- Đặc điểm: gồm những loài thú ăn thịt thích nghi với đời sống dưới nước: cơ thể hình thoi dài, cổ ngắn không phân biệt rõ với thân: chi biến thành bơi chèo ,móng tiêu giảm hay tiêu [r]
Trang 1Môn: Động Vật Học Có Xương Sống
Đề Tài:
Trang 24 Nguyễn Thị Thu Trang
5 Nguyễn Thanh Sang
6 Nguyễn Thanh Sơn
7 Nguyễn Văn Nhàn
8 Trần Thị Thi Thơ
9 Bùi Thị Tím
Trang 5I DA VÀ SẢN PHẨM CỦA DA THÚ
1 Vỏ da: Da thú gồm hai lớp:biểu bì và bì, phân hóa theo lối sống, dày, có lớp mỡ dưới da xốp, có nhiều tuyến và nhiều loại sản phẩm, chủ yếu là lông mao
- Biểu bì mỏng có tầng sừng dày ở bên ngoài, trong cùng là tầng Manpighi có sắc tố, chủ yếu là đen và
vàng làm da có màu
-Bì (corium): dày hơn biểu bì, gồm mô liên kết có
nhiều mạch máu và các vi thể xúc giác Trong tầng bì sâu có hạ bì chứa nhiều tế bào mỡ hợp thành từng đám hoặc thành một lớp mỡ dưới da Lớp mỡ này có thể rất dày (cá voi…), nơi dự trữ năng lượng, có tác dụng chống rét, làm cơ thể nhẹ (thú ở nước như cá voi, hải cẩu…) lớp bì có vai trò làm chỗ dựa cho biểu
Trang 62 Lông mao: là sản phẩm sừng rất đặc trưng của thú, có nguồn gốc từ biểu bì, chỉ có một số ít loài (cá voi, vài loài thú biển, tê giác…) gần như
không có lông mao
Cấu tạo lông mao: lông gồm hai phần: thân lông
ở ngoài da và chân lông cắm trong da
Lông mao có hai loại chính: lông phủ dài ở ngoài
và lông nệm ngắn ở trong, giữ nhiệt cơ thể và
không thấm nước Hai loại lông này phát triển tùy loài Bề dài và độ dày của bộ lông cũng tùy thuộc loài thú và từng vùng địa lí Ngoài ra lông thú biển đổi theo chức năng khác: ria mép (mèo, hổ…), gai
là lông cứng (ở gặm nhấm…), trâm (ở nhím,
đon…)
Trang 7Lông mọc đến độ dài nhất định sẽ ngừng phát
triển, sau đó thì rụng và được thay thế bằng lông
mới Thường thú có hai thời kì thay lông trong năm: đầu mùa xuân và cuối mùa thu Có loài thay lông
vào trước và sau mùa sinh sản
Màu lông thú ít sặc sỡ như lông vũ của chim do lông thú chỉ có hai loại sắc tố đen và vàng pha trộn đồng thời mắt thú phân biệt màu sắc kém hơn mắt chim và màu sắc không có tác dụng định hướng
cho thú Sự định hướng của thú chủ yếu nhờ thính giác và khứu giác Màu lông thú thường sẫm Một
số có màu khác, đặc biệt màu vằn (hổ ngựa vằn,…)
có tác dụng ngụy trang Màu trắng của một số loài
Trang 93 Sản phẩm sừng: Ở ngón chân thú là vuốt, móng và guốc, chỉ có vài loài thú thiếu sản
phẩm này (cá voi, dơi…) hoặc có sản phẩm
không phát triển (Bò nước, thú chân vịt…) Sản phẩm sừng ở ngón chân thú có chức năng bảo
vệ đầu ngón, đôi khi là bộ phận tấn công (vuốt của các loài họ mèo…).
Vuốt là sản phẩm sừng phổ biến ở các loài
thú Đây là tấm sừng dẹp bên, sắc cạnh, uốn
cong và có mút nhọn phần thịt dưới mặt vuốt là tấm nệm, rất phát triển.
