Nghiên cứu đề xuất các giải pháp KHCN để ổn định lòng dẫn hạ du hệ thống sông Đồng Nai - Sài Gòn.
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI MIỀN NAM
Chương trình bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC – MÃ SỐ KC-08.29
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHCN ĐỂ ỔN ĐỊNH LÒNG DẪN HẠ DU HỆ THỐNG SÔNG ĐỒNG NAI - SÀI GÒN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Chuyên đề 1:
TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN ĐỔI LÒNG DẪN HẠ DU SÔNG ĐỒNG NAI – SÀI GÒN
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Hoàng Văn Huân
Chủ nhiệm chuyên đề: ThS Lê Văn Tuấn Tham gia thực hiện: TS Nguyễn Thế Biên
ThS Nguyễn Đức Vượng
và các cán bộ Phòng NC động lực sông, ven biển và công trình bảo vệ bờ
5982-1
21/8/2006
Trang 2Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Mở đầu
Hạ du sông Đồng Nai – Sài Gòn ( HDSĐNSG) có vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là nơi tập trung hầu hết các khu vực kinh tế trọng điểm bao gồm Tp.Hồ Chí Minh – Bình Dương - Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu Với mạng sông ngòi tương đối ổn định
và phù hợp với phát triển hệ thống cảng biển, cảng sông, do đó hầu hết các vị trí ven bờ sông, cửa sông là khu trung tâm đô thị hay các khu công nghiệp Sự xuất hiện càng tăng của các hộ dùng nước ven hệ thống sông Sài Gòn cùng với các công trình xây dựng dọc sông(theo quy hoạch hoặc không theo quy hoạch) đã tác động tới dòng chảy
và gây xói mòn, sụp lở lòng dẫn Điều này không những ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến cả các vấn đề xã hội
Yêu cầu để phát triển kinh tế và xã hội đặt ra là: Hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn cần phải được quản lý tốt hơn, mang tính "chuyên nghiệp" hơn, với mục tiêu bảo
vệ bền vững nguồn nước, giảm sạt lở và biến hình lòng dẫn, tăng dòng chảy kiệt đẩy mặn xâm nhập Như vậy, vấn đề cần giải quyết ở đây là: phải nghiên cứu tìm ra được những giải pháp khoa học phù hợp để ổn định được lòng dẫn hạ du hệ thống sông
Đồng Nai – Sài Gòn và phát triển hệ thống các công trình ở thượng lưu nhằm tận dụng, khai thác tối đa nguồn tài nguyên nước vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho lưu vực hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn Trên cơ sở đó, báo cáo chuyên đề “
Tổng quan điều kiện tự nhiên – Kinh tế xã hội khu vực hạ du sông Đồng Nai – Sài Gòn
có liên quan đến biến đổi lòng dẫn “ là chuyên đề thuộc đề tài KC- 08-29 với tên gọi
“Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ ổn định lòng dẫn hệ thống sông Đồng
Nai – Sài Gòn phục vụ phát triển kinh tế – xã hội miền Đông Nam Bộ” do Viện Khoa
học Thuỷ lợi Miền Nam cùng với các nhà nghiên cứu khoa học khác đã được triển khai thực hiện
Trong phạm vi chuyên đề này, để có cơ sở xây dựng các giải pháp khoa học công nghệ ổn định lòng dẫn hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, đã tiến hành đo đạc và thu thập tài liệu điều kiện tự nhiên của khu vực Cụ thể:
(1) Thu thập và đánh giá tài liệu cơ bản về đặc điểm địa hình, địa mạo lưu vực
Trang 3Chương I ĐIềU KIệN Tự NHIêN Hạ DU SÔNG ĐồNG NAI - SàI GòN
I ĐIềU KIệN địa hình, địa mạo
Hình 1.1 : Khu vực hạ du lưu vực hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn
Trang 4Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Hình 1.1a: Lưu vực hệ thống sông Đồng Nai và vùng phụ cận
1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
HĐSNSG có 2 dạng địa hình chủ yếu là trung du và đồng bằng, đồng bằng ven biển Địa hình có địa hình thấp dần theo 3 hướng chính là Bắc-Nam (thượng lưu xuống hạ lưu dòng chính Đồng Nai), Đông-Tây (dòng chính Đồng Nai qua sông Bé, sông Sài Gòn và Vàm Cỏ) và Tây Bắc-Đông Nam (vùng đồi Long Bình-Long Thành-Xuân Lộc
ra biển)
* Vùng trung du
Vùng trung du bao gồm phần lớn các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, một phần tỉnh Tây Ninh và TP Hồ Chí Minh Vùng này có diện tích lớn, cao độ trung bình từ vài mét đến vài chục mét, địa hình chuyển dần từ dạng đồi thoải hoặc đồi bát
úp sang vùng đất cao khá bằng phẳng ở Dĩ An, Thuận An, Tp.Biên Hoà, Tân Uyên
* Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng châu thổ HTSĐN nằm chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, một ít ở
Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh và Long An Vùng đồng bằng có cao độ trung bình từ 1-5 m, địa hình khá bằng phẳng và là vùng ảnh hưởng mạnh của thủy triều từ Biển Đông
Trang 5Phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu thuộc dạng địa hình bồi tích, là vùng thấp có cao độ < +5m Địa hình bồi tích có 3 dạng chính sau:
- Dạng bãi triều thường xuyên ngập triều, phân bố chủ yếu ven sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và các rạch nhỏ Cao độ địa hình khoảng 0 - 1m, hằng ngày ngập nước khi thủy triều lên Đây là dạng địa hình có tuổi trẻ nhất trong khu vực
- Đồng bằng thấp thường xuyên ẩm ướt, tuổi Holocen muộn, địa hình có cao độ khoảng 1 - 2m được cấu tạo bởi trầm tích nguồn gốc sông, đầm lầy sông
- Thềm bậc 1 ở độ cao 2,5m tuổi Holocen giữa, phân bố dưới chân các đồi cao,
bề mặt địa hình hơi nghiêng Vùng thấp phía nam lác đác có những gò cao hơi nhô nhưng cũng không phá vỡ cảnh quan thiên nhiên của vùng bằng phẳng, thấp trũng Ngoài ra, rãi rác những vùng địa hình hơi nhô cao để phân chia ranh giới tập trung nước của các rạch nhỏ vào các rạch lớn hoặc trực tiếp đổ vào sông lớn
Đặc điểm địa hình nổi bật của vùng nghiên cứu là bằng phẳng, thấp trũng có cao
độ địa hình thay đổi từ 0,5 - 1,5m trên hàng chục km2 là nguyên nhân làm cho các vùng tiểu địa hình trong khu vực rất nhạy cảm với ngập nước bởi tác động của các kiến trúc nổi do con người tạo ra
* Đặc điểm địa mạo HDSĐNSG:
HDSĐNSG đi qua địa hình bậc thềm của Đông Nam bộ, trong đó chủ yếu là địa hình mòn xâm thực (trung du) và địa hình hạ tích tụ (hạ du) Xem hình 1.2
Đoạn sông trung du chảy trên địa hình nâng - bóc mòn có đặc điểm địa mạo rõ nét gồm các bãi bồi, thềm tích tụ và thềm tích tụ xâm thực, chúng phân bố xen kẽ và dọc theo thung lũng và lòng sông Đoạn sông ở đây ngoài dòng chảy chính còn các chi lưu đưa nước hợp vào dòng chính
Đoạn sông hạ du chảy trên địa hình hạ - tích tụ có cảnh quan hoàn toàn khác Do chảy trên địa hình thấp, gần ngang với mực thủy chuẩn (mực nước biển Đông), do đó hầu như không có địa hình bậc thềm sông, mà chỉ có các bãi bồi, bãi lầy, với mạng lưới dày
đặc các nhánh sông phân rẽ có nhiệm vụ mang nước dòng chính thoát đi
Vùng phụ cận ven biển là một dãy đất hẹp chạy dọc theo bờ biển, gồm những bãi cát rộng lớn, những đồng bằng nhỏ hẹp tạo bởi hạ lưu các con sông ngắn và dốc, các dãy núi và mỏm núi cao mà hầu hết là đá và đá phong hóa ăn lan ra tận biển, tạo nên sự cắt xẻ riêng biệt Càng về phía Nam+, địa hình thoải dần, đồng bằng trải rộng
mà không có những dãy núi cao án ngữ ở đây chỉ còn vài mỏm núi lẻ loi nằm khá sâu trong đất liền Bờ biển khúc khuỷu, những vịnh nhỏ hẹp được hình thành là đặc trưng tiêu biểu cho vùng này
Trang 6Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
CAMBODGE
Hình 1.2: Bản đồ địa mạo hạ du sông Sài Gòn - Đồng Nai
1.2 Đặc điểm sông ngòi
HDSĐNSG bao gồm dòng chính Đồng Nai và 4 sông nhánh là La Ngà, sông Bé, Sài Gòn và Vàm Cỏ Sông Vàm Cỏ là tên gọi chung cho hai nhánh sông lớn Vàm Cỏ
Đông và Vàm Cỏ Tây Do Vàm Cỏ Tây có quan hệ mật thiết với ĐBSCL hơn, nên theo phân chia hiện nay, HDSĐNSG được xác định là đến bờ của sông Vàm Cỏ Đông (Hình 1.3)
Dòng chính Đồng Nai có tổng chiều dài 628 km, kể từ thượng lưu Da Nhim đến cửa Xoài Rạp Diện tích lưu vực đến Trị An là 14.800 km2, đến Biên Hòa 23.200 km2,
đến Nhà Bè 28.200 km2 và đến cửa Xoài Rạp khoảng 40.680 km2 Sông có độ uốn khúc từng phần là 1,3 Độ dốc lòng sông trung bình 0,0032
Trang 7Phần thượng lưu sông Đồng Nai gồm 2 nhánh Đa Nhim và Đa Dung có diện tích lưu vực 3.300 km2
+ Da Nhim bắt nguồn từ dãy núi Langbian (phía bắc Đà Lạt), với đỉnh Bidoup cao 2.287 m, chảy qua phía đông TP Đà lạt và đi sát thượng nguồn các sông ven biển Chiều dài của Da Nhim tính đến hợp lưu với Da Dung là 141 km, diện tích lưu vực 2.010 km2 Sông có độ dốc trung bình 0,010 Phụ lưu của Da Nhim về bên phải có Krông Klet và Da Tam, bên trái có Da Queyon
+ Da Dung cũng xuất phát từ dãy núi Langbian với đỉnh cao 2.167 m và đi qua rìa phía tây TP Đà Lạt Các phụ lưu của Da Dung về bên phải đáng kể có Da Kanan và bên trái có suối Cam Ly Chiều dài Da Dung tính đến hợp lưu với Da Nhim là 89 km, diện tích lưu vực 1.275 km2, độ dốc trung bình lòng sông 0,015
Phần trung lưu sông Đồng Nai được kể từ sau hợp lưu của Da Nhim và Da Dung (Thượng lưu thác Boljon và hạ lưu tuyến hồ Đại Ninh) đến thác Trị An Từ sau hợp lưu, dòng chính Đồng Nai lượn vòng cung ôm lấy cao nguyên Di Linh-Bảo Lộc, nhận thêm nước từ các sông Dak Nông và Da Anh Kông ở bên phải cho đến khi gặp bãi Cát Tiên Phần thượng trung lưu này, sông có chiều dài 190 km, lòng sông hẹp, hai bờ vách
đứng, độ dốc trung bình lòng sông 0,0031, tương ứng với độ cao giảm từ 720 m xuống còn 130 m
Hạ trung lưu dòng chính sông Đồng Nai từ bãi Cát Tiên đến Trị An Đoạn này sông đi qua vùng trung du, hai bên bờ có bãi tràn rộng Với chiều dài 138 km, độ dốc lòng sông 0,00065 vối nhiều thác gềnh và hẻm núi, điều kiện tự nhiên có thể cho phép xây dựng các hồ chứa nước lớn Trên đoạn này sông còn có thêm các phụ lưu lớn bên trái là Da Teh, Da Huoai và La Ngà
Cuối phần hạ trung lưu là thác Trị An và hiện nay là nhà máy thủy điện Trị An
Từ dưới thác cho đến cửa Soài Rạp là phần hạ lưu sông, có chiều dài 150 km Sông đi qua vùng đồng bằng, lòng sông rộng, sâu, độ dốc nhỏ, thủy triều ảnh hưởng đến chân thác Trị An Các phụ lưu chính chảy vào sông Đồng Nai ở hạ lưu về bên phải có sông
Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ, bên trái hầu hết là các suối nhỏ mà đáng kể hơn cả
