Mục lục I. Đặt vấn đề 1 II. Nội dung nguyên tắc 1 1. Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam 1 2. Nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 2 2.1. Quá trình buộc tội một người phải được chứng minh qua các trình tự, thủ tục, thời hạn nhất định. (không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật) 3 2.2. Căn cứ để xác định tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Người bị tình nghi không có nghĩa vụ chứng minh mình phạm tội, trách nhiệm đó thuộc về cơ quan tố tụng. 6 2.3 Yêu cầu về logic tư duy đối với người và cơ quan tiến hành tố tụng. Theo đó, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó. 8 3. Điều kiện bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 9 III. Kết luận 12 Danh mục tài liệu tham khảo: 13
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN: LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội, 2020
Đề bài
: Đề số 05 Nguyên tắc “ Suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự Việt Nam
và điều kiện bảo đảm thực hiện.
Trang 2Mục lục
I Đặt vấn đề 1
II Nội dung nguyên tắc 1
1 Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam 1
2 Nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 2
2.1 Quá trình buộc tội một người phải được chứng minh qua các trình tự, thủ tục, thời hạn nhất định (không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật) 3
2.2 Căn cứ để xác định tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Người bị tình nghi không có nghĩa vụ chứng minh mình phạm tội, trách nhiệm đó thuộc về cơ quan tố tụng 6
2.3 Yêu cầu về logic tư duy đối với người và cơ quan tiến hành tố tụng Theo đó, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó 8
3 Điều kiện bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 9
III Kết luận 12
Danh mục tài liệu tham khảo: 13
Trang 3I Đặt vấn đề
Luật tố tụng hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Quá trình từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi xét
xử là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, trong đó xét xử là hoạt động trung tâm và mang tính quyết định Để bảo đảm phát hiện chính xác và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời góp phần bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, pháp luật cần phải quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự
Do vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một
số thủ tục thi hành án hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức,
cá nhân và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Trong suốt quá trình diễn ra các hoạt động đó cần phải có các nguyên tắc nhất định làm kim chỉ nam cho hoạt động tố tụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định nguyên một chương với 33 điều về các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng Để tránh oan sai, xét xử nhầm người tại điều 13 các nhà làm luật đã ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong hoạt động tố tụng hình sự, việc ghi nhận nguyên tắc này thể hiện một sự tiến bộ về mặt lập pháp, tư duy pháp lý hiện đại của các nhà làm luật Việt Nam
II Nội dung nguyên tắc
1 Nguyên tắc suy đoán vô tội trong lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam
Theo các nhà nghiên cứu, nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng ở Việt Nam được kế
thừa từ hệ thống pháp luật của các nước tiến bộ trên thế giới Nguyên tắc này được hầu hết các nước coi là nguyên tắc của tố tụng hình sự, được đánh giá là thành tựu vĩ đại của
Trang 4văn minh pháp lý trong việc bảo vệ quyền con người Nguyên tắc này đã được công nhận trong tuyên ngôn nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, đó là:“Bất kỳ người bị buộc tội nào đều có quyền
suy đoán là không phạm tội cho đến khi lỗi của người đó được xác định theo một trình tự
do pháp luật quy định bằng phiên tòa xét xử công khai của Tòa án với sự bảo đảm đầy đủ khả năng bào chữa của người đó”.