Trang 10Móng là sản phẩm sừng đầu ngón đặc trưng của khỉ, hầu, là vuốt phân hóa Móng gồm tấm sừng dẹp trên dưới chỉ che mặt trên của đầu ngón Phần nệm dưới ngón không phát triển.
Guốc phát triển ở những loài thú đi, chạy, nhảy bằng đầu các ngón chân trên đất cứng, gồm tấm
sừng cuốn thành ống cùng với phần nệm cũng hóa sừng
Nhiều loài thú còn có vảy sừng giống bò sát và chim tồn tại cùng lông vũ, như vảy sừng phủ toàn
thân tê tê, ta tu… hoặc chỉ phủ ở phần đuôi như:
chuột, hải li…
Trang 114 Sừng và gạc : Thú có ba loại sừng: sừng thật ở trâu,
bò, sừng hay gạc ở hươu nai và sừng tê giác
Sừng trâu, bò là lớp sừng hình ống ôm chặt lấy lõi xương mọc lên từ sọ; sừng không rụng và không phânnhánh Cả con đực và con cái đều có sừng
Sừng hươu nai hay gạc, khi già toàn bộ hóa xương Hàng năm sừng củ rụng sừng mới mọc Thường sừng rụng sau mùa sinh sản Khi mới mọc, dưới lớp da,
sừng là lớp mô nhiều mạch máu gọi là nhung, già hơn một chút gọi là mi, hóa xương thành gạc, bên ngoài
bọc lớp sừng mỏng Sau vài năm mỗi cặp sừng mới sẽ lớn hơn và phân nhánh phức tạp hơn cặp sừng củ
Sừng tê giác là loại sừng sợi mọc lên từ chồi nhú
Trang 125 Tuyến da: Thú có hai kiểu tuyến da cơ bản: tuyến
mồ hôi phân bố ở một số khu vực nhất định trên cơ thể, ngoài mồ hôi còn tiết ra chất dịch trắng nhạt hay vàng không có tác dụng điều hòa thân nhiệt mà liên quan đến sự phát dục
Trang 13Tuyến thơm có vị trí và chức năng khác nhau tùy loài thú: trước ổ mắt, gian ngón chân, bàn chân, má, gốc đuôi Chất tiết có mùi đặc trưng cho từng loài, có tác dụng đánh dấu lãnh thổ, báo động, bảo vệ và đặc biệt trong mùa sinh sản, mùi thơm của chất tiết hấp dẫn
con khác giới
Tuyến sữa có nguồn gốc từ tuyến mồ hôi: cấu tạo
hình ống ở các loài thú khác và hình chùm ở thú khác
Ở tuyệt đại đa số loài thú tuyến sữa tập trung thành vú
và phát triển ở con cái, tiêu giảm ở con đực
Ở người các tuyến này có ở vùng nách, ngực, vú, tai người
Trang 14Về cấu tạo vú sữa có hai loại: loại có nhiều ống dẫn sữa thông thẳng ra đầu vú ( khỉ, hầu, dơi, …) và loại có ống dẫn sữa thông vào đáy một ống chung
xuyên qua đầu vú ( thú ăn thịt, thú có guốc…)
Tuyến sữa chỉ hoạt động tiết sữa vào giai đoạn sắp đẻ và trong quá trình nuôi con Sự tiết sữa nhờ kích thích tố của thai qua máu mẹ Sữa là thức ăn
không thể thiếu được của thú sơ sinh Tùy loài thú, thành phần của sữa thay đổi về lượng, nhưng trong sữa của bất cứ loài thú nào cũng có các chất protêin, lipit, lactô, ít muối khoáng và nhiều nước (khoảng
90%)
Trang 15Như vậy: Ở lớp cá Sụn và cá Xương: Da có biểu bì tầng, bì dày, gồm mô liên kết ở trạng thái bền, chắc Trong lớp biểu bì có nhiều tuyến đơn bào tiết chất
nhầy, một số loài có tuyến độc thường ở gốc các gai Trong quá trình tiến hóa từ nước lên cạn, da Lưỡng
cư có những đặc điểm thể hiện sự thích nghi với đời sống vừa ở dưới nước vừa ở cạn: trong tầng biểu bì
đã có những tuyến đa bào tiết chất nhày, chất nhày của tuyến kết hợp với nước làm da khỏi bị khô Do Bò sát thích nghi hoàn toàn với đời sống ở cạn nên da
khô, ít tuyến, đến Chim thể hiện rõ nét sự thích nghi ở cạn và đời sống bay lượn nên da Chim khô, mỏng chỉ
có một tuyến phao câu tiết chất nhờn làm lông không thấm nước, tầng biểu bì rất mỏng, bì là một tổ chức
Trang 16Nghiên cứu sự phát triển phôi của lông
mao, thấy rõ sự tương đồng của lông mao với mầm vảy bò sát Các sản phẩm khác của da
thú là vuốt, móng, guốc, sừng rỗng, chúng
cũng có nguồn gốc từ biểu bì giống với các sản phẩm sừng của da bò sát và chim.
Trang 17II BỘ XƯƠNG:
1 Cột sống: gồm 5 phần : cổ, ngực, thắt lưng,
chậu và đuôi Đốt sống có mặt khớp phẳng đặc trưng cho thú và xen kẻ với các đĩa sụn tròn
- Phần cổ gồm 7 đốt ở hầu hết các loài thú Hai
đốt sống đầu tiên là đốt chống và đốt trụ Đốt
chống có diện khớp và 2 cầu lồi chẩm của sọ Đốt sống cổ không có sườn
- Phần ngực có 13 đốt đều mang xương sườn
nhưng chỉ có 8 đôi xương sườn gắn với xương
ức Xương ức gồm 5 khúc tận cùng bằng tấm sụn dài
- Phần thắt lưng gồm 6 đến 7 đốt, thiếu sườn
Trang 18- Phần đuôi nhiều đốt tùy loài Ở đa số các loài thú, phần cổ và phần đuôi của cột sống là phần linh hoạt
nhất, còn các phần khác ít linh hoạt hơn, nhất là thú
móng guốc Đuôi ở nhiều loài thú có vai trò lớn trong vận chuyển của thú Đuôi như là bánh lái trong chuyển vận cuả thú sống ở nước (Hải li); cơ quan thăng bằng (kanguru, sóc….); xua đuổi ruồi muỗi, sâu bọ (đa số
loài thú móng guốc, thú ăn thịt….) Các loại khỉ hình
người đuôi tiêu giảm
Trang 202 Sọ thú có một số đặc điểm: hộp sọ lớn (khối lượng
bộ não lớn ) Hai lồi cầu chẩm, có cung gò má Các
xương có khuynh hướng gắn lại với nhau Các xương chẩm, xương vẩy, xương đá, và xương màng nhĩ gắn lại với nhau hình thành xương thái dương Xương
khẩu cái thứ sinh ngăn đôi xoang miêng với xoang
mũi Các xương đặc trưng cho thú là: ngoài 2 xương đính còn xương gian đỉnh, xương màng nhĩ và xoang mũi phức tạp liên quan tới sự phát triển của thính giác
và khứu giác
Xương hàm dưới chỉ còn có 1 xương răng Tai của thú có đủ 3 xương tai: xương đe do xương vưong biến thành, xương búa do xương khớp biến thành, xương bàn đạp cũng như các Động vật Có xương Sống ở cạn khác, do xương móng biến thành
Trang 213 Xương chi
Đai vai của thú tiêu giảm nhiều so với các
Động vật có Xương Sống thấp, chỉ gồm chủ yếu xương bả Nhiều loài thú thiếu xương đòn ( ở các thú cử động chi theo mặt phẳng của trục thân, như thú móng guốc) Xương quạ chỉ có ở Thú mỏ vịt
còn ở các loài thú khác tiêu giảm thành mấu quạ gắn với xương bả
Đai hông giống với bò sát, gồm xương chậu
và xương háng, xương ngồi gắn với nhau ở mặt bụng, tạo thành xương không tên
Trang 22Xương chi tự do, về cơ bản có cấu tạo
theo kiểu chi năm ngón điển hình Do sự thích nghi với cách chuyển vận khác nhau mà cấu
trúc chi thú có nhiều biến đổi
Tê giác, ngựa là thú ngón lẻ; Hà mã, hươu
là thú ngón chẵn, chúng chỉ chạy trên một hay hai ngón chân.
So với các lớp khác thì lớp thú có bước tiến hóa hơn, nhất là về bộ xương :bộ xương gồm
có xương trục, xương sọ và xương chi.
Trang 23Cột sống của nhóm cá gồm 2 phần (đuôi và thân) còn cột sống ở lưỡng cư thì có 4 phần còn nhóm động vật có xương sống ở cạn thì cột sống có 5 phần (cổ, ngực, thắc lưng, hông, đuôi ).
Đa số sọ đều gồm 2 phần: sọ não và sọ tạng
nhưng cấu tạo của sọ có nhiều biến đổi khi di chuyển
từ nước lên cạn: từ kiểu treo hàm đơn tiếp sang kiểu treo hàm toàn tiếp Trong đó cung mang giảm đi và
xương móng hàm biến thành xương trụ tai (xương bàn đạp), có sự hình thành lỗ mũi trong, thành hình khớp động giữa sọ và cột sống, hộp sọ có khuynh hướng
lớn dần liên quan tới sự phát trển của bộ não
Trang 24Sọ lưỡng cư phần lớn ở trạng thái sụn, sọ dẹt có hai lồi cầu chẩm Sọ bò sát hóa xương gần như hoàn toàn, có một lồi cầu chẩm, sọ rộng và hộp sọ cao
hơn Sọ chim có hộp sọ lớn, lồi chẩm ở đáy sọ, sọ
nhẹ (ổ mắt lớn hà không có răng xương sọ mỏng)
Sọ thú lớn có 2 lồi cầu chẩm Cũng như bò sát và
chim hàm dưới khớp động với sọ bằng xương vuông
tự do Xương hàm dưới chỉ còn một xương răng,
xương vuông biến thành xương đe, xương khớp
thành xương búa, xương góc biến thành xương
màng nhĩ, còn xương bàn đạp cũng như ở các lớp
động vật có xương khác do cung móng hàm biến đổi
mà thành
Trang 25Xương chi của động vật có xương sống ở nước gồm xương chi lẻ nâng đỡ cho vây lẻ và xương chẳn, cho vây chẵn và Xương chi chẳn gồm xương đai và chi chính thức Ở nhóm
Không hàm và các lớp Cá xương đai có cấu
tạo đơn giản và không khớp với cột sống Các chi tự do có cấu tạo giống xương chi lẻ Ở
động vật có xương sống ở cạn xương đai và xương chi có cấu tạo phức tạp hơn được gọi
là chi 5 ngón.
Trang 26III HỆ SINH DỤC
Con đực có đôi tinh hoàn, gắn với phó tinh
hoàn hay mào tinh (là di tích của trung thận) Ở gốc đôi ống dẫn tinh có đôi tuyến nang, đôi
tuyến bầu dục và một tuyến tiền liệt (để pha
loãng tinh dịch) Ống dẫn niệu sinh dục con thú đực nằm trong cơ quan giao cấu (ngọc hành)
Vị trí của tinh hoàn tuỳ theo loài, có thể nằm trong xoang bụng (thú huyệt, tê giác, voi, cá
voi…) hoặc chỉ lọt xuống bìu (hạ nang) vào mùa sinh sản (dơi, gặm nhấm…) hoặc thường xuyên nằm trong bìu (ở đa số loài thú khác)
Con cái có đôi buồng trứng Ống dẫn trứng
gồm các phần: phễu, vòi ống dẫn trứng (vòi
fanlôp), tử cung và âm đạo Thú huyệt thiếu âm đạo nên tử cung đổ trực tiếp vào xoang niệu
sinh dục Thú túi có hai âm đạo Thú nhau chỉ có một âm đạo
Trang 27Thú có 4 kiểu tử cung:
+ Tử cung kép gồm hai tử cung, có lỗ thông riêng với âm đạo (nhiều loài gặm nhấm, voi…)
+ Tử cung phân nhánh gồm hai tử cung, có lỗ
thông chung với âm đạo (nhiều loài gặm nhấm, lợn một số thú ăn thịt…)
+ Tử cung hai sừng gồm hai sừng tử cung, còn phần duới gắn với nhau (nhiều thú ăn thịt, thú ăn sâu
bọ, cá voi, có guốc…)
+ Tử cung đơn chỉ gồm một tử cung (dơi, khỉ,
người…)
Trang 28
Trứng phát triển trong buồng trứng và được bao bọc bởi tế bào bao noãn làm thành bao Graf Bao Graf
Trường hợp trứng không được thụ tinh, thể vàng thoái hoá Nếu trứng được thụ tinh, thể vàng tồn tại và hoạt động như là tuyến nội tiết trong suốt thời gian phát
triển của phôi Trứng lọt vào ống dẫn trứng, gặp tinh trùng sẽ được thụ tinh ngay ở gần phễu fanlôp
Trang 29Sự phát triển phôi:
Trứng thú ít noãn hoàng, phân cắt hoàn toàn và đều dẫn tới một cầu tế bào Khi di chuyển trong
ống dẫn trứng tới tử cung, trứng phân cắt chậm
Tới tử cung trứng gắn sâu vào vách tử cung Ở đây trứng thấm dịch của mẹ và phát triển thành một
cầu rỗng gồm một lớp tế bào gọi là dưỡng phôi bì (trophoblasta) Ở một góc có một đám tế bào là
“nhân phôi” Giai đoạn này của trứng thú không
phải là phôi nang và cũng không phải là phôi tạng
vì trong cầu tế bào này chỉ có “nhân phôi” phát triển thành phôi, còn toàn bộ cầu tế bào chỉ dùng làm
thức ăn cho phôi
Trang 30Nhân phôi phát triển thành đĩa phôi với giải
nguyên thủy rõ ràng Lúc này, một số tế bào trong nhân phôi tách khỏi đĩa phôi, phát triển sản sinh liên tiếp để lấp đầy khoang cầu Khối tế bào này tương đương với túi noãn hoàng và phôi tương ứng với
trứng của bò sát
Giai đoạn phát triển sau tương tự bò sát và chim Đĩa phôi phát triển, hình thành rãnh thần kinh rồi
ống thần kinh và phôi tách khỏi túi noãn hoãng Sau
đó lỗ mũi, mắt, tai xuất hiện Hai bên đầu có khe
mang không thủng Chi dài dần
Trang 31- Sự phát triển màng phôi ở thú rất đặc biệt.
