Đề bài: Phân tích nội dung và thực tiễn thực hiện nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Bài làm 1. Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Như chúng ta biết, quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới tồn tại và phát triển phải dựa trên những nguyên tắc nhất định. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trong quan hệ quốc tế có 7 nguyên tắc được các quốc gia tôn trọng và thừa nhận trong đó không thể không nhắc đến một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, cốt lõi để hình thành các nguyên tắc khác đó chính là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia. Chủ quyền là một phạm trù mang tính chính trị, pháp lý găn liền với mỗi quốc gia. Chủ quyền bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của mỗi quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của nước mình và quyền độc lập của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế. Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc. Điều này có nghĩa là trong cộng đồng quốc tế các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo thì đều bình đẳng với nhau về chủ quyền. Nguyên tắc này đã trở thành một nội dung quan trọng được ghi nhận cụ thể trong Hiến chương Liên Hợp quốc. Tại điều 2 Hiến chương quy định: “Tổ chức này dựa trên nền tảng là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên của tổ chức.” Các điều ước quốc tế thành lập tổ chức quốc tế khác cũng ghi nhận nguyên tắc tương tự: Điều 10 Hiến chương Tổ chức Liên Mỹ, Điều 5 Hiến chương ASEAN… Để cụ thể hóa nguyên tắc này Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế nêu ra nội dung bình đẳng về chủ quyền của quốc gia được thể hiện như: Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý; Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ; Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác; Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch; Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa của mình; Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác. Từ những nội dung trên , mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn cách thức, con đường chính trị, kinh tế phát triển cho riêng mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước nhưng tựu chung lại họ đều có các quyền chủ quyền như nhau. Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã giải thích cụ thể đó là các quyền: Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa; Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình; Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau; Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan; Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác; Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác.
Trang 1Đề bài: Phân tích nội dung và thực tiễn thực hiện nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia.
Bài làm
1 Nội dung nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Như chúng ta biết, quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới tồn tại và phát triển phải dựa trên những nguyên tắc nhất định Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, trong quan hệ quốc
tế có 7 nguyên tắc được các quốc gia tôn trọng và thừa nhận trong đó không thể không nhắc đến một trong những nguyên tắc cơ bản nhất, cốt lõi để hình thành các nguyên tắc khác đó chính là nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Chủ quyền là một phạm trù mang tính chính trị, pháp lý găn liền với mỗi quốc gia Chủ quyền bao gồm hai nội dung cơ bản là quyền tối cao của mỗi quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của nước mình và quyền độc lập của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ
sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc Điều này có nghĩa là trong cộng đồng quốc tế các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo thì đều bình đẳng với nhau về chủ quyền
Nguyên tắc này đã trở thành một nội dung quan trọng được ghi nhận cụ thể trong Hiến chương Liên Hợp quốc Tại điều 2 Hiến chương quy định: “Tổ chức này dựa trên nền tảng là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên của tổ chức.” Các điều ước quốc tế thành lập tổ chức quốc tế khác cũng ghi nhận nguyên tắc tương tự: Điều 10 Hiến chương Tổ chức Liên Mỹ, Điều 5 Hiến chương ASEAN…
Để cụ thể hóa nguyên tắc này Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về những nguyên tắc của Luật quốc tế nêu ra nội dung bình đẳng về chủ quyền của quốc gia được thể hiện như:
- Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý;
- Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
- Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
- Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế
và văn hóa của mình;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác
Từ những nội dung trên , mỗi quốc gia đều có thể lựa chọn cách thức, con đường chính trị, kinh tế phát triển cho riêng mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế đất nước nhưng tựu chung lại họ đều có các quyền chủ quyền như nhau Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã giải thích cụ thể đó là các quyền:
- Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị,
kinh tế, xã hội và văn hóa;
- Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;
- Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị
ngang nhau;
- Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
- Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc
gia khác;
- Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác
Biểu hiện rõ nhất của những nguyên tắc này có thể nhận thấy như:
Trang 2Một là, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý nghĩa là quốc gia không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, có kinh tế và quốc phòng mạnh hay yếu, không phụ thuộc vào chế độ chính trị và xã hội của họ, đều là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế, có quyền giao tiếp với bất cứ nước nào, tổ chức nào mà họ muốn Mọi quuốc gia từ khi mới thành lập đều có quyền cơ bản đó, hoàn toàn không phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác
Hai là, tất cả các quốc gia đều có những quyền làm nghĩa vụ quốc tế cơ bản như nhau Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, các quốc gia có quyền như nhau không phụ thuộc vào quy chế thực tế của họ Đồng thời, các quốc gia cũng có nghĩa vụ như nhau, phải tôn trọng nhũng nguyên tắc cơ bản và các quy phạm mệnh lệnh khác của Luật quốc tế
Ba là, tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau được tôn trọng về quốc thể, về sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập Chính sách đối ngoại của các nước xuất phát từ quan điểm hoà bình, hợp tác, sẵn sàng quan hệ bình thường với các nước chế độ khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau bình đẳng, cùng có lợi
Bốn là, mỗi quốc gia có quyền được tự do tham gia vào việc giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích của họ không một quốc gia nào có quyền trước đó của một quốc gia khác Thực tiễn này dược áp dụng rộng rãi trong liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế khác
Sáu là, khi giải quyết những vấn đề quốc tế trong phạm vi các tổ chức và hội nghị quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng một lá phiếu có giá trị ngang nhau Trong phần lớp các tổ chức quốc tế, các quốc gia không kể lớn hay nhỏ, đóng góp nhiều hay ít chi phí cho tổ chức quốc
tế, đều sử dụng một chi phí như nhau Các quốc gia ký điều ước với nhau phải trên cơ sở phải bình đẳng, không có một quốc gia nào có quyền áp đặt những điều kiện không bình đẳng đối với quốc gia khác Cho nên, mọi điều ước không bình đẳng do nước này dùng áp lực để áp buộc nước kia phải ký kết là nhưng điều ước không hợp pháp và do đó, không có hiệu lực pháp lý, bởi và chúng đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia Xuất phát từ nguyên tắc nêu trên, các quốc gia đồng thời có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ và thiện chí mọi nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết
Cuối cùng, bởi lẽ các quốc gia là những thành viên bình đẳng trong cộng đồng quốc tế, cho nên mọi quốc gia đều được hưởng quyền miễn trừ như nhau
2 Thực tiễn
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa cá quốc gia trong việc xây dựng pháp luật quốc tế Với xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ như hiện nay, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia ngày càng trở thành nguyên tắc chủ đạo trong quan hệ quốc tế Các quy định của Luật quốc tế đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Việc thực hiện chủ quyền quốc gia trong việc tham gia xây dựng luật pháp quốc tế ngày càng được chú trọng Nó nhằm khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia và được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội cũng như đối ngoại của quốc gia Một ví dụ là khi xây dựng Công ước luật biền 1982, các quốc gia đã thảo luận trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền
và nhất trí ghi nhận điều 87:” Biển cả được bỏ ngỏ cho tất cả quốc gia có biển hay không có biển đều bình đẳng và tự do trong việc sử dụng biển Quyền tự do trên biển cả bao gồm: tự do hànghải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VII công ước Viên quy định về thềm lục địa, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học.” Tuy nhiên không phải vì thế mà việc khai thác diễn ra tùy tiện, các quốc gia khi thực hiện quyền tự do này phải tính dến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền được thể hiện trong việc tuân thủ và thực thi luật pháp quốc tế
Ngày nay, một trật tự thế giới đa cực nhiều trung tâm đang dần được hình thành với sự phát triển của một loạt các quốc gia, việc tuân thủ và thực thi nghiêm chỉnh các nguyên tắc của
Trang 3luật pháp quốc tế nhìn chung đã được các quốc gia chú trọng và nỗ lực để bảo đảm việc nghiêm chỉnh chấp hành Điển hình là việc khi một quốc gia bị xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, hay bị đối xử bất bình đẳng thì vấp phải sự phản đối của rất nhiều nước trong cộng đồng quốc tế Tiêu biểu là cuộc tấn công bằng tên lửa hành trình vào căn cứ của quân đội Syria vào hồi năm 2018 đã vấp phải sự chỉ trích rất nhiều từ các quốc gia như Nga, Trung Quốc hay thậm chí một số đồng minh của Mỹ tại khu vực như Thổ Nhĩ Kì… Họ coi đây là những hành
vi vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Syria Hay đơn cử như việc Trung Quốc liên tục có các hành vi gây hấn ở Biển Đông vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam cũng bị chỉ trích trong những hội nghị quốc tế lớn từ những cường quốc lớn: Mỹ, Anh, Pháp…
- Việc các quốc gia tuân thủ nguyên tắc là vô cùng cần thiết để bảo đảm hòa bình, an ninh hợp tác quốc tế, tuy vậy trên thực tế vẫn có một số trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc và được thừa nhận:
+ Thứ nhất: là trường hợp một quốc gia bị hạn chế chủ quyền do có những vi phạm nghiêm trọng của luật pháp quốc tế Những trường hợp này không hề tạo ra sự bất bình đẳng mà nó là
sự cần thiết Đó là động thái thể hiện sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế với hành vi vi phạm Ví dụ như: Ngày 6 tháng 8 năm 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo
an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq, chuẩn bị cấm vận kinh tế toàn diện, chỉ trừ cung cấp y tế, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác của con người, những biện pháp này được Uỷ ban trừng phạt của Hội đồng Bảo an đưa ra Một ví dụ gần đây nữa là: với việc xây dựng chương trình vũ khí hạt nhân, Liên hợp quốc đã thi hành sự trừng phạt kinh tế thương mại với Triều Tiên vào năm 2006 và 2009 Nghị quyết 1874 đã ngăn cản các dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho chương trình hạt nhân hoặc tên lửa đạn đạo, cấm tất cả việc xuất khẩu vũ khí từ quốc gia này và phần lớn sự nhập khẩu vào quốc gia này
+ Thứ hai: là trường hợp quốc gia tự hạn chế chủ quyền của mình khi tham gia một tổ chức quốc tế, hay như gia nhập một cộng đồng chung nào đó và phải tuân thủ các nguyên tắc trong
đó để từ bỏ một phần quyền của mình Ví dụ: Thụy sỹ khi tuyến bố mình là quốc gia trung lập vĩnh viễn Điều này đồng nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc
tế nào nhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế giới Thụy Sỹ đã tự hạn chế quyền của mình, theo đuổi chính sách đối ngoại trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích của mình
* Bên cạnh việc tôn trọng nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thì chúng ta bắt gặp không ít những trường hợp một số quốc gia coi thường nguyên tắc, xâm phạm trắng trợn chủ quyền của một số nước Trong số này có thể kể đến là hành động của Trung Quốc với sự kiện giàn khoan HD 981 năm 2014 hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thể hiện sự coi thường luật pháp quốc tế, vi phạm nghiêm trọng quyền bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia Hay như nước Mỹ dưới 2 nhiệm kì của tổng thống Bush
đã làm suy giảm uy tín của nước Mỹ khi rút ra khỏi một loạt thỏa thuận như: Hiệp ước Phòng thủ tên lửa ABM (kí năm 1972 với Liên Xô) hòng tìm kiếm lợi thế về vũ khí chiến lược trong bối cảnh nước Nga gặp nhiều khó khăn Đỉnh cao của sự thiếu trách nhiệm là Mỹ quyết định