Ở Việt Nam, nguyên tắc suy đoán vô tội được Việt Nam cam kết thực hiện thông qua sự kiện Việt Nam ra nhập công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 24/9/1982 Kể từ đây nhiều văn bản pháp lý của Việt Nam kế thừa và ghi nhận nguyên tắc này Tại điều 72 của Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Điều 9 của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa quy định trên đây của Hiến pháp năm
1992 và coi nội dung xác định tại điều luật này là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình
sự nước ta Đến Hiến pháp 2013 thì nguyên tắc này được khẳng định, thừa nhận ở một góc độ cao hơn, rõ hơn các văn bản trước đây Lần đầu tiên trong lịch sử lập Hiến của Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đặt ra quy định tại Chương II : “Quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân” có nội dung “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật” (khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013) Hiến pháp 2013 ra đời làm tiền đề để nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định và ghi nhận rõ ràng đầy đủ tại điều 13 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015
2 Nội dung chủ yếu của nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Nội dung cụ thể của nguyên tắc suy đoán vô tội theo điều 13 như sau:
“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Trang 5Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do
Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”
Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng luôn luôn phải căn cứ vào các nội dung trên để coi một người là có tội Khi chưa đủ các yếu tố trái với căn cứ vô tội thì mặc định rằng họ vẫn
là vô tội dù hành vi phạm tội có thể hình dung và cảm nhận được rõ từ các yếu tố cảm quan bên ngoài Chúng ta có thể thấy nguyên tắc suy đoán vô tội gồm 3 nội dung chủ yếu như sau:
2.1 Quá trình buộc tội một người phải được chứng minh qua các trình tự, thủ tục, thời hạn nhất định (không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật)
Thực chất của nội dung này chính là yêu cầu về trình tự, thủ tục của việc chứng minh tội
và lỗi của người bị buộc tội Yêu cầu này là căn cứ đầu tiên, một bộ phận để kết luận suy đoán người đang bị tình nghi, bị điều tra là vô tội Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bất
cứ tội phạm nào cũng phải được chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định Quá trình chứng minh tội phạm được thực hiện từ khi có tố giác, tin báo
về tội phạm và thông qua các thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kết thúc điều tra đề nghị truy tố, truy tố bằng bản cáo trạng và tiến hành xét
xử, điều tra công khai tại phiên tòa Nếu có căn cứ để kết tội thì Tòa án sẽ ra bản án kết tội Trong trường hợp, bản án kết tội không bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án đó có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp bản
án kết tội có kháng cáo hoặc kháng nghị thì bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật và vụ án bắt buộc phải được xét xử theo thủ tục phúc thẩm Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử tuyên án
Trong suốt giai đoạn trên trách nhiệm chứng minh tội phạm luôn thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Người nào đó chỉ bị trở thành tội phạm khi lỗi của họ được chứng minh, được chỉ ra bằng một bản án kết tội, ghi rõ tội danh, khung hình phạt có hiệu lực pháp luật Hiểu đơn giản thì đây là nguyên tắc lỗi không được chứng minh, đồng nghĩa với sự
vô tội được chứng minh Nguyên tắc này đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho người bị buộc
Trang 6tội trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự bởi lẽ người bị buộc tội luôn ở vị thế yếu, bị động, nhất là đối với người bị bắt, bị tạm giam họ không thể tự mình chứng minh Trên hoạt động tố tụng thực tế và ở góc độ pháp luật cũng đều thừa nhận không phải mọi người
bị buộc tội đều là chủ thể của tội phạm Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không được đối xử với người bị buộc tội như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất như tạm giam Bộ luật Tố tụng hình sự cũng quy định chế độ tạm giữ, tạm giam của người bị buộc tội không giống chế độ giam giữ của người chấp hành án phạt tù Trong giai đoạn điều tra nếu không chứng minh được bị can là người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra phải ra ngay quyết định đình chỉ điều tra vụ án Trong các giai đoạn truy tố, xét xử cũng vậy, khi các cơ quan cảm thấy không đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội thì họ phải có biện pháp ngừng ngay việc buộc tội và trả lại sự trong sạch cho bị can bằng quyết định của mình