+ Túi noãn hoàng ở phôi chim, bò sát bao bọc
lòng đỏ trứng còn ở phôi thú chỉ chứa dịch và
tiêuuu biến nhanh Túi ối (amnios) và túi niệu
(allantois) xuất hiện sớm và phát triển nhanh
Thành ngoài của túi niệu gắn liền với màng nhung (serosa) thành màng đệm (chorion), có lớp lông
nhung là mầm của nhau
+ Nhau là bộ phận đặc biệt của phôi thú cao, giúp cho thai sống bám vào cơ thể mẹ tới khi lọt lòng Nhau là bộ phận xốp, có nhiều mạch máu, gồm hai phần: nhau con và nhau mẹ Nhau con gồm những nếp gấp sâu của màng đệm Nhau mẹ là thành xốp của tử cung gắn với nhau con Mạch máu của hai thành phần trên tiếp giáp với nhau làm cho sự
thẩm thấu qua lại dễ dàng Nhờ đó có sự trao đổi chất của phôi và cơ thể mẹ
Trang 32Máu động mạch của mẹ theo tĩnh mạch dây rốn
(túi niệu) đổ vào tĩnh mạch chủ sau của thai, đi tới
tâm nhĩ phải, qua lỗ thông tâm nhĩ sang tâm nhĩ trái, xuống tâm thất trái rồi đi khắp cơ thể phôi Máu tĩnh mạch theo theo tĩnh mạch chủ trước về tâm nhĩ phải, qua tâm thất phải, nhờ động mạch phổi và ống
Bôtan đổ vào chủ động mạch lưng rồi vào dây rốn đi tới nhau
Khi phôi đã phát triển đầy đủ, mạch dây rốn không hoạt động Lỗ thông tâm nhĩ bít kín lại và ống Bôtan tiêu biến
Khi đẻ con, lớp cơ của tử cung co bóp mạnh
Nhau con chỉ có mô xốp gắn chặt với thành tử cung
sẽ rụng cùng với nhau con và theo thai ra ngoài
Trang 33Căn cứ vào sự phân bố của màng nhung trên màng đệm người ta chia Nhau thành bốn kiểu chính sau:
1 Nhau phân tán, có màng nhung phân bố đều (Thú thiếu răng, Cá voi, Hầu, đa số Thú móng
guốc…)
2 Nhau đám, có màng nhung tập trung thành
đám (đa số Thú nhai lại…)
3 Nhau vòng hay nhau vùng, có màng nhung tập trung thành vành đai rộng quây ngang thai (một số Thú ăn thịt, Voi, Thú chân vịt, Siren…)
4 Nhau đĩa có màng nhung tập trung thành đĩa
tròn (Thú ăn sâu bọ, Gặm nhấm, Khỉ, Thú thiếu
răng)
Trang 34Tùy theo mức độ gắn bó giữa màng nhung
Nhau con với Nhau mẹ có thể chia nhau ra hai loại chính:
1 Nhau rụng gọn: Nhau con liên hệ không chặt
chẽ với màng tử cung nên không hoặc ít bị sây sát nên máu không chảy khi đẻ, tách gọn khỏi
màng tử cung; màng tử cung hoặc ít chảy (nhau phân tán, nhau đám, một số nhau vùng và nhau đĩa)
2 Nhau rụng không gọn, có màng nhung gắn
chặt với màng tử cung, nên khi đẻ, Nhau co tách khỏi Nhau mẹ làm chảy máu và một phần Nhau
mẹ cũng theo ra ngoài (đa số nhau vòng và
Nhau đĩa)
Trang 35Tóm lại: hệ sinh dục của lớp thú tiến hoá hơn
những lớp khác ở chỗ:
+ Huyệt chỉ có ở thú huyệt, còn ở các loài thú
khác, ống niệu – sinh dục và ống tiêu hóa đỏ ra
ngoài ở hai lỗ khác nhau
+ Phân tính Cơ quan giao cấu có ở tất cả các
loài thú Dịch hoàn nằm ở vị trí khác nhau tuỳ
nhóm thú, thường ở trong bìu, ngoài xoang bụng Hai buồng trứng, ống dẫn trứng có tử cung và âm đạo
