của
ánh sáng đèn mổ Kiểm soát luồng chuyển khí tại các bệnh viện và các tiện ích mong muốn trong thiết kế và hoạt động Luồng khí không mong muốn ở giữa phòng và sàn nhà thường khó kiểm soát vì cửa mở, di chuyển của nhân viên và bệnh nhân, chuyển động vi sai nhiệt độ, ảnh hưởng các khe hở, máng đổ rác, ống thông khí cho thang máy, ngăn cầu thang thường có tại các bệnh viện
Trong khi một vài yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát thực tế thì tác động của một số yếu tố khác có thể được giảm thiểu bằng cách hạn chế các khe hở tại các phòng và bằng cách thiết kế cân đối các hệ thống khí để tạo ra áp suất khí âm, và
áp suất dương tại các phòng và tại các khu vực
Những hệ thống phục vụ cho các diện tích bị nhiễm bẩn cao như các phòng cách ly và các phòng giải phẫu tử thi nên duy trì áp suất khí âm so với các phòng hay hành lang tiếp giáp áp suất khí âm đạt được do cung cấp khí cho diện tích thấp hơn khí được hút đi từ đó Điều này có thể tạo ra một luồng khí đi vào khu vực xung quanh chu vi các cửa từ bên ngoài phòng Điều này có thể bị lôi cuốn vào phòng mổ từ các khu vực bị nhiễm bẩn cao Do vậy phải được điều áp cân đối với các khu vực nêu trên Điều này chỉ có thể được duy trì trong phòng cách ly hoàn toàn Để đạt đến sự điều chỉnh cân đối một cách hợp lý tất cả các cửa hay xung quanh các khe hở giữa các khu vực được điều áp, tốt nhất sử dụng vải bịt khe cửa Người ta cho rằng, đường khí cấp đến các khu vực sạch cũng như các diện tích bị nhiễm bẩn cao được đặt trên trần nhà để tạo sự di chuyển theo hướng đi xuống của khí sạch không qua các vùng sống làm việc tới diện tích sàn phòng bị nhiễm bẩn để hút khí đi Kích thước các lỗ cấp gió và hút khí không được dưới 76mm
Do đó sự hiểu biết thấu đáo về các quy trình hoạt động tại nhiều khu vực bệnh viện và tác động cuả việc nhiễm bẩn khí đối với chúng là hết sức quan trọng
đối với người thiết kế các hệ thống điều khiển khí: đối với các phòng mổ việc sử dụng 100% khí ngoài trời sẽ bị hạn chế do thất thoát nhiệt Theo các tiêu chuẩn thiết kế và các điều luật hiện hành đòi hỏi tất cả các khí từ toilet phải được hút trực tiếp ra ngoài trời, yêu cầu này dựa trên việc kiểm soát mùi Trong trường hợp sử
Trang 33dụng hệ thống lọc khí làm lạnh trung tâm có thể cho phép luân chuyển hồi lưu 50% khí tại toilet
- Khí hút từ nắp chụp tại các khu vực hoá tính, mô học, rửa – khử trùng thuỷ tinh, huyết thanh, vi khuẩn sẽ được xả ra ngoài phòng mà không cần sự luân chuyển khí Toàn bộ khu vực thí nghiệm sẽ được đặt dưới áp suất khí âm để giảm lan mùi hay sự nhiễm bẩn tới các khu vực khác trong bệnh viện Nhiệt độ, độ ẩm nằm trong phạm vi vệ sinh chung nghĩa là 24oC và 30% Phòng vi sinh học không
có sự chuyển động khí quá mức và giới hạn vận tốc khi tới mức tối thiểu
Phòng thí nghiệm về các bệnh lây nhiễm và vi rút: chỉ thành lập tại các bệnh
viện lớn, đòi hỏi công tác chữa trị đặc biệt – tỷ lệ thông khí là tối thiểu và tạo một
áp suất khí âm so với các khu vực lân cận khác tránh lọc lại các chất bẩn Việc hút khí từ các nắp chụp chống hơi độc hay các tủ an toàn tại các phòng thí nghiệm này yêu cầu phải khử trùng trước khi được hút ra ngoài