sử dụng vũ lực xâm lược Iraq năm 2003 mà không có sự cho phép của Liên Hợp Quốc Sự can thiệp của Mỹ dù với lý do gì từ lý do trừng phạt Iraq sở hữu vũ khí hóa học hay vì quyền con người thì đều tạo ra sự lo ngại sâu sắc cho việc tạo ra những tiền lệ xấu trong tương lai của cộng đồng quốc tế
Hết
Trang 43 ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang
tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung, điều chỉnh những quan hệ giữa các chủ thể của Luật quốc tế, hình thành hệ thống cấu trúc bên trong của Luật quốc tế Bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, một nguyên tắc mang tính nền tảng trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế Về mặt lý luận, hiểu một cách khái quát, mỗi quốc gia có chủ quyền tức là có quyền lực tối cao trong quan hệ đối nội và quyền lực độc lập trong quan hệ đối ngoại Nguyên tắc này nhằm đảm bảo
sự công bằng cho các quốc gia trong việc hưởng quyền cũng như thực hiện nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ quốc tế Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khả năng tham gia vào quan hệ quốc tế của mỗi quốc gia là không giống nhau, do đó, các quy phạm pháp luật quốc tế cũng sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với từng hoàn cảnh Bài tiểu luận sẽ phân tích cụ thể về nội dung và thực tiễn nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia, với hai phần chính:
Phần I: Nội dung nguyên tắc
Phần II: Đánh giá thực tiễn thực hiện nguyên tắc
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I
Nội dung nguyên tắc :
1 Sự hình thành nguyên tắc
Xuất hiện từ rất sớm, khi loài người chuyển từ chế độ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa, đây được xem là nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thời bấy giờ Hiến pháp
tư sản cũng ghi nhận nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền dân tộc như một tôn chỉ của mình Tuy vây, trên thực tế trong thời kỳ đó, nguyên tắc này vẫn chưa được tôn trọng và phạm vi điều chỉnh còn hạn chế Các cuộc đấu tranh đầu thế kỷ 19, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai liên tiếp nổ ra nhằm phân chia lại thị trường thế giới đều là những bằng chứng rõ ràng nhất cho sự vi phạm thô bạo nguyên tắc của các nước tư bản thời kỳ đó
1
Từ sự sụp đổ của Hội Quốc Liên và sự ra đời của tổ chức Liên hợp quốc năm
1945 với tôn chỉ, mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc đã ghi nhận "bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia" là nguyên tắc cơ bản nhất trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và đồng thời cũng là nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này Điều 2, khoản 1 Hiến chương ghi rõ: Liên Hợp Quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên
Sở dĩ nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia trở thành một
Trang 5nguyên tắc cơ bản và quan trọng của Luật quốc tế cũng như trong hoạt động của Liên Hợp Quốc bởi vì:
Thứ nhất, do nhu cầu thiết lập một trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai Với sự thất bại của Hội Quốc Liên trong việc ngăn chặn chiến tranh, Liên Hợp Quốc ra đời với nhiều sửa đổi, đặc biệt là trong vấn đề tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới Thứ hai, bình đẳng về chủ quyền các quốc gia là nền tảng của quan hệ quốc tế hiện đại Trật tự quốc tế chỉ có thể được duy trì nếu các quyền bình đẳng của các quốc gia tham gia trật tự đó hoàn toàn được đảm bảo Trong quan hệ quốc tế hiện nay, vấn đề bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập, xây dựng cũng như duy trì một trật tự quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia
2, Khái niệm "Bình đẳng chủ quyền":
Chủ quyền là thuộc tính chính trị-pháp lý vốn có của quốc gia, thể hiện
quyền lực tối cao của quốc gia trong lãnh thổ của mình và quyền lực độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc tế Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có quyền tối thượng về lập pháp, hành pháp và tư pháp mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, đồng thời quốc gia được tự do lựa chọn cho mình phương thức thích hợp nhất để thực thi quyền lực trong phạm vi lãnh thổ Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc Điều này có nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế dù giàu hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế
2
Bình đẳng được đề cập đến trong nguyên tắc này không được hiểu theo
