Luận văn Thạc sĩ Luật học: Các tội phạm tình dục theo quy định của Luật Hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới trình bày về quy định của bộ Luật Hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội phạm tình dục; quy định của bộ Luật Hình sự một số nước trên thế giới về các tội phạm tình dục và phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về nhóm tội này.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ NGỌC BÍCH
CÁC TỘI PHẠM TÌNH DỤC THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2016
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sựBLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự TNHS : Trách nhiệm hình sựCTTP : Cấu thành tội phạmTANDTC : Tòa án nhân dân tối caoNxb : Nhà xuất bản
CHND : Cộng hòa nhân dân
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế cùng với việc đẩy mạnh quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực, sự phát triển
Trang 3kinh tế - xã hội ngày càng được cải thiện, đời sống nhân dân ngày được nâng cao.Tuy nhiên, bên cạnh đó, hiện tượng tội phạm ngày càng gia tăng gây nhức nhốitrong xã hội, một trong số đó là vấn đề các tội xâm phạm tình dục có xu hướng
diễn biến hết sức phức tạp, gây quan ngại đối với toàn thể xã hội Đây không chỉ là
vấn nạn ở Việt Nam mà còn là vấn nạn ở nhiều nơi trên thế giới Theo thống kê củaTòa án nhân dân tối cao, trên phạm vi toàn quốc, ngành tòa án đã xét xử trong năm
2011 là 1.352 vụ về các tội phạm tình dục với 1.568 bị cáo; năm 2012 đã xét xử1.604 vụ với 1.864 bị cáo; năm 2013 đã xét xử 1.903 vụ với 2.140 bị cáo; năm 2014
đã xét xử 2.107 vụ về với 2.393 bị cáo; năm 2015 đã xét xử 1.846 vụ với 2.012 bịcáo Số liệu này cho thấy, giai đoạn từ năm 2011 – 2014 số vụ và số bị cáo bị đưa raxét xử về các tội phạm tình dục đều tăng liên tục Riêng năm 2015 số vụ và bị cáođưa ra xét xử về các tội phạm này có sự giảm nhẹ, song không đáng kể Như vậy, có
thể thấy tội phạm về tình dục ở nước ta rất đáng lo ngại Mặt khác,“Theo Quỹ Nhi
đồng Liên Hiệp Quốc (Unicef), trên toàn thế giới, 1/5 nữ giới và 1/7 nam giới đã từng bị xâm hại tình dục, 9% đến 25% trẻ em ở khu vực Châu Á đã phải chịu đựng nhiều mức độ xâm hại thể chất khác nhau, theo khảo sát 30% cả bé trai và bé gái
đã từng phải chịu đựng cưỡng bức tình dục…” 1
Để đấu tranh phòng chống tội phạm tình dục, nhà nước cần tiến hành đồng
bộ các biện pháp khác nhau, trong đó, biện pháp hình sự đóng vai trò vô cùng quantrọng BLHS năm 1999 (BLHS hiện hành) quy định về các tội phạm về tình dục đãgóp phần quan trọng vào đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Tuy nhiên, theothời gian, xã hội Việt Nam ngày càng biến đổi hết sức nhanh chóng, Bộ luật này đãbộc lộ những bất cập nhất định Những bất cập, tồn tại này cũng ảnh hưởng nhấtđịnh đến việc áp dụng BLHS trên thực tế Bên cạnh đó, trong xu thế hội nhập quốc
tế, nghiên cứu so sánh với quy định của pháp luật hình sự nước ngoài, từ đó học tậpkinh nghiệm về lập pháp hình sự nhằm hoàn thiện luật là rất cần thiết Do đó, vấn
đề đặt ra là cần nghiên cứu một cách toàn diện quy định của BLHS hiện hành về cáctội phạm tình dục, nghiên cứu, học tập kinh nghiệm lập pháp hình sự của nướcngoài, chỉ rõ những bất cập của BLHS hiện hành cần phải sửa đổi, bổ sung, đề xuấtcác giải pháp khắc phục nhằm làm cho các quy định này ngày càng hoàn thiện Bên
1 Xem
Trang 4http://canhsatnhandan.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1629/Dac-diem-cua-nan-nhan-trong-cac-vu-cạnh đó, BLHS năm 2015 tuy đã được Quốc hội thông qua, nhưng chưa có hiệu lực.
Do vậy, việc tìm ra những bất cập của Bộ luật này để phục vụ cho việc ban hànhLuật sửa đổi, bổ sung sắp tới là rất thiết thực Với lí do trên, tác giả đã chọn và
nghiên cứu đề tài: “Các tội phạm tình dục theo quy định của luật hình sự Việt Nam
và một số nước trên thế giới” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các tội xâm phạm tình dục là một vấn đề luôn dành được nhiều sự quan tâm,nghiên cứu của các nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn Một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài này bao gồm:
* Luận văn thạc sĩ gồm có:
- “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh
phòng chống loại tội phạm này”, Tác giả Trịnh Thị Thu Hương, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004;
- “Tội giao cấu với trẻ em theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành”, tác
giả Trần Thùy Chi, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011;
- “Tội hiếp dâm – so sánh giữa Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự
một số nước”, tác giả Bùi Thị Quyên, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, 2013
* Sách chuyên khảo gồm có:
+ “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”,
tác giả Trần Văn Luyện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000;
*Bài viết trên tạp chí gồm có:
+ “Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, tác giả Dương
Tuyết Miên, Tạp chí Luật học, số 06, năm 1998;
+“Một số ý kiến khi áp dụng tình tiết định khung “Nhiều người hiếp một người”, tác giả Nguyễn Thị Tuyết, Tạp chí Toà án nhân dân, số 03/1999;
+ “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người – so sánh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985”, tác giả Nguyễn Ngọc Hoà, Tạp
chí Luật học số 1, năm 2001;
Trang 5+ “Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân
phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật Hình sự năm 1999”, tác giả Trần Văn
Luyện, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, năm 2001;
+“Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm tình
dục trẻ em”, Tác giả Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Toà án nhân dân, số 12/2002;
+“Về tội hiếp dâm quy định tại Điều 111 Bộ luật hình sự”, Tác giả Nguyễn
Hiển Khanh,Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2004;
+“Luật hình sự Việt Nam nhìn từ góc độ tiếp cận giới”, tác giả Nguyễn
Tuyết Mai, Tạp chí Luật học, số 03/2007;
+“Một vài ý kiến trao đổi về tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 Bộ luật hình sự”, tác giả Đỗ Việt Cường, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2008;
+ “Trao đổi về tội hiếp dâm theo Điều 111 Bộ luật hình sự”, tác giả Đỗ Xuân
Nam, Tạp chí Kiểm sát, số 07/2009;
+ “Những bất cập và phương hướng hoàn thiện quy định về một số tội xâm
phạm nhân phẩm của con người trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999”, tác giả
Phạm Văn Báu, Tạp chí Luật học, số 01/2010;
+ “Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm
nhân phẩm, danh dự của con người”, tác giả Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 08 (169) năm 2010;
+ “Một số ý kiến trao đổi về tội giao cấu với trẻ em”, tác giả Phạm Văn Nhớ,
Tạp chí Kiểm sát, số 11/2010;
+ “Bàn về một số dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm”, Tác giả Bùi Thị
Quyên, Tạp chí Toà án nhân dân, số 23/2012;
+ “So sánh dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm trong Bộ luật hình sự Việt
Nam hiện hành với Bộ luật hình sự của một số nuớc và một số kiến nghị”, tác giả
Dương Tuyết Miên, Bùi Thị Quyên, Tạp chí Toà án nhân dân, số 7/2013;
+ “Truy cứu trách nhiệm hình sự tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em – khó khăn,
vướng mắc và kiến nghị”, tác giả Hoàng Quảng Lực, Tạp chí Toà án nhân dân, số
13/2014;
Trang 6+ “Một số vướng mắc trong xét xử trường hợp phạm tội hiếp dâm trẻ em
chưa đủ 13 tuổi có tính chất loạn luân”, Tác giả Vũ Hải Anh, Tạp chí Nghề Luật,
số 01/2015;
+ “Về quy định đối với các tội hiếp dâm - hiếp dâm trẻ em”, Tác giả Trần Hà
Bảo Khuyên, Tạp chí Toà án nhân dân, số 11/2015;
+“Bình luận về các tội phạm về tình dục trong chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số chuyên
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự 2015
+ “Một số điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 về nhóm các tội phạm tình dục”, tác giả Vũ Hải Anh, tạp chí Nghề luật, sô 3/2016.
Ngoài ra, các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đề cập đến
nhóm các tội xâm phạm tình dục như: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, tập 1 của Trường ĐH Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; Giáo trình Luật Hình
sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
2007; Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Học viện Cảnh sát
nhân dân, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, năm 2012 Một số sách bình luận khoa học
về BLHS cũng đề cập đến nhóm tội này…
Các công trình trên ở các mức độ khác nhau đã làm rõ về vấn đề lí luận cũngnhư thực tiễn áp dụng, vướng mắc ở một sô tội phạm tình dục hoặc một tội nhất định.Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về các tội phạm tình dục theoBLHS năm 1999 có so sánh với BLHS một số nước trên thế giới, đồng thời cũng có sựliên hệ đánh giá quy định tương ứng của BLHS năm 2015, đề xuất những giải pháp gópphần hoàn thiện quy định của các Bộ luật này Vì lí do đó, việc tác giả lựa chọn đề tài
“Các tội phạm tình dục theo quy định của Luật hình sự Việt Nam và một số nước trên thế giới” là hoàn toàn cần thiết.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một cách có hệ thống và toàndiện những quy định của BLHS Việt Nam hiện hành, có sự liên hệ, đánh giá vớiBLHS năm 2015 và BLHS của một số nước trên thế giới về các tội phạm tình dục
Trang 7Do BLHS hiện hành (BLHS năm 1999) vẫn đang được áp dụng, do vậy, tác giả sẽ
đề xuất những giải pháp hoàn thiện luật Bộ luật hiện hành trên cơ sở chỉ ra nhữngbất cập của Bộ luật này Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 tuy đã được Quốc hội thôngqua nhưng đã bị lùi hiệu lực do phát hiện có một số sai sót, do vậy, tác giả cũng sẽnghiên cứu BLHS năm 2015, đề xuất giải pháp hoàn thiện trên cơ sở đánh giá bấtcập của bộ luật này, từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động đấu tranhchống và phòng ngừa tội phạm tình dục trên thực tế
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả đặt ra những nhiệm vụ sau:
- Phân tích các dấu hiệu định tội, đường lối xử lý của các tội xâm phạm tình dụctheo BLHS năm 1999, tìm ra những bất cập của Bộ luật này khi quy định về các tộitrên;
- Đánh giá quy định của BLHS năm 2015 đối với các tội xâm phạm tình dục, chỉ
ra những điểm mới cũng như những bất cập còn tồn tại;
- Phân tích các dấu hiệu định tội, đường lối xử lý đối với các tội phạm tìnhdục của BLHS một số nước Qua đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho nước ta trongviệc quy định về các tội phạm tình dục
- Tìm ra được giải pháp hoàn thiện BLHS năm 1999 và đặc biệt là BLHSnăm 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của BLHS Việt Nam năm
1999, BLHS năm 2015 đối với các tội phạm tình dục Bên cạnh đó, luận văn cũngnghiên cứu qui định của BLHS của một số nước trên thế giới về các tội phạm tình dục
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự Tác giả tập trung nghiêncứu quy định của BLHS năm 1999 về các tội phạm tình dục Bên cạnh đó, tác giảcũng liên hệ đánh giá về quy định của BLHS năm 2015 về nhóm tội này
Tác giả cũng có nghiên cứu quy định của BLHS một số nước (Liên bangNga, Trung Quốc) về các tội phạm tình dục
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 8Phương pháp luận tác giả sử dụng nghiên cứu luận văn là phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh,các quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về hình sự và cải cách tư pháp
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp phân tích, sosánh, tổng hợp…
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng chữ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội phạm
tình dục
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới về các tội
phạm tình dục và phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về nhóm tộinày
CHƯƠNG 1 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
VỀ CÁC TỘI PHẠM TÌNH DỤC
Trang 9Các tội xâm phạm tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người (trong đó chủ yếu là phụ nữ) 2
Trong phạm vi chương 1, tác giả sẽ phân tích quy định của BLHS Việt Namhiện hành (BLHS năm 1999) về dấu hiệu định tội, đường lối xử lý đối với các tộixâm phạm tình dục, đồng thời chỉ ra bất cập còn tồn tại của Bộ luật này
BLHS hiện hành quy định 7 Điều luật về các tội phạm tình dục Đó là cáctội:
- Tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS);
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS);
- Tội cưỡng dâm (Điều 113 BLHS);
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS);
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS);
- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS);
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS)
Sau đây, tác giả sẽ phân tích cụ thể từng tội danh
1.1 Tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em (Điều 111, Điều 112 BLHS)
1.1.1 Dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em
*Tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS)
Căn cứ khoản 1 Điều 111 BLHS có thể hiểu: “Tội hiếp dâm là hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ” 3
Khách thể của tội hiếp dâm là quyền bất khả xâm phạm về tình dục củangười phụ nữ Đây là một quyền hết sức quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo
vệ Do đó, bất kì hành vi xâm phạm tình dục nào cũng là vi phạm pháp luật và đềuphải chịu sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật
Chủ thể của tội phạm theo Luật hình sự Việt Nam phải là người có năng lựctrách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu TNHS Thực tiễn xét xử ở Việt Nam từ trước
2 Xem Dương Tuyết Miên, Về các tội phạm tình dục trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số
6/1998, tr44.
3 Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà
Trang 10đến nay đều thừa nhận chủ thể của tội hiếp dâm là chủ thể đặc biệt - nam giới Nữgiới chỉ có thể tham gia trong vụ đồng phạm hiếp dâm với vai trò là người xúi giục,giúp sức hay tổ chức.
Hành vi khách quan của tội hiếp dâm được mô tả ở khoản 1 Điều 111 BLHS
năm 1999 quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng
tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ …” Như vậy, hành vi khách quan của tội hiếp
dâm là hành vi giao cấu với người phụ nữ trái với ý muốn của họ bằng thủ đoạndùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạnnhân hoặc bằng thủ đoạn khác
Ví dụ: Khoảng 21h ngày 24/2/2007 (tức ngày mồng 8 tết) Luận, Doanh,May, Động đi chơi, tới gần đường rẽ vào nghĩa trang gặp đôi nam nữ thanh niên làTùng và Thu Luận, Doanh, May, Động đã chặn đôi nam nữ lại Động và May lôichị Thu về phía bờ ruộng gần đó, cả hai khống chế lột hết quần áo của chị Thu vàlần lượt thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân mặc dù nạn nhân
đã van xin xin tha (Theo Bản án số 21/2008/HSST ngày 28/10/2008 của Tòa án
nhân dân huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội).
CTTP tội hiếp dâm đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi giao cấu với nạnnhân, nhưng không đòi hỏi hành vi giao cấu phải đã kết thúc về mặt sinh lí Tội hiếpdâm là tội phạm có CTTP hình thức vì nhà làm luật chỉ mô tả dấu hiệu hành vitrong mặt khách quan và không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của CTTP
Hành vi giao cấu trái ý muốn của người phạm tội được thực hiện bằng mộttrong các thủ đoạn sau:
- Thủ đoạn dùng vũ lực là dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của
nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, vật ngã, túm tóc, bóp cổ, trói, đánh,đấm, đá, đạp…
- Thủ đoạn đe dọa dùng vũ lực là làm cho ý chí của người phụ nữ bị tê liệt,
buộc họ phải chịu sự giao cấu mà không dám kháng cự như dọa giết, dọa gâythương tích cho nạn nhân
- Thủ đoạn lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là lợi
dụng người phụ nữ vì lý do nào đó không thể chống cự được hành vi giao cấu trái
Trang 11với ý muốn của mình như lợi dụng người phụ nữ đang trong tình trạng ốm đau, bịngất, bị bệnh tâm thần, bị tàn tật…
- Thủ đoạn khác là những thủ đoạn (ngoài ba thủ đoạn trên) giúp cho người
phạm tội có thể thực hiện được việc giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ Theothực tiễn xét xử, những thủ đoạn này có thể là lợi dụng người phụ nữ đang trongtình trạng không có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn như say rượu, bị cho sử dụngcác chất ma túy gây ảo giác, bị dùng chất kích dục… Tình trạng này có thể do hoặckhông do người phạm tội gây ra Do không thể bao quát được hết các thủ đoạn màngười phạm tội sử dụng để thực hiện việc giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân,nhà làm luật quy định về “thủ đoạn khác” là cần thiết tránh việc bỏ lọt tội phạm
Đối với đa phần các tội phạm về tình dục, người phạm tội đều có hành vigiao cấu Trong đó, hành vi giao cấu ở các tội này chỉ khác nhau ở thái độ của nạnnhân đối với hành vi Theo đó, thái độ của nạn nhân đối với hành vi giao cấu củangười phạm tội ở tội hiếp dâm là trái ý muốn (tội cưỡng dâm là miễn cưỡng, tộigiao cấu với trẻ em là thuận tình) Vì vậy, nội hàm của khái niệm giao cấu có thểđược xác định chung cho những tội luật có quy định về hành vi giao cấu
Cho đến nay, ở nước ta chỉ có một văn bản duy nhất mô tả cụ thể thế nào làhành vi giao cấu Đó là Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm vàmột số tội phạm khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của TANDTC
Văn bản này đã định nghĩa giao cấu là: “sự cọ sát trực tiếp dương vật vào bộ phận
sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn sâu vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không” 4 Cách định nghĩa tại văn bản này ở thời điểm ra đời đã thể hiện quan điểm
rất tiến bộ, góp phần bảo vệ tốt hơn danh dự, nhân phẩm của nữ giới “Tuy nhiên,
hiện nay hành vi tình dục của con người ngày càng đa dạng, không chỉ nhằm mục đích sinh sản mà còn nhằm đem lại những khoái cảm bằng nhiều hình thức khác nhau Vì thế, hành vi tình dục không chỉ diễn ra ở bộ phận sinh dục mà còn có thể diễn ra ở bộ phận khác trên cơ thể” 5 Do đó, xuất phát từ mục đích bảo vệ quyềnbất khả xâm phạm về tình dục không nên bó hẹp khái niệm giao cấu ở “sự cọ sát
4 Xem Tòa án nhân dân tối cao, Hệ thống hóa các văn bản về hình sự, Hà Nội, năm 1975, trang 389
5Xem Bùi Thị Quyên, Bàn về một số dấu hiệu pháp lý của tội hiếp dâm, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
Trang 12dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ ” vì trong các trường hợp nhưnam giới đưa dương vật vào miệng hoặc hậu môn của nữ giới hoặc trường hợp namgiới đưa miệng, tay, vật thể vào âm hộ hoặc hậu môn của phụ nữ thì quyền bấtkhả xâm phạm về tình dục của nữ giới cũng đã bị xâm hại Hoặc trong nhiều trườnghợp hành vi của người phạm tội về bản chất đã xâm phạm đến quyền bất khả xâmphạm về tình dục của nạn nhân, khiến nạn nhân tổn thương sâu sắc nhưng lại không
bị xử lý hình sự hoặc bị xử lý về tội nhẹ hơn tội hiếp dâm “Thực tế ở Việt Nam đãxảy ra trường hợp nam giới dùng vũ lực có hành vi đưa dụng cụ tình dục, tay vào
âm đạo nạn nhân trái ý muốn của nạn nhân nhưng lại xử về tội làm nhục người
khác” 6 trong khi thực chất hành vi này là phạm tội hiếp dâm theo quy định củanhiều nước trên thế giới Như vậy, rõ ràng việc quy định nội hàm của hành vi giaocấu theo cách hiểu truyền thống như hiện nay không còn phù hợp với thực tiễn, dẫnđến việc xử lý chưa nghiêm minh, bỏ lọt tội phạm Cho nên, theo tác giả cần coinhững trường hợp nêu trên thuộc nội hàm của giao cấu và khái niệm giao cấu cầnphải được mở rộng để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tình hình tội phạm hiện này.Mặt khác, chuẩn mực quốc tế khi đề cập đến tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ
em cũng xác định giao cấu theo nghĩa rộng Công ước của Hội đồng Châu Âu đã
mô tả về hành vi giao cấu của tội hiếp dâm cũng như hiếp dâm trẻ em là: hành vithực hiện một cách có chủ ý thuộc một trong các trường hợp: “a) ép buộc quan hệtình dục bằng cách thâm nhập âm đạo, hậu môn hay bằng miệng của người khácbằng bất kì bộ phận nào của cơ thể hay bằng bất kì vật thể nào mà không được sựđồng ý của nạn nhân, b)ép buộc thực hiện quan hệ tình dục với người khác màkhông được sự đồng ý của họ, c) ép buộc người khác quan hệ tình dục với ngườithứ ba mà không có sự đồng ý của người đó.”7
Hành vi giao cấu chỉ bị coi là phạm tội hiếp dâm khi được thực hiện trái với
ý muốn của nạn nhân Thái độ trái ý muốn xảy ra khi người phụ nữ không chấpnhận sự giao cấu hoặc hành vi giao cấu xảy ra không có ý muốn của người phụ nữ( họ đang trong tình trạng không thể biểu lộ ý chí đúng đắn) Biểu hiện của thái độ
6 Xem Dương Tuyết Miên, Bình luận về các tội phạm về tình dục trong chương các tội xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người trong dự thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi), Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, Số chuyên Sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự/2015, tr131
7 Xem “Nghiên cứu các chuẩn mực quốc tế về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ”, Tài liệu do UN Women và
UNODC phát hành, Bản tiếng Việt, tháng 12/2014.
Trang 13trái ý muốn là người phụ nữ chống cự, khóc lóc, van xin, kêu cứu… Vấn đề đặt ra
là thái độ trái ý muốn của người phụ nữ xảy ra vào thời điểm nào thì hành vi giaocấu của nam giới bị coi là phạm tội hiếp dâm? Hiện chưa có một văn bản pháp luật
nào ở nước ta quy định về vấn đề này “Ở một số nước như Anh, Australia, Xcolen,
xứ Uên, pháp luật quy định rõ thái độ trái ý muốn của người phụ nữ phải xảy ra trước khi có hành vi giao cấu Nếu người đàn ông đang giao cấu, người phụ nữ mới biểu lộ thái độ trái ý muốn thì trường hợp này người đàn ông không phạm tội hiếp dâm, vì thái độ trái ý muốn của người phụ nữ không phải là trái ý muốn thực sự” 8
Tác giả đồng ý với ý kiến trên Hành vi giao cấu chỉ bị coi là trái ý muốn nạn nhânkhi người phụ nữ thể hiện thái độ trái ý muốn trước khi nam giới thực hiện hành vinày Như vậy mới thể hiện được thái độ trái ý muốn thực sự của người phụ nữ
Lỗi của người phạm tội hiếp dâm là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biếthành vi giao cấu của mình là trái với ý muốn của người phụ nữ nhưng vẫn mongmuốn thực hiện hành vi đó bằng việc sử dụng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũlực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác
Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự đã từng có một số vụ án gây tranh luậncủa giới chuyên môn liên quan đến việc giao cấu trái ý muốn người chuyển giớibằng một trong các thủ đoạn nói trên Tác giả xin nêu vụ án điển hình Nguyễn VănTình, Phạm Văn Ánh và Lê Quang Toản sau khi nhậu xong trở về nhà thì đã 11h30đêm Đến khu vực ngoại ô của thành phố Đồng Hới, bọn chúng nhìn thấy một phụ
nữ đang đi một mình vừa đi vừa khóc Cả ba tên đã bắt người phụ nữ lên xe máyđưa đến cánh đồng vắng và dùng vũ lực thay nhau làm nhục nạn nhân, mặc cho nạnnhân khóc lóc, van xin Sau đó, bọn chúng để mặc nạn nhân một mình trên cánhđồng vắng và bỏ đi Sau đó, nạn nhân đã đến đồn công an trình báo Cơ quan điềutra xác minh nạn nhân gốc là nam giới nhưng đã phẫu thuật chuyển giới (giấy tờvẫn tên là nam giới, nhưng cơ thể thì đã phẫu thuật chuyển giới) Cơ quan điều tracũng đã tìm hiểu và đã xác minh ba tên Tình, Ánh và Toản khi xâm hại tình dục nạnnhân, bọn chúng đều không biết nạn nhân gốc là nam giới mà vẫn nghĩ đó là phụ nữ
8 Xem Dương Tuyết Miên, Về các tội phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số
Trang 14(nạn nhân có âm đạo nhân tạo)9 Vụ án này dẫn đến tranh luận giữa các cơ quan tiếnhành tố tụng
Quan điểm thứ nhất cho rằng, do nạn nhân trên giấy tờ thể hiện là nam giới,gốc gác là nam giới, do vậy, không xử lí hình sự ba tên Tình, Ánh và Toản về tộihiếp dâm được vì nạn nhân của tội này phải là nữ giới
Quan điểm thứ hai cho rằng vẫn xử lí hình sự ba tên Tình, Ánh, Toản được
vì cả 3 tên này khi xâm hại tình dục nạn nhân đã sử dụng thủ đoạn dùng vũ lực vàgiao cấu trái ý muốn nạn nhân, 3 tên này khi giao cấu trái ý muốn nạn nhân vẫnnghĩ rằng đó là phụ nữ, không biết đó là người chuyển giới
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai bởi lẽ, trong khoa học luật hình sự có
đề cập đến trường hợp chưa đạt vô hiệu “Chưa đạt vô hiệu là trường hợp phạm tội
chưa đạt mà nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với công cụ, phương tiện, với đối tượng tác động của tội phạm”10 Trường hợp chưa đạt vô hiệu có liênquan đến đối tượng tác động của tội phạm thực chất là trường hợp sai lầm về đốitượng tác động Đó là trường hợp đối tượng tác động không có tính chất hoặc đặcđiểm nhất định mà người phạm tội tưởng lầm là có Trường hợp nói trên, ba tênTình, Ánh, Toản khi xâm hại nạn nhân đã lầm tưởng nạn nhân là phụ nữ và bọnchúng đã giao cấu trái ý muốn với nạn nhân bằng thủ đoạn dùng vũ lực, bọn chúngkhông biết nạn nhân là nam giới đã làm phẫu thuật chuyển giới Bọn chúng đã lầmtưởng nạn nhân là phụ nữ thực sự (do đặc điểm cơ thể của người chuyển giới từnam sang nữ giống như phụ nữ thực sự), do vậy, phải xác định 3 tên Tình, Ánh,Toản phạm tội hiếp dâm mới đúng (thuộc trường hợp chưa đạt vô hiệu) Vì vậy, tác
giả đồng tình với quan điểm: “Các bị can đã nhầm đối tượng tác động Trong ý chí
chủ quan của các bị can đã xác định nạn nhân là nữ nên mới hiếp ” 11
*Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS)
Căn cứ theo khoản 1 Điều 112 và Điều 111 BLHS có thể hiểu tội hiếp dâm
trẻ em là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không
9 Xem bài viết “Hiếp dâm tập thể người chuyển giới, 5 năm vẫn chưa xử được”, tại nguồn
http://baodatviet.vn/phap-luat/hiep-dam-tap-the-nguoi-chuyen-gioi-5-nam-chua-xu-duoc-3051427/ truy cập ngày 15/7/2016
2006, trang 159.
11 Xem bài viết “Hiếp dâm tập thể người chuyển giới, 5 năm vẫn chưa xử được”, tại nguồn
http://baodatviet.vn/phap-luat/hiep-dam-tap-the-nguoi-chuyen-gioi-5-nam-chua-xu-duoc-3051427/ truy cập ngày 15/7/2016
Trang 15thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ hoặc lợi dụng tình trạng không có khả năng thể hiện ý chí đúng đắn của trẻ em dưới 13 tuổi để giao cấu với họ.
Tội hiếp dâm trẻ em xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ làquyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đồng thời,hành vi hiếp dâm trẻ em còn xâm phạm đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lýcủa trẻ em, làm băng hoại các giá trị đạo đức xã hội, gây nên sự bất bình trong nhândân Ngoài ra, hành vi hiếp dâm trẻ em còn có thể gây ra những tổn thương về sứckhỏe và có trường hợp có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ
Tội hiếp dâm trẻ em là một trường hợp đặc biệt của tội hiếp dâm Trước đây,tội hiếp dâm trẻ em là một khung tăng nặng của tội hiếp dâm nhưng sau đó đượcnhà làm luật tách ra thành tội độc lập nhằm thể hiện chính sách hình sự nghiêmkhắc đối với hành vi phạm tội này cũng như nhằm bảo vệ trẻ em được tốt hơn, vì lẽ
đó, BLHS năm 1999 đã không mô tả lại dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm trẻ emtại Điều 112 Vì vậy, khi nghiên cứu về tội phạm này, những điểm giống nhau vớitội hiếp dâm tác giả sẽ không trình bày lại mà chỉ tập trung phân tích điểm khác biệtcủa tội hiếp dâm trẻ em so với tội hiếp dâm Điểm khác biệt lớn nhất của hai tội này
đó là về đối tượng tác động
Đối tượng tác động của tội hiếp dâm trẻ em là trẻ em gái dưới 16 tuổi, cònđối tượng tác động của tội hiếp dâm là phụ nữ, tức là người từ đủ 16 tuổi trở lên.Điều 112 BLHS đã chia nạn nhân của tội hiếp dâm trẻ em làm hai trường hợp, cụthể:
+ Đối với trường hợp đối tượng bị xâm hại tình dục là người từ đủ 13 tuổi
đến dưới 16 tuổi: Điều 112 BLHS năm 1999 quy định: “Người nào hiếp dâm trẻ
em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm”.
Mặc dù, Điều luật không quy định rõ nhưng ở đây có thể hiểu người phạm tội đã cóhành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16tuổi bằng thủ đoạn dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể
tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác Như vậy, BLHS hiện hành quy địnhthái độ của trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với hành vi giao cấu của người
Trang 16phạm tội là “trái ý muốn” và quy định này giống với hành vi phạm tội ở tội hiếpdâm.
Ví dụ: Nhờ quen biết nên Sáng xin được số điện thoại của My (15 tuổi), mụcđích để rủ My đi chơi Khoảng 21 giờ 30 phút Sáng rủ My ra bờ ao chơi, My đồng
ý Ngồi nói chuyện một lúc, Sáng quay lại ôm My, My giằng co với Sáng, van xinSáng bỏ ra và cho My về Nhưng Sáng không nghe rồi vật My xuống bên đường
cạnh đống rơm của thôn Hưng Nông và hiếp dâm My (Bản án số 01/2014/HSST
ngày 10/01/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội)
+ Đối với trường hợp đối tượng bị xâm hại tình dục là trẻ em dưới 13 tuổi:
khoản 4 Điều 112 BLHS quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ
13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em…” Như vậy, có nghĩa là bất kể hành vi giao
cấu với trẻ em dưới 13 tuổi cho dù nạn nhân có trái ý muốn hay được sự đồng ý củanạn nhân đều coi là hành vi hiếp dâm trẻ em Quy định này xuất phát từ cơ sở khoahọc cho rằng ở độ tuổi dưới 13 tuổi, trẻ em nhận thức còn non nớt, chưa có khảnăng biểu hiện ý chí đúng đắn, dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, rủ rê Do đó, cóthể coi đây là một thủ đoạn của tội hiếp dâm trẻ em – thủ đoạn lợi dụng tình trạngkhông thể biểu lộ ý chí đúng đắn của người dưới 13 tuổi Quy định của Điều luậtcho thấy rằng hành vi giao cấu đối với nạn nhân càng nhỏ tuổi thì tính nguy hiểmcho xã hội càng lớn và pháp luật cần phải bảo vệ một cách nghiêm khắc hơn
Ví dụ: Do là bạn thân nên Nguyễn Văn Điệp thường đến nhà Hoàng VănThắng chơi và ngủ lại qua đêm Từ đó, giữa Điệp và cháu Hoàng Thị Hạnh (12tuổi, cháu của Thắng) nảy sinh tình cảm Cuối tháng 8/2015, khi đến nhà bạn chơi,thấy Hạnh ở nhà một mình nên Điệp nảy sinh ý định giao cấu và đã dụ dỗ Hạnh vàophòng và đồng ý cho Điệp quan hệ tình dục Sau lần đó, Điệp tiếp tục quan hệ tình
dục với cháu Hạnh thêm nhiều lần nữa (Bản án HSTT số 94/2015 ngày 14/12/2015
của tòa án nhân dân tỉnh Đắc Lắc).
Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm trẻ em với lỗi cố ý trực tiếp Tuynhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định, chứng minh ý thức chủ quancủa người phạm tội hiếp dâm trẻ em đối với trường hợp trẻ em ở lứa tuổi giáp ranhgiữa trẻ em và người thành niên còn phức tạp Cụ thể, ở độ tuổi này nhiều em gái đãdậy thì nên có bề ngoài cao lớn như thanh niên, xử sự giống người lớn Mặt khác,
Trang 17bản thân nạn nhân có thể cố tình che giấu độ tuổi thật của mình làm cho ngườiphạm tội lầm tưởng là người đã thành niên và thực hiện hành vi giao cấu với các
em Do vậy, quá trình áp dụng luật đòi hỏi các cán bộ áp dụng luật phải nghiên cứu
kĩ hồ sơ vụ án, nắm vững quy định của luật để đảm bảo áp dụng chính xác
Tóm lại, qua việc nghiên cứu dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm, tội hiếp
dâm trẻ em theo quy định tại Điều 111, Điều 112 BLHS năm 1999, tác giả nhậnthấy vẫn còn tồn tại bất cập Cụ thể:
Thứ nhất, nội hàm của giao cấu hiện nay còn quá hẹp và chỉ hiểu theo cách
truyền thống “giao cấu là sự cọ sát dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ
nữ ” Do quan niệm về nội hàm của giao cấu quá hẹp nên đã dẫn đến hệ lụy là
nhiều trường hợp, hành vi của người phạm tội về bản chất là phạm tội hiếp dâmnhưng lại không bị xử lý hình sự về tội này hoặc bị xử lý về tội nhẹ hơn Do xã hộingày càng phát triển, sự giao lưu với văn hóa phương Tây ngày càng mở rộng thìhành vi giao cấu ở Việt Nam ngày càng đa dạng, phức tạp, vì vậy, để đảm bảo xử líhình sự nghiêm minh thì nội hàm của giao cấu cần được mở rộng và quy định cụ thểngay trong luật Qua đó, góp phần quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tộiphạm về tình dục, nhằm giảm đáng kể tội phạm này, tránh bỏ lọt tội phạm
Thứ hai, nhà làm luật không mô tả dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm trẻ em
trong Điều 112 mà trên thực tế, nội dung này được hiểu và áp dụng giống như ở tộihiếp dâm Tuy nhiên, để thuận lợi cho cơ quan áp dụng luật và đảm bảo nguyên tắc
“công khai, minh bạch” trong quy định, nhà làm luật cần mô tả rõ dấu hiệu định tộicủa tội này trong Điều 112, không nên hành văn chung chung như quy định củaBLHS hiện hành
1.1.2 Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em
*Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm
Thể hiện đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm, BLHS quy định 4 khung hìnhphạt khác nhau được phép áp dụng cho tội này với mức hình phạt thấp nhất là 02năm tù và hình phạt cao nhất là tù chung thân
Khung cơ bản có 2 mức Mức phạt tù từ 2 năm đến 7 năm được áp dụng chotrường hợp phạm tội không có tình tiết định khung tăng nặng và nạn nhân là ngườithành niên Mức phạt tù từ 5 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm
Trang 18tội không có tình tiết định khung tăng nặng và nạn nhân là người chưa thành niên(đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi)
Khung tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 7 năm đến 15 năm Khung nàyđược áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiết định khungtăng nặng sau:
- Phạm tội có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 111 BLHS)
Đây là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.Trong trường hợp hiếp dâm này, tất cả những người đồng phạm đều bị áp dụng tìnhtiết tăng nặng định khung này Tuy nhiên, TNHS đối với mỗi người lại phụ thuộcvào vai trò và hành vi của họ trong vụ án
- Phạm tội đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (điểm b khoản 2 Điều 111BLHS)
Đây là trường hợp phạm tội mà giữa người phạm tội và nạn nhân có quan hệđặc biệt với nhau Trong đó, người phạm tội là người có trách nhiệm chăm sóc, giáodục, chữa bệnh cho nạn nhân Trách nhiệm này phát sinh do những cơ sở pháp líkhác nhau như: người được cơ quan, tổ chức xã hội hoặc họ hàng thân thích giaotrách nhiệm chăm sóc nạn nhân về ăn uống, sinh hoạt, vệ sinh cá nhân; thầy giáo,người làm công tác giáo dục, bác sĩ điều trị cho bệnh nhân… Tuy nhiên không phảitrường hợp phạm tội hiếp dâm nào mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc,giáo dục, chữa bệnh đều áp dụng tình tiết này mà chỉ được áp dụng tình tiết khihành vi phạm tội của người có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh đã lợidụng việc chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh để hiếp dâm người được chăm sóc, đượcgiáo dục, được chữa bệnh Nếu hành vi hiếp dâm không liên quan đến việc chămsóc, giáo dục, chữa bệnh thì không thuộc trường hợp này
- Nhiều người hiếp một người (điểm c khoản 2 Điều 111 BLHS)
Đây là trường hợp đồng phạm hiếp dâm trong đó có nhiều người có hành vigiao cấu trái ý muốn với cùng một nạn nhân Trong một vụ đồng phạm, nếu có từhai người trở lên cùng giao cấu trái với ý muốn với một nạn nhân thì áp dụng tìnhtiết nhiều người hiếp một người, còn nếu có sự phân công chặt chẽ giữa nhiều ngườinhư: người bịt mồm, người giữ chân tay, người thực hiện hành vi giao cấu với nạnnhân thì áp dụng tình tiết phạm tội có tổ chức Quy định tình tiết này trong khung
Trang 19tăng nặng là cần thiết Bởi lẽ, do có nhiều người cùng thực hiện hành vi giao cấutrái với ý muốn của nạn nhân nên không những xâm phạm nghiêm trọng nhânphẩm, danh dự của nạn nhân mà còn có khả năng gây tổn hại nghiêm trọng cho sứckhỏe của nạn nhân.
- Phạm tội nhiều lần (điểm d khoản 2 Điều 111 BLHS)
Xét về mặt lý luận, phạm tội nhiều lần là phạm cùng một tội từ hai lần trở lêntrong đó mỗi lần đều thỏa mãn CTTP và chưa lần nào bị đưa ra xét xử Trường hợpngười phạm tội đã phạm tội nhiều lần mà nạn nhân ở những lần phạm tội là khácnhau thì áp dụng cả hai tình tiết định khung tăng nặng: đối với nhiều người và phạmtội nhiều lần
- Đối với nhiều người (điểm đ khoản 2 Điều 111 BLHS)
Đây là tình tiết định khung tăng nặng mới được quy định trong BLHS năm
1999 Phạm tội đối với nhiều người là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vihiếp dâm từ hai nạn nhân trở lên và những lần phạm tội đó đều chưa bị đưa ra xét
xử Nếu một người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm với hai người trở lên và tất
cả các nạn nhân chỉ bị xâm hại một lần thì người phạm tội chỉ bị truy cứu tráchnhiệm hình sự theo khung tăng nặng này Nếu có nạn nhân bị xâm hại một lần, cónạn nhân bị xâm hại nhiều lần, thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về cả hai tình tiết tăng nặng là “phạm tội nhiều lần” và “phạm tội đối với nhiềungười”
- Có tính chất loạn luân (điểm e khoản 2 Điều 111 BLHS)
Tình tiết hiếp dâm có tính chất loạn luận được áp dụng khi giữa người phạmtội và nạn nhân có quan hệ cùng dòng máu về trực hệ hoặc có quan hệ là anh chị emcùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha Việc quy địnhtình tiết này trong khung tăng nặng là cần thiết Bởi lẽ, về mặt xã hội thì hành viquan hệ sinh lý giữa những người này là hành vi đi ngược lại đạo đức, luân lý,truyền thống, lễ giáo, là biểu hiện của sự suy đồi nghiêm trọng về đạo đức… nên bị
xã hội kịch liệt lên án Đồng thời hành vi hiếp dâm còn gây ảnh hưởng nghiêmtrọng đến danh dự, tinh thần của nạn nhân nói chung và của trẻ em nói riêng
Tuy nhiên, theo tác giả việc sử dụng thuật ngữ “có tính chất loạn luận” như
BLHS hiện hành là chưa chuẩn xác vì chưa mô tả rõ lỗi của người phạm tội Quy
Trang 20định này, có thể dẫn đến cách hiểu là người phạm tội có thể không biết đến mốiquan hệ trực hệ này mà phạm tội Theo khoa học luật hình sự, đối với các tội cóCTTP hình thức, lỗi của người phạm tội phải là lỗi cố ý trực tiếp Hơn nữa, việc ápdụng biện pháp TNHS đối với người phạm tội chỉ có ý nghĩa khi người đó biết giữa
họ và nạn nhân có quan hệ huyết thống Do đó, tác giả cho rằng nên sửa tình tiết “cótính chất loạn luân” thành “Biết là loạn luân mà vẫn phạm tội” như vậy mới thể hiện
rõ lỗi của người phạm tội trong trường hợp này chỉ có thể là lỗi cố ý trực tiếp đồngthời đảm bảo sự phù hợp giữa quy định của BLHS và thực tiễn xét xử
- Làm nạn nhân có thai (điểm g khoản 2 Điều 111 BLHS)
Tình tiết này đòi hỏi việc nạn nhân mang thai phải là kết quả của việc giaocấu giữa nạn nhân với người phạm tội, tức là có mối quan hệ nhân quả giữa hành vigiao cấu và hậu quả nạn nhân có thai Nếu nạn nhân tuy bị hiếp dâm nhưng việc nạnnhân mang thai đó là kết quả của việc giao cấu với người khác thì người phạm tộikhông phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết này
- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% (điểm h khoản 2 Điều 111 BLHS)
Căn cứ để áp dụng tình tiết tăng nặng này là kết quả giám định thương tậtcủa nạn nhân do Hội đồng giám định pháp y kết luận Trong trường hợp này, cầnxác định rằng lỗi của người phạm tội đối với hậu quả gây thương tích là lỗi vô ý.Nếu trước hoặc trong khi phạm tội hiếp dâm, người phạm tội còn cố ý gây rathương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân thì ngoài việc phải chịutrách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm (khoản 2 Điều 111 BLHS) họ còn bị truy tốthêm về “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”(Điều 104 BLHS)
- Tái phạm nguy hiểm (điểm i khoản 2 Điều 111 BLHS)
Người phạm tội hiếp dâm bị coi là tái phạm nguy hiểm nếu đã bị kết án vềtội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lạiphạm tội hoặc đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại phạm tội hiếp dâm Đối vớitội hiếp dâm cũng như đối với một số tội phạm khác, nếu thuộc trường hợp tái phạmnguy hiểm thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nặng hơn trườnghợp không phải tái phạm nguy hiểm
Trang 21Việc quy định phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là một tình tiếttăng nặng là hợp lý bởi lẽ tái phạm nguy hiểm chứng tỏ người phạm tội không chịuphục thiện, khó cải tạo, ngoan cố, cũng như thể hiện ý thức coi thường kỷ cươngpháp luật, cần phải có thời gian cải tạo dài hơn mới có tác dụng giáo dục và phòngngừa tội phạm.
Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tùchung thân Khung này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong nhữngtình tiết định khung tăng nặng sau:
- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên (điểm a khoản 3 Điều 111 BLHS)
Tương tự như quy định tại điểm h khoản 2, tình tiết này chỉ khác về tỷ lệthương tật, trường hợp này nặng hơn (61% trở lên) và người phạm tội phải bị truycứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 3 Điều 111
- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội (điểm b khoản 3 Điều 111 BLHS)
Đây là trường hợp từ kinh nghiệm của bản thân hoặc được cơ quan có thẩmquyền thông báo mà người phạm tội biết mình đã bị nhiễm HIV nhưng vẫn phạmtội hiếp dâm Điều đó có nghĩa, tình tiết định khung tăng nặng hình phạt này khôngđược phép áp dụng khi người phạm tội không biết mình bị nhiễm HIV hoặc tuy biếtmình bị nhiễm HIV nhưng không có ý thức lây truyền HIV cho nạn nhân (Ví dụnhư thực hiện biện pháp phòng tránh là dùng bao cao su) Theo đó, nên quy định
tình tiết này là: “biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn cố ý lây truyền cho người khác”.
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát (điểm c khoản 3 Điều 111 BLHS)
Làm nạn nhân chết là trường hợp hiếp dâm gây ra hậu quả nạn nhân chết.Lỗi của người phạm tội đối với hậu quả nạn nhân chết là lỗi vô ý Nếu người phạmtội gây ra hậu quả chết người với lỗi cố ý thì sẽ bị truy cứu TNHS về hai tội giếtngười và tội hiếp dâm Còn trường hợp làm nạn nhân tự sát là trường hợp do bị hiếpdâm nên nạn nhân đã có hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình Giữa việc bị hiếpdâm và hành vi tự sát có mối quan hệ nhân quả với nhau Tình tiết này chỉ đòi hỏinạn nhân có hành vi tự sát mà không đòi hỏi việc tự sát dẫn đến hậu quả nạn nhânchết
*Đường lối xử lý đối với tội hiếp dâm trẻ em
Trang 22Thể hiện đường lối xử lý nghiêm khắc đối với người phạm tội hiếp dâm trẻ
em BLHS quy định 4 khung hình phạt khác nhau được phép áp dụng cho tội phạmnày với mức hình phạt thấp nhất là 7 năm tù và hình phạt cao nhất là hình phạt tửhình
Khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 112 có mức phạt tù
từ 7 năm đến 15 năm
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 112 có mức phạt
tù từ 12 năm đến 20 năm Khung này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có mộttrong những tình tiết định khung tăng nặng sau:
- Tái phạm nguy hiểm
Có thể thấy, các tình tiết định khung tăng nặng thứ nhất quy định tại khoản 2Điều 112 của tội hiếp dâm trẻ em được áp dụng tương tự như tội hiếp dâm
Khung tăng nặng thứ hai có mức phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.Khung này được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong những tình tiếtđịnh khung tăng nặng sau:
- Có tổ chức;
- Nhiều người hiếp một người;
- Phạm tội nhiều lần;
- Phạm tội đối với nhiều người;
- Gây tổn hại cho sức khỏe nạn nhân với tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
- Người phạm tội biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát
Qua đây có thể thấy, các tình tiết: phạm tội có tổ chức; nhiều người hiếp mộtngười; phạm tội nhiều lần; phạm tội đối với nhiều người được quy định tại khoản 2Điều 111 tội hiếp dâm có mức hình phạt tù từ 7 năm đến 15 năm tương ứng với loại
Trang 23tội rất nghiêm trọng Còn ở tội hiếp dâm trẻ em những tình tiết này được quy địnhtại khoản 3 Điều 112 có khung hình phạt từ 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hìnhtương ứng với loại tội đặc biệt nghiêm trọng.
Như vậy, có thể thấy, tội hiếp dâm trẻ em có đường lối xử lý nghiêm khắchơn so với tội hiếp dâm Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước tatrong việc bảo vệ trẻ em trước tệ nạn xâm phạm tình dục
Tóm lại, qua nghiên cứu đường lối xử lý của tội hiếp dâm và tội hiếp dâm trẻ
em, tác giả nhận thấy, các tình tiết tăng nặng được quy định trong hai Điều luật đãgóp phần quan trọng trong công cuộc đấu tranh và phòng chống các tội phạm vềtình dục nói chung và hai tội phạm này nói riêng Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn tồntại một số vướng mắc nhất định:
+ Đối với đường lối xử lý của tội hiếp dâm:
Thứ nhất, việc BLHS hiện hành sử dụng thuật ngữ “có tính chất loạn luân” là
chưa chuẩn xác, chưa rõ ràng vì quy định như vậy chưa mô tả rõ lỗi của ngườiphạm tội Từ đó, dẫn đến những cách hiểu khác nhau trong việc vận dụng tình tiếtnày (Đối với cả tội hiếp dâm trẻ em)
Thứ hai, BLHS cần quy định chi tiết hơn đối với tình tiết “biết mình bị
nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” Cụ thể, nên bổ sung thêm dấu hiệu “biết mình bịnhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác” (Đối với cả tội hiếp dâm trẻem)
+ Đối với đường lối xử lý của tội hiếp dâm trẻ em:
Thứ nhất, đối với tình tiết phạm tội “đối với nhiều người” nhà làm luật nên
quy định rõ, tránh hiểu sai, tình tiết này nên sửa lại là “phạm tội đối với nhiều trẻem” Bởi nếu người phạm tội hiếp dâm hai nạn nhân nhưng có một nạn nhân đã đủ
16 tuổi và một nạn nhân dưới 16 tuổi thì không thể áp dụng tình tiết này mà sẽ bị xử
lý về hai tội riêng biệt
Thứ hai, mức phạt khởi điểm quy định tại khoản 4 thấp hơn mức phạt khởi
điểm quy định tại khoản 3 (mười hai năm so với hai mươi năm) và bằng với mứcphạt khởi điểm quy định tại khoản 2 Điều này không hợp lý Vì, nếu theo đúng trật
tự lô gíc thì hình phạt của khung 1 – khung cơ bản phải nhẹ hơn khung 2 (khungtăng nặng thứ nhất), hình phạt của khung 2 phải nhẹ hơn khung 3 (khung tăng tăng
Trang 24nặng thứ hai), hình phạt của khung 3 phải nhẹ hơn khung 4 (khung tăng nặng thứba), có như vậy thì khi áp dụng Điều 47 thì mới vận dụng được Do đó, tác giả đồng
ý với quan điểm cho rằng: “trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết
giảm nhẹ được áp dụng Điều 47 của BLHS năm 1999 thì việc xác định mức án trong khung hình phạt liền kề của Điều 112 là rất bất hợp lý”.12 Do vậy, có thể thấyđây là một thiếu sót của BLHS năm 1999 quy định về tội phạm này
1.1.2 Tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 113, Điều 114 BLHS) 1.1.2.1 Dấu hiệu định tội của tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻ em
*Tội cưỡng dâm (Điều 113 BLHS)
Căn cứ quy định tại Điều 113 BLHS có thể hiểu “tội cưỡng dâm là hành vi
ép buộc bằng những thủ đoạn khác nhau khiến người phụ nữ lệ thuộc mình hoặc người phụ nữ đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu” 13
Chủ thể của tội cưỡng dâm là chủ thể đặc biệt – đó là nam giới Nữ giới cóthể phạm tội này trong trường hợp đồng phạm với vai trò tổ chức, xúi giục hoặcgiúp sức
Hành vi khách quan của tội cưỡng dâm được mô tả tại khoản 1 Điều 113
BLHS: “Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang
trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu ” Như vậy, người phạm tội
có hành vi ép buộc bằng những thủ đoạn khác nhau như dọa tung ảnh nhạy cảm củanạn nhân lên internet hoặc dọa tố cáo việc làm phạm pháp của nạn nhân khiếnngười phụ nữ lệ thuộc mình hoặc người phụ nữ đang trong tình trạng quẫn báchphải miễn cưỡng giao cấu
Ví dụ: Phạm Văn Tài (NS 1994) vốn là người yêu cũ của chị Phạm Thị Lan.
Trước đó, vào năm 2010 khi cả hai yêu nhau lúc còn là sinh viên đại học, chị Lan
đã quan hệ tình dục với Tài và để cho Tài chụp ảnh “nhạy cảm” để làm kỷ niệm.Tới tháng 3/2012 hai người chia tay, Tài ép buộc chị Lan phải quay lại nhưng chị
không đồng ý Từ đó trở đi, Tài liên tục đe dọa sẽ tung ảnh "nóng" của cả hai lên
mạng nếu không cho quan hệ tình dục khiến chị Lan sợ đành phải nghe theo Sau
đó, thấy không thể chịu được mãi, chị Lan tố cáo Ngày 1/5/2012, cơ quan công an
12 Xem Lê Quang Tiến, Bàn về tội “Hiếp dâm trẻ em” theo Điều 112 Bộ luật hình sự, Tạp chí Kiểm sát, số
18/2015, tr.31.
13 Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Đại học Luật Hà Nội (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2010, tr429.
Trang 25đã ập vào bắt quả tang Tài khi Tài hẹn chị Lan tới một nhà nghỉ trên địa bàn để đòi
quan hệ mới chịu xóa những bức ảnh "nóng" (Bản án số 123/HSST của Tòa án
nhân dân tỉnh Nghệ An ngày 12/12/2012).
Đối tượng tác động của tội cưỡng dâm là phụ nữ - người có quan hệ lệ thuộcvới người phạm tội hoặc là người đang ở trong tình trạng quẫn bách
Quan hệ lệ thuộc ở đây có thể là quan hệ lệ thuộc về mặt công tác như quan
hệ giữa thủ trưởng với nhân viên nữ, về mặt kinh tế như quan hệ giữa người nuôidưỡng với người phụ nữ được nuôi dưỡng, giữa chủ doanh nghiệp với nữ côngnhân, về mặt tín ngưỡng hay gia đình
Đang ở trong tình trạng quẫn bách là trường hợp người phụ nữ đang ở tronghoàn cảnh hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục được màđòi hỏi phải có sự hỗ trợ của người khác như trường hợp người thân trong gia đình
bị mặc bệnh hiểm nghèo khi hoàn cảnh lại đang túng thiếu nghiêm trọng…
Người phạm tội đã lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàn cảnh có khó khănđặc biệt nói trên để khống chế tư tưởng của nạn nhân, buộc họ phải miễn cưỡnggiao cấu
Lỗi của người phạm tội cưỡng dâm là lỗi cố ý trực tiếp Chủ thể đã nhận thứcđược tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, nhưng vẫn mong muốn thựchiện
Qua việc phân tích dấu hiệu định tội của tội hiếp dâm và cưỡng dâm ở trên,
có thể phân biệt tội cưỡng dâm và tội hiếp dâm như sau:
Thứ nhất, về đối tượng tác động (nạn nhân) Đối với tội hiếp dâm thì nạn
nhân là bất kì người phụ nữ nào, còn đối với tội cưỡng dâm thì nạn nhân tuy là phụ
nữ nhưng phải là người phụ nữ có quan hệ lệ thuộc với người phạm tội hoặc ngườiphụ nữ đang ở trong tình trạng quẫn bách
Thứ hai, về thái độ tâm lý của nạn nhân Đối với tội hiếp dâm, thái độ của
nạn nhân đối với hành vi giao cấu là “trái ý muốn”, còn ở tội cưỡng dâm thái độcủa nạn nhân đối với việc giao cấu là “miễn cưỡng”
Thứ ba, về thủ đoạn phạm tội Đối với tội hiếp dâm, người phạm tội dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhânhoặc thủ đoạn khác để giao cấu trái ý muốn nạn nhân Trong khi đó, ở tội cưỡng
Trang 26dâm, người phạm tội đã dùng mọi thủ đoạn lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc hoàncảnh quẫn bách của nạn nhân để khống chế tư tưởng, buộc họ phải miễn cưỡng giaocấu.
*Tội cưỡng dâm trẻ em
BLHS năm 1999 quy định tội cưỡng dâm trẻ em tại Điều 114 Căn cứ vào
quy định tại Điều 113 và Điều 114 có thể hiểu cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng
mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang lệ thuộc vào mình hoặc đang trong tình trạng quẫn bách phải chịu sự giao cấu miễn cưỡng.