Điều này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng các thiết bị làm nóng đốt bằng điện hoặc gas được đặt trong hệ thống hút khí và được thiết kế để đốt nóng khi hút đến 6000F tức 3150C Một phương pháp khử trùng khí hút thông dụng và chi phí thấp là sử dụng các thiết bị lọc hiệu suất cao trong hệ thống Những thiết bị lọc này được trang bị đồng bộ hệ thống dây điện trở Khử trùng các nắp chụp cũng
được thực hiện bằng các hệ thống phun hơi formandehyd
Các phòng tử thi: là nơi gây nhiễm khuẩn và mùi nặng nề nhất Hệ thống hút
sẽ xả khí ở trên mái bệnh viện áp suất khí âm cân đối với áp suất khí tại các khu vực lân cận nhằm tránh lan tràn sự nhiễm bẩn này
Các khu nuôi thú chủ yếu sinh mùi cần phải lắp một hệ thống hút xả khí nhiễm bẩn phía trên mái nhà bệnh viện Để tránh lan rộng mùi hay các chất nhiễm bẩn khác từ khu nuôi thú tới các khu vực khác, cần tạo một áp suất khí âm khoảng 25Pa
Phòng chăm sóc trẻ: điều hoà khí rất cần thiết cho phòng chăm sóc trẻ để
đảm bảo các điều kiện nhiệt độ và độ ẩm ổn định cho công tác chăm sóc trẻ sơ sinh trong môi trường bệnh viện Các kiểu chuyển động khí tại các phòng chăm sóc trẻ
sẽ được thiết kế cẩn thận nhằm giảm bớt các luồng gío
Trang 34khí sẽ bị tách và tất cả khí sẽ bị hút gần sàn nhà với kích thước lỗ hút không nhỏ hơn 76mm Hiệu suất hệ thống lọc khí sẽ phù hợp với hiệu suất hệ thống lọc khí
đối với các khu vực nhạy cảm
Phòng chăm sóc trẻ đủ tháng: nhiệt độ yêu cầu 24oC với độ ẩm tương đối nằm trong khoảng 30-60% khu chăm sóc sản phụ sẽ được xử lý tương tự để bảo vệ trẻ sơ sinh trong suốt thời kỳ ở bên mẹ
Phòng chăm sóc trẻ sẽ có một áp suất khí dương cân đối với không gian làm việc, phòng khám và các phòng thường được đặt xen giữa các phòng chăm sóc trẻ
và hành lang sẽ được điêù áp tương tự cân đối với hành lang Điều này sẽ tránh
đựơc việc thâm nhiễm của khí bị nhiễm bẩn từ các khu vực bên ngoài
Phòng chăm sóc trẻ đặc biệt: các điều kiện thiết kế cho phòng này đòi hỏi
một dung lượng nhiệt độ thay đổi từ 24 – 27oC và độ ẩm tương đối 30-60% Loại phòng chăm sóc trẻ này thường được trang bị các lồng ấp riêng có khả năng hiệu chỉnh nhiệt độ và độ ẩm Người ta mong muốn duy trì các điều kiện như thể cho phòng chăm sóc tre trước khi đưa trẻ rời khỏi lồng âp, cũng như khi đặt chúng vào lồng âp Điều áp và xử lý khi cho các phòng chăm sóc trẻ này sẽ tương đương tự như các phòng chăm sóc trẻ bình thường khác, nghĩa là cũng phải tạo một áp suất dương và hút ra khỏi phòng
Phòng theo dõi sức khoẻ trẻ: Các yêu cầu nhiệt độ và độ ẩm đối với các
phòng chăm sóc trẻ này tương tự như phòng như phòng chăm sóc trẻ đủ tháng Do trẻ sơ sinh tại phòng theo dõi sức khoẻ trẻ có các triệu chứng lâm sàng bất thường nên tạo một áp suất khí âm cân đối với áp suất khí của phòng làm việc sẽ được duy trì tại phòng chăm sóc trẻ và phòng làm việc thường được đặt xen giữa phòng chăm sóc trẻ và hành lang sẽ được điều áp cân đối với hành lang
Phòng bệnh nhân: việc lọc khí và tỷ lệ thông khí sẽ được thực hiện khi sử
dụng các hệ thống cấp lạnh lọc khí trung tâm nhằm giảm sự nhiễm chéo và kiểm soát mùi Những phòng cách ly bệnh nhân mắc bệnh lây nhiễm sẽ có hệ thống hút khí đưa thẳng ra ngoài Nhiệt độ thiết kế vào mùa đông là 24oC và độ ẩm tương đối 30% và về mùa hè là 24o C và độ ẩm 50%
Đơn vị chăm sóc tích cực: Đơn vị này phục vụ cho các bệnh nhân nặng với
sự đa dạng của các điều kiện chữa trị bệnh nhân hậu phẫu Dung lượng nhiệt độ
Trang 35biến thiên từ 24 đến 27oC và độ ẩm tương đối từ 30 đến 60% với áp suất khí dương
Phòng cách ly: nếu không được đặt trong khoa lây, thì phải được thiết kế
sao cho khi có bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm, thì phải bảo vệ các bệnh nhân khác tránh khỏi bệnh lây nhiễm Khi có bệnh nhân mà sức đề kháng với lây nhiễm thấp như các bệnh nhân bỏng hay bệnh nhân bạch cầu, cần phải bảo vệ họ tránh khỏi nhiễm khuẩn của những nơi còn lại trong bệnh viện
Để thực hiện được mục đích đó, cần có 1 phòng ngoài chức năng như 1 khoá không khí đặt xen giữa phòng bệnh nhân và hành lang bệnh viện Những thiết bị lọc hiệu suất 90% được sử dụng trong hệ thống phòng cách ly tất cả khí được xả ra ngoài Tạo nên một áp suất khí âm so với áp suất khí các khu vực lân cận Nhiệt độ
và độ ẩm sẽ tương đương với nhiệt độ và độ ẩm đặc trưng cho các phòng bệnh nhân
Phòng cất giữ và phân phát các thiết bị đã xử lý vệ sinh: sẽ được duỳ trì áp
suất khí dương so với hành lang Phòng lưu chứa vật dụng bị bẩn là nơi tập trung các dụng cụ và vật liệu ô nhiễm, không đảm bảo vệ sinh, được xem như phòng bị nhiễm bẩn, do có áp suất khí âm so với áp suất khí các khu vực lân cận Nhiệt độ và
độ ẩm các phòng trên nằm trong phạm vi vệ sinh chung
Đối với nhà ăn: các yêu cầu thông khí tuỳ thuộc vào thực phẩm cho bệnh
viện, ở những nơi cần phân phát một lượng lớn thức ăn, ở nơi rửa chén bát cùng nơi
để thức ăn, khuyến cáo dùng hệ thống khí hút ra ngoài Những nơi chứa thức ăn nhỏ hơn như ăn phụ sẽ không cần thông khí đặc biệt áp suất khí của phòng chứa thức ăn sẽ cân bằng với các khu vực lân cận để làm giảm sự chuyển động khí ra ngoài hoặc vào phòng
Khu vực phẫu thuật:
Không có khu vực nào trong bệnh viện đòi hỏi sự kiểm soát một cách cẩn thận điều kiện vô trùng môi trường hơn khu vực phẫu thuật Các hệ thống phục vụ cho các phòng phẫu thuật, gồm cả các phòng điều trị cần thiết thận trọng nhằm làm giảm thiểu sự tập trung các vi sinh vật bay trong không gian trong phòng Người ta biết rằng một lượng lớn vi khuẩn tìm thấy tại phòng phẫu thuật xuất phát từ nhóm phẫu thuật và từ các hoạt động của họ trong quá trình phẫu thuật
Trang 36đều ở cạnh bàn mổ tạo ra tình huống ngoài ý muốn là tập trung sự nhiễm bẩn tại khu nhạy cảm cao này
Các nghiên cứu hệ thống phân phối khí cho phòng phẫu và theo dõi cách lắp
đặt hệ thống tại phòng vệ sinh công nghiệp chỉ ra rằng chuyển khí tới từ trần nhà theo hướng chuyển động khí từ trên xuống đến một số đường khí hút vào và đặt tại các bức tường đối diện, là kiểu chuyển động khí có hiệu quả nhất nhằm đảm bảo cho sự tập trung nhiễm bẩn ở mức độ chấp nhận được Các trần nhà được đục lỗ hoàn toàn hoặc đục lỗ từng phần và các trần nhà được lắp đặt các thiết bị khuếch tán khí được sử dụng rất thành công Tại các bệnh viện trung bình, các phòng mổ làm việc không quá 8-12h/ngày Do đó vì nhu cầu tiết kiệm năng lượng nhà thiết kế
sẽ cung cấp hệ thống điều hoà khí cho phép ngưng tất cả hay một phần nhà mổ
Hệ thống hút khí riêng biệt, hay hệ thống chân không sẽ được sử dụng để tách hơi thuốc gây mê còn sót lại Một hoặc nhiều đường khí ra tại mỗi phòng mổ
được định vị trí để cho phép nối kết ống thải khí máy gây mê có thể được dùng đến Người ta khuyến cáo điều kiện môi trường tối ưu cho các phòng mổ với nhiệt
độ là từ 20-24oC, độ ẩm tương đối 50-60% và áp suất dương so với các phòng kế bên là 15 đến 20PA (15% khí thừa) Cần lắp đặt các áp kế, ẩm kế để đo áp suất không khí và độ ẩm của phòng Toàn bộ khí cấp ở ngay hoặc gần trần nhà và khí hút ít nhất 2 vị trí gần sàn nhà, đáy các đường khí ra không nhỏ hơn 76mm cách trên mặt sàn
Các bộ phận kiểm soát, giám sát hiệu chỉnh nhiệt độ, độ ẩm và áp suất khí
được đặt tại hai bàn nhân viên giám sát phẫu thuật
Phòng hồi sức: các phòng hồi sức hậu phẫu thiết kế liên kết với các phòng
mổ sẽ được duy trì ở nhiệt độ 24oC và độ ẩm tương đối 50-60% Do mùi thuốc gây nên còn sót lại và gây hậu quả buồn nôn, cho nên không khí là quan trọng và cân bằng áp suất khí cân bằng đối với áp suất khí các khu vực lân cận
Phòng cất giữ thuốc mê phải được thông khí phù hợp với tiêu chuẩn NFPA –56A- tiêu chuẩn sử dụng chụp gây mê, nhưng chỉ cần thông khí cơ học
Bộ phận sản khoa: các hệ thống được thiết kế phù hợp về các phương diện
như phòng mổ bệnh viện
Bộ phận cấp cứu: bộ phận này, trong nhiều trường hợp sẽ là nơi bị nhiễm bẩn
Trang 37nhiều nhất trong bệnh viện do hậu quả của việc nhiễm bẩn từ nhiều bệnh nhân và của người nhà đi theo họ Yêu cầu nhiệt độ và độ ẩm của phòng chấn thương gần giống với các phòng mổ Các phòng chờ đòi hỏi tỷ lệ thông khí tối thiểu là 10lần/h Nhiệt độ và độ ẩm của phòng chờ nằm trong phạm vi vệ sinh chung, áp suất khí âm
sẽ được duy trì tại phòng chờ
1.4 - Cơ sở lý thuyết lọc khí vô trùng
1.4.1 Những khái niệm cơ bản về son khí
Như đã biết, trong không khí có một lượng vô cùng lớn các hạt bụi (son khí)
có nguồn gốc thiên nhiên hay nhân tạo, mắt thường ta chỉ có thể nhìn thấy được các hạt có đường kính khoảng 20micron Son khí là những hệ phân tán trong đó môi trường phân tán là không khí, còn pha phân tán là những hạt ở dạng rắn hay dạng lỏng Khói, bụi, sương mù và trong khói trong không khí Hình dạng và kích thước của các hạt son khí có kích thước nằm trong khoảng từ 10-7 đến 10-2 cm Son khí có bán kính hạt nhỏ hơn 1 micron được coi là son khí phân tán tinh, còn son khí có bán kính hạt lớn hơn 1micron được coi là son khí phân tán thô
- Son khí vi khuẩn (vi trùng) cũng có thể bao gồm các hạt có kích thước khác nhau phụ thuộc vào bản chất vi khuẩn Ví dụ kích thước vi trùng, vi khuẩn nằm trong khoảng từ 1-5 micron, còn kích thước virus nhỏ hơn từ 2 đến 3 cấp
- Các hạt son khí luôn luôn ở trạng thái chuyển động, bởi vậy chúng có thể
được di chuyển đi rất xa Như vậy trong không khí luôn tồn tại các loại vi khuẩn khác nhau với nồng độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm ở từng khu vực
Do đó những công việc tiến hành đòi hỏi trong điều kiện vô trùng bắt buộc phải xử
lý không khí
- Để lọc son khí vi khuẩn, vật liệu lọc đơn giản nhất có thể dùng một lớp bông Nhưng bông chỉ lọc được bụi thô, không lọc được vi khuẩn (vi trùng) Để lọc son khí vi khuẩn cần có các loại vật liệu lọc cao cấp mà nước ta đến nay chưa thể chế tạo được
1.4.2 Điều chế không khí vô trùng
Công dụng công nghiệp của các phin lọc không khí là điều chế không khí vô trùng Việc thanh trùng không khí khác biệt một cách cơ bản so với thanh trùng
Trang 38thanh trùng không khí có thể đánh giá bằng việc đo khả năng giữ các hạt có kích thước xác định (hạt hình cầu của son khí dầu DOP hoặc DEP)
- Nếu phin lọc hay màng lọc có thể giữ được đến 99,997% các hạt có đường kính 0,3 micron thì chúng hoàn toàn có thể sử dụng để thanh trùng không khí
1.4.3 Những khái niệm cơ bản về vật liệu lọc son khí vi trùng
- Để giữ được vi khuẩn người ta dùng phin lọc khói, phin lọc bụi Phin lọc vi
khuẩn có khả năng giữ lại các hạt son khí có kích thước bất kỳ
- Nền của các loại giấy lọc này là các vật liệu lọc dạng sợi có độ thấm khí cao và khả năng lọc son khí tốt có nghĩa là không khí rất dễ dàng đi qua còn bụi và
vi khuẩn thì bị giữ lại
- Vật liệu lọc là vật liệu có lỗ tạo ra nhờ sự sắp xếp chồng chéo các sợi lên nhau Thông thường các loại giấy lọc được chế tạo từ các sợi senlulo có đường kính sợi từ 10 đến 30 micron, cùng với các sợi có nguồn gốc thiên nhiên hay tổng hợp
có kích thước vô cùng nhỏ đường kính từ 0,1 đến 0,01micron Các sợi senlulô tạo thành khung của giấy lọc còn các sợi polimer được phân bố ở giữa và trên các sợi senlulô Giấy lọc được chế tạo như trên có khả năng lọc được vi khuẩn hay son khí
có độ phân tán cao
- Một đặc tính cơ bản của vật liệu lọc là trở lực khí động học, đó là hiệu áp lực không khí giữa trước và sau lớp lọc Trở lực chỉ xuất hiện khi có chuyển động của không khí qua phin lọc Khi đó dòng khí được phân ra thành nhiều các dòng nhỏ chuyển động ở các khoảng trống giữa các sợi và sự chuyển động của không khí trong các kênh của vật liệu lọc có đặc trưng laminar, nghĩa là không có dòng chảy xoáy Việc tạo ra các loại vật liệu lọc có trở lực khí động học nhỏ và khả năng lọc
vi khuẩn cao hết sức phức tạp và khó khăn Hai thông số này thường tỷ lệ nghịch
với nhau
- Đối với vật liệu lọc – một đặc tính bảo vệ rất quan trọng của nó là hệ số lọt qua Hệ số lọt của phin lọc phụ thuộc vào kích thước vi khuẩn, và tốc độ riêng qua phin lọc – nghĩa là vận tốc khí đi qua trên một đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian, nếu tăng tốc lên thì khả năng lọc của vật liệu giảm đi
1.4.4 Cơ chế lọc son khí bụi - vi khuẩn [1,2,3,4,5]
- Cơ chế lọc của vật liệu lọc đối với son khí bụi - vi khuẩn phức tạp hơn
Trang 39nhiều so với các tác dụng lọc thông thường Bao gồm nhiều hiệu ứng khác nhau như:
- Hiệu ứng quán tính (va đập) là hiệu ứng rất quan trọng để giữ các hạt có
đường kính khoảng 1micron hoặc lớn hơn Nhờ có lực quán tính các hạt không đi theo một đường thằng, trong khi đó đường kính đi của dòng không khí bị uốn khúc
Sự uốn khúc xảy ra gần miệng lỗ Các hạt khi tiếp tục chuyển động thẳng bị va đập với bề mặt chất lọc, kết quả các hạt bị giữ lại do va đập
- Hiệu ứng khuếch tán: cơ chế này là nguyên nhân gây nên hiệu ứng sa lắng của các hạt có kích thước rất nhỏ ở đây việc giữ lại các hạt xảy ra do kết quả chuyển động Braonơ và sự khuếch tán nhờ gradien nồng độ Vì trên bề mặt màng lọc, nồng độ hạt lúc đầu bằng “0”, xuất hiện gradien nồng độ gây nên sự chuyển dịch hạt từ dòng không khí đến bề mặt màng lọc Nhờ sự khuếch tán chỉ giữ lại các hạt có đường kính nhỏ hơn 0,1micron
- Hiệu ứng tương tác tĩnh điện: Lực tương tác tĩnh điện xuất hiện do sự khác dấu và giá trị điện tích của bề mặt màng lọc và hạt (virus tích điện âm)
- Hiệu ứng trọng lực- chỉ có tác dụng đối với các hạt rất lớn
- Hiệu ứng sàng lọc xảy ra khi kích thước hạt tương đương với khoảng trống giữa các sợi, nghĩa là khi bán kính hạt lớn hơn 5-10micron Như vậy việc lọc bụi, vi khuẩn trong không khí bằng màng lọc, hiệu ứng sàng lọc không phải đóng vai trò quan trọng mà chỉ là vai trò thứ yếu Chính vì vậy có thể giải thích được hiện tượng lâu bít lỗ màng lọc
Trang 401.5- Vấn đề nhiễm khuẩn bệnh viện và kiểm soát nhiễm
khuẩn bệnh viện
- Chưa lúc nào người ta đề cập nhiều đến vấn đề “Nhiễm khuẩn bệnh viện”
(NKBV) như thời gian gần đây Nhiễm khuẩn bệnh viện là vấn đề bức xúc đang
được đặc biệt quan tâm chẳng những ở các nước tiên tiến mà còn là vấn đề ưu tiên hàng đầu ở các nước đang phát triển Bệnh viện ở các nước đang phát triển hiện
đang gặp quá nhiều khó khăn trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống lây lan như: thiếu kiến thức cập nhật, kỹ năng vô khuẩn trong các thao tác y tế chưa chuẩn, thiếu trang bị thanh trùng, thiếu cấu trúc thích hợp vệ sinh của phòng ốc
Nhiễm khuẩn bệnh viện đưa đến một môn học mới là Dịch tễ học trong bệnh viện nhằm tìm hiểu sự phân bố bệnh tật do môi trường bệnh viện có nguy cơ lây lan cao gây nên Nhiễm khuẩn bệnh viện được định nghĩa như là những nhiễm khuẩn mắc phải trong các cơ sở y tế không có giai đoạn ủ bệnh hay triệu chứng lâm sàng hiện diện ở thời điểm nhập viện Các loại NKBV thường gặp có thể kể đến là nhiễm khuẩn vết mổ, viêm phổi bệnh viện, nhiễm trùng tiểu bệnh viện, nhiễm trùng huyết qua catheter tiêm truyền Tại Việt nam theo một điều tra trên 12 bệnh trong năm 1998 cho thấy nhiễm khuẩn vết mổ có tỷ lệ cao nhất NKBV thường gặp nhất
ở các đơn vị chăm sóc đặc biệt, khoa ngoại, bỏng, ung thư và huyết học
Tất cả bệnh nhân nằm bệnh viện đều có nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện Đó
là những nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện cũng như nhiễm khuẩn mang từ ngoài bệnh viện Các nhiễm khuẩn này có thể phát triển thành “dịch khu trú” tại
một vài khoa hay thành “dịch toàn viện” và lây cho các bệnh nhân, nhân viên y tế
hay những người có tiếp xúc với bệnh nhân
Nhiễm khuẩn bệnh viện có một tác động rất lớn, nó làm gia tăng tần suất bệnh, tăng chi phí điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong, ngoài ra còn làm gia tăng sự trỗi dậy của các dòng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh Nhiễm khuẩn bệnh viện ngày nay đã trở thành một thách đố mang tính thời đại Theo thống kế của hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện quốc gia thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện Tỷ lệ này cao hơn ở những bệnh nhân phẫu thuật cũng như bệnh nhân tại Khoa hồi sức cấp cứu giao động từ 10 đến 15%, tỷ lệ này lên đến 25% tại các nước