+ Trứng nhỏ, trừ thú huyệt Thụ tinh trong và phát triển trong tử cung Ở thú cao, phôi liên hệ mật
thiết với cơ thể mẹ qua màng phôi: máng ối, màng đệm, túi niệu, tạo thành nhau
+ Con non dinh dưỡng bằng sữa mẹ do tuyến sữa tiết ra
Trang 36IV PHÂN LOẠI LỚP THÚ
1 Phân lớp nguyên thú: thú mỏ vịt
2 Phân lớp Thú
- Dưới phân lớp thú thấp
- Dưới phân lớp thú nhau: gồm
2.1 Bộ ăn sâu bọ: chuột chù
2.2 Bộ cánh da: chồn dơi
2.3 Bộ Dơi: dơi mũi nhỏ
2.4 Bộ nhiều răng: Tupaia
2.5 Bộ khỉ hầu hay linh trưởng: Gorilla 2.6 Bộ thiếu răng: thú ăn kiến
2.7 Bộ Tê tê: tê tê Ấn Độ
2.8 Bộ Thỏ: thỏ rừng
Trang 372.9 Bộ Gặm nhấm: sóc chân vàng 2.10 Bộ cá voi: cá voi xanh
2.11 Bộ ăn thịt: chó sói lửa
2.12 Bộ chân màng: voi biển
2.13 Bộ voi: voi châu phi
2.14 Bộ bò nước: cá cúi
2.15 Bộ guốc lẻ: lợn vòi Châu Á
2.16 Bộ guốc chẳn: lợn rừng
Trang 381 Phân lớp Nguyên thú (Prototheria): gồm một bộ duy nhất bộ Đơn huyệt (Monotremata).
- Đặc điểm: Bộ Đơn huyệt gồm những loài có vú
nguyên thuỷ nhất mang rất nhiều đặc điểm nguyên
thuỷ: hai hàm có vỏ sừng bao bọc: đai vai kiểu bò sát
có xương quạ, xương trước quạ và xương đòn, chi nằm ngang như bò sát: có huyệt, hai ống dẫn trứng
đổ độc lập vào xoang huyệt, chỉ có một buồng trứng trái hoạt động, đẻ trứng, trứng có nhiều noãn hoàng, chưa có núm vú (tuyến sữa là tuyến ống đổ ra ngoài, phân tán trên một vùng xác định của dạ bụng); nhiệt
độ cơ thể chưa hoàn toàn ổn định(5 – 27,7 độ C), vì
lẽ đó thú đơn huyệt được gọi là “thú hằng nhiệt
tương đối”; bán cầu não chưa có thể chai.
Trang 39- Ngoài những đặc điểm nguyên thuỷ, thú Đơn huyệt mang những đặc điểm của lớp có vú như: có lông
mao, tuyến sữa, cơ hoành; tim 4 ngăn, có cung động mạch phải quay sang trái; bán cầu não có vỏ não phát triển ( tuy nhiên thiếu thể chai); xương vuông, xương khớp, xương góc biến đổi thành chuỗi xương tai Tuy
có mỏ sừng, song ở giai đoạn phôi đã xuất hiện mầm răng Ở con non có răng hàm nhiều mấu, có cấu trúc
giống răng thú nhiều mấu (Multituberculata) thuộc đại Trung Sinh, răng này sớm rụng và được thay thế bằng các tấm sừng
Trang 40- Phân loại, phân bố: bộ Đơn huyệt gồm 3 loài phân bố
ở châu Úc, đảo Tasmania và Tân Ghi Nê
- Loài đại diện: thú mỏ vịt (Ornithorhyshus anatinus)
lớn bằng con thỏ có mỏ to khoẻ, sống nữa nước nữa
cạn, có bộ lông thẫm ngã rất rậm và mịn không thấm
nước, năm ngón chân có màng bơi nối liền, đuôi rộng và dẹp dùng làm bánh lái, ăn sâu bọ, tôm, cua, thân mềm, giun và cả cây cỏ thuỷ sinh, đi lại trên cạn vụng về, đẻ
khoảng 2 – 3 trứng lớn, ấp khoảng 7 ngày thì nở Thú
mỏ vịt là loài thú hiếm quý có trong sách Đỏ thế giới
Thú lông nhím (Zaglossus), thân phủ lông xen với gai
nhọn Đầu có mỏ mãnh, lưỡi dài để bắt kiến