Vì đây là trường hợp đặc biệt của tội cưỡng dâm cho nên ở tội cưỡng dâm trẻ
em chỉ có điểm khác nhau cơ bản đó là về đối tượng tác động Đối tượng tác độngcủa tội cưỡng dâm trẻ em là những trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Các em cóthể là người bị lệ thuộc vào người phạm tội về mặt vật chất hay tinh thần như trò lệthuộc thầy, bệnh nhân lệ thuộc bác sỹ, người làm thuê lệ thuộc chủ thuê họ cũng
có thể là người đang trong tình trạng quẫn bách như trong tình trạng lang thang,không nơi nương tựa đói khát; bố mẹ ốm nặng không có tiền đóng viện phí Khirơi vào tình trạng này các em không còn sáng suốt lựa chọn một xử sự phù hợp.Trong khi đó, nạn nhân của tội cưỡng dâm là những người từ đủ 16 tuổi trở lên cóquan hệ lệ thuộc hoặc đang trong tình trạng quẫn bách Đồng thời, so với tội hiếpdâm trẻ em thì đối tượng tác động của tội cưỡng dâm trẻ em là hẹp hơn vì trườnghợp trẻ em dưới 13 tuổi không thuộc đối tượng của tội cưỡng dâm trẻ em mà bất kỳhành vi giao cấu trong trường hợp này đều cấu thành tội hiếp dâm trẻ em theokhoản 4 Điều 112 BLHS
Khoản 1 Điều 114 BLHS quy định: “Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị ” Như vậy hành vi khách quan của tội cưỡng dâm trẻ
em không được mô tả rõ trong Điều luật mà được áp dụng tương tự như Điều 113
về tội cưỡng dâm Căn cứ theo khoản 1 Điều 113 và Điều 114 BLHS có thể hiểuhành vi khách quan của tội cưỡng dâm trẻ em là hành vi của người phạm tội giaocấu với nạn nhân bằng thủ đoạn lợi dụng quan hệ lệ thuộc hoặc tình trạng quẫn báchcủa nạn nhân để dụ dỗ, mua chuộc, đe dọa Bằng thủ đoạn này người phạm tộikhống chế tư tưởng của người tử đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chấp nhận miễncưỡng giao cấu
Trang 27Ví dụ: Lê Văn Yến ngụ tại huyện Mỏ Cày Bắc, Bến Tre Yến đã đe dọa con
gái (cháu Lê Thanh Thùy) nếu không cho quan hệ tình dục sẽ đuổi đi, không nuôidưỡng nữa và sẽ không chu cấp tiền đi học Do sợ cảnh sống lang thang lại bị thôihọc, cháu Thùy đã đồng ý Từ tháng 3/2012 – 2/2014, Yến khống chế con gái quan
hệ tình dục tại nhà tổng cộng 11 lần (Theo bản án số 55/HSST ngày 10/7/2014 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre) Trong vụ án này, Yến đã lợi dụng nạn nhân đang lệ
thuộc mình về quan hệ nuôi dưỡng để ép buộc nạn nhân miễn cưỡng chịu sự giaocấu
Khác với hành vi hiếp dâm trẻ em, hành vi khống chế tư tưởng bằng cách lợidụng quan hệ lệ thuộc hoặc tình trạng quẫn bách ở tội cưỡng dâm trẻ em chưa thực
sự làm nạn nhân khiếp sợ đến mức bị tê liệt ý chí mà ở đây họ vẫn còn có khả năngkháng cự; còn ở tội hiếp dâm trẻ em, hành vi đe dọa làm cho ý chí kháng cự của trẻ
em bị tê liệt hoàn toàn (trừ trường hợp nạn nhân dưới 13 tuổi thì nạn nhân có thểthuận tình)
Tóm lại, qua nghiên cứu dấu hiệu định tội của Điều 113 về tội cưỡng dâm,
Điều 114 về tội cưỡng dâm trẻ em của BLHS hiện hành, tác giả nhận thấy về cơ bảncác quy định này đã đáp ứng được thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh đó, những quyđịnh này của BLHS năm 1999 vẫn còn bất cập Cụ thể:
+ Nội hàm giao cấu của hai tội này vẫn được hiểu là “giao cấu truyền thống”(như tác giả đã trình bày ở phần viết về tội hiếp dâm) Do đó, tác giả cho rằng,tương tự như tội hiếp dâm, tội hiếp dâm trẻ em thì nội hàm khái niệm giao cấu củahai tội này nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng, có như vậy mới đảmbảo không bỏ lọt tội phạm, đảm bảo xử lí hình sự nghiêm minh đối với tội này
+ Thứ hai, tương tự như tội hiếp dâm trẻ em, đối với tội giao cấu với trẻ em,
nhà làm luật không mô tả dấu hiệu định tội của tội cưỡng dâm trẻ em trong Điều
114 mà trên thực tế, nội dung này được hiểu và áp dụng giống như ở tội cưỡng dâm
Do vậy, để thuận lợi cho cơ quan áp dụng luật và đảm bảo nguyên tắc “công khai,minh bạch” trong quy định, nhà làm luật cần mô tả rõ dấu hiệu định tội của tộicưỡng dâm trẻ em ngay trong Điều 114
1.1.2.2 Đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm, tội cưỡng dâm trẻ em
*Đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm
Trang 28Thể hiện đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm BLHS quy định 4 khunghình phạt khác nhau được phép áp dụng cho tội phạm này với mức hình phạt thấpnhất là 06 tháng tù và hình phạt cao nhất là 18 năm tù
Theo quy định tại Điều 105 BLTTHS 2003, thì người có hành vi cưỡng dâmchỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu như người bị hại có yêu cầu khởi tố,nếu đã khởi tố rồi mà trước ngày mở phiên toà, họ lại rút yêu cầu khởi tố thì vụ ánphải được đình chỉ, trừ trường hợp Viện kiểm sát, hoặc Toà án xét thấy cần thiếtvẫn tiến hành tố tụng
Khung hình phạt cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 113 với mức hìnhphạt được áp dụng từ 06 tháng đến 5 năm
Khung tăng nặng thứ nhất của tội cưỡng dâm được quy định tại khoản 2Điều 113 với mức hình phạt được áp dụng từ ba năm đến mười năm, nếu có mộttrong các tình tiết sau:
- Nhiều người cưỡng dâm một người;
- Cưỡng dâm nhiều lần;
- Cưỡng dâm nhiều người;
- Có tính chất loạn luân;
- Làm nạn nhân có thai;
- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến60%;
- Tái phạm nguy hiểm
Các tình tiết này đều giống với các tình tiết quy định theo khoản 2 Điều 111của tội hiếp dâm và được hiểu tương tự cho nên tác giả không trình bày lại nữa Tuynhiên, tình tiết “phạm tội có tổ chức” và tình tiết “đối với người mà người phạm tội
có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh” không được quy định trong tộicưỡng dâm Theo tác giả, tình tiết “phạm tội có tổ chức” cũng cần được quy định làtình tiết định khung tăng nặng của tội cưỡng dâm vì đây là trường hợp nguy hiểmcho xã hội hơn hẳn trường hợp thông thường, hơn nữa, thực tiễn cũng đã xảy ra một
số vụ có dấu hiệu này Nếu quy định đây là tình tiết định khung tăng nặng sẽ đảmbảo việc áp dụng luật sẽ thuận lợi hơn cho cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời đảmbảo việc xử lí nghiêm minh trên thực tế
Trang 29Tình tiết định khung tăng nặng thứ hai của tội cưỡng dâm được quy định tạikhoản 3 Điều 113 với mức hình phạt áp dụng từ 7 năm tù đến 18 năm tù Các tìnhtiết này bao gồm:
- Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
- Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát
Các tình tiết này cho phép áp dụng tương tự như ở tội hiếp dâm
Đối với trường hợp cưỡng dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi thì áp dụng theo khoản 4 Điều 113 với mức hình phạt từ 3 năm tù đến 7 năm
tù
*Đường lối xử lý đối với tội cưỡng dâm trẻ em
Thể hiện đường lối xử lý nghiêm khắc của tội cưỡng dâm trẻ em, BLHS quyđịnh 3 khung hình phạt khác nhau được phép áp dụng với mức hình phạt thấp nhất
từ 05 năm tù và hình phạt cao nhất là tù chung thân
Khoản 1 Điều 114 BLHS quy định khung hình phạt cơ bản với mức hìnhphạt từ 05 năm tù đến 10 năm tù
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 114 với mức hìnhphạt từ 07 năm tù đến 15 năm tù Bao gồm các tình tiết tăng nặng sau:
- Có tính chất loạn luân;
- Làm nạn nhân có thai;
- Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến60%;
- Tái phạm nguy hiểm
Như vậy, so với khoản 2 Điều 113 BLHS năm 1999 về tội cưỡng dâm thìkhoản 2 Điều 114 BLHS năm 1999 về tội cưỡng dâm trẻ em có mức hình phạtnghiêm khắc hơn mặc dù có cùng các tình tiết tăng nặng
Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 114 với mức hìnhphạt từ 12 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân Bao gồm các tình tiết:
- Nhiều người cưỡng dâm một người;
- Phạm tội nhiều lần;
- Đối với nhiều người;
Trang 30- Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;
- Biết mình bị nhiễm HIVmà vẫn phạm tội;
- Làm nạn nhân chết hoặc tự sát
Như vậy, các tình tiết “nhiều người cưỡng dâm một người”, “phạm tội nhiềulần”, “đối với nhiều người” được quy định tại khoản 2 Điều 113 BLHS với mứcphạt tù từ 3 năm đến 10 năm thì đối với tội cưỡng dâm trẻ em các tình tiết này đượcquy định tại khung hình phạt tăng nặng thứ hai đó là khoản 3 Điều 114 BLHS vớimức phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân Bởi lẽ các tình tiết này đượcquy định tại khung tăng nặng cao hơn vì hành vi phạm tội đã xâm phạm đến đốitượng luôn được Nhà nước quan tâm và bảo vệ đó là trẻ em Việc nhiều ngườicưỡng dâm một trẻ em, một người cưỡng dâm trẻ em nhiều lần đều là hành vi vôcùng nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không chỉ xâm hại nghiêm trọng đến quyền
tự do tình dục của trẻ em mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường cả về thểchất lẫn tinh thần của các em gây nên những căm phẫn, bức xúc rất lớn trong nhândân
Qua đây có thể thấy, so với tội cưỡng dâm thì ở tội cưỡng dâm trẻ em BLHSquy định đường lối xử lý nghiêm khắc hơn Điều này thể hiện quan điểm nhất quáncủa Nhà nước ta trong việc bảo vệ đối tượng đặc biệt là trẻ em – đối tượng chưahoàn thiện về thể chất và tinh thần
Tóm lại, qua việc nghiên cứu đường lối xử lý của tội cưỡng dâm, tội cưỡng
dâm trẻ em của BLHS năm 1999, tác giả thấy Bộ luật này vẫn còn hai bất cập sau:
+ Trên thực tế, tội cưỡng dâm có thể được thực hiện với hình thức “có tổchức”, nhưng tình tiết “có tổ chức” lại chưa được quy định là tình tiết định khungtăng nặng của tội phạm này Do vậy, cần bổ sung tình tiết “phạm tội có tổ chức” làtình tiết định khung tăng nặng vào CTTP tăng nặng của tội cưỡng dâm
+ Tình tiết “đối với nhiều người”cũng với lí do như đã phân tích tương tự
với tội hiếp dâm trẻ em thì quy định như vậy là chưa chuẩn xác Tình tiết này nênđược sửa thành “đối với nhiều trẻ em” thì sẽ chuẩn xác hơn
1.1.3 Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS)
1.1.3.1 Dấu hiệu định tội của tội giao cấu với trẻ em
Trang 31Tội giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 115 Khoản 1 của Điều luậtquy định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới
16 tuổi thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm” Như vậy, tội giao cấu với trẻ em là hành
vi giao cấu của người đã thành niên với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi 14
Tội giao cấu với trẻ em được quy định trong BLHS nhằm bảo vệ sự pháttriển bình thường về tâm sinh lí cho trẻ em, ngăn chặn những hành vi lợi dụng sựnon nớt, nhẹ dạ của trẻ em đẩy họ vào những quan hệ tình dục quá sớm, gây ảnhhưởng xấu về mọi mặt cho họ
Chủ thể của tội giao cấu với trẻ em: đây là tội phạm đòi hỏi chủ thể đặc biệt
-là người đã thành niên, có thể -là nam hoặc nữ Nhà -làm luật đã giới hạn phạm vi
chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội giao cấu với trẻ em ở mức độ chỉnhững người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi giao cấu thuận tình với trẻ emmới bị truy cứu TNHS Sỡ dĩ nhà làm luật quy định chủ thể của tội này phải làngười từ đủ 18 tuổi trở lên vì đây là độ tuổi mà người phạm tội đã nhận thức đượcđầy đủ tính nguy hiểm của hành vi của mình, đã nhận thức được đầy đủ về tác hại
mà hành vi quan hệ tình dục có thể gây ra cho trẻ em Do vậy, nếu một người dưới
18 tuổi (ví dụ 17 tuổi) mà lại quan hệ tình dục thuận tình với người ở độ tuổi đủ 13tuổi đến dưới 16 tuổi (ví dụ 15 tuổi) thì người 17 tuổi sẽ không bị xử lí hình sự
Mặt khách quan của tội giao cấu với trẻ em: khoản 1 Điều 115 BLHS năm
1999 qui định: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến
dưới 16 tuổi, thì bị ” Như vậy, người phạm tội có hành vi giao cấu thuận tình với
người trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Sự thuận tình này có thể là do cóquan hệ tình cảm yêu đương giữa hai người hoặc là do người phạm tội đã lợi dụng
sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biết của trẻ em để dụ dỗ, rủ rê, lôi kéo
Ví dụ: Thông qua mạng xã hội Facebook, Dương (19 tuổi) và Yến (15 tuổi)quen biết nhau, sau vài lần gặp mặt cả hai nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ.Dương thường rủ Yến đi chơi vào buổi tối Vào khoảng 22 giờ một ngày tháng7/2014, Dương trở Yến ra đường đê nói chuyện, sau đó đòi quan hệ tình dục vàđược Yến đồng ý Đồng thời, do Yến bị bố mẹ mắng nên Dương còn tới đón Yến
đến ở nhà nghỉ 3 ngày và đã nhiều lần thực hiện hành vi quan hệ tình dục (Theo
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân dân, Hà
Trang 32Bản án số 80/2014/HSST ngày 30/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, TP
Hiện nay, có ý kiến cho rằng quy định về tội giao cấu với trẻ em nên bổ sungthêm yếu tố “thuận tình”.15 “BLHS chưa mô tả rõ thái độ của nạn nhân ở tội giao
cấu với trẻ em trong khi đó, BLHS lại mô tả rõ thái độ của nạn nhân ở các tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm và cưỡng dâm trẻ em Đây là một thiếu sót của BLHS hiện hành khi quy định về tội danh này.”16 Tác giả hoàn toàn đồng ý với quanđiểm này vì dấu hiệu “thuận tình giao cấu” của nạn nhân trong tội giao cấu với trẻ
em là dấu hiệu cần thiết để phân biệt với các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ emkhác, nhất là tội hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm trẻ em Nếu như ở tội hiếp dâm nhàlàm luật đã quy định rõ thái độ của nạn nhân là “trái ý muốn”, ở tội cưỡng dâm thái
độ của nạn nhân là “miễn cưỡng” thì cũng nên bổ sung thái độ của nạn nhân đối vớitội giao cấu với trẻ em là “thuận tình” Qua đó, sẽ góp phần làm rõ ràng hơn dấuhiệu pháp lý của tội này và tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật đúng đắn
15 Xem Phạm Văn Nhớ, Một số ý kiến trao đổi về tội giao cấu với trẻ em, Tạp chí Kiểm sát, số 11/2010, tr38; hoặc Dương Tuyết Miên, Về các tội xâm phạm tình dục trong Luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 6/1998, tr47; Hoặc Nguyễn Tuyết Mai “Luật hình sự Việt Nam nhìn từ góc độ tiếp cận giới”, Tạp chí Luật
học, số 03/2007;
16 Xem Dương Tuyết Miên, Bình luận về các tội phạm tình dục trong Dự thảo BLHS sửa đổi”, Tạp chí dân
chủ và pháp luật, Số chuyên đề sửa đổi, bổ sung BLHS, NXB Tư pháp, 2015
Trang 33Tội giao cấu với trẻ em có cấu thành hình thức nên chỉ cần người phạm tội
có hành vi giao cấu thuận tình với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là tội phạm
đã hoàn thành bất kể hành vi đó đã kết thúc về mặt sinh lý hay chưa
Lỗi của người phạm tội trong tội giao cấu với trẻ em là lỗi cố ý trực tiếp.Người phạm tội khi quyết định thực hiện hành vi đã nhận thức được tính nguy hiểmcho xã hội của hành vi của mình, biết rõ nạn nhân ở độ tuổi đủ 13 đến dưới 16 tuổi
nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi giao cấu với nạn nhân “Những trường
hợp thực sự có sự nhầm tưởng về độ tuổi thì không phạm tội này.” 17 Ví dụ như
người nữ tuy 15 tuổi nhưng cao lớn, phổng phao như người trưởng thành, tác phonggiao tiếp cũng “dày dạn” không giống như trẻ em và trước đó, người nam giớikhông quen biết người nữ, sau khi quen nhau được vài ngày, người nam đã rủ người
nữ đi chơi và có quan hệ tình dục thuận tình với người nữ đó Trường hợp này,người nam giới không phạm tội giao cấu với trẻ em
So sánh tội giao cấu với trẻ em với tội cưỡng dâm trẻ em cho thấy, trong tộicưỡng dâm trẻ em, người phạm tội dùng rất nhiều thủ đoạn để trẻ em lệ thuộc mìnhhoặc trẻ em đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng chịu sự giao cấu vớihọ; còn ở tội giao cấu với trẻ em, người phạm tội lợi dụng sự nhẹ dạ, thiếu hiểu biếtcủa trẻ em để dụ dỗ các em thuận tình giao cấu với mình Như vậy, thái độ tâm lýcủa nạn nhân đối với việc giao cấu là điểm khác nhau cơ bản để phân biệt hai tộinày Ở tội cưỡng dâm trẻ em, vì bị khống chế về tư tưởng nên nạn nhân miễn cưỡngphải giao cấu, còn ở tội giao cấu với trẻ em, nạn nhân hoàn toàn tự nguyện chấpnhận giao cấu Ngoài ra, chủ thể của tội cưỡng dâm trẻ em có thể là người chưathành niên và là nam giới còn chủ thể của tội giao cấu với trẻ em có thể là nam hoặc
nữ nhưng đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên)
So sánh tội giao cấu với trẻ em và tội hiếp dâm trẻ em cho thấy, về dấu hiệuđịnh tội của hai tội này có sự khác nhau rất rõ rệt như sau:
Thứ nhất, về thái độ của nạn nhân Đối với tội giao cấu với trẻ em thái độ
của nạn nhân là thuận tình giao cấu; còn ở tội hiếp dâm trẻ em, thái độ của nạn nhânđối với hành vi giao cấu là trái ý muốn
17 Xem Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.426
Trang 34Thứ hai, về mặt khách quan, ở tội giao cấu với trẻ em người phạm tội đã
dùng những thủ đoạn tinh vi để dụ dỗ các em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi tựnguyện giao cấu với mình Còn ở tội hiếp dâm trẻ em, người phạm tội đã dùng vũlực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể chống cự của nạn nhânhoặc thủ đoạn khác làm tê liệt ý chí của nạn nhân để giao cấu trái ý muốn của họ
Thứ ba, về chủ thể, ở tội giao cấu với trẻ em chủ thể là người đã thành niên
và có thể là nam hoặc nữ, còn ở tội hiếp dâm trẻ em chủ thể buộc phải là nam giới
Thứ tư, về đối tượng tác động Ở tội giao cấu với trẻ em, đối tượng tác động
là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, có thể là nam hoặc nữ Còn ở tội hiếp dâmtrẻ em, đối tượng tác động là trẻ em dưới 16 tuổi và là trẻ em nữ
Tóm lại, qua việc nghiên cứu quy định của BLHS hiện hành về tội giao cấu
với trẻ em, tác giả thấy rằng Bộ luật này vẫn còn điểm hạn chế cần được khắc phục
Đó là:
+ Để đảm bảo sự nhất quán giữa những tội xâm phạm tình dục trong đó,người phạm tội có hành vi giao cấu thì nội hàm của giao cấu đối với tội giao cấu vớitrẻ em cũng cần được mở rộng tương tự như tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡngdâm, cưỡng dâm với trẻ em
+ Thực tiễn xét xử hiện nay đều thừa nhận hành vi khách quan của tội này làthuận tình giao cấu Do vậy, BLHS cần bổ sung cụm từ “thuận tình” vào CTTP cơbản để làm rõ thái độ của nạn nhân, giúp cho việc phân biệt rõ ràng hơn giữa tộiphạm này với tội phạm xâm phạm tình dục khác, qua đó, góp phần nâng cao hiệuquả áp dụng pháp luật, thể hiện sự rõ ràng, minh bạch trong quy định
1.1.3.2 Đường lối xử lý đối với tội giao cấu với trẻ em
Đường lối xử lý đối với tội này được quy định tại Điều 115 với mức hìnhphạt thấp nhất là 01 năm tù và cao nhất là 15 năm tù Việc quy định như vậy thểhiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước ta đối với loại tội phạm này, cần cách lingười phạm tội ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để giáo dục, cảitạo
Điều luật quy định ba khung hình phạt khác nhau, cụ thể:
Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 115 với mức hình phạt tù từ
01 năm đến 05 năm Trường hợp người phạm tội chỉ giao cấu với một người từ đủ
Trang 3513 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 115BLHS có khung hình phạt từ một năm đến năm năm tù Khi quyết định hình phạtđối với trường hợp phạm tội này, cần phải xem xét một cách toàn diện đầy đủ cáctình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, đặc biệt là mối quan hệ giữa người bịhại với người phạm tội Thông qua việc giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tốtụng không chỉ cần giáo dục người phạm tội mà cần giáo dục ngay cả đối với người
bị hại để họ nhận thức được trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội
Các dấu hiệu định khung tăng nặng của tội giao cấu với trẻ em tương tự như
ở tội hiếp dâm trẻ em và tội cưỡng dâm trẻ em, tuy nhiên có một vấn đề cần đượcbàn thêm đó là:
Tóm lại, qua việc nghiên cứu đường lối xử lý đối với tội giao cấu với trẻ em
tác giả nhận thấy về cơ bản các quy định tại Điều 115 BLHS năm 1999 đã đáp ứngtương đối yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này Tuy nhiên, theotác giả, BLHS này vẫn còn bất cập cần khắc phục Cụ thể:
Có hai tình tiết định khung tăng nặng được quy định ở tội hiếp dâm trẻ em vàtội cưỡng dâm trẻ em nhưng không được quy định ở tội giao cấu với trẻ em Đó là
tình tiết “nhiều người cùng giao cấu với một người” và tình tiết “tái phạm nguy
hiểm” Theo tác giả, đây là những tình tiết nguy hiểm cho xã hội hơn hẳn so với
trường hợp thông thường Thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, một số người đãthành niên lợi dụng sự non nớt, ngờ nghệch của trẻ em đã cùng nhau dụ dỗ để trẻ
em đồng ý cho nhóm phạm tội cùng giao cấu Đây là trường hợp có tính nguy hiểmcao nhưng lại không bị xử lý nặng hơn so với trường hợp thông thường là bất hợp
lý Do vậy, cần bổ sung tình tiết “nhiều người cùng giao cấu với một người” đối
với CTTP tăng nặng của tội này Bên cạnh đó, có những người phạm tội có thỏamãn tình tiết “tái phạm nguy hiểm” do trên thực tế hành vi của họ thỏa mãn khoản 2Điều 49, nhưng vì tình tiết này không được quy định là tình tiết định khung tăngnặng của khoản 2, khoản 3 Điều 115 nên trên thực tế, cơ quan áp dụng luật phải vậndụng thêm điểm g khoản 1 Điều 48 để xử lí Tuy nhiên, nếu quy định tình tiết này làtình tiết định khung tăng nặng thì xử lí sẽ thỏa đáng hơn Do vậy, Điều 115 BLHSnăm 1999 cần bổ sung 2 tình tiết trên vào CTTP tăng nặng
1.1.4 Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS)
Trang 361.1.4.1 Dấu hiệu định tội của tội dâm ô đối với trẻ em
Khoản 1 Điều 116 BLHS quy định: “Người nào đã thành niên mà có hành vi
dâm ô đối với trẻ em, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”
Ở Việt Nam hiện chỉ có văn bản duy nhất giải thích thế nào là dâm ô Đó là
Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác
về mặt tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967 của TANDTC Văn bản này đã định
nghĩa: “Dâm ô tức là có hành vi bỉ ổi đối với người khác, tuy không phải là hành vi
giao cấu nhưng cũng nhằm thỏa mãn tình dục của mình hoặc khêu gợi bản năng tình dục người đó (ví dụ như: dùng tay sờ mó hoặc kích thích bộ phận sinh dục, tác động dương vật vào những chỗ khác nhau trong thân thể người phụ nữ ngoài bộ phận sinh dục hoặc chỉ quệt bên ngoài bộ phận sinh dục không có ý định ấn vào trong, ấn dương vật vào sau quần, cho xuất tinh vào sau quần, bắt nạn nhân sờ mó
bộ phận sinh dục của mình ) 18
Tội phạm dâm ô đối với trẻ em được quy định là nhằm bảo vệ quyền bất khảxâm phạm về danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường về thể chất cũng nhưsinh lý của trẻ em Hành vi của người phạm tội không chỉ xâm hại đến quyền đượctôn trọng và bảo vệ, quyền bất khả xâm hại về tình dục của trẻ em mà còn xâm hạiđến các giá trị đạo đức xã hội, nếp sống văn hóa lành mạnh
Chủ thể của tội dâm ô đối với trẻ em phải là chủ thể đặc biệt - người thànhniên (từ đủ 18 tuổi trở lên) Họ có thể là nam hoặc nữ nhưng trên thực tế, chủ thểcủa tội phạm này chủ yếu là nam giới
Về mặt khách quan: người phạm tội có hành vi dâm ô đối với trẻ em Đâythực chất là các hành vi liên quan đến tình dục nhưng không có hành vi giao cấu.Người phạm tội có thể sử dụng nhiều thủ đoạn khác nhau để dâm ô đối với trẻ em
Ví dụ như người phạm tội cho trẻ em kẹo sau đó dụ dỗ trẻ em sờ mó vào cơ quansinh dục của mình hoặc người phạm tội cho tiền để dụ dỗ trẻ em đồng ý cho ngườiphạm tội sờ mó bộ phận sinh dục của trẻ em hoặc người phạm tội cố tình cho trẻ emnhìn thấy bộ phận sinh dục của mình Ở bất kì trường hợp dâm ô nào, người phạmtội đều không có hành vi giao cấu với trẻ em
18 Xem Tòa án nhân dân tối cao, Hệ thống hóa các văn bản về hình sự, Hà Nội, năm 1975, trang 391
Trang 37Ví dụ: Vũ Văn Quỳnh công tác tại Công an thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên
Lãng Quỳnh thường xuyên có hành vi bất ngờ chặn đường để thực hiện hành vi sờngực, sờ mó bộ phận sinh dục đối với nhiều cháu học sinh nữ trên địa bàn xã trongkhoảng thời gian từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 9 năm 2012 Chỉ đến khi một cháuhọc sinh nhận ra Quỳnh đã báo cho cơ quan công an, Quỳnh mới bị bắt.19
Đối tượng của hành vi dâm ô ở tội này là trẻ em dưới 16 tuổi không phânbiệt giới tính
Cũng như các tội phạm tình dục khác, tội dâm ô đối với trẻ em là tội phạm
có cấu thành hình thức Cấu thành tội phạm của tội này chỉ đòi hỏi người phạm tội
có hành vi dâm ô đối với trẻ dưới 16 tuổi mà không đòi hỏi phải gây ra hậu quả cụthể Hành vi dâm ô thông thường không để lại hậu quả về tính mạng và sức khỏe,thương tích trên cơ thể nạn nhân, không thể dùng các xét nghiệm thông thường liênquan đến các dấu vết sau hành vi quan hệ tình dục như dấu vết tinh trùng… để xácđịnh vì người phạm tội không giao cấu với trẻ em Tuy nhiên, đây là hành vi nguyhiểm cho xã hội vì nó xâm phạm đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em về cả thểchất và tinh thần Nó gây ảnh hưởng xấu đến sự thay đổi và phát triển về tâm sinh lýkhi ở ngưỡng tuổi dậy thì của trẻ em Tội phạm được coi là hoàn thành khi chủ thể
đã thực hiện hành vi dâm ô dưới bất kỳ dạng nào
Tội dâm ô đối với trẻ em được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Người phạmtội nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, biết rõ nạn nhân ở
độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó
So sánh tội dâm ô đối với trẻ em với tội giao cấu với trẻ em cho thấy, hai tộinày có sự khác nhau rất rõ ở các điểm sau:
Ở tội giao cấu với trẻ em: người phạm tội có hành vi giao cấu với trẻ em; còn
ở tội dâm ô đối với trẻ em, chủ thể của tội phạm chỉ có hành vi liên quan đến tìnhdục nhưng không có hành vi giao cấu với nạn nhân
Về ý chí chủ quan của nạn nhân, ở tội giao cấu với trẻ em, hành vi phạm tộiđược thực hiện có sự thuận tình của trẻ em; còn ở tội dâm ô đối với trẻ em, điều luậtkhông đòi hỏi khi chủ thể của tội phạm có hành vi dâm ô thì nạn nhân phải đồng ýhay không đồng ý Nạn nhân có thể đồng ý hay không đồng ý với hành vi dâm ô
19
Trang 38http://nld.com.vn/phap-luat/nguyen-thuong-si-cong-an-dam-o-hang-loat-nu-sinh-bi-tam-than-của người phạm tội Việc tự nguyện http://nld.com.vn/phap-luat/nguyen-thuong-si-cong-an-dam-o-hang-loat-nu-sinh-bi-tam-than-của nạn nhân không phải là căn cứ loại trừtrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội bởi vì độ tuổi và nhận thức của nạnnhân rất non nớt, chưa được xem là trưởng thành để đủ chín chắn nhìn nhận đượcviệc bản thân đang làm Bởi vậy việc xử lý hành vi dâm ô không xem xét về yếu tố
tự nguyện của nạn nhân mà điều quan trọng nhất là độ tuổi của nạn nhân
Tóm lại, qua việc nghiên cứu dấu hiệu định tội về tội dâm ô đối với trẻ em,
theo tác giả, nhà làm luật nên mô tả rõ ngay trong luật nội hàm hành vi dâm ô đốivới trẻ em, bên cạnh đó cũng phải có ranh giới rõ ràng giữa “dâm ô” với “giao cấu”theo nghĩa mở rộng, từ đó, tạo điều kiện cho cơ quan áp dụng pháp luật được chínhxác
1.1.4.2 Đường lối xử lý đối với tội dâm ô đối trẻ em
Thể hiện đường lối xử lý đối với tội dâm ô đối với trẻ em, BLHS năm 1999quy định 3 khung hình phạt khác nhau cho phép áp dụng, với mức hình phạt thấpnhất là 6 tháng tù và mức hình phạt cao nhất là 12 năm tù
Khung cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 116 BLHS theo đó, người nào
đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thì bị phạt tù từ
06 tháng đến 03 năm
Khung tăng nặng thứ nhất được quy định tại khoản 2 Điều 116 BLHS vớimức hình phạt được áp dụng từ 03 năm tù đến 07 năm tù Bao gồm các tình tiếtđịnh khung tăng nặng như sau:
- Phạm tội nhiều lần;
- Đối với nhiều trẻ em;
- Đối với trẻ em mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữabệnh;
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
- Tái phạm nguy hiểm
Khung tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 Điều 116 BLHS: “Phạm
tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm” Như vậy, mức hình phạt được áp dụng theo khoản 3 Điều
116 BLHS là từ 07 năm tù đến 12 năm tù
Trang 39Tóm lại, nghiên cứu đường lối xử lý đối với tội dâm ô trẻ em, tác giả nhận
thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế sau:
+ Thứ nhất, trong các dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng của tội này,
dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội dưới dạng “hậu quả nghiêm trọng”, “hậuquả rất nghiêm trọng” và “hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là dấu hiệu cần phải đượclàm rõ vì trong khi áp dụng dấu hiệu này các cơ quan tố tụng có thể gặp khó khăn,vướng mắc nhất định Do vậy cần phải có giải thích hướng dẫn cụ thể để cho việc
áp dụng được thống nhất, tránh được sự tùy tiện, chủ quan trong áp dụng pháp luật
+ Thứ hai, tình tiết “phạm tội có tổ chức” cũng cần được quy định là tình tiết
định khung tăng nặng của tội này Trên thực tế, chúng ta gặp không ít trường hợpnhóm thanh niên xấu hay tụ tập nơi công cộng và có hành vi sàm sỡ với nữ giới(trong đó có cả trẻ em) Ví dụ: nhóm thanh niên bàn nhau đi xe buýt đứng “baovây” học sinh nữ và sàm sỡ học sinh nữ như sờ ngực, sờ cơ quan sinh dục của nạnnhân làm nhiều em khiếp đảm không dám đi học bằng xe buýt Hành vi này gâyquan ngại, lo lắng với dư luận xã hội Rõ ràng, người phạm tội khi thực hiện hành vidâm ô đối với trẻ em mà có thêm tình tiết trên thì tính nguy hiểm cao hơn hẳn so vớitrường hợp thông thường, Do vậy, BLHS hiện hành cần bổ sung tình tiết địnhkhung tăng nặng “phạm tội có tổ chức” thì sẽ góp phần xử lý nghiêm minh tội phạmnày
1.1.5 Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS)
1.1.5.1 Dấu hiệu định tội của tội mua dâm người chưa thành niên
Tội mua dâm người chưa thành niên được quy định tại Điều 256 BLHS năm
1999 Khoản 1 của Điều luật này quy định: “Người nào mua dâm người chưa thành
niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.
Từ quy định của Điều luật, có thể hiểu tội mua dâm người chưa thành niên
là hành vi của người phạm tội dùng tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khác để mua chuộc người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi để họ chấp thuận thực hiện hành vi giao cấu
Hành vi mua dâm người chưa thành niên đã xâm hại đến trật tự công cộng,gây ảnh hưởng xấu cho đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục cũng như sự phát triểnlành mạnh của người chưa thành niên
Trang 40Chủ thể của tội phạm này là người bất kì, theo Điều 256 thì không đòi hỏi họphải là người thành niên Hiện nay vẫn có ý kiến khác nhau về vấn đề này
Có quan điểm cho rằng, chủ thể của tội mua dâm người chưa thành niên phải
là “người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên khi thực hiện tội
phạm mua dâm người chưa thành niên” 20 vì cho rằng chủ thể của tội mua dâmngười chưa thành niên tương đồng với chủ thể của tội giao cấu với trẻ em tại Điều
115 BLHS năm 1999, đó là người đã thành niên
Quan điểm khác cho rằng: “nếu hiểu đúng tinh thần của điều luật thì người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 3 Điều 256; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào bất kỳ khoản nào của điều luật” 21
Xuất phát từ chính quy định của BLHS có thể thấy chủ thể của tội mua dâmngười chưa thành niên là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ
14 tuổi trở lên Tuy nhiên, thực tiễn xét xử ở Việt Nam hiện nay chỉ xử lý hình sựngười đã thành niên vì các cơ quan tiến hành tố tụng cho rằng, nếu người mua dâm
là người chưa thành niên thì bản thân họ cũng chưa phát triển hoàn thiện về tâmsinh lý nên hành vi của họ chưa có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội và không cầnthiết phải xử lý họ về hình sự Xuất phát từ chính sách hình sự nhân đạo đối vớingười chưa thành niên phạm tội, BLHS hiện hành nên quy định chủ thể của tội nàyphải là người đã thành niên Nếu quy định như vậy sẽ đảm bảo tính thống nhất giữaquy định trong luật và thực tiễn áp dụng luật Vì lẽ đó, tác giả cho rằng, BLHS năm
1999 không quy định rõ chủ thể của tội này là người đã thành niên là có thiếu sót
Do vậy, BLHS hiện hành cần bổ sung cụm từ “đã thành niên” đối với chủ thể củatội này để đảm bảo việc xử lí hình sự thỏa đáng đối với hành vi phạm tội
Đối tượng tác động của tội phạm là người chưa thành niên bán dâm ở độtuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi bao gồm: a) Nếu người phạm tội mua dâm người
đủ 16 đến dưới 18 tuổi thì sẽ bị xử lí theo khoản 1Điều 256; b) Nếu người phạm tộimua dâm người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi thì phạm tội
20 Đỗ Đức Hồng Hà, Tội mua dâm người chưa thành niên – Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
10/2010, tr14-15.
21 Trịnh Thị Thu Hương, Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam và đấu tranh phòng
chống loại tội phạm này”, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội, 2004