là sông Lá Buông Cụ thể đặc điểm sông Đồng Nai phía hạ lưu từ nhà máy thuỷ điện Trị An đến ngã ba mũi Đèn đỏ như sau:
Sông Đồng Nai đoạn từ cầu Đồng Nai tới ngã ba sông Sài Gòn có chiều dài khoảng 35km, là phần cuối cùng của sông Đồng Nai Phía bờ hữu là địa phận quận 9
và quận 2 - Tp Hồ Chí Minh còn phía bờ tả thuộc địa phận Tp Biên Hoà, huyện Long Thành và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai
Đoạn sông này vào mùa mưa chịu ảnh hưởng của lũ qua sự điều tiết của hồ Trị
An và vào mùa khô lại chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông Mặt khác, do
Trang 8Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
địa hình quanh co khúc khuỷu nên chế độ dòng chảy của sông phức tạp, lòng sông bị
mở rộng hoặc xói sâu ở các đoạn cong Theo kết quả điều tra có thể chia đoạn sông này thành các đoạn: từ cầu Gềnh đến cầu Đồng Nai, từ cầu Đồng Nai đến ngã ba sông Buông, đoạn tiếp theo từ ngã ba sông Buông đến ngã ba Phước Lý và đoạn còn lại cho
Nhánh phụ sông Rạch Cát từ cuối phường Tam Hiệp đến ngã ba hợp lưu cù lao Phố:
Đoạn này nằm trên địa bàn phường An Bình dài khoảng 2,2 km, có chiều rộng lòng sông hẹp khoảng 200m Đoạn sông này trên mặt bằng là đoạn sông cong gấp có dạng hình chữ U
b) Đoạn từ cầu Đồng Nai đến ng∙ ba sông Buông:
Đoạn này có chiều dài khoảng 10 km là đoạn sông thẳng, chiều rộng lòng sông thay đổi và có 2 cù lao lớn Ba Xê và Ba Sang ở khoảng giữa của đoạn sông Tại vị trí cầu Đồng Nai chiều rộng sông khoảng 300m, sau đó mở rộng dần đến đoạn giữa cù lao
Ba Xê, Ba Sang, chiều rộng sông khoảng1.400m Theo các tài liệu thống kê cho thấy, lòng sông được mở rộng phía bờ tả, nhưng lạch chính của sông có xu thế đi thẳng và nằm về phía bờ hữu sông Lưu lượng sông chủ yếu chảy qua lạch chính còn ở lạch phụ thì hầu như không có dòng chảy Qua khỏi khu vực các cù lao, lòng sông thu hẹp lại dần và có chiều rộng trung bình là 450m đến 550m
Bờ hữu thuộc địa phận các phường Long Bình và Long Phước quận 9 - Tp Hồ Chí Minh Bờ sông thấp và ổn định, không lở, không bồi Dọc theo bờ sông là ruộng lúa, xen lẫn các vùng đất trống, dừa nước và cỏ lau mọc um tùm Do hệ thống nước ngọt trong vùng này khan hiếm cho nên dân cư sống thưa Ngoại trừ một đoạn ngắn bờ sông giáp cầu Đồng Nai là khu vực cảng, còn lại hầu hết các các đoạn bờ sông đếu bị ngập nước khi thủy triều lên, bờ sông chưa có hệ thống bờ bao ngăn nước vào phía trong
Bờ tả thuộc địa phận phường Long Bình Tân thuộc Tp Biên Hoà và xã Long Hưng huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai Trong đoạn này có nhiều bến bãi bốc xếp vật liệu và cầu tàu của cảng Đồng Nai Trong phạm vi 1,5 km từ cầu Đồng Nai đi về phía
Trang 9hạ lưu là khu vực cảng Đồng Nai, đoạn này đang trong quá trình quy hoạch và xây dựng các công trình cảng, một số công trình đã xây dựng trước đây không được quy hoạch làm bờ sông đứt đoạn và thiếu mỹ quan Đoạn đường bờ tiếp theo đến hết khu vực cù lao Ba Xê, Ba Sang có chiều dài 2km, dân cư tập trung sống đông đúc, trên đoạn sông này hàng ngày các hoạt động khai thác cát bằng nhiều hình thức diễn ra khá nhộn nhịp và đây là nguyên nhân chính gây xói lở cục bộ ở một số đoạn sông mặc dù không
có tác động của dòng chảy lên đường bờ Dọc theo đoạn đường bờ nối tiếp đến khu vực cửa sông Buông có chiều dài 6,5 km mật độ dân cư thưa dần cho đến cuối đoạn sông
Bờ sông thoải và tương đối ổn định, ven sông chủ yếu là cỏ lau và một số dừa nước xen lẫn những ruộng lúa
c) Đoạn từ ngã ba sông Buông đến ngã ba Phước Lý
Đây là đoạn sông cong, trên chiều dài 20km có tới 6 khúc cong ngược chiều nhau Sự khúc khuỷu của sông đã làm cho lòng sông mở rộng, bề rộng sông biến đổi trong khoảng từ 500m đến 1.000m ở các đoạn bờ lõm do tác động của dòng chảy, bờ sông bị xói lở tương đối mạnh, chế độ dòng chảy phức tạp gây khó khăn cho giao thông thủy Hoạt động khai thác cát trên sông cũng là một nguyên nhân gây biến động lòng sông Nhìn chung quá trình phát triển của đoạn sông diễn ra theo tự nhiên và hầu như chưa có tác động của con người lên đoạn sông
Bờ hữu là địa phận phường Long Phước, Long Trường, Phú Hữu quận 9 và một phần phường Cát Lái quận 2 - Tp Hồ Chí Minh Đoạn bờ thuộc khu vực quận 2 chủ yếu là dừa nước và những cây mọc tự nhiên xen lẫn các ruộng lúa, dân cư sống ven sông thưa thớt Bờ sông thấp, hầu hết các đoạn bị ngập khi nước triều lên Do tác động của dòng chảy, ở một số đoạn cong bờ sông xói lở nhẹ, đoạn trên và dưới ngã ba Vàm
Ô trên chiều dài 2 km, đoạn sau rạch Vàm Tắc trên chiều dài 1,5 km, mức độ xói lở khoảng từ 1m đến 2 m/năm
Bờ tả là địa phân xã Tam An huyện Long Thành và xã Long Tân, Đại Phước huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai Do cấu tạo gấp khúc của các đoạn cong, bờ tả bị xói
lở mạnh hơn bờ hữu Đoạn xói lở mạnh nhất ở khu vực Vĩnh Tuy xã Long Tân có chiều dài 4km, tốc độc xói lở trên 5m/năm; các đoạn xói lở nhẹ hơn ở khu vực ấp 6 xã Tam
An trên chiều dài 3km; một phần bờ xã Đại Phước trên chiều dài 2,5km xói lở nhẹ, tốc
độ xói lở từ 1m đến 2m/năm Trên một số đoạn bờ, hiện tượng bồi thể hiện rõ rệt: Bờ sông thoải, cát bồi thành bãi cụ thể như đoạn giáp ngã ba Phước Lý trên chiều dài 2km,
đoạn giáp gianh giữa xã Tam An và xã Long Tân trên chiều dài 1,5 km Các đoạn bờ còn lại nhìn chung là ổn định, dừa nước và cây bần mọc un tùm, dân cư sống thưa thớt ven sông
Trang 10Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Lòng sông rộng, khúc khuỷu, trên sông có nhiều ghe thuyền và xà lan khai thác cát Theo như người dân ở đây thì việc khai thác cát sát bờ sông là nguyên nhân gây sạt
lở bờ Do có nhiều đoạn sông cong ngược chiều nhau nên gây khó khăn cho giao thông thủy mặc dù lòng sông rất rộng, vì vậy tàu thuyền qua lại đoạn sông thường đi chậm, không gây sóng lớn làm sạt lở bờ
Bờ hữu thuộc địa phận phường Cát Lái và phường Thạch Mỹ Lợi quận 2- TP
Hồ Chí Minh Đây là khu vực bến phà Cát Lái, cầu cảng của nhà máy xi măng Sao Mai
và nhà máy xi măng Hà Tiên đang xây dựng ở những đoạn xung quanh khu vực phà Cát Lái trên chiều dài 3,5 km, bờ sông hầu hết đã có các công trình bến bãi, cầu cảng
và nhà dân xây dựng ven sông, bờ sông bị khống chế ở thế ổn định Đoạn cuối cùng tiếp giáp với sông Sài Gòn trên chiều dài 1,5 km, do tác động của dòng chảy, sóng do gió và do tàu thuyền qua lại kết hợp với địa chất yếu của bờ sông, lòng sông có xu thế
mở rộng dần, bờ sông thoải và xói lở ở mức trung bình, tốc độ xói lở khoảng 2m đến 3m/năm
Bờ tả thuộc địa phận xã Phú Hữu, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Bờ sông thoải, xu thế ổn định, có nhiều bần và dừa nước mọc ven sông Đoạn từ phà Cát Lái xuống hạ lưu trong phạm vi 1,5 km, bờ sông có hiện tượng bồi, cát bồi lắng thành bãi ven sông Đoạn trên phà Cát Lái bờ sông lại có hiện tượng xói nhẹ, bờ sông dốc và có bậc thụt, dân cư sống thưa thớt ven sông Lòng sông ở đoạn này khá rộng, mật độ tàu thuyền qua lại và neo đậu trên sông dày đặc, phà Cát Lái là tuyến đường thủy quan trọng nối Tp Hồ Chí Minh và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai, đây còn là tuyến giao thông thủy đi cảng Sài Gòn và cảng Đồng Nai Trên sông có nhiều tàu thuyền khai thác cát, đây cũng là vùng neo đậu tàu của cảng Cát Lái và cảng Sài Gòn
1.3.2 Sông La Ngà
Sông La Ngà là chi lưu lớn duy nhất nằm bên bờ trái dòng chính Sông bắt nguồn từ vùng núi cao ven Di Linh-Bảo Lộc với cao độ từ 1.300-1.600 m, chảy theo rìa phía Tây tỉnh Bình Thuận, đổ vào dòng chính tại điểm cách thác Trị An 38 km về phía thượng lưu Chiều dài của sông theo nhánh Da Riam là 290 km, diện tích lưu vực 4.100 km2 Hệ số uốn khúc 1,5 Độ dốc lòng sông đến Tà Pao là 0,0117 và đến cửa là 0,005 Lưu vực sông được mở rộng ở phần thượng lưu và hạ lưu Thượng lưu sông gồm 2 nhánh là Da Riam và Da R'gna chảy qua vùng núi hạ thấp theo hướng Đông-Nam của
Trang 11cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc với cao độ trung bình 800-900 m Lưu vực phần trung lưu bị co thắt tạo cho lưu vực có hình dạng như một con ong chúa Tuy là vùng trung lưu nhưng có địa hình rừng núi, bị chia cắt nhiều bởi các khe suối, cao độ biến đổi từ 700-120 m Lòng sông dốc, lắm ghềnh đá, dòng chảy xiết Từ Tà Pao đến cửa là phần hạ lưu, với lưu vực trải rộng tạo nên cánh đồng rộng lớn và bằng phẳng thuộc các huyện Tánh Linh và Đức Linh tỉnh Bình Thuận, Định Quán và Tân Phú thuộc tỉnh
Đồng Nai, với cao độ từ 100-120 m Đoạn này có độ dốc lòng sông khoảng 0,004, uốn khúc nhiều, đặc biệt là từ Tà Pao đến Võ Đắt rất bằng phẳng (dài 82 km, độ dốc trung bình 0,00024) Hai bên bờ sông nhiều đầm lầy có diện tích lớn như Biển Lạc (280 ha), vào mùa lũ nước sông thường tràn lên cánh đồng hai bên bờ sông Hạ lưu La Ngà là vùng trũng thấp ngập lũ hàng năm
1.3.3 Sông Bé
Sông Bé là chi lưu lớn nhất nằm bên bờ phải dòng chính Hình thành từ vùng núi phía Tây của vùng Nam Tây Nguyên (cao nguyên Xnaro) ở độ cao 600-800 m với 3 nhánh lớn là Dak R'lap, Dak Glun và Dak Huyot, sông Bé chảy ra dòng chính Đồng Nai tại vị trí hạ lưu thác Trị An 6 km Với chiều dài 350 km và diện tích lưu vực 7.650 km2, độ uốn khúc 1,4, độ dốc lòng sông 0,0032, sông Bé có lưu vực hầu như nằm trọn trong ranh giới hành chính của 2 tỉnh Bình Phước và Bình Dương Thủy triều chỉ ảnh hưởng khoảng 10 km gần cửa nên sông Bé được xem là điển hình của sông vùng trung
du
Thượng nguồn sông Bé có địa hình thượng lưu bị chia cắt, lòng sông dốc (độ dốc 0,072), sông suối chảy trong những khe núi nhỏ hẹp Từ sau Thác Mơ đến suối Nước Trong là trung lưu sông, với hướng chảy chủ yếu là Bắc-Nam, cao độ lưu vực biến đổi từ 50-120 m, độ dốc lòng sông 0,00053 Từ sau suối Nước Trong sông đổi hướng Tây Bắc-Đông Nam và đổ vào sông Đồng Nai tại vị trí sau thác Trị An khoảng 6
km Thực ra, đoạn sông này cũng có địa hình vùng trung lưu sông
1.3.4 Sông Sài Gòn
Sông Sài Gòn được hợp thành từ hai nhánh Sài Gòn và Sanh Đôi, bắt nguồn từ các vùng đồi ở Lộc Ninh và ven biên giới Việt Nam-Căm Pu Chia, với độ cao khoảng 100-150 m
Sông Sài Gòn quanh co uốn khúc cao độ đáy biến đổi từ -10,0 đến -30,0m, xuất hiện nhiều vực sâu, lòng sông rộng từ 200 đến 400m Sông Sài Gòn mang sắc thái của sông đồng bằng đơn tuyến và là sông chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều, độ dốc nhỏ (0,0013) Sông có diện tích lưu vực 4.700 km2, chiều dài 280 km Thủy triều có thể
ảnh hưởng đến tận Dầu Tiếng, cách cửa 148 km và cách biển 206 km Đa phần sông chảy trong vùng đồng bằng bằng phẳng có cao độ từ 5-20 m Sông Sài Gòn chảy ngang
Trang 12Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
TP Hồ Chí Minh trên một đoạn khoảng 70 km và đổ ra sông Nhà Bè tại ngã ba mũi
Đèn Đỏ Từ Thủ Dầu Một đến cửa, sông Sài Gòn có độ rộng chừng 200-300 m, khá sâu, đặc biệt là đoạn gần cửa sông Cụ thể đặc điểm lòng dẫn sông Sài Gòn qua các phân đoạn được mô tả như sau:
Từ chân đập Dầu Tiếng lòng sông có xu thế được mở rộng khi ra đến cửa Đoạn
từ đập đến Bến Dược (Củ Chi), nơi giáp của ba tỉnh Tây Ninh - Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh dài 37,8km, chảy qua địa phận huyện Dầu Tiếng bên hữu ngạn, huyện Dương Minh Châu và Trảng Bàng thuộc Tây Ninh bên tả ngạn, chiều rộng lòng sông từ 70ữ100m Đoạn tiếp theo đến cầu Bình Phước dài 63,2km, chảy qua các huyện
VUỉNG PHUẽ CAÄN VEN Å
289 km
Trang 13Bến Cát - Thị xã Thủ Dầu Một và huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương bên hữu ngạn và các huyện Củ Chi, Hóc Môn, một phần quận 12 bên tả ngạn, chiều rộng sông tăng dần
từ 100m đến 200m tại Thủ Dầu Một, 220m tại cầu Bình Phước Đoạn từ cầu Bình Phước đến cửa sông (ngã ba mũi Đèn đỏ) dài 36,1km, chảy hoàn toàn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, bên hữu ngạn gồm các quận Thủ Đức, quận 2, bên tả ngạn gồm một phần quận 12, quận Bình Thạnh, quận 1, quận 4, quận 7, chiều rộng sông từ cầu Bình Phước đến cầu SàI Gòn trung bình từ 220 đến 250m, đoạn hạ lưu cầu Sài Gòn
ra đến cửa mở rộng dần 300m tại khu vực quận 7, quận 2 và gần cửa khoảng 700ữ800m
Nhìn chung, phần hạ lưu sông Sài Gòn thuộc dạng sông đơn, lòng sông không
có các cù lao giữa dòng, mặt cắt ngang lòng dẫn có dạng chữ U, chữ V tương đối đối xứng, tại các khu vực sông cong hoặc phân nhập lưu có dạng chữ V lệch về phía bờ lõm hoặc phía cửa phân nhập lưu
So với sông Sài Gòn, sông Đồng Nai sau thủy điện Trị An có biên độ dao động (Tm) trên mặt bằng lớn hơn, có các cù lao giữa dòng như cù lao Bạch Đằng (Uyên Hưng), cù lao Rùa, cù lao Phố, cù lao Ba Xê, Ba Sang, cù lao Ông Cồn, lòng sông rộng hơn
a) Sông Sài Gòn đoạn từ cầu Bình Phước đến cầu Sài Gòn
Từ cầu Bình Phước đến cầu Sài Gòn với chiều dài khoảng 20km có rất nhiều kênh, rạch đổ vào, chiều rộng lòng sông tương đối đều nhau, trung bình là 220ữ260m, nơi rộng nhất đo được 320m Do địa hình sông bị uốn cong có nơi cong lại gần như một vòng tròn như tại khu vực Bình Quới - Thanh Đa phường 27, 28 quận Bình Thạnh làm cho hướng dòng chảy tới bờ lõm qua các đoạn cong lớn, dòng chủ lưu, trục động lực ép sát bờ lõm Xem hình 1.4
Trang 14Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Hình 1.4: Đặc điểm lòng dẫn sông Sài Gòn – khu vực bán đảo Thanh Đa
b) Đoạn từ cầu Sài Gòn đến mũi Đèn đỏ
Đoạn sông từ cầu Sài Gòn đến mũi Đèn Đỏ dài 16.3km, nằm trên địa bàn các quận 1, 2, 4, 7 Đoạn này có 3 khúc cong, trong đó có 2 khúc cong tại cầu cảng ELTGAZ (quận 4) và tại cảng Rau quả (quận 7) là gấp khúc Chiều rộng lòng sông không đều nhau, đoạn từ cầu Sài Gòn đến kênh Tẻ dài 6.2 km, chiều rộng lòng sông trung bình là 290 m, còn đoạn từ kênh Tẻ đến mũi Đèn đỏ dài 10.1km, chiều rộng lòng sông trung bìnhlà 470 m, rộng nhất là đoạn gần mũi Đèn đỏ, có nơi lòng sông rộng 860m
Trên đoạn sông này nước sâu nên tập trung nhiều bến cảng rất lớn và hiện đại vào bậc nhất nước ta như Tân cảng, cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận Đông, cảng Bến Nghé, cảng container, nhiều kho tàng, nhà máy, xí nghiệp đóng tàu lớn như Ba Son, các khu dân cư của thành phố Hồ Chí Minh trên địa bàn quận 2 Dọc theo hai bên bờ sông là hàng loạt các công trình bảo vệ bờ, trong đó bao gồm kè kiên cố bảo vệ cầu cảng, bảo vệ nhà máy, xí nghiệp đóng tàu, bến phà và bảo vệ các khu dân cư, cho nên
đường bờ hai bên sông là tương đối ổn định nhất so với các đoạn khác của sông Sài Gòn Xem bảng 1.1
Trang 15Bảng 1.1: Hình thái mặt bằng của các khúc sông cong từ cầu Bình Phước đến ngã ba mũi Đèn đỏ thuộc hạ du hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai
Hệ số cong K=l / L
(*)
Bán kính khúc sông cong
R (km)
Góc tâm của khúc sông cong
Biên
độ khúc sông cong
Tm (km)
I Từ cầu Bình Phước đến cầu Sài Gòn
1 Xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An, tỉnh Bình
1 Từ cầu Sài Gòn đến rạch Thị Nghè (quận 1) 1,18 1,314 85 0,925
2 Từ rạch Tư Rô đến khu dân cư (quận 2) đối
3 Từ công ty Caric đến khu dân cư (quận 2)
đối diện đường Hàm Nghi và nhà lưu niệm
Bác Hồ
4 Các khu dân cư (quận 2) đối diện sông Sài
5 Khu dân cư (quận 2) đối diện cảng Tân
Thuận Đông và các cầu cảng K14, K15A,
K15B
7 Gần khu vực cảng ELTGAZ thuộc quận 1
8 Khu vực đối diện Bình Trưng Tây, Thạnh
9 Khu vực thuộc quận 2 (đối diện với cảng
Trang 16Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Ghi chú:
(*) l: Chiều dài thực của khúc sông cong
L: Chiều dài dây cung của khúc sông cong
K: Hệ số quan hệ hình dạng (hệ số cong gấp khúc)
+ Đoạn từ cầu Bình Phước đến ngã ba mũi Đèn đỏ: chiều rộng trung bình B =
220 ữ 470m Chỗ rộng nhất sông Sài Gòn tại cửa sông, nơi hợp lưu với sông Đồng Nai), tại ngã ba mũi Đèn đỏ, chiều rộng là 860m
+ Từ cầu Bình Phước đến cầu Sài Gòn :
- Trên toàn đoạn này có 12 đoạn sông cong với 8 lần đổi chiều
- Đoạn cong có hai bán kính cong cùng chiều thay đổi lớn nhất trước cầu Sài Gòn là 3,04; nhỏ nhất tại khu vực cầu Bình Phước là 1,43
- Giữa hai đoạn sông cong ngược chiều hoặc đoạn chuyển tiếp ngắn, hoặc không
có đoạn chuyển tiếp
- Đoạn sông có bán kính nhỏ nhất khu vực rạch Ông Ngũ R11=360m và lớn nhất
đoạn sông Hiệp Bình Chánh R7=1986m
+ Từ cầu Sài Gòn đến ngã ba mũi Đèn đỏ:
Khu đô thị mới Thủ Thiêm(tương lai) – trên sông Sài Gòn
Trang 17- Trên toàn đoạn này có 5 đoạn sông cong với 4 lần đổi chiều Trong đó khu vực Thủ Thiêm- Q2 là một đỉnh cong, tương lai sẽ là khu đô thị mới và hiện đại Xem hình 1.5
- Có hai đoạn cong bán kính cong cùng chiều thay đổi 3ữ4 lần
- Giữa hai đoạn sông cong ngược chiều hoặc là đoạn sông chuyển tiếp ngắn, hoặc không có đoạn chuyển tiếp
- Đoạn sông có bán kính nhỏ nhất khu vực rạch cá Trê lớn R6=494m và lớn nhất
đoạn sông cảng Sài Gòn R4=2480m
1.3.5 Sông Vàm Cỏ
Vàm Cỏ là tên gọi chung từ sau hợp lưu của hai con sông lớn là Vàm Cỏ Đông
và Vàm Cỏ Tây Đây là hai con sông điển hình của sông vùng ảnh hưởng triều với các nếp uốn đều đặn lệch tâm một đường thẳng nối từ điểm cuối bị ảnh hưởng triều đến cửa Sông Vàm Cỏ Đông có diện tích lưu vực 6.300 km2, chiều dài 283 km Sông Vàm
Cỏ Tây có diện tích khoảng 3.200 km2, chiều dài 235 km Sau khi hợp lưu, đoạn sông chung có chiều dài 36 km và đổ ra dòng chính Đồng Nai tại điểm gần cửa Xoài Rạp Tuy cùng một hệ thống nhưng mỗi sông lại có một đặc điểm riêng Vàm Cỏ Đông có nguồn độc lập, nằm trọn trong phần đất MĐNB, nên được xem là thuộc hệ thống sông
Đồng Nai Trong khi đó, Vàm Cỏ Tây có quan hệ chặt chẽ về mặt thủy văn-thủy lực với sông Tiền, nên được xem là thuộc ĐBSCL Cả hai sông này đều có độ dốc lòng sông rất nhỏ (0,00005–0,0001), và vì vậy, thủy triều ảnh hưởng rất sâu, 190 km trên Vàm Cỏ Đông và 170 km trên sông Vàm Cỏ Tây, kể từ hợp lưu hai sông, tức là khoảng
240 km và 220 km cách biển
1.3.6 Hệ thống sông kênh vùng hạ lưu hệ thống sông Đồng Nai
Hạ lưu HTSĐN có một mạng lưới sông-kênh khá dày Ngoài một số sông rạch
tự nhiên còn là các kênh đào Từ sau Trị An, sông Đồng Nai đi vào vùng ảnh hưởng thủy triều, lòng sông mở rộng và sâu, thích hợp với loại dao động lên xuống của triều
Từ Nhà Bè trở xuống, sông chia thành nhiều nhánh nhỏ, mà đáng kể hơn cả là sông Lòng Tàu Sông Sài Gòn và Vàm Cỏ Đông được nối bằng các kênh đào khá lớn như Rạch Tra, Thái Mỹ, kênh Xáng, kênh Ngang Hệ thống kênh Đôi-kênh Tẻ và sông Bình Điền đi ngang qua trung tâm TP Hồ Chí Minh, nối sông Sài Gòn với Vàm Cỏ
Đông
1.3.7- Sông Nhà Bè( ng∙ ba mũi Đèn đỏ đến ng∙ ba mũi Nhà Bè):
Sau vùng hợp lưu với sông Đồng Nai là sông Nhà Bè có lòng sông rộng B (1000 -1600m), đáy sông biến đổi -10,0 đến -24,0m; chỗ hợp lưu sâu đến 30m Đây là đoạn sông cong bờ hữu luôn bị xâm thực Phía dưới ngã ba mũi Nhà Bè phân thành hai phân
Trang 18Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
lưu: Lòng Tàu, có chiều rộng B = 380 - 580m và Soài Rạp, có chiều rộng B = 1000m,
độ sâu h = 6 -10m Dọc theo tuyến sông Sài Gòn - Đồng Nai là cả mạng lưới cảng lớn nhỏ và được coi là tuyến giao thông thủy quan trọng và bậc nhất khu vực
Sông Nhà Bè đoạn từ ngã ba mũi Đèn đỏ đến ngã ba mũi Nhà Bè có chiều dài khoảng 9km, nhưng là đoạn sông cong, lòng sông rất rộng và không đều nhau Tại hai
đầu mũi Đèn đỏ và Nhà Bè, lòng sông mở rộng có nhiều nơi rộng đến 1.600m, còn
đoạn giữa thì hẹp lại khoảng 1.100m Dọc theo đoạn bờ lõm của khúc sông cong này
có nhiều nơi đường bờ đã bị sạt lở
Tổng cộng sông Nhà Bè từ ngã ba mũi Đèn đỏ đến ngã ba mũi Nhà Bè có 1.050m đường bờ hữu thuộc quận 7 và huyện Nhà Bè cũng như 300m đường bờ tả thuộc huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai là bị sạt lở với những mức độ khác nhau, nhưng nghiêm trọng nhất là tại mũi Đèn đỏ và tại ngã ba sông Nhà Bè - sông Phú Xuân (rạch Dơi), còn lại tại những đoạn khác mức độ sạt lở ít hơn
1.3.8 - Sông Lòng Tàu và sông Ng∙ Bảy từ mũi Nhà Bè đến vịnh Gành Rái, biển Đông:
a) - Sông Lòng Tàu từ mũi Nhà Bè đén sông Ng∙ Bảy:
Sông Nhà Bè bắt nguồn từ vùng hợp lưu của hai sông lớn Sài Gòn, Đồng Nai có chiều dài khoảng 9km và phần cuối sông bị bán đảo Bình Khánh chắn ngang tạo thành hai đoạn sông phân lạch rất lớn Lòng sông Nhà Bè rất rộng từ 1.200m đến 1.600m và
được xem như một sông cái Đoạn cuối sông Nhà Bè chia làm hai nhánh lớn là nhánh sông Lòng Tàu và nhánh sông Soài Rạp Sông Lòng Tàu quanh co uốn khúc, chiều rộng lòng sông thay đổi từ khoảng 300m (đoạn từ rạch Đơn đến sông Lôi Giang) đến chiều rộng khoảng 1.000m (đoạn từ ngã ba sông Nhà Bè đến ngã ba trên của sông
Đồng Tranh) Lòng sông rất sâu, nhiều nơi sâu hơn 30m và là tuyến đường giao thông thuỷ nội địa và quốc tế lớn nhất nước ta Sông Lòng Tàu được nối tiếp bởi sông Ngã Bảy và đổ ra vịnh Gành Rái, biển Đông qua cửa Ngã Bảy
Từ ngã ba sông Nhà Bè - Lòng Tàu đến ngã ba sông Lòng Tàu - Ngã Bảy được chia thành hai phần: phần phía bờ tả và phần phía bờ hữu sông
* Phần phía bờ hữu sông Lòng Tàu:
Phần phía bờ hữu sông Lòng Tàu bắt đầu từ mũi Bình Khánh thuộc xã Bình Khánh đến ngã ba sông Ngã Bảy thuộc xã Long Hoà, huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh có chiều dài khoảng 35km Phía bờ hữu quanh co, có nhiều đoạn cong gấp khúc như khúc cong An Ngãi và khúc cong gần ngã ba sông Lòng Tàu - Lôi Giang
- Đoạn đường bờ từ mũi Bình Khánh đến kinh Ông Đức (hay còn gọi là kinh Ngay) có chiều dài 3km là đoạn bờ tương đối thẳng Lòng sông đoạn này có chiều rộng
Trang 19khoảng 1.000m và là một trong những đoạn rộng nhất của sông Lòng Tàu Mặc dù lòng sông rất rộng nhưng do đây là ngã ba phân lưu của sông Nhà Bè mà cũng là ngã
ba hợp lưu của các sông Nhà Bè-Lòng Tàu-Soài Rạp, hơn nữa đây là đoạn quanh của tất cả các phương tiện giao thông thủy có trọng tải lớn từ sông Nhà Bè ra biển và ngược lại cho nên bờ sông đoạn này thường xuyên bị sạt lở, trung bình khoảng từ 0,5m đến 1,5m/năm Trên bờ là dừa nước mọc rất dày và có những bụi dừa cao khoảng 8m, nhưng nhiều gốc dừa cũng đã bị xói lở và trôi theo sông
- Từ kinh Ông Đức đến rạch Đước dài 2,5km đường bờ có xu thế bồi, tuy mức
độ không nhiều nhưng khi nước triều rút có thể thấy được một bãi bồi khá dài chạy dọc theo bờ Đoạn này trên bờ cũng có rất nhiều dừa nước và một ít các loại cây tạp khác như bần, chà là hay keo
- Từ rạch Đước đến rạch Vân có chiều dài khoảng 1,5km nhưng bị sạt lở mạnh, trung bình từ 1,5m đến 2m/năm Đây là đoạn sông cong và luồng tàu chạy lại gần bờ cho nên sóng do tàu gây nên có biên độ rất cao và làm cho bờ thường xuyên bị sạt lở mạnh Trên bờ cũng có rất nhiều dừa nước và các loại cây khác, nhưng bờ vẫn bị sạt lở
- Từ rạch Vân đến Tắc Cả Cát (đối diện ngã ba trên của sông Đồng Tranh) có chiều dài khoảng 2,5km là đoạn đường bờ tương đối ổn định, không bị sạt lở, có một vài đoạn đang bồi, nhưng mức độ bồi không nhiều Đoạn này sông hẹp dần và chiều rộng lòng sông còn khoảng 500m so với 1.000m tại ngã ba mũi Bình Khánh
- Đoạn đường bờ từ Tắc Cả Cát đến doi đất đối diện Nông trường Đô Hòa có chiều dài khoảng 3km là đoạn bờ lồi, bờ ổn định và nhiều đoạn bồi Trên bờ là dừa nước cao từ 6m đến 8m và nhiều bần mọc xen kẽ nhau
- Đoạn đường bờ thuộc Nông trường Quận 3, từ doi đất đối diện Nông trường
Đô Hòa đến chợ xã Tam Thôn Hiệp có chiều dài khoảng 6km hầu như đều bị sạt lở, trong đó có nhiều đoạn bị lở mạnh từ 2m đến 4m/năm Đoạn này lòng sông nhỏ và uốn khúc nên khi triều rút dòng chảy rất mạnh và lạch sâu sát bờ Hơn nữa sóng tàu cũng
đã gây nên những tác động rất mạnh vào bờ làm cho bờ thường xuyên bị sạt lở Nhiều gốc dừa nước rất lớn bị xói lở và trôi trên sông Trong đoạn này dân cư sống rất đông
đúc và nhiều người đã xây dựng các bờ kè bằng đá hộc hay cừ tràm để bảo vệ nhà cửa của họ
- Đoạn đường bờ từ chợ xã Tam Thôn Hiệp đến mũi An Ngãi dài khoảng 3km là một đoạn thẳng và tương đối ổn định không có hiện tượng xói hay bồi Trên bờ là rất nhiều dừa nước khá cao và bần mọc xen kẽ nhau Tuy nhiên tại mũi An Ngãi thì đường
bờ nhiều chỗ bị xói lở mạnh do tác động của sóng tàu khi chạy qua đoạn cong gấp khúc An Ngãi và người dân đã xây dựng một đoạn kè đá dài khoảng 200m rất kiên cố
Trang 20Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Tại khúc sông cong này chiều rộng lòng sông chỉ độ khoảng 200m và khi triều xuống thấp thì tàu chạy qua đoạn này rất khó, nhất là khi có hai chiếc tránh nhau
- Đường bờ từ Tắc Ông Nghĩa (mũi An Ngãi) đến rạch Đơn có chiều dài 2,5km khá ổn định không lở, không bồi Đoạn này đã bắt đầu có ít dừa nước, nhưng nhiều loại cây ngập mặn khác như bần, mắm mọc khá nhiều Vùng này dọc theo bờ sông có ít dân cư sinh sống và những vùng có đông dân cư đều nằm sâu vào trong cách bờ khoảng hơn 1km
- Đoạn đường bờ từ rạch Đơn đến ngã ba sông Lòng Tàu - Đồng Tranh - Ngã Bảy có chiều dài khoảng 14km là những cánh rừng ngập mặn với đủ các loại cây, nhưng nhiều nhất là đước (chiếm khoảng 70%), bần (20%) và các loại cây ngập mặn khác như mắm, sú, vẹt (10%) Những khu rừng ngập mặn này do Tổng đội Thanh niên xung phong, đội An Bình, huyện Cần Giờ phụ trách Đây là lá phổi của thành phố Hồ Chí Minh, là rừng sinh thái do con người trồng lớn nhất nước ta và đã được tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) công nhận là rừng sinh quyển của Thế giới Đoạn đường bờ này rất ổn định hầu như không bị sạt lở vì các loại cây như đước, bần có rễ ăn rất sâu vào trong đất nên chống được sóng gió, nhất là sóng do các phương tiện vận tải thủy lớn tạo nên Quá nửa buổi chiều rất nhiều các loại chim bay về những tổ của chúng trong khu rừng ngập mặn này Đây là một nguồn tài sản rất quí giá của thành phố Hồ Chí Minh và của cả nước Dọc theo bờ sông hiện nay
có các Trạm kiểm soát của các Tổng đội Thanh niên xung phong canh giữ rừng để đề phòng các vụ cháy rừng và phá rừng
* Phần phía bờ tả sông:
Phía bờ tả sông Lòng Tàu cũng được bắt đầu từ mũi Bình Khánh đến ngã ba sông Lòng Tàu-Đồng Tranh-Ngã Bảy có chiều dài khoảng 34km Bờ tả sông Lòng Tàu quanh co, uốn khúc có nhiều đoạn sông cong và có nhiều sông lớn đổ vào như sông
Đồng Tranh, sông Tắc Đinh Cầu, sông Dừa
- Đường bờ từ mũi Bình Khánh đến trụ điện cao thế có chiều dài khoảng 6km tương đối ổn định không lở, không bồi Trên bờ dừa nước mọc rất dày nên có tác dụng bảo vệ bờ rất tốt Tuy nhiên hiện nay nhiều người đang xây dựng các ao nuôi tôm rất lớn và họ đã bắt đầu chặt phá dừa nước và làm cho nhiều đoạn bờ đã bắt đầu có hiện tượng sạt lở
- Đoạn đường bờ từ trụ điện cao thế đến Nông trường Đô Hòa có chiều dài 7km
đang có xu thế bồi tuy mức độ không nhiều lắm Đoạn này dân cư sống đông đúc và trên bờ vẫn là dừa nước chiếm diện tích nhiều nhất, ngoài ra có một số loại cây khác như bần, chà là mọc xen kẽ nhau
Trang 21- Đoạn đường bờ từ nông trường Đô Hoà đến ngã ba sông Tắc Đinh Cầu có chiều dài khoảng 5km có một số đoạn bị sạt lở nhẹ do sóng của các phương tiện giao thông thủy lớn tạo nên Đoạn này dừa nước không có nhiều như các đoạn khác mà đã
có nhiều loại cây tạp mọc xen kẽ nhau như dừa nước, bần, chà là, bạch đàn
- Đoạn đường bờ từ ngã ba sông Tắc Đinh Cầu đến khúc cong đối diện Tắc Ông Nghĩa bên bờ hữu có chiều dài khoảng 3,5km là một đoạn bờ khá thẳng và bờ hầu như không bị sạt lở Trên bờ là những cánh rừng bạch đàn, một trong những nhiên liệu làm giấy cung cấp cho nhà máy giấy Tân Mai của tỉnh Đồng Nai
- Đoạn đường bờ từ Nông trường Thanh niên đến ngã ba sông Lòng Tàu-Đồng Tranh-Ngã Bảy có chiều dài khoảng 12,5km là những cánh rừng ngập mặn như đước, bần, mấm Cũng như phía bờ hữu những cánh rừng ngập mặn này trải trên chiều dài hơn 10km là một nguồn tài sản rất quí gía của nước ta Những cánh rừng này đã góp phần điều chỉnh được hệ sinh thái rừng ngập mặn của thành phố Hồ Chí Minh và một
số tỉnh lân cận và góp phần rất lớn vào việc làm giảm mức độ sạt lở bờ do các phương tiện giao thông thủy gây nên
b) - Sông Ngã Bảy từ ngã ba sông Lòng Tàu đến biển Đông:
* Bờ hữu sông Ngã Bảy:
Bờ hữu sông Ngã Bảy từ ngã ba hợp lưu các sông Lòng Tàu-Ngã Bảy-Đồng Tranh đến vịnh Gành Rái, biển Đông có chiều dài khoảng 18km nằm trên địa phận huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, có nhiều sông lớn và kênh rạch đổ vào như sông Ông Tiên, sông Đồng Điền, sông Dinh Ba, sông Cá Gâu Do hiện tượng sạt lở
bờ vùng cửa sông Ngã Bảy xảy ra với các mức độ khác nhau nên có thể chia bờ hữu vùng cửa sông làm 4 đoạn: đoạn từ ngã ba hợp lưu sông Lòng Tàu-Ngã Bảy đến ngã ba sông Cá Gâu dài khoảng 7km, đoạn tiếp theo từ sông Cá Gâu đến trước mũi Nước Vận dài khoảng 3km, đoạn từ mũi Nước Vận đến sông Đồng Điền dài khoảng 4km và một
đoạn từ cửa sông Đồng Điền ra đến chợ Cần Thạnh, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh dài khoảng 4km
- Đoạn đường bờ từ ngã ba sông Lòng Tàu-Ngã Bảy đến ngã ba sông Cá Gâu có chiều dài khoảng 7km thuộc địa phận xã Long Hoà, huyện Cần Giờ Đoạn sông này chỉ trừ một đoạn hơi cong còn lại những đoạn khác rất thẳng Dọc theo bờ là những cánh rừng ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ với rất nhiều các loại cây khác nhau như bần, đước, sú, vẹt, mắm nhưng nhiều nhất là đước Các cánh rừng này là tài nguyên rất quí giá, ngoài ra nó còn có khả năng chống sóng rất tốt, chống lại sự phá hoại đường
bờ của sóng biển, sóng do các phương tiện giao thông thủy và dòng chảy mạnh do thuỷ triều gây nên, do đó đoạn đường bờ này hầu như không bị sạt lở và rất ổn định
Trang 22Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
- Đoạn bờ sông dài khoảng 3km từ ngã ba sông Ông Tiên - Ngã Bảy về phía thượng lưu:
Bờ sông Ngã Bảy đoạn trước mũi Nước Vận này lại có thể chia làm 2 đoạn nhỏ dựa theo mức độ sạt lở và hình dạng đoạn sông
Đoạn thứ nhất, đoạn sông thẳng, điểm đầu của đoạn này cách mũi Nước Vận khoảng 3km và kéo dài khoảng 2km, lòng sông rộng chừng 700 - 800m Dọc theo bờ sông đoạn này cây cối khá dày, chủ yếu là các cây ngập mặn như bần, đước, chà là Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 5m/năm Sự chênh lệch lớn của mực nước triều là nguyên nhân gây ra sạt lở bờ, ngoài ra đây là tuyến đường giao thông thủy chính vào thành phố Hồ Chí Minh, hàng ngày có hàng trăm lượt tàu lớn qua lại gây ra sóng lớn, làm đường bờ thường xuyên bị sạt lở
Đoạn thứ hai, đoạn sông cong, điểm đầu của đoạn này cách mũi Nước Vận khoảng 1km và kéo dài đến mũi Nước Vận, lòng sông rộng 900 - 1.000m Dọc theo bờ sông cây cối mọc khá dày, chủ yếu là các cây chịu mặn như bần, đước, chà là, tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 15m/năm Ngoài những nguyên nhân như đã nêu ở đoạn trên, đoạn này bị sạt lở với tốc độ lớn hơn vì nó nằm ở khúc sông cong và tại các ngã
ba sông nên chịu tác động mạnh của thủy triều lên xuống và dòng chảy trong sông nên hầu như sạt lở quanh năm, đặc biệt mạnh nhất vào giữa mùa gió chướng (tháng 2, tháng 3 dương lịch)
- Đoạn bờ sông dài khoảng 4km từ mũi Nước Vận đến sông Đồng Điền:
Bờ sông Ngã Bảy đoạn từ mũi Nước Vận đến sông Đồng Điền lại có thể chia làm 2 đoạn nhỏ dựa theo mức độ sạt lở và hình dạng đoạn sông
Đoạn thứ nhất, đoạn sông cong, từ mũi Nước Vận kéo dài khoảng 1,5km, lòng sông rộng hơn 1.100m Đoạn này dọc bờ sông cây cối khá dày, chủ yếu là các cây chịu mặn như bần, đước, chà là, tốc độ sạt lở đoạn này khoảng 10m/năm Nguyên nhân gây
ra sạt lở là do sự thay đổi mực nước thủy triều với biên độ lớn và sóng do tàu thuyền có trọng tải lớn qua lại gây ra, hơn nữa đoạn này gần sát biển nên tác động của sóng biển cũng mạnh hơn so với đoạn trên
Đoạn thứ hai, đoạn sông thẳng nối tiếp đoạn trên đến sông Đồng Điền, dài khoảng 2,5km Đoạn này chịu tác động trực tiếp của triều cũng như sóng biển Đông, cho nên tốc độ sạt lở bờ rất lớn, lên tới 30m/năm Trên bờ, đước và chà là mọc khá dày nhưng dấu vết của sóng biển và thủy triều lên tới 2-3m, xô đổ và làm bật tung gốc rễ nhiều cây ven bờ Dân cư sống thưa thớt ở phía trong, chủ yếu là nuôi tôm và làm muối
Trang 23- Đoạn bờ sông từ cửa sông Đồng Điền ra đến chợ Cần Thạnh, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh:
Đoạn bờ này dài khoảng 4km nằm ngoài cửa sông Ngã Bảy, cũng chịu tác động trực tiếp của sóng và triều biển Đông, tuy nhiên hướng của sóng lại gần như song song với đường bờ nên mức độ sạt lở ít hơn đoạn phía trong sông trung bình khoảng 15m/năm Đoạn này cũng không có công trình bảo vệ bờ nào cả
Dọc theo đoạn đường bờ ở xã Cần Thạnh khu vực chợ Cần Thạnh, người dân địa phương đã làm một số bờ kè tạm bằng cừ tràm để bảo vệ nhà cửa và phần đất của mình Khu vực này dân cư sống tập trung đông đúc, chủ yếu làm nghề nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy, hải sản Trong khu vực này cũng đã có điện sinh hoạt
* Bờ tả sông Ng∙ Bảy và vùng cửa sông:
Bờ tả sông Ngã Bảy từ ngã ba sông Lòng Tàu-Đồng Tranh-Ngã Bảy đến vịnh Gành Rái có chiều dài khoảng 12km thuộc địa phận Nông trường Quận I và xã Thạnh
An, huyện Cần Giờ Có thể chia bờ tả sông Ngã Bảy thành 3 đoạn tuỳ theo mức độ xói bồi của bờ
- Đoạn đường bờ từ ngã ba sông Lòng Tàu-Ngã Bảy đến đầu ấp Thiềng Liềng, xã Thạnh An có chiều dài khoảng 5,5 km là một đoạn sông rất thẳng Dọc theo bờ là những cánh rừng ngập mặn bạt ngàn với đủ các loại cây chịu mặn nhưng nhiều nhất là
đước và bần Đoạn này lòng sông rất rộng, nhiều nơi chiều rộng lòng sông là 1.200m Chỉ trừ một vài đoạn ngắn tại ngã ba hợp lưu các sông lớn đường bờ bị xói lở nhẹ, còn lại hầu như bờ rất ổn định và không có một hiện tượng xói lở nào
- Đoạn bờ sông dài khoảng 4km từ đầu ấp Thiềng Liềng, xã Thạnh An, huyện Cần Giờ trở ra:
Bờ sông Ngã Bảy đoạn này lại có thể chia làm 2 đoạn nhỏ dựa theo mức độ sạt
lở và hình dạng đoạn sông
Đoạn thứ nhất, đoạn sông thẳng, điểm đầu của đoạn đối diện với điểm đầu của
bờ tả đoạn sông nghiên cứu và kéo dài khoảng 2,5km, lòng sông rộng chừng 700 - 800m Đoạn này dọc theo bờ sông cây cối khá rậm rạp, chủ yếu là các cây chịu mặn như bần, đước, chà là Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 5m/năm Nguyên nhân gây
ra sạt lở là do sự thay đổi mực nước thủy triều với biên độ lớn và sóng do tàu thuyền lớn qua lại gây ra Đoạn sông này khá rộng và thẳng nhưng do đây là tuyến giao thông thủy đi từ ngoài biển vào cảng Sài Gòn nên hàng ngày có rất nhiều tàu thuyền của nước ngoài với trọng tải lớn thường xuyên ra vào gây ra sóng lớn, làm sạt lở bờ
Đoạn thứ hai, đoạn sông cong, tiếp theo đoạn trên và kéo dài 1,5km, lòng sông rộng 900 - 1.000m Đoạn này dọc theo bờ sông cây cối khá dày, nhưng nhiều nhất là
Trang 24Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
đước Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 10m/năm Ngoài những nguyên nhân như đã nêu ở đoạn trên, đoạn này bị sạt lở với tốc độ lớn hơn vì nó nằm ở khúc sông cong
Trong khu vực này dân cư sinh sống thưa thớt, chủ yếu là một số người nuôi tôm và làm muối ở trong đồng
- Đoạn bờ dài khoảng 2,5km thuộc ấp Thiềng Liềng cho đến rạch Bùa, xã Thạnh
An, huyện Cần Giờ:
Đây là đoạn sạt lở mạnh nhất của bờ sông Ngã Bảy vì nó nằm ngoài cửa sông, chịu ảnh hưởng trực tiếp và rất mạnh mẽ của sóng và triều biển Đông, trên bờ sông cây bần và mắm mọc dày, nhưng sóng biển và sóng do tàu thuyền có trọng tải lớn ra vào thường xuyên đã làm bật gốc cây và kéo sụp xuống sông Tốc độ sạt lở đoạn này vào khoảng 20mữ30m/năm
Trên ấp Thiềng Liềng có rất ít dân cư sinh sống, chủ yếu là một số người nuôi tôm và làm muối ở trong đồng Do không có các công trình lớn như nhà tầng, bệnh viện, trường học và dân cư thưa thớt nên không có công trình bảo vệ bờ
1.3.9 - Sông Soài Rạp từ mũi Nhà Bè đến biển Đông:
Sông Soài Rạp là một nhánh lớn của sông Nhà Bè, được bắt đầu từ ngã ba hợp lưu sông Nhà Bè-Soài Rạp-Lòng Tàu và đổ ra biển Đông qua cửa Soài Rạp Sông Soài Rạp nằm trên địa phận các huyện Nhà Bè, Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, các huyện Cần Giuộc, Cần Đước tỉnh Long An, huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang và có chiều dài khoảng 45km
Sông Soài Rạp có chiều rộng chênh lệch nhau, có nơi chỉ rộng khoảng 600m (đỉnh cong cách bến phà Bình Khánh khoảng 3,5km Về phía hạ lưu) và có nơi rộng đến khoảng 2.500m (ngã ba sông Vàm Cỏ-Soài Rạp) lại có nơi rộng trêm 3.000m (tại vùng cửa sông) Soài Rạp là một sông cong có nhiều kênh rạch đổ vào lại chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển Đông nhưng tình hình xói bồi hai bên bờ sông, đoạn từ phà Bình Khánh đến ngã ba sông Vàm Cỏ là tương đối đơn giản vì lòng sông rộng Qua khỏi ngã ba sông Soài Rạp-Vàm Cỏ đến biển Đông thì tình hình bồi lắng lại trở nên khá phức tạp vì trong mùa mưa một lượng phù sa do nước lũ đổ về từ sông Vàm Cỏ theo dòng chảy từ sông Nhà Bè đổ về sông Soài Rạp và ra cửa sông Hơn nữa theo nhiều số liệu thống kê thì tổng lượng triều lớn nhất truyền vào cửa sông (tháng IV) qua các cửa trung bình trong một ngày triều cường là 1,36 tỷ m3 nhưng trong đó cửa Soài Rạp chỉ chiếm 22%, còn lại là các cửa khác như Lòng Tàu, Đồng Tranh, Cái Mép Ngoài ra Soài Rạp chỉ là tuyến luồng ghe và tàu nhỏ đường sông cho nên sự tác động của sóng do ghe tàu gây nên là không đáng kể vì vậy theo nhiều tài liệu tại vùng cửa sông thì tốc độ bồi lắng tương đối đáng kể còn các khu vực khác thì đường bờ hầu như khá ổn định
Trang 25Do sông Soài Rạp rất rộng cho nên có thể chia làm hai phần phía bờ hữu và
phần phía bờ tả sông
a)- Phía bờ hữu sông Soài Rạp:
Bờ hữu sông Soài Rạp bắt đầu từ ngã ba hợp lưu các sông Nhà Bè-Lòng
Tàu-Soài Rạp ra đến biển Đông nằm trên địa phận huyện Nhà Bè và các tỉnh Long An và
Tiền Giang có chiều dài khoảng 45km
- Đoạn đường bờ từ bến phà Bình Khánh đến rạch Mương Chuối thuộc xã Phú
Xuân, huyện Nhà Bè có chiều dài khoảng 3,5km là đoạn cong lõm đang được bồi dần
và chiều rộng lòng sông đoạn này đang bị thu hẹp dần ở đoạn sông gần rạch Mương
Chuối Cách bến phà Bình Khánh khoảng 100m về phía hạ lưu là Xưởng đóng tàu X51,
một trong những công trình xây dựng trên bờ sông Soài Rạp
- Cạnh Xưởng đóng tàu X51 là mũi Nhà Bè Trên bờ dừa nước và các loại cây
chịu mặn khác mọc rất rậm rạp còn dân cư chủ yếu sống ở sâu vào trong Riêng khu
vực mũi Nhà Bè bờ sông được bồi khoảng 2m-3m/năm
-Từ mũi Nhà Bè xuôi về phía hạ lưu khoảng 500m là khu vực cây cối mọc um
tùm, dân cư sống thưa thớt Đoạn bờ này có xu thế bồi nhẹ, tốc độ khoảng 1-2m/năm
- Qua khỏi đoạn bờ bồi này đến rạch Mương Chuối đường bờ rất ổn định, dừa
nước và các cây chịu mặn mọc sát ra tận mép sông Khu vực này dân cư thưa thớt Tại
ngã ba sông Lòng Tàu-rạch Mương Chuối bờ sông bị sạt lở vì đây là đỉnh cong của
sông và đoạn này lòng sông bị co hẹp lại Tốc độ sạt lở khoảng 2-3m/năm
-Đoạn đường bờ từ rạch Mương Chuối cho đến trước cửa sông Đông Điền
khoảng 100m rất ổn định, dừa nước và các cây chịu mặn mọc rất rậm rạp Cách cửa
sông Đông Điền khoảng 100m và ăn sâu vào trong sông, bờ sông bị sạt lở, tốc độ sạt lở
khoảng 2-3m/năm
- Khu vực ngã ba sông Đồng Điền bờ sông rất ổn định, cây cối mọc um tùm,
không có hiện tượng sạt lở Sâu vào phía trong bờ có nhiều nhà máy đang hoạt động
Đoạn này dân cư vẫn rất thưa thớt
- Đoạn đường bờ từ ngã ba sông Soài Rạp-Đồng Điền đi về phía hạ lưu đến khu
vực đỉnh cong thuộc xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè (đối diện rạch Ông Tân) có chiều
dài khoảng 2,5km rất ổn định, cây cối mọc ra sát mép nước Dân cư thưa thớt, chỉ có
một vài điểm khai thác cát trên sông
- Từ khu vực đỉnh cong đi về phía cửa sông đường bờ bị sạt lở trên một chiều
dài khoảng 500m, tốc độ sạt lở khoảng 2-3m/năm ở khu vực này cây cối không phát
triển được, dân cư không sống ở phía sát bờ sông
Trang 26Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
- Qua khỏi khu vực đỉnh cong đến rạch Vọp trên chiều dài khoảng 1km bờ sông tương đối ổn định, cây cối mọc rậm rạp và ra sát tận mép nước Khu vực này cũng hầu như không có dân sinh sống
-Từ rạch Vọp đến rạch Mương Lớn bờ sông rất ổn định, không bị sạt lở Trên bờ dừa nước cây cối mọc rất rậm rạp sát tận mép nước, dân cư thưa thớt
- Đoạn đường bờ từ hạ lưu rạch Mương Lớn đến khu vực đỉnh cong (đối diện ấp