nghĩa "ngang bằng nhau" về tất cả các quyền và nghĩa vụ, mà là bình đẳng trong quyền tự quyết mọi vấn đề liên quan đến đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy, khả năng tham gia vào các quan hệ quốc tế của các quốc gia không giống nhau, do đó Luật quốc tế trong một số trường hợp đã có những quy phạm nhằm trao cho một số quốc gia nhất định những quyền đặc biệt mà các quốc gia khác không có (Ví dụ: quyền phủ quyết của 5 thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc) Tuy nhiên, việc được hưởng các quyền đặc biệt này bao giờ cũng đồng nghĩa với việc các quốc gia này phải gánh vác thêm những nghĩa vụ đặc biệt khác
3, Nội dung pháp lý:
Bình đẳng về chủ quyền của quốc gia bao gồm:
- Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý
- Mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ tôn trọng quyền năng chủ thể của các quốc gia khác;
- Sự toàn vẹn lãnh thổ và tính độc lập về chính trị là bất di bất dịch;
- Mỗi quốc gia có quyền tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế
và văn hóa của mình;
- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và tận tâm các nghĩa vụ quốc tế của mình và tồn tại hoà bình cùng các quốc gia khác
* Theo nguyên tắc này mỗi quốc gia đều có các quyền bình đẳng sau:
- Được tôn trọng về quốc thể, sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa;
Trang 6- Được tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan đến lợi ích của mình;
- Được tham gia các tổ chức quốc tế, hội nghị quốc tế với các lá phiếu có giá trị ngang nhau;
- Được ký kết và gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan;
3
- Được tham gia xây dựng pháp luật quốc tế, hợp tác quốc tế bình đẳng với các quốc gia khác;
- Được hưởng đầy đủ các quyền ưu đãi, miễn trừ và gánh vác các nghĩa vụ như các quốc gia khác
II, Thực tiễn thực hiện nguyên tắc
1, Áp dụng nguyên tắc trong xây dựng, tuân thủ và thực thi pháp luật
quốc tế
a Trong quá trình xây dựng luật quốc tế
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia là nền tảng của quan hệ
quốc tế hiện đại, Hiến chương Liên Hợp Quốc đã lấy nguyên tắc này làm cơ sở cho hoạt động của mình: “ Liên Hiệp Quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền của tất cả các thành viên” (Khoản 1, Điều 2) Nguyên tắc còn được ghi nhận trong điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và tổ chức khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế song phương và đa phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và
tổ chức quốc tế Chính vì lẽ đó, các quy định của Luật quốc tế đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia Việc thực hiện chủ quyền quốc gia vô cùng quan trọng Nó nhằm khẳng định địa vị quốc tế của quốc gia
và được thể hiện qua quyền tự quyết về đối nội cũng như đối ngoại của quốc gia
Ví dụ: Khi xây dựng Công ước luật biền 1982, các quốc gia đã thảo luận trên
cơ sở nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền và nhất trí ghi nhận điều 87 :
Biển cả được bỏ ngỏ cho tất cả quốc gia có biển hay không có biển đều bình
đẳng và tự do trong việc sử dụng biển Quyền tự do trên biển cả bao gồm: tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm với điều kiện tuân thủ phần VII công ước Viên quy định về thềm lục địa, tự do đánh bắt hải sản, tự do nghiên cứu khoa học Tuy nhiên các quốc gia khi thực hiện quyền tự do này phải tính dến lợi ích của việc thực hiện tự do trên biển cả của các quốc gia khác, cũng như đến các quyền được Công ước thừa nhận liên quan đến các hoạt động trong vùng
4
.b Trong việc thực thi pháp luật quốc tế
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của luật quốc tế thì vấn đề thực thi
luật quốc tế cũng là một yêu cầu tất yếu Hiểu đơn giản, thực thi luật quốc tế là quá trình hiện thực hóa các quy định của luật quốc tế vào đời sống sinh hoạt quốc tế Do bản chất của luật quốc tế là tự thỏa thuận, tự cưỡng chế nên trong hệ thống pháp luật quốc tế không có các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp như pháp luật quốc gia mọi hoạt động liên quan đến việc xây dựng và thực thi luật quốc tế trong đời sống sinh hoạt quốc tế đều do các chủ thể luật quốc tế tự thỏa thuận theo nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia Các chủ thể căn cứ vào nguyên tắc cơ bản đó
để xác định, thực thi các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quốc tế quy định, tiến hành các hoạt động mà luật quốc tế cho phép
Trang 7Ví dụ: WTO thừa nhận 3 hình thức của các biện pháp chống bán phá giá, đó