Việc đưa nguyên tắc suy đoán vô tội vào trở thành nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình điều tra là vô cùng cần thiết Bởi lẽ, khung hướng chung khi giải quyết vụ án hình sự, các
cơ quan tố tụng luôn luôn nhìn người bị buộc tội đối xử với họ như đối với người có tội Điều này cũng dễ hiểu bởi họ đã bị ảnh hưởng của khuynh hướng buộc tội – một khuynh hướng hay xuất hiện trong mô hình tố tụng thẩm vấn
Thủ tục pháp lý là một trong những yêu cầu cốt lõi của nguyên tắc suy đoán vô tội Theo tinh thần của nguyên tắc, tại nhiều điều luật cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã nhấn mạnh các yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục, coi đó cũng là một nguyên tắc của tố tụng hình sự Chẳng hạn như điều 7 của Bộ luật Tố tụng hình sự xác định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn
cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” Ngoài ra, những công việc khác để chứng minh một người phạm tội cũng được Luật quy định rất chi tiết, rất cụ thể: Chứng cứ sẽ vô hiệu (Điều 87), hồ sơ phải được trả lại để điều tra bổ sung (Điều 236 và 280), bản án bị hủy để điều tra lại hoặc xét xử lại khi xét xử phúc thẩm (Điều 358) và trong thủ tục giám đốc thẩm (khoản 3 Điều 371, Điều 388) nếu phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng Việc đòi hỏi về tính thủ tục chặt chẽ, đã khiến các nhà làm luật xây dựng riêng một chương về
Trang 7các biện pháp thu thập chứng cứ để chứng minh người phạm tội Các biện pháp được ghi nhận trong luật là: Ghi âm bí mật, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật
dữ liệu điện tử (Điều 233) Trong những trường hợp đó, Bộ luật đã xác định chặt chẽ nhưng đảm bảo cho việc giữ bí mật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp công nhận, bảo đảm và bảo vệ theo tinh thần của điều 21 Hiến pháp 2013
Trong quá trình tiến hành thu thập chứng cứ, cơ quan tố tụng phải căn cứ vào bối cảnh, tình tiết, sự phù hợp trong lời khai, lời nhận tội của bị can để đưa ra nhận định khách quan nhất Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội (Điều 98, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: “Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” nói lên rằng, người bị buộc tội luôn luôn được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa như Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình
sự đã xác định và thực hiện quyền đó bằng mọi biện pháp hợp pháp, trong đó có việc đưa
ra chứng cứ chứng minh sự vô tội của mình
Việc chứng minh của người bị buộc tội thể hiện tính công bằng và minh bạch của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm và bảo vệ công lý So với các Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
và năm 2003, theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều có quyền đưa ra chứng cứ mà không chỉ là đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu Đồng thời, những người này cũng có quyền trình bày ý kiến của mình về chứng cứ do các chủ thể tố tụng khác đưa ra, yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó Người bào chữa ngoài các quyền kể trên còn
có quyền thu thập chứng cứ, đưa ra chứng cứ, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ,
đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản (khoản 1 Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) Người buộc tội cũng có quyền không trả lời các câu hỏi của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng mà nhiều người còn gọi ngắn gọn là “quyền im lặng” của người bị buộc tội
Trang 8Nội dung này bắt nguồn từ quyền không buộc phải chứng minh của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan và người buộc tội, nhằm bảo đảm tự do và an toàn cá nhân cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự, phù hợp với Công ước quốc tế năm 1966
2.2 Căn cứ để xác định tội và lỗi của người bị buộc tội chỉ có thể được xác định bởi một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Người bị tình nghi không có nghĩa
vụ chứng minh mình phạm tội, trách nhiệm đó thuộc về cơ quan tố tụng.
Sở dĩ căn cứ định tội này được đưa ra là vì chức năng nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ công lý Thế cho nên chỉ tòa án mới là cơ quan có quyền năng phán xét một ai đó có tội hay vô tội bằng bản án của mình Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm
1966 cũng đã xác định: “Bất cứ người nào do bị bắt hoặc bị giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu xét xử trước Tòa án nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do nếu việc giam giữ là trái pháp luật” “Bất kỳ người nào đều có quyền đòi hỏi việc xét xử công bằng và công khai do một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội trong vụ án hình sự.” (các Điều 9.1, 9.2, 9.3, 14.1 Công ước)
Để ra được một bản án kết tội, Tòa án phải dựa trên các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, phải đối chiếu và tuân thủ theo thủ tục tố tụng với nhiều công đoạn, trình tự thủ tục nghiêm ngặt chứng minh bị cáo có tội Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó Những yêu cầu trên đây được quy định tại các điều từ
91 – 94, 98 của Bộ luật Tố tụng hình sự khi nói về chứng cứ, về lời khai của người làm chứng, của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án
Tinh thần xuyên suốt trong Bộ luật Tố tụng hình sự đặt cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ chứng minh chứng cứ đó phù hợp với tình tiết vụ án để kết tội người bị buộc tội Tại Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về nguyên tắc xác định sự thật của
Trang 9vụ án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”
Thực chất quy định trên không thuộc nội dung nguyên tắc xác định sự thật của vụ án mà thuộc về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội Bởi vì, cùng với việc khẳng định không thể bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì cũng có nghĩa thừa nhận người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình Để xác định một người là người phạm tội, trên cơ sở đó truy cứu, áp dụng trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) phải chứng minh được người đó là người thực hiện hành vi bị Luật hình sự coi là tội phạm Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội người đó Trên thực tế, có thể một người đã thực hiện tội phạm Về khách quan, họ là người phạm tội, nhưng nếu không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi được Luật hình sự coi là tội phạm, thì các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể truy cứu,
áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người đó Chứng minh tội phạm là một quá trình Quá trình đó diễn ra ở cả giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Quyền và trách nhiệm chứng minh tội phạm không chỉ thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà còn thuộc
về cả Tòa án
Đã có nhiều tranh luận về trách nhiệm buộc tội của cơ quan có thẩm quyền Có ý kiến cho rằng, trách nhiệm chứng minh tội phạm chỉ thuôc về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, còn Tòa án với chức năng xét xử thì không có trách nhiệm chứng minh Đây là một quan điểm chưa thực sự xác đáng Bởi lẽ, ở Việt Nam, mô hình tố tụng là mô hình thẩm vấn Tại phiên tòa, Tòa án tham gia vào việc thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng,
áp dụng những biện pháp do pháp luật quy định để chứng minh làm rõ bị cáo phạm tội hay không phạm tội; nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình
sự Trên cơ sở đó, Tòa án mới ra phán quyết, kết tội, quyết định hình phạt đối với họ Như vậy, theo pháp luật tố tụng hình sự nước ta, Tòa án cũng có trách nhiệm chứng minh tội phạm
Người bị tình nghi (bị bắt giữ trước khi khởi tố bị can), bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình Điều này có nghĩa, người bị bắt giữ, bị
Trang 10can, bị cáo có quyền đưa ra các chứng cứ để chứng minh mình không phạm tội Ví dụ, chứng minh mình vô tội bằng việc đưa ra chứng cứ về thời gian xảy ra vụ việc mình không có ở đó và không thể thực hiện hành vi phạm tội hoặc đưa ra chứng cứ, chứng minh có người khác,chứ không phải mình đã thực hiện tội phạm… Hay như họ im lặng cũng là quyền để chứng minh mình không phạm tội.Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự nước ta không quy định cụ thể nhưng đã mặc nhiên thừa nhận quyền im lặng của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo Bởi lẽ, theo các quy định của pháp luật hình sự, việc người
bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không khai nhận hành vi phạm tội của mình thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội từ chối khai báo theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và cũng không bị coi là có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 của luật đó Trong trường hợp bị can, bị cáo thành khẩn khai báo thì lại bị coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thậm chí trong giai đoạn điều tra họ không khai báo hoặc khai báo gian dối nhưng tại phiên tòa lại thành khẩn khai báo thì họ vẫn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự Trường hợp bị cáo khai báo gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội khai báo gian dối theo quy định tại tại Điều 307 của Bộ luật Hình sự
2.3 Yêu cầu về logic tư duy đối với người và cơ quan tiến hành tố tụng Theo đó, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó
Nội dung trên được điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người
bị buộc tội không có tội”
Nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi sự buộc tội phải dựa trên những chứng cứ xác thực không còn nghi ngờ Mọi sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo đều phải được kiểm tra, chứng minh làm rõ Nếu không chứng minh làm rõ được sự nghi ngờ thì
sự nghi ngờ đối với người bị bắt giữ, bị can, bị cáo phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ Ví dụ, nghi ngờ một người là phạm tội nhưng không chứng minh được họ phạm