An Hòa, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ) có chiều dài khoảng 4km khá ổn định, dừa nước mọc nhiều, rậm rạp, các loại cây khác cũng phát triển khá mạnh Trong khu vực này dân cư thưa thớt
- Từ khu vực đỉnh cong trên đến Kinh Lộ trên chiều dài khoảng 3km tuy là đoạn sông cong lõm nhưng bờ sông rất ổn định, dừa nước và các loại cây khác phát triển mạnh và hầu như không có dân cư sống ở khu vực sát bờ sông này
- Đoạn đường bờ từ Kinh Lộ đến ngã ba sông Soài Rạp-Vàm Cỏ có chiều dài khoảng 10km, đoạn này lòng sông được mở rộng dần ra, từ 800m lên đến khoảng 2.500m ngay tại ngã ba sông Vàm Cỏ, hình dạng sông từ hơi cong chuyển sang thành sông thẳng, bờ sông rất ổn định, cây cối mọc rậm rạp, không có hiện tượng sạt lở
- Đoạn bờ hữu sông Soài Rạp từ ngã ba sông Soài Rạp - Vàm Cỏ nằm trên địa phận các xã Tân Phước, Gia Thuận dài khoảng 7,5km đến ranh giới ấp Trợ, xã Vàm Láng tương đối ổn định, không có hiện tượng sạt lở Ngoài mép sông bần, đước mọc rất dày, tạo thành một khu rừng ngập mặn bảo vệ rất tốt cho đường bờ, mặc dù nơi đây hứng chịu sóng lớn và thủy triều lên xuống thường xuyên, nhất là trong mùa gió chướng Trong khu rừng ngập mặn này có rất nhiều loại chim sinh sống cho nên đây là một khu rừng sinh thái rất quí hiếm ở nước ta Đây là vùng đất bồi bị nhiễm phèn rất nặng nên dọc theo bờ sông, hầu như không có dân cư sinh sống
- Đoạn bờ tiếp theo từ ranh giới ấp Trợ đến sông Cần Lộc dài khoảng 1,5km thuộc xã Vàm Láng bị sạt lở, với tốc độ sạt lở vào khoảng 5m/năm Đây là vùng nằm sát cửa sông cho nên hàng năm vào mùa gió chướng, những đợt sóng lớn và triều cường thường xuyên tác động vào bờ làm cho bờ bị sạt lở tương đối mạnh Mặc dù dọc theo bờ có đước và chà là mọc khá nhiều nhưng vẫn không chống lại được tác động của sóng và thủy triều Khu vực này dân cư đông đúc, sống khá tập trung xung quanh chợ
và UBND xã Vàm Láng Vùng này đã có điện lưới Quốc gia, kinh tế chủ yếu là nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản Đoạn đường bờ dọc theo UBND xã Vàm Láng người dân địa phương đã xây dựng những bờ kè tạm bằng cừ tràm và đá hộc để bảo vệ nhà cửa, ruộng vườn của họ nhưng hầu như không có một công trình kiên cố nào
- Đoạn bờ từ sông Cần Lộc ra đến cửa sông Soài Rạp thuộc xã Kiểng Phước dài gần 2km và đoạn tiếp theo cho tới cửa Tiểu là đoạn bị sạt lở mạnh nhất trên bờ tả sông
Trang 27Soài Rạp, tốc độ sạt lở ở khu vực này lên tới 30m/năm Sạt lở xảy ra quanh năm, đặc biệt mạnh nhất vào mùa gió chướng, dưới ảnh hưởng rất mạnh mẽ của sóng và thủy triều Dọc theo bờ sông, chà là, đước và các loại cây ngập mạnh bị sóng biển và thủy triều đánh bật tung cả gốc, sụp đổ xuống sông Theo nhiều số liệu điều tra dân gian, hàng năm vùng này bị mất hàng chục hécta đất và hiện tượng sạt lở đang đe dọa những vùng dọc theo bờ thuộc các xã Vàm Láng và xã Kiểng Phước thuộc huyện Gò Công
Đông Vùng này dân cư sống thưa thớt và kinh tế chủ yếu cũng là nghề đánh cá nhỏ trên sông Đoạn bờ khu vực này không có một công trình bảo vệ bờ kiên cố nào cả
b) - Bờ tả sông Soài Rạp:
Bờ tả sông Soài Rạp được bắt đầu từ ngã ba hợp lưu các sông Nhà Bè-Lòng Tàu-Soài Rạp ra đến biển Đông nằm hoàn toàn trên địa phận huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh có chiều dài khoảng 40km Đường bờ tả có nhiều chỗ sông cong,
trong đó có hai đoạn cong rất gấp khúc
- Đoạn đường bờ sông Soài Rạp chung quanh khu vực bến phà Bình Khánh bị sạt lở nhẹ khoảng từ 1-2m/năm Nguyên nhân của hiện tượng sạt lở này là do đây là nơi phân lưu của sông Nhà Bè nên khi triều rút thì dòng chảy từ sông Nhà Bè đổ mạnh vào
đoạn cong này của sông Soài Rạp Ngoài ra, đoạn này ghe, thuyền và phà qua lại khá nhiều nên cũng góp phần không nhỏ vào việc gây nên sạt lở bờ
- Từ rạch Lay đi về phía hạ lưu khoảng 2km sông khá rộng và thẳng, bờ sông tương đối ổn định, không lở, không bồi dân cư thưa thớt
- Đường bờ sông khu vực đỉnh cong của bán đảo Bình Khánh có chiều dài khoảng 1,5km là đoạn sông cong và lòng sông bị co hẹp lại rất gấp khúc Trên bờ dừa nước và các loại cây khác mọc rất rậm rạp Tuy là đoạn sông cong nhưng bờ sông đoạn này được bồi hàng năm nhưng mức độ không nhiều lắm, khoảng từ 1-1,5m/năm
- Qua khỏi khu vực đỉnh cong đi về phía hạ lưu khoảng 500m bờ bị lở nhẹ, khoảng 1-2m/năm Đoạn này cây cối rất ít và dân cư cũng rất thưa thớt
- Đoạn đường bờ nối tiếp về phía hạ lưu cho đến rạch ông Tôn có chiều dài khoảng 3km tương đối ổn định và đoạn này lòng sông được mở rộng Trên bờ sông
đoạn này cây cối mọc rất rậm rạp và không có dân cư sinh sống
- Đoạn đường bờ từ rạch Ông Tôn đến rạch Lá có chiều dài khoảng 4km, là
đoạn sông cong nhưng ổn định, lòng sông hơi bị thu hẹp lại Trên bờ cây cối mọc rất rậm rạp Khu vực ven bờ không có dân cư sinh sống và không có hiện tượng sạt lở
- Đoạn đường bờ từ rạch Lá đến rạch Mỏ Cày có chiều dài khoảng 2km là đoạn sông khá thẳng, lòng sông rộng Dọc bờ sông cây cối mọc rậm rạp ít có dân sinh sống,
đường bờ tương đối ổn định
Trang 28Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
- Đoạn đường bờ từ rạch Mỏ Cày đi về hạ lưu khoảng 2,5km là đoạn sông hơi cong, lòng sông rộng khoảng 1.000m Trên bờ dừa nước mọc sát ra tận mép nước, bờ sông rất ổn định, không lở, không bồi
- Đoạn đường bờ nối tiếp theo về phía hạ lưu thuộc Nông trường Quận 10 có chiều dài khoảng 2km bờ sông gần như thẳng, lòng sông được mở rộng hơn nên bờ sông càng ổn định Trên bờ dừa nước và cây cối mọc rậm rạp, dân cư thưa thớt và bờ không bị sạt lở
- Đoạn đường bờ nằm trên Nông trường Quận 10 tại khúc sông cong ngay rạch Dơi có chiều dài khoảng 2,5km là tương đối ổn định Đoạn này lòng sông bị thu hẹp lại, chiều rộng chỗ hẹp nhất còn khoảng 800m Trên bờ dừa nước mọc rất rậm rạp và hầu như không có dân cư sinh sống
- Đoạn đường bờ từ rạch Dơi đến sông Vàm Sát có chiều dài khoảng 5km tương
đối thẳng và lòng sông khá rộng khoảng1.200m Đoạn này đang được bồi dần hàng năm với tốc độ khoảng từ 1-2m/năm Trên bờ các loại cây cối mọc rất rậm rạp ra đến tận mép sông và không có dân chư sinh sống
- Đoạn đường bờ từ rạch Vàm Sát đến ngã ba sông Soài Rạp-Vàm Cỏ dài 3,5km cũng khá ổn định, không lở, không bồi Đoạn sông này thẳng và rất rộng chiều rộng lòng sông khoảng 1.500m Trên bờ có nhiều dừa nước, các loại cây ngập mặn khác như bần, đước, mắm mọc xen kẽ nhau Đoạn bờ này không có dân cư sinh sống
- Nếu lấy UBND xã Lý Nhơn làm trung tâm, đi ngược lên thượng lưu khoảng 2km và xuôi xuống hạ lưu khoảng 3,5km đường bờ hầu như không bị sạt lở và tương
đối ổn định Dọc theo bờ dừa nước và bần cao 5-6m mọc khá dày Do có nhiều lớp dừa nước và bần che chắn cho nên đường bờ được bảo vệ một cách hiệu quả Phía trong cách bờ sông khoảng 30-40m là các ruộng lúa, ruộng muối và các vuông tôm Thu nhập chính của người dân trong vùng này là từ nghề làm muối, nuôi tôm và đánh bắt Thủy hải sản Trong khu vực này dân cư sống đông đúc và đã có điện sinh hoạt
- Đoạn đường bờ tiếp theo cho tới rạch Mương Thông dài khoảng 3km là đoạn
bờ bị sạt lở mạnh, tốc độ khoảng 10m/năm Nguyên nhân gây ra sạt lở là vì dọc theo
bờ sông do dừa nước và bần không còn mọc dày, lại chịu tác dụng mãnh liệt của sóng biển và thủy triều nên nhiều bụi dừa nước bị sóng biển và Thủytriều đánh bật tung gốc, cuốn trôi, rút ngắn thời gian phá hoại đất bờ gây ra sạt lở Hiện tượng sạt lở bờ ở khu vực này diễn ra quanh năm, nhưng đặc biệt vào mùa gió chướng, những đợt sóng mạnh liên tiếp ập vào bờ làm cho từng mảng bờ bị sạt lở Trong đoạn này chưa có một công trình kiên có nào bảo vệ bờ, chỉ trừ một số đoạn kè tạm do dân tự làm
- Đoạn bờ sông từ rạch Mương Thông cho tới rạch Mương ốc và kéo dài trên suốt 1km nữa, dài khoảng 2,5km trên bờ tả sông Soài Rạp vẫn bị sạt lở, tuy nhiên tốc
Trang 29độ có phần giảm xuống còn chừng 5m/năm do ở đoạn này lòng sông đã mở rộng thêm
ra và bần, đước và các loại cây ngập mặnlại mọc khá dày, cản bớt tác dụng phá hoại của sóng biển và thủy triều Đoạn này hầu như không có dân sinh sống
- Đoạn bờ hữu sông Soài Rạp từ vị trí cách rạch Mương ốc khoảng 1km về phía hạ lưu (thuộc lâm trường Lý Nhơn) ra mũi Đuôi Sam dài khoảng 2,5km là đoạn bờ bồi, tốc độ bồi trung bình là 5m/năm Đoạn này lòng sông được mở rộng ra nên vào mùa gió Đông Bắc sóng biển và dòng chảy ven bờ mang cát từ biển vào và bồi lắng lại Khi nước triều rút ghe thuyền không thể đi sát bờ sông được ở khu vực này hầu như không
có dân sinh sống
- Phía cuối xã Lý Nhơn là mũi Đuôi Sam, đây là bãi bồi rất rộng, khi nước triều rút để lộ ra bãi cát diện tích lên đến vài trăm hécta, còn khi nước ương ghe thuyền rất khó đi sát vào bờ vì lòng sông rất nông Bãi bồi được hình thành do thủy triều và dòng chảy ven bờ mang cát vào bồi đắp nên
* Đặc điểm về thảm thực vật và rừng ngập mặn của hạ du sông Đồng Nai - Sài
♦ Cảnh trên triều: Bao gồm các cồn cát ven biển, bãi bồi ven sông
♦ Cảnh bãi triều: Bao gồm những vùng nửa đất, nửa nước (ngập triều theo các chu kỳ khác nhau như ngày, đêm, tháng, năm)
♦ Cảnh dưới triều: Bao gồm các lòng sông, rạch, đầm, mặn…
Trong vùng duyên hải các bãi triều chiếm ưu thế về diện tích và đang ngày càng phát triển Những sinh cảnh ở đây tiến bộ và tích cực hơn so với các bãi bồi dưới triều Tài nguyên của các bãi bồi dưới triều là rừng ngập mặn, các động vật dưới nước cung cấp nguồn đạm động vật cao cấp cần thiết cho con người
Rừng ngập mặn Cần Giờ là một cảnh quan rất đặc trưng cho vùng cửa sông
Đồng Nai-Sài Gòn, rừng ngập mặn có diện tích khoảng 2800ha
Phân bố cây rừng ngập mặn có thể chia làm 2 vùng: Vùng nước lợ và vùng nước mặn
Cây vùng ngập mặn hình thành và phát triển theo các quần xã và phân bố rất rõ nét theo yếu tố vi địa hình
Trang 30Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Quần xã mắm - bần là dạng phổ biến nhất trên những bãi bồi ven sông rạch (Anicennialba) là cây tiên phong xâm lấn cả bãi bồi mới được hình thành, trên nền đất bùn, sét lỏng do phù sa sông - biển tích tụ Mắm trắng có thể mọc thuần loại thành một dải rừng tự nhiên như đai bao phía ngoài của cả khu rừng rộng ven sông
Quần xã đước - mắm - dà - chà là: Là một quần xã được hình thành trên nền
đất bùn đã tương đối chặt, hơi cao, ngập triều theo chu kỳ ngày, tháng, nhiều nơi chỉ có
đước trồng thuần chủng dày đặc, đước thích hợp trên nền đất sét pha cát
Quần xã chà là - giá - dà: Được hình thành trên nền đất cao, ngập triều theo chu kỳ tháng, năm
Rừng ngập mặn lắng lọc bùn cát tiếp thu tối đa quang năng giàu có thích nghi với thủy triều có biên độ lớn và phát triển nhanh chóng trên nền đất bùn lầy Rừng cung cấp một nguồn tàng vật lớn lao (có thể tới hàng chục tấn/ha năm) Thủy triều và dòng nước kênh rạch phát tán các tàng vật đó ra trên một diện rộng, cung cấp thức ăn cho tôm, cua, cá Các tàng vật cùng lắng đọng xuống cùng với bùn cát tích lũy lại làm cho nền đất cao thêm Bãi - rừng - thủy sản gắn bó hữu cơ trong sự phát triển của các bãi triền đê dần dà biến thành cảnh trên triều
Sự phát triển của rừng ngập mặn ở hạ du sông Đồng Nai-Sài Gòn đóng vai trò rất lớn giải thích cho đặc tính của dòng sông ở hạ du Đồng Nai-Sài Gòn quanh
co, sâu và ổn định
1.3.10 Các sông nhỏ chảy ra hạ lưu sông Đồng Nai
Nằm dọc theo trục Quốc lộ 51 (QL51), có một số sông suối nhỏ với lưu vực và nguồn nước độc lập chảy trực tiếp ra hạ lưu dòng chính sông Đồng Nai, mà đáng kể hơn cả là các sông sau:
Sông Lá Buông nằm ở bờ trái sông Đồng Nai, có nguồn từ vùng đồi Xuân Lộc với cao độ 200-300 m Sông có chiều dài 69 km và diện tích lưu vực đến cửa là 482 km2
Trang 31sâu, gần biển và QL51 nên đang phát triển thành hệ thống cầu cảng nước sâu quan trọng cho khu Kinh tế trọng điểm Tuy nhiên, do không có nguồn sinh thủy, lại là nơi tập trung nước thải công nghiệp từ các nhà máy nằm dọc Quốc lộ 51, nên hiện sông Thị Vải bị ô nhiễm rất nghiêm trọng
1.3.11 Các sông nhỏ ven biển Đông
Hệ thống sông suối từ Ninh Thuận đến Vũng Tàu đều chảy trực tiếp ra Biển
Đông Do núi ăn lan ra sát bờ biển nên nhìn chung sông suối ở đây nhỏ, ngắn và dốc
Về mùa lũ, nước sông lên và xuống nhanh Về mùa kiệt, một số sông nhỏ hầu như cạn nước Đây là vùng có điều kiện khí hậu khô hạn gần như nhất nước Vùng này có mật
độ sông suối thấp, các sông chỉ khống chế một lưu vực nhỏ, thường là từ 500-1000 km2 Các sông lớn đáng kể trong vùng này gồm:
Đây là con sông lớn nhất ven biển, thuộc tỉnh Ninh Thuận, có diện tích lưu vực 3.430 km2, chiều dài nhánh chính 105 km Sông bắt nguồn từ sườn Đông của dãy núi Gia Rích có cao độ 1.923 m, cửa đổ ra thị xã Phan Rang Các phụ lưu chính là sông Sắt, Trà Có, sông Ông Thượng lưu sông Cái Phan Rang là nhà máy thủy điện Da Nhim
Sông Lòng Sông có chiều dài 53 km, diện tích lưu vực 520 km2, bắt nguồn từ vùng núi phía Bắc có cao độ 1.528 m, chảy xuyên qua huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận rồi đổ ra biển tại cửa Phước Thể
độ 1.400 m, cửa đổ ra phía Bắc thị xã Phan Thiết Hiện thượng lưu sông Quao đã xây dựng hồ sông Quao Sông Cà Ty có diện tích lưu vực 775 km2, chiều dài 48 km, bắt
Trang 32Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
nguồn từ vùng núi phía Tây-Bắc có cao độ 1.200-1.300 m, chảy qua huyện Hàm Thuận Nam, cửa đổ ra trung tâm thị xã Phan Thiết Sông Cà Ty do hai nhánh lớn là sông Móng và sông Kabét hợp thành
Sông Phan có diện tích lưu vực 498 km2, chiều dài 53 km, bắt nguồn từ vùng núi Ông có cao độ 1.300 m, chảy qua phía Tây của huyện Hàm Thuận Nam rồi đổ ra biển tại xã Tân Hải huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận
Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi Chứa Chan huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, cao độ 837 m, chảy qua một phần của huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) và Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu) và gần như nằm trọn trong huyện Hàm Tân (Bình Thuận), đổ ra biển tại cửa La Gi, có diện tích lưu vực 862 km2, chiều dài 59 km
(7) Sông Ray:
Sông Ray bắt nguồn từ vùng núi Chứa Chan ở phía Bắc có cao độ 837 m, chảy qua huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai, huyện Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, rồi đi
ra biển tại Phước Bưu có diện tích lưu vực 1.250 km2, chiều dài 101 km, là con sông
có nguồn nưíc khá dồi dào, hiện đã có một vài hồ chứa nhỏ ở thượng lưu Sông Ray nằm trên địa bàn 2 tỉnh Đồng Nai (huyện Long Khánh) và tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (huyện Long Đất)
(8) Sông Dinh (Vũng Tàu): Sông Dinh bắt nguồn từ vùng đồi huyện Châu Đức
có cao độ 160 m, chảy qua thị xã Bà Rịa rồi đỉ ra biển Vũng Tàu, có chiều dài 39 km
và diện tích lưu vực 319 km2 (tính đến thị xã Bà Rịa) Sau Bà Rịa, sông đi vào vùng trũng thấp ngập triều và chia làm nhiều cửa đi ra biển như sông Mịi, sông Cây Khế, rạch Cưa Lấp Sông Dinh nằm hoàn toàn trong địa phận tỉnh Bà Rịa-Vịng Tàu
1.4 Một số nhận xét
+ Địa hình, địa mạo và hình dạng lòng dẫn, thế sông có ảnh hưởng lớn đến biến
đổi lòng dẫn hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn Địa hình cao thấp, độ dốc địa hình
ảnh hưởng đến tốc độ tập trung nước xuống lòng dẫn, lòng dẫn với các hình dạng mặt cắt khác nhau sẽ quy định chế độ thuỷ lực hay trường lưu tốc dòng chảy khác nhau Hình thái trên mặt bằng của dòng sông quy định độ dốc đáy lòng dẫn và độ dốc mặt nước của dòng chảy, vị trí xẩy ra biến đổi lòng dẫn mạnh hay yêu, xói hay bồi
+ Vị trí địa lý của đoạn sông và dạng địa hình lòng dẫn phù hợp đóng vai trò lôi kéo hoặc tập trung mức độ khai thác và tác động của con người Các đoạn sông gần khu vực đô thị, khu vực sản xuất thì biến đổi lòng dẫn diễn ra mạnh hơn do các hoạt
Trang 33động diễn ra nhiều hơn, các đoạn sông có vị trí bất lợi cho phát triển kinh tế thì ít bị tác
động của con người, mức độ biến đổi lòng dẫn cũng ít hơn
+ So với các cửa sông thuộc hệ thống sông Tiền, sông Hậu, mức độ bồi tụ bùn cát tại các cửa sông ít hơn rất nhiều Điều đó là đương nhiên vì nguồn bùn cát ở thượng
du đã bị bồi lắng trong các hồ chứa
+ Biến đổi lòng dẫn trên hệ thống sông còn phụ thuộc vào quá trình tân kiến tạo của dòng sông Sông Đồng Nai – Sài Gòn được hình thành từ vết đứt gãy địa hình thì mức độ biến đổi lòng dẫn bị tác động bởi các yếu tố này là đáng kể Đặc biệt là trong thời gian gần đây, hiện tượng động đất xẩy ra với quy mô ngày càng lớn hơn và mức độ tập trung hơn
II ĐIềU KIệN địa chất-thổ nhưỡng
2.1 Quá trình thành tạo địa chất
Lãnh thổ vùng hạ du sông Đồng Nai - Sài Gòn nằm ở vùng Đông nam bộ trong
đó gồm các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Sông Sài Gòn - Đồng Nai đều chảy qua vùng nghiên cứu và là một trong những yếu tố quan trọng khống chế điều kiện địa chất - địa mạo vùng này Lịch sử phát triển địa chất, địa mạo được tóm tắt như sau:
Sau khi kết thúc các hoạt động Macma, kiến tạo Mezozoi, vùng Đông nam bộ nằm trọn trong khối nâng Đông Dương Vào cuối Kreta và đầu Paleogen các hoạt động bào mòn xảy ra mạnh mẽ, tạo nên bề mặt địa hình san bằng Đông Dương Từ đầu Oliocen trên trũng Cửu Long các đứt gãy hoạt động trở lại, tạo nên các địa hào theo phương Đông Bắc - Tây Nam Các hoạt động trong Neogen -Đệ tứ đã chi phối mạnh lịch sử phát triển địa hình lãnh thổ và được chia thành hai giai đoạn
Giai đoạn Neogen:
Vào đầu Miocen muộn, địa hình Đông Nam bộ chủ yếu là địa hình bào mòn với các núi còn sót lại cao 100 - 200m Miocen giữa - muộn hoạt động nâng kèm theo phun trào xảy ra mạnh mẽ ở phần phía Đông, tạo nên các bề mặt Bazan chảy tràn Phần phía tây hoạt động sụt lún theo đứt gãy phương Đông Bắc đã hình thành các trầm tích
hệ tầng Bình Trưng (N31) nguồn gốc lục địa, thành phần chủ yếu là cuội sỏi sạn chuyển lên trên là cát bột màu xám
Trong Pliocen sụt lún xảy ra với tốc độ cao, biển tiến từ phía Tây Nam tạo nên các trầm tích hệ tầng Nhà Bè (N21) và hệ tầng bà Miêu (N22) thuộc tướng Châu thổ và vũng vịnh với bề dày thay đổi từ 10 - 200m Các trầm tích này chủ yếu là cát kết vôi, cát bột màu xám, màu đỏ vàng loang lổ Cuối Pliocen, biển rút gây nên quá trình
Trang 34Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
phong hóa bóc mòn bề mặt địa hình với cường độ mạnh, tạo nên vỏ phong hoá laterite
phổ biến trên toàn khu vực
Vào đầu Leistocen giữa hoạt động nâng kiến tạo kèm theo phun trào Bazan ở Xuân Lộc, Lộc Ninh, Bình Long tạo nên hệ tầng Xuân Lộc QII thể hiện trên địa hình
và các vòm Bazan với các miệng núi lửa nhô cao Lúc này các cao nguyên thấp đã được hình thành ở phía Đông bắc tiếp tục được nâng lên, phía Tây Nam địa hình nâng yếu hơn Một thời kì phong hoá nước bao trùm toàn bộ đồng bằng
Cuối Pleistocen giữa - đầu Plestocen muộn phía Tây khu vực hạ lún từ từ, gây nên biển tiến từ phía Tây Nam, đã tạo nên hệ tầng Thủ Đức (QII - III), gồm các trầm tích, thành phần chủ yếu là cát tương đối đều đặn và các trầm tích sông với thành phần cát, cuội sỏi xen kẹp các thấu kính sét kaolin Giữa Pleistocen muộn địa hình khu vực
được nâng lên, phong hóa kèm theo một đợt phun trào ngắn tạo nên đá bazan thuộc hệ tầng Phước Tân QII2, phân bố dọc các thung lũng sông Đồng Nai Cuối Pleistocen muộn một đợt biển tiến mới trải trên diện tích hẹp ở trên phía Tây và Nam khu vực, tạo nên các trầm tích hệ tầng Củ Chi với tướng sông, sông biển và biển, thành phần chủ yếu là cát cuội sỏi sét và sét kaolin Cuối Pleistocen muộn - đầu Holoxen biển rút, Đông Nam bộ trở thành lục địa, quá trình phong hoá phát triển
Sang Holoxen có đợt biển tiến cuối cùng (biển tiến Flandrian) phủ lên địa hình thấp, vùng trũng Lê Minh Xuân, Bình Chánh, Cửa sông Đồng Nai và ven biển Vũng Tàu - Xuyên Mộc hình thành trầm tích hệ tầng Bình Chánh (QIV 1-2) gồm các tướng biển, vũng vịnh, biển ven bờ, hỗn hợp sông biển và sông
Cuối Holoxen giữa - đầu Holoxen muộn biển rút từ từ theo biển Cần Giờ, theo hướng sông Đồng Nai lấn dần ra biển Đông Dọc theo thung lũng, sông Cổ Chiên và các bãi lầy ven biển hình thành các trầm tích hệ tầng Cần Giờ với thành phần chủ yếu
là sét màu xám xanh, xám nâu, phần trên cùng thường là than bùn Ven biển chủ yếu là
Trang 35cát mịn Dọc theo thung lũng hình thành các trầm tích lòng sông với thành phần chủ yếu là cát sạn
Các hoạt động nâng hạ trong giai đoạn đệ tứ đã tạo nên các hệ tầng trầm tích ở
Đông Nam bộ theo kiểu cấu trúc cắt chéo: trên diện tích đồng bằng cao phân bố các trầm tích Pleistocen (hoạt động nâng là chủ yếu) địa hình có dạng bậc thềm đựơc tạo bởi các trầm tích nguồn gốc sông, sông biển, chúng gối chồng lên nhau, độ cao địa hình giảm dần từ Đông Bắc về Tây Nam (55 - 70m; 5 -15m; 2 - 4m) Trên diện tích
đồng bằng thấp phân bố các trầm tích Holocen (hoạt động hạ là chủ yếu), các hệ tầng trầm tích phủ chồng lên nhau tạo nên cấu trúc phân tầng
Hạ du sông Sài Gòn - Đồng Nai nằm trong khu vực ảnh hưởng của cấu trúc Nam Trung bộ - là miền nâng và cấu trúc Tây Nam bộ là miền sụt trong Kanôjôi Hai
hệ thống đứt gãy sông Đồng Nai và Vàm Cỏ Đông mang tính chất khu vực phân định các miền cấu trúc nêu trên Hai hệ thống đứt gãy có phương Tây Nam - Tây Bắc -
Đông Nam Song song với hệ thống đứt gãy này còn có hệ thống đứt gãy cấp 2 Sông Sài Gòn hình thành trong hệ thống đứt gãy này Như vậy ta thấy sông nhánh Sài Gòn và sông chính Đồng Nai nằm ở các hệ thống đứt gãy thuộc các cấp khác nhau và các hệ thống đứt gãy làm cho cấu trúc của móng có dạng bậc thang Hai hệ thống đứt gãy tạo nên một mạng lưới các khối âm và dương khác nhau Trong đó các khối mang đặc
điểm dương gồm: Củ Chi, Cầu Bông, Thị Nghè; các khối âm gồm: Nhà Bè, Bình Chánh, Cần Giờ Xem hình 1.6
Trang 36Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Hình 1.6 – Bản đồ tân kiến tạo HDSĐNSG
2.2 Đặc điểm địa tầng và địa chất công trình
a) Đặc điểm địa tầng
Sông Đồng Nai nằm trong vùng địa chất của miền Đông Nam bộ Vùng này đã
được một số nhà địa chất người Pháp nghiên cứu từ những năm đầu của thế kỷ 20 và đã xuất bản loại bản đồ địa chất tỉ lệ 1/500.000 vào năm 1921 do E Saurin chủ biên và
được tái bản năm 1969 Theo Saurin, về mặt kiến tạo vùng này là một hệ địa máng cuốn nếp Hecxini
Sau năm 1975, vùng MĐNB đã được các nhà địa chất Việt Nam nghiên cứu bổ sung trên bản đồ tỉ lệ 1/200.000 Kết quả các nghiên cứu mới nhất cho thấy:
- Vùng Nam Trung bộ và Đông Nam bộ là một phần của địa khối Indonexia bị hoạt hóa và lún chìm trong Mezozoi sớm-giữa Trên bề mặt chủ yếu là trầm tích biển Jura bị cuốn nếp mạnh Trong Mezozoi muộn vùng này bị hoạt hóa kiến tạo Macma mãnh liệt và tham gia vào vành đai xâm nhập núi lửa Mêzozoi muộn Đông á
- Về địa tầng, đây là vùng không có địa tầng trước Carbon Theo thứ tự sắp xếp
địa tầng thấp nhất là hệ Daklin (C3-P1dl) lộ ra ở vùng Tây-Bắc Buôn Mê Thuột Nó gồm có cát kết, bột kết, đá phiến silic và sét silic… đá vôi sét và đá sét vôi xen kẽ với amdesit có chứa hóa thạch tuổi carbon muộn-Pecmi sớm Hệ tầng này dày 600 m Tiếp
Trang 37ợã lÌ trđm tÝch Pecmi muén, chĐ yỏu lÌ ợĨ vỡi cĐa hơ tđng TÌ Thiỏt (P2tt) lé ra rÊt Ýt ẽ Tờy Ninh vÌ BÈnh Ph−ắc giĨp Cam Pu Chia Nữm ngay trởn ợã lÌ hơ tđng sỡng SÌi Gßn gạm cã ợĨ phiỏn sƯt vÌ cĨc lắp bét kỏt chụa hãa thÓch Trias sắm, Trias giƠa lé rÊt hiỏm
ẽ vĩng Chờu Thắi-Böu Long, ớạng Nai ớã lÌ cuéi kỏt, cĨt kỏt vÌ mét Ýt bét kỏt cã chụa hãa thÓch
Lé réng rỈi vÌ phă biỏn nhÊt lÌ hơ tđng Jura d−ắi-giƠa Bộn ớỡn Phđn d−ắi dÌy
700 m, gạm cuéi kỏt, cĨt kỏt vỡi, bét kỏt vỡi, sƯt vỡi xen kỹ vắi bét kỏt vÌ ợĨ phiỏn sƯt Phđn giƠa gạm ợĨ phiỏn sƯt vÌ bét kỏt mÌu xĨm dÌy 250-300 m Phđn trởn gạm cĨt kỏt, bét kỏt, sƯt kỏt dÌy 400-500 m ToÌn bé hơ tđng Bộn ớỡn dÌy khoộng 1.500 m Nữm khỡng chừnh hîp trởn hơ tđng Bộn ớỡn lÌ cĨc lắp phĐ ợĨ phun trÌo a-xÝt trung tÝnh cã xen lÉn trđm tÝch lôc ợẺa Chóng ợ−îc chia ra hai hơ tđụng cã quan hơ tđng khỡng thÝch hîp vắi nhau: D−ắi lÌ hơ tđng ợỉo Bộo Léc gạm andezit, cuéi kỏt, cĨt kỏt tuăi Jura muén- Kreta sắm vÌ trởn lÌ hơ tđng ớŨn D−Ũng gạm daxit, rialit vÌ tuf cĐa chóng cã xen kỦp trđm tÝch lôc ợẺa ẽ vĩng sỡng BƯ cĨc ợại vÌ nói thÊp cÊu tÓo bẽi cĨt kỏt cã xen
Ýt riolÝt cã tuăi gièng vắi hơ tđng Bộo Léc
- Vồ ợĨ xờm nhẹp, ẽ vĩng nÌy rÊt phĨt triốn vÌ chừ thuéc giai ợoÓn Jura muén- Kreta, chia ra 2 phục hơ nh− sau:
+ Phục hơ ớẺnh QuĨn, AnkroƯt cã diorÝt, gravo dioxÝt, granÝt;
+ Phục hơ ợỉo cộ cã granÝt hŨi kiồm
Trởn ợẺa bÌn nghiởn cụu phờn bè chĐ yỏu lÌ cĨc trđm tÝch Pleistocen vÌ holocen Trong phÓm vi hÓ du sỡng ớạng Nai - SÌi Gßn ợi qua lỈnh thă ớỡng Nam bé dảc theo sỡng SÌi Gßn tõ ThĐ Dđu Mét trẽ xuèng vÌ dảc theo sỡng ớạng Nai tõ TrẺ An trẽ xuèng cã thố thÊy cĨc tđng ợẺa chÊt khĨc nhau nh− sau:
* CĨc thÌnh tÓo Mezozoi:
ớĨ cÊu tÓo nồn mãng khu vùc gạm hai hơ tđng: hơ tđng Dray-ling tuăi Jura sắm
cã chiồu dÌy 30m vÌ hơ tđng Long BÈnh tuăi Jura muén, cã chiồu dÌy 350 - 400m gạm sƯt bét kỏt mÌu xĨm tro, ợĨ phun trÌo andezite xen kỹ
CĨc thÌnh tÓo Kanonoi: bao gạm cĨc trđm tÝch aluvi că, tuăi neogen-Pleistogen
vÌ aluvi trị tuăi holocen CĨc trđm tÝch Neogen ợ−îc phờn chia thÌnh 3 hơ tđng: Hơ tđng BÈnh Tr−ng tuăi Miocen muén, hơ tđng NhÌ Bỉ tuăi Pliocen sắm vÌ hơ tđng BÌ Miởu tuăi Pliocen muén
CĨc trđm tÝch ớơ Tụ phờn bè réng rỈi kh¾p vĩng, cã 6 hơ tđng:
- Hơ tđng Trộng Bom (dÌy 25-30m) trong phÓm vi ThĐ ớục ợ−îc tÓo thÌnh trong thêi kÈ biốn lĩi réng lắn, trđm tÝch chĐ yỏu cã nguạn gèc sỡng
Trang 38Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
- Hệ tầng Thủ Đức dày 20 - 40m lộ ra chủ yếu ở Bắc Thủ Đức có nguồn gốc sông và cửa sông
- Hệ tầng Củ Chi dày 10 - 35m lộ ra ở khu vực Tăng Nhơn Phú, Suối Tiên và ven rìa các đồi cao Trầm tích chủ yếu là nguồn sông và cửa sông
- Hệ tầng Thủ Đức và Củ Chi được thành tạo có liên quan đến hai đợt biển tiến vào Pleistocen giữa và muộn
- Trầm tích Holocen sớm giữa dày 15 - 20m lộ xung quanh thềm sót ở Bình Trưng, các giồng cao ở Long Trường và ven rìa các dạng địa hình đồi cao Thủ Đức có nguồn gốc sông biển và sông
- Trầm tích Holocen giữa muộn dày 5 - 12m phân bố rộng rãi ở phía Nam và Tây Thủ Đức
Các trầm tích bãi bồi dày 3 - 5m phân bố chủ yếu trong lòng sông Đồng Nai, Nhà Bè, Sài Gòn Thành phần trầm tích gồm cát, sét, mùn thực vật
Dựa vào nguồn gốc và các đặc trưng địa tầng trên, vùng nghiên cứu thuộc vùng bồi tích lòng sông mới nên chưa ổn định Xem hình 1.7
Đặc điểm địa chất công trình tại một số khu vực điển hình hạ lưu hệ thống sông
Đồng Nai – Sài Gòn
Dựa vào số liệu thống kê cho thấy các đặc trưng cơ lí của các lớp đất mà đoạn sông nghiên cứu Dòng chảy của cả hai sông đều đi qua mặt cắt địa chất có địa tầng thuộc tuổi Holocen chiếm tỷ trọng lớn, địa hình khá bằng phẳng, chênh lệch giữa cao
độ địa hình và mực nước chuẩn không lớn bề mặt địa hình được phủ toàn bộ là đất phù
sa trẻ tuổi (Holocen) trên bề mặt địa hình hầu như không có phù sa cổ Đất tạo nên bề mặt địa hình là đất yếu, có cường độ chịu lực thấp, dễ biến dạng
Cấu trúc địa mạo của sông Sài Gòn là địa mạo bào mòn, tích tụ Toàn bộ tuyến sông Sài Gòn - Cần Giờ theo điều kiện địa chất được phân thành các đoạn sau:
• Đoạn sông Sài Gòn từ rạch Bến Nghé - rạch Bơm Cụt: nằm trong khu vực địa chất địa mạo thềm sông, địa hình thấp và bằng phẳng có nơi trũng ngập, nhiều sông rạch
Đất sét hoặc sét cát trạng thái dẻo mềm đến dẻo nhão, dày 10 -30m trở lên
• Đoạn sông từ rạch Bơm Cụt đến mũi Đèn đỏ: Tả ngạn thuộc khu vực địa chất 1, hữu ngạn thuộc khu vực địa chất 2 - địa mạo dạng bãi bồi sông, nhiều diện tích trũng ngập, nhiều sông rạch chia cắt - sét dẻo mềm và dẻo nhão, dày 10 -30m trở lên
• Từ mũi Đèn đỏ đến mũi Cần Giờ: Thuộc khu vực địa chất 5 - địa mạo dạng đồng bằng thấp ven biển, trũng ngập, sông rạch rất phát triển chia cắt mãnh liệt - sét dẽo nhão và sét bùn dày trên 20m
Trang 39• Phía sông Cá Gấu ra biển: thuộc vùng 1’- địa mạo thềm tích tụ ven biển, phân bố hẹp, tương đối bằng phẳng - cát sét hoặc cát sét dày khoảng 5m, bên dưới là sét dẽo mềm
Theo tài liệu cụ thể của các hố khoan địa chất tại các vùng: khu vực cầu Bình Phước, cầu Bình Triệu, bán đảo Thanh Đa (An Phú, An Khánh), kho 18 Tân Thuận
Đông (cảng Sài Gòn), nhà máy ximăng lưới thép Cát Lái, nhà máy đường Khánh Hội, kho B của Tổng kho xăng Nhà Bè, cầu Rạch Lá, cầu Rạch Đôn, cầu Lôi Giang, cầu Dần Xây, cầu Hào Võ, hội trường UBND huyện Cần Giờ được trình bày ở phụ lục II cho thấy: tầng trầm tích Holoxen bao phủ trên toàn vùng dọc theo sông từ Nhà Bè - Duyên Hải Chiều dày lớn nhất của tầng trầm tích Holoxen thay đổi 20 - 30m Sự phân
bố các lớp đất trong phạm vi độ sâu 30m của tầng trầm tích Holoxen không giống nhau Tùy từng nơi trong nền đất có các lớp bùn sét, bùn á sét, bùn á cát, sét á cát, cát mịn, cát lẫn sỏi sạn Nhìn chung phân bố ở trên mặt là lớp bùn sét, bùn á sét, màu xám
đen, xanh đen, ở trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng, có nơi lại xen kẽ lớp bùn, lớp sét, lớp bùn ở khu vực cầu Hào Võ lớp bùn mỏng hơn, và trong nền có lớp cát mịn, cát thô lẫn sỏi sạn
Hình 1.7: Bản đồ địa chất khu vực Tp.Hồ Chí Minh
b) Đặc điểm địa chất công trình tại một số vị trí điển hình.
* Khu vực thành phố Biên Hoà(sông Đồng Nai) – tỉnh Đồng Nai:
Trang 40Chuyên đề 1: Tổng quan điều kiện tự nhiên - Kinh tế x∙ hội liên quan đến biến đổi lòng dẫn HDSĐNSG
Theo kết quả khảo sát địa chất công trình tại 15 hố khoan do Viện Khoa học Thuỷ lợi Miền Nam thực hiện, mỗi hố sâu 20m, khu vực xung quanh cù lao Phố, khu vực cầu Sài Gòn, Tp.Biên Hoà– Đồng Nai thấy có các lớp sau : Xem hình 1.8 & 1.9
Tại bờ phải sông Đồng Nai từ đầu cù lao Phố đến cầu Đồng Nai: (Xem hình
1.9a)
+ Lớp 1: Bùn sét màu xám đen, xám tro xuất hiện ở các hố khoan HK2,HK15 Tại HK15, phía trên của lớp có nhiều than bùn, trong lớp lẫn nhiều chất hữu cơ ch−a phân huỷ
+ Lớp 3 : á sét xám xanh lẫn nâu vàng laterit phong hoá, trạng thái từ nửa cứng
đến dẻo cứng Xuất hiện tại các hố khoan, HK13, HK1
Tại cù lao Phố: (Xem hình 1.9b)
+ Lớp 1: Bùn sét màu xám đen, xám tro xuất hiện ở các hố khoan HK2,HK15 Tại HK15, phía trên của lớp có nhiều than bùn, trong lớp lẫn nhiều chất hữu cơ ch−a phân huỷ