là: biện pháp tạm thời, cam kết về giá và thuế chống bán phá giá chính thức Ba biện pháp đó được điều chỉnh bởi Hiệp định Chống bán phá giá Theo các quy định của WTO, phá giá không bị cấm, nhưngcác thành viên WTO có quyền áp dụng các biện pháp bảo hộ nền công nghiệp nội địa khỏi các tác động xấu từ phá giá Ở đây thể hiện sự tôn trọng chủ quyền và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia thành viên Nguyên tắc còn là công cụ hữu hiệu, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp quốc tế
Ví dụ: trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, khi mà các bên tranh chấp đều
đưa ra lý lẽ của mình trong việc giải thích, áp dụng Công ước về biển thì nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền đóng vai trò vô cùng quan trong trong việc xác định chủ quyền, đảm bảo tính công bằng cho quốc gia có chủ quyền bị xâm phạm
c Trong việc tuân thủ pháp luật quốc tế
Tuân thủ luật quốc tế là một hình thức thực hiện pháp luật quốc tế, trong đó
các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật quốc tế kiềm chế không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Những hành vi không tuân thủ pháp luật quốc tế dẫn đến hậu quả bị áp dụng chế tài bất lợi cho người vi phạm Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền trên thực tế đã phát huy vai trò là một trong những phương tiện thiết yếu để duy trì trật tự pháp lý quốc tế với đặc trưng quan trọng của nguyên tắc là tính mệnh lệnh bắt buộc chung Tất cả các chủ thể đều phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế, bất kì vi phạm nào cũng sẽ tất yếu tác động đến lợi ích của 5
các chủ thể khác của quan hệ quốc tế Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuẩn thủ triệt để nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế
Ví dụ pháp luật quốc tế thừa nhận nguyên tắc “Bình đẳng chủ quyền giữa các
quốc gia” trong quan hệ quốc tế, tuy nhiên nước A do có tiểm lực kinh tế, chính trị mạnh đã dùng ảnh hưởng của mình để tạo áp lực, buộc quốc gia B – là nước đang phát triển phải tiến hành ký kết điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề kinh tế, trong
đó ghi nhận lợi ích quốc gia A nhiều hơn so với B Điều ước này không hợp pháp do
vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Các quy phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên
tắc cơ bản của luật quốc tế đều không có giá trị pháp lý
Ví dụ: Nếu trong các văn bản pháp luật quốc tế như Công ước về hàng không
dân dụng có quy định đi ngược lại nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền thì quy định
đó không có giá trị pháp lý
Đối với các lĩnh vực có nguyên tắc chuyên biệt như Luật biển quốc tế, Luật
hàng không dân dụng quốc tế… bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt trong từng lĩnh vực cụ thể
Ví dụ : trong luật biển quốc tế có ghi nhận một loạt các nguyên tắc chuyên
ngành như: nguyên tắc tự do biển cả, nguyên tắc đất thống trị biển… các quốc gia khi tham gia quan hệ quốc tế liên quan đến biển song song với việc thực hiện
nghiêm chỉnh các nguyên tắc chuyên ngành, họ cũng phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản “ bình đẳng về chủ quyến” của luật quốc tế
2, Các trường hợp đặc biệt
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể của luật quốc tế đã thừa nhận một số
Trang 8ngoại lệ của nguyên tắc này Những ngoại lệ này không hề tạo ra sự bất bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia mà hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và được cộng đồng quốc tế thừa nhận Và hiện nay, tồn tại hai trường hợp ngoại lệ như sau: a
Quốc gia bị hạn chế chủ quyền
6
Trường hợp này đặt ra đối với chủ thể có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế và việc bị hạn chế chủ quyền là các biện pháp chế tài hoặc sự trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với hành vi của họ
Ví dụ như: Ngày 6 tháng 8, 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo
an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq, chuẩn bị cấm vận kinh tế toàn diện, chỉ trừ cung cấp y tế, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác của con người, những biện pháp này được Uỷ ban trừng phạt của Hội đồng Bảo an đưa ra Sau khi kết thúc chiến tranh và sau khi quân Iraq rút khỏi
Kuwait, các biện pháp trừng phạt này được ràng buộc với việc giải trừ Các vũ khí huỷ diệt hàng loạt theo Nghị quyết 687 của Liên hiệp quốc
Hay với việc xây dựng chương trình vũ khí hạt nhân, Liên hợp quốc đã thi hành sự trừng phạt kinh tế thương mại với Triều Tiên vào năm 2006 và 2009 Nghị quyết
1874 đã ngăn cản các dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho chương trình hạt nhân hoặc tên lửa đạn đạo, cấm tất cả việc xuất khẩu vũ khí từ quốc gia này và phần lớn
sự nhập khẩu vào quốc gia này, ngoại trừ vũ khí bộ binh, vũ khí hạng nhẹ và các thiết bị lien quan Việc bị hạn chế chủ quyền này là biện pháp trừng phạt của cộng đồng quốc tế nhằm đảm bảo duy trì hòa bình và an ninh giữa các quốc gia Bởi vì, nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia chỉ được tôn trọng khi quốc gia đạt được lợi ích của mình mà không xâm hại tới lợi ích của các quốc gia khác và phải gắn với những giới hạn cần thiết mà luật quốc tế cho phép
b Trường hợp quốc gia tự hạn chế quyền hạn của mình:
Đây là trường hợp các quốc gia tự lựa chọn vì lợi ích của chính mình hoặc họ
tự hạn chế chủ quyền của mình bằng cách trao quyền cho 1 thể chế khác (như tổ chức quốc tế, quốc gia khác ) được thay mặt mình trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của quốc gia; hoặc một số quốc gia đã tự hạn chế quyền tham gia vào các
tổ chức quốc tế của mình Trong các trường hợp này, quốc gia đã tự nguyện hạn chế quyền chủ quyền của mình và không vi phạm nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
7
Ví dụ:Thụy sỹ khi tuyến bố mình là quốc gia trung lập vĩnh viễn Điều này đồng nghĩa với việc họ không được tham gia vào bất kỳ tổ chức quốc tế nào nhằm theo đuổi mục đích quân sự hay các liên minh kinh tế, chính trị trên thế giới
Thụy Sỹ đã tự hạn chế quyền của mình để theo đuổi chính sách đối ngoại
trung lập nhằm giữ độc lập và bảo vệ lợi ích của mình Mục tiêu của chính sách đối ngoại là bảo vệ, tăng cường vị thế chính trị và kinh tế của Thụy Sỹ trên thế giới Chính sách đối ngoại trung lập là công cụ quan trọng, xuyên suốt và là nội dung chủ yếu của nền ngoại giao Thụy Sỹ từ 1815 tới nay Đây là một chính sách đối ngoại vô cùng khôn khéo giúp Thụy Sỹ tránh được hai cuộc chiến tranh thế giới
Quốc gia hạn chế quyền bằng cách trao quyền cho 1 thế chế khác:
Ví dụ: Công quốc Mô-na-cô cho phép Pháp thay mặt họ trong mọi quan hệ đối
Trang 9ngoại, dù nó là một quốc gia độc lập, có chủ quyền Mô-na-cô theo chế độ quân chủ cha truyền con nối; Bộ trưởng nhà nước do Công tước bổ nhiệm từ danh sách 3 ứng
cử viên người Pháp do Chính phủ Pháp đề cử
Mô-na-cô là một nước nhỏ ở châu Âu, từ thế kỷ XIII đã phụ thuộc vào các
vương triều ở Pháp và Bắc I-ta-lia Từ năm 1918, theo thoả thuận ký với Pháp,
Môna-cô trao cho Pháp quyền đại diện ngoại giao; Pháp bảo hộ nền kinh tế - tài chính, quốc phòng, an ninh Việc công quốc Mônacô đã tự hạn chế quyền hạn chủ quyền của mình khi ủy quyền ngoại giao cho Pháp và cho Pháp can thiệp vào chế độ chính trị của mình nhằm lấy được sự bảo hộ của Pháp, tránh sự can thiệp hay xâm lược từ các quốc gia lớn khách
c Trường hợp quyền phủ quyết của Hội đồng bảo an
Quyền phủ quyết (veto): Là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng
Bảo an có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác, 8
thường trực và không thường trực, bỏ phiếu tán thành Nói cách khác, đây là việc thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa năm nước ủy viên thường trực Trong suốt quá trình hoạt động của mình với tư cách ủy viên thường trực, tất cả năm nước này đều
đã áp dụng quyền phủ quyết của mình trong đó hai nước Mỹ và Liên Xô (cũ) là những nước sử dụng nhiều nhất Kể tử năm 1945, thời điểm Liên Hợp Quốc được thành lập, Liên Xô cũ và Nga sử dụng 120 lần quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo
an, Mỹ sử dụng 76 lần, Anh 32 lần, Pháp 18 lần và Trung Quốc mới sử dụng 5 lần
Để một nghị quyết được thông qua, nó phải thu hút được 9 phiếu thuận từ
tổng cộng 15 nước thành viên của HĐBA, trong đó có 5 thành viên thường trực và
10 thành viên không thường trực Trong số 9 phiếu thuận đó tính cả số phiếu tán thành của các thành viên thường trực Quyền phủ quyết của các thành viên thường trực đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thông qua một nghị quyết
Trên thực tế, không nhất thiết nghị quyết có mang tính thực chất (có liên quan đến thủ tục) nào được thông qua cũng cần phải có đủ năm phiếu thuận của năm ủy viên thường trực Nếu như một nước ủy viên thường trực không ủng hộ hoặc không muốn biểu thị sự ủng hộ của mình đối với một nghị quyết, đồng thời cũng không muốn ngăn cản việc thông qua nghị quyết, nước đó có thể bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, hành động này không bị coi là phủ quyết và nghị quyết vẫn được thông qua Thông thường, các nước ủy viên Hội đồng Bảo an cố tìm cách dàn xếp trước để nghị quyết có thể được thông qua Tuy nhiên, nhiều nước, cho dù biết trước dự thảo nghị quyết của mình sẽ bị phủ quyết nhưng vẫn đưa ra bỏ phiếu nhằm gây sức ép chính trị
Quyền phủ quyết của các ủy viên thường trực hội đồng bảo an không đi
ngược lại với nguyên tắc bình đẳng của Liên Hợp Quốc Bởi lẽ quyền phủ quyết được tạo ra với mục đích đảm bảo tính pháp chế Đồng thời các nước thành viên tham gia cũng tự nguyện công nhận điều đó nên quyền phủ quyết không đi ngược lại với nguyên tắc tự nguyện Tuy nhiên, có trường hợp các quốc gia lợi dụng quyền 9
phủ quyết với mục đích riêng như để bảo vệ cho một số chính phủ có tội ác nghiêm trọng Đây chính là hạn chế lớn nhất trong việc thực hiện quyền phủ quyết Từ đó dẫn tới những tranh cãi xung quanh vấn đề này trong khóa họp Đại Hội Đồng Liên
Trang 10Hợp Quốc nhân kỷ niệm 70 năm thành lập tổ chức quốc tế này Nổi bật với hai ý kiến về vấn đề quyền phủ quyết: một là loại bỏ hoàn toàn quyền phủ quyết, hai là hạn chế quyền phủ quyết trong một số những quy định cụ thể
Ví dụ: nhằm gia tăng sức ép với Nga, Mỹ đã soạn một dự thảo Nghị quyết
yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc lên án cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 16/3/2014 tại nước Cộng hòa tự trị Crimea về kế hoạch sáp nhập vào Nga, đồng thời kêu gọi các nước và tổ chức quốc tế không công nhận kết quả cuộc bỏ phiếu này Bản dự thảo Nghị quyết của Mỹ nhận được sự ủng hộ của 13 nước thành viên của Hội đồng Bảo an, tuy nhiên Nga đã phủ quyết dự thảo, trong khi Trung Quốc bỏ phiếu trắng Nga đã sử dụng quyền phủ quyết vì cho rằng Nghị quyết này đi ngược với nguyên tắc quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc được ghi trong Điều 1 của Hiến chương Liên Hợp Quốc
3 Một số ví dụ về hành vi thiếu trách nhiệm trong quan hệ quốc tế
Thực tế quan hệ quốc tế cho thấy quốc gia theo đuổi những lợi ích vị kỉ, có
thái độ và hành động thiếu cân nhắc về hậu quả, làm phương hại đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác Có thể kể đến một số hành động thiếu trách nhiệm sau:
a Không tôn trọng, tuân thủ các tiêu chuẩn, chuẩn mực, thể chế quốc tế
Hai nhiệm kì cầm quyền của Tổng thống G W Bush làm cho uy tín của Mỹ bị giảm sút nghiêm trọng trên trường quốc tế Lý do cơ bản bởi chính quyền của Tổng thống Bush theo đuổi một loạt các hành động theo đuổi lợi ích quốc gia vị kỉ, ưu tiên các biện pháp đơn phương, và coi trọng sử dụng sức mạnh trong chính sách đối ngoại
Cụ thể, chính quyền Mỹ từ chối tham gia Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, không phê chuẩn Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn 10
diện (CTBT), và rút ra khỏi Hiệp ước Phòng thủ tên lửa ABM (kí năm 1972 với Liên Xô) hòng tìm kiếm lợi thế về vũ khí chiến lược trong bối cảnh nước Nga gặp nhiều khó khăn Đỉnh cao của sự thiếu trách nhiệm là Mỹ quyết định sử dụng vũ lực xâm lược I-rắc năm 2003 mà không có sự cho phép của Liên Hợp Quốc Sự can thiệp của
Mỹ dù với lý do gì “can thiệp nhân đạo”, “truyền bá dân chủ” hay “đánh đòn phủ đầu để đảm bảo an ninh” tạo ra sự lo ngại sâu sắc trong cộng đồng quốc tế Uy tín của Mỹ vì thế mà giảm sút nghiêm trọng Chính vì lý do đó, John Bolton kêu gọi chính quyền Obama cần có những thay đổi mạnh mẽ trong CSĐN của nước này, đưa
Mỹ trở thành một quốc gia “có chủ quyền có trách nhiệm” với các nỗ lực cụ thể để thiết lập một trật tự toàn cầu trên cơ sở luật pháp, đề cao ngoại giao, và chủ nghĩa đa phương
b Xác định và thực hiện lợi ích quốc gia một cách vị kỉ, làm ảnh hưởng
đến lợi ích chính đáng của cộng đồng quốc tế và các quốc gia khác
Gần đây, uy tín của Trung Quốc trên toàn cầu bị suy giảm nghiêm trọng do
nhiều hành vi được coi là thiếu tinh thần hợp tác và vị kỉ, không quan tâm thỏa đáng đến lợi ích chính đáng của các quốc gia khác Trước hết ở khu vực, việc Trung Quốc
từ chối tham gia Ủy hội Sông Mê-kông, và quyết định xây nhiều con đập trên
thượng nguồn con sông mà không qua tham vấn ý kiến của các quốc gia sử dụng chung dòng sông Thái độ và cách thức khai thác vùng thượng nguồn sông Mê-kông của Trung Quốc, dù trong lãnh thổ của quốc gia này, có tác động mạnh mẽ đến môi trường sinh thái ở khu vực và cuộc sống của hàng triệu người dân sống trong lưu