1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội

96 1,5K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Tính Phí Nước Bảo Vệ Môi Trường Đối Với Nước Thải Công Nghiệp Cho Một Số Cơ Sở Dệt May Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Phan Văn Trung
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh Tế Môi Trường
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 874,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Trang 1

Lời mởđầu

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phát triển như vũ bão, đòi hỏi sự

lỗ lực vươn lên không ngừng của các nước kém phát triển để bắt kịp nhịp độphát triển chung của thế giới Trên thực tếđã cho thấy rằng cùng với sự nỗlực phát triển kinh tế là vấn đề môi trường đãđên mức báo động, đặc biệt làởcác nước nghèo Tại các nước này để phát triển kinh tế họđã vàđang xâmphạm sâu sắc đến môi trường tự nhiên bắt nguồn từ các hoạt đồn khai tháctài nguyên quá mức, động thời xả thải vào môi trường một lượng lớn chấtthải ít hoặc không hềđược qua một khâu xử lý nào Đứng trước tình trạngđóđòi hỏi chúng ta phải có những công cụ và biện pháp hữu hiệu để làmgiảm bớt các tác động tiêu cực tới môi trường sinh thái và môi trường sốngcủa con người Trong thực tiễn cho thấy rằng các công cụ kinh tế là mộttrong các công cụ hữu hiệu nhất đãđược các nước phát triển áp dụng và thuđược hiệu quả cao trong quản lý môi trường

Ở Việt Nam hiện nay có thể nói rằng vấn đề môi trường đã là một vấn

đề thời sự nóng bỏng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước.Ngày nay cùng với sự hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu đòi hỏi chúng

ta phải có những lỗi lực phát triển, để nhanh chóng thoát ra khỏi đói nghèo,đưa nền kinh tế bắt kịp mặt bằng chung của khu vực và thế giới Tuy nhiêncùng với những lỗi lực phát triển ấy là vấn đề môi trường đang bịđe doạnghiêm trọng, lợi ích kinh tếđã làm lu mờđi ý thức bảo vệ môi trướng đặcbiệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay Đã gây lên những mâuthuẫn gay gắt trên con đường phát triển của đất nước, giữa bảo vệ môitrường và phát triển kinh tế Trong đó hàng loạt các vấn đề môi trường đặt ranhư: sự cạn kiệt nguồn tài nguyên, tình trạng xả thải trực tiếp không qua xử

lý, sự suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường nước và môi trườngkhông khí….đã có những ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất và sinh hoạtcủa đời sống kinh tế xã hội Đứng trước những thách thức đóđòi hỏi toàn

Trang 2

Đảng, toàn dân ta phải có những biện pháp quản lý thích hợp để dung hoàgiữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Trong đó công cụ kinh tếđã bắtđầu được quan tâm áp dụng trong quản lý môi trường bước đầu áp dụng đãmang lại những kết quả nhất định Trong các biện pháp kinh tếđang được ápdụng ở Việt Nam thì phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệpđãđược triển khai áp dụng trong hai năm trở lại đây đã thu được nhiều kếtquả trong quản lý giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước Tuy nhiên việc tính phínước thải công nghiệp hiện nay ở Việt Nam còn ở mức độ sơ khai nên chưaphát huy được hết hiệu quả của nó Trong việc tính và thu phí còn nhiều bất

cập Chính vì thế tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là:”Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội.”

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tôi tập trung đi sâu vào nghiêncứu xây dựng lại công thức tính phí nước thải công nghiệp và tính phí thửcho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội.Đề tài nghiên cứugồm ba chương:

chương I: Cơ sở lý luận chung của việc áp dụng các công cụ kinh tếtrong quản lý môi trường

Chương II: Hiện trạng môi trường nước thải công nghiệp trên địa bànthành phố Hà Nội

Chương III: Mô hình tính phí nước thải công nghiệp cho một số cơ sởdệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội

Các phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp điều tra

Phương pháp mô hình hoá

Phương pháp phân tích số liệu

Trang 3

Đây là một trong các nguyên tắc quan trọng nhất để làm căn cứ khoahọc cho việc thiết lập các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, được cácnước thành viên của tổ chức các nước kinh tế phát triển OECD đưa ra vàđượcchấp nhận từ những năm 1970 Theo nguyên tắc người gâp ra ô nhiễm phảitrả tiền ( PPP) quy định rằng: Những người gây ra ô nhiễm môi trường phảichịu trách nhiệm về tài chính đối với hậu quả môi trường mà các hoạt độngcủa mình gây ra ( kể cả các hoạt động đó là hợp pháp hay không hợp pháp ).Cũng theo nguyên tắc PPP thì chính phủ sẽ không được tài trợ cho các vấn đề

xử lýô nhiễm môi trường, vì nếu Chính phủ trợ cấp sẽ làm tăng việc gây ônhiễm của các chủ thể hoạt động, mà người gây ô nhiễm phải đóng góp tàichính ( có thể là tiền phí hoặc tiền thuế ) cho chính quyền, số tiền đó sẽđượcđưa vào quỹ bảo vệ môi trường và nó sẽđược tái đầu tư cho các công trìnhmôi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm Một khi các chủ thể hoạt động phảiđóng gáp tài chính như vậy họ sẽ phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phíđểtứđóđiều chỉnh hành vi hoạt động của mình là có tiếp tục xả thải ra môitrường không qua xử lý và chụi đóng góp tài chính hay làđầu tư một côngnghệ xử lý trước khi xả thải và không phài đóng góp tài chính Chính vì vậy

mà mức đóng góp ( trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm ) ởđây phải được xácđịnh đúng với giá trị lợi ích thu lại của môi trường hay nói cách khác các chiphí mà họ bỏ ra phải bằng hoặc cao hơn chi phí xử lý hâu quả môi trường do

họ gây ra, có như vậy mới khuyến khích các doanh nghiệp hạn chế xả thải và

tự nguyện lắp đặt công nghệ xử lý trước khi xả thải

Trang 4

Tuy nhiên nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền cũng khôngcần thiết phải tạo ra sự công bằng mặc dù nguyên tắc này quy định rằng ngườigây ra ô nhiễm phải trả tiền, khi đó các chủ thể gây ra ô nhiễm (doanh nghiệp)sẽđối phó bằng cách nâng giá sản phẩm lên và họđẩy chi phí phải trả cho vấn

đề môi trường sang người tiêu dùng gánh chịu Mặt khác nguyên tắc này cũngkhông cần thiết quy định nghĩa vụ pháp lý về tài chính và nó cũng không phải

là thuế môi trường - đó là một số mặt hạn chế của nguyên tắc này Tuy nhiên

nó vẫn được các nước chập nhận rộng rãi là xuất phát từ một lý do kinh tế,các doanh nghiệp áp dụng biện pháp bảo vệ môi trường thường có chi phí caohơn vì gánh chịu chi phí phòng ngừa hoặc chi phí xử lýô nhiễm dẫn tới giá cảcao hơn đãảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm của họ và nhưvậy so với các đổi thủ kông áp dụng các biện pháp môi trường hóđã mất đi lợithế Đểđảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp này trong hoạt độngthương mại khối các nước kinh tế phát triển OECD đã thống nhất áp dụngnguyên tắc này Và từđó nguyên tắc PPP đã lan truyền vàđược chập nhậnrộng rãi trên toàn cầu Cho tới nay nó vẫn là một trong những nguyên tắc chủyếu cho việc thiết lập các chính sách môi trường của các quốc gia trên thếgiới, đặc biệt là trong khối các nước OECD, thậm chí nguyên tắc này đãđượcđưa vào văn bản pháp quy để thực hiện Ví dụ tại ThuỵĐiển chính phủ thutiền từ các cơ sở công nghiệp không những để trả cho xử lýô nhiễm mà còntrợ cấp cho công tác quan trắc môi trường

Đối với các nước đang phát triển, việc áp dụng nguyên tăc PPP gây ramột số bất lợi về mặt kinh tế Khi các nước này thực hiện đúng thưo nguyêntắc PPP sẽ rất khó có thể cạnh tranh với các nước phát triển giàu có và vấn đềbất công sẽ xảy ra Tại các nước nghèo họ phải đối mặt với nền kinh tế chậmphát triển vàđi cùng với nó là vấn nạn môi trường, một mặt cũng do các nướcphát triển đã gây ra qúa nhiều ô nhiễm cho họ thông qua chuyển giao côngnghệ cũ lạc hậu và khai thác tối đa tài nguyên của họ Đối với các nước giàu

có họ có thừa khả năng chi trả cho môi trường còn đối với các nước nghèo

Trang 5

thìhoàn toàn không có khả nằng chi trả, trong khi đó họ phải chịu chi phí choviệc gây ra ô nhiễm từ các nước giàu.

Chính vì thế khi áp dụng nguyên tắc này cũng có những điều khônghợp lý.Một là khi người giàu gây ra ô nhiễm nhưng lại ép người nghèo phảichịu chi phí Hai là có những yếu tố môi trường chúng ta không thể mua đượcbằng tiền hoặc việc định giá nó là rất khó khăn, khi đó việc áp dụng nguyêntắc này sẽ không chính xác trong việc xác định mức phải trả cho chủ thể gây

ra hậu quả môi trường

Để làm rõ hơn nguyên tắc này ta xét một ví dụ trong thực tiễn ở ViệtNam, đó là trường hợp xả thải của khu công nghiệp Thượng Đình vào sông

Tô Lịch đã gây ra ô nhiễm nước cho dòng sông gây thiệt hại về kinh tế chocác họ dân sống hai bên bờ sông Tô Lịch Như vậy khu công nghiệp ThượngĐình đã gây ra ô nhiễm môi trường nhưng lại không mất chi phí cho hành vigây ô nhiễm của mình Nếu theo nguyên tắc PPP thì khu công nghiệp ThượngĐình sẽ phải đền bù thiệt hại cho những hộ dân sống ở hai bên bờ sông hoặc

là sẽ phải lắp đặt một hệ thống xử lý nước thải trước khi xả thải vào dòngsông hoặc là phải chịu đóng một khoản chi phí cho chính quyền địa phương

để họđầu tư cho các công trình môi trường Và ta giả sử rằng việc thu phínước thải của khu công nghiệp Thượng Đình làđúng với chi phí mà nhà máy

bỏ ra để lắp đặt xử lý nước thải thì khi đó họ sẽđẩy chi phí giá thành sản phẩmlên cao Như vậy vô hình chung chi phí cho ô nhiễm này sẽđẩy sang ngườitiêu dùng sản phẩm của khu công nghiệp

1.1.2.Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền ( BPP)

Nếu như nguyên tắc người gây ra ô nhiễm phải trả tiền đòi hỏi các chủthể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu chi phí cho hậu quả môi trường mìnhgây ra thì ngược lại nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền lại cho rằngnhững người được hưởng lợi từ môi trường phải trả một khoản tiền cho sựhưởng lợi đó Ta thấy rằng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền mang

Trang 6

tính chất khắc phục, xử lý cuối đường ống hậu quả của chủ thể hoạt động gây

ra ô nhiễm môi trường thì với nguyên tắc BPP lại mang tính chất phòng ngừa

là chính ởđây người được hưởng thụ môi trường cũng phải trả tiền Quay trởlại với ví dụ của khu công nghiệp Thượng Đình đã xả thải gây ra ô nhiễm chodòng sông Tô Lịch, theo nguyên tắc người hưởng lợi tử môi trường phải trảtiền thì những người tiêu thu sản phẩm của khu công nghiệp cũng phải trả mộtkhoản chi phí cho việc cải thiện môi trường nước sông Tô Lịch, và nhữngngười sống ở hai bên bờ sông cũng phải đóng góp chi phí cho vấn đề xư lýônhiễm nước sông

Thực hiện nguyên tắc BPP trong việc áp dụng các công cụ kinh tế trongquản lý môi trướng sẽ tạo ra môt khoản thu đáng kể cho quỹảo vệ môi trường.Với ý thức môi trường ngày càng cao và tốc độô nhiễm môi trường nhanhchóng hiện nay thì ngày càng có nhiều người muốn hưởng thụ môi trườngtrong lành từđó họ sẽ sẵn sàng chấp nhận bỏ ra một khoản chi phí cho việchưởng thụđó Tuy nhiên khi thực hiện nguyên tắc này lại không khuyến khíchđược chủ thể hành động có trách nhiệm bảo vệ môi trường trước hành độngcủa mình, và việc sử dụng nguyên tắc này cũng không được công bằng trongkhi có nhiều người không mong muốn trả tiền cho cải thiện môi trường hoặc

họ không có khả năng chi trả Nhưng họ lại vẫn được hưởng ngoại ứng tửviệc chi trả của những người sẵn lọng chi trả cho việc hưởng thụ môi trườngcủa họ Ví dụ khi chúng ta đến khu du lịch Hạ Long thì phải mua vé vào cửa

và như vậy tức là chúng ta đã trả chi phí cho việc hưởng thụ cảnh quan môitrường trong lành ở Hạ Long Với số tiền thu được này các nhà quản lý khu

du lịch Hạ Long sẽ dùng nóđể cải thiện và bảo vệ môi trường khu du lịchtránh khỏi những ô nhiễm có thể xảy ra Nhưng một vấn đềđặt ra là nhữngngười sống sở tại họ không hề mất một khoản chi phí nào ( không mất tiềnvé) nhưng họ vẫn được hưởng một bầu không khí trong lành và thưởng ngoạncảnh đẹp

Trang 7

Trong tương lai nguyên tắc BPP sẽ là một trong những nguyên tắc cơbản cho các chính sách bảo vệ môi trường Vì mục đích cuối cùng của nguyêntắc này là hướng tới nhằm bảo vệ môi trường nên nó ngày càng được cácnước trên thế giới quan tâm chúý trong công tác quản lý môi trường.

I.2.Các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường:

Công cụ kinh tế được hiểu là những công cụ chính sách nhằm thay đổichi phí và lợi ích của những hành động của chủ thể hoạt động kinh tế thườngxuyên tác động tới môi trường, áp dụng các công cụ kinh tế làm tăng cường ýthức và trách nhiệm trước việc gây ra ô nhiễm môi trường của các chủ thểhoạt động Các công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả, chúng nâng giácủa các hành động làm tổn hại môi trường lên hoặc hạ giá của các hành độngbảo vệ môi trường xuống Công cụ kinh tế cũng dành khả năng lựa chọn chocác công ty và các cá nhân ( chủ thể hành động ) tối ưu nhất sao cho phù hợpvới điều kiện của họ

Công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên nền tảng của các nguyên tắcPPP và nguyên tắc BPP, kết hợp với các nguyên tắc trong mệnh lệnh và kiểmsoát ( CAC ) , biểu hiện thông qua các quy định của pháp luật Công cụ kinh

tế được bảo đảm thực hiện bởi tính tự nguỵên và được hỗ trợ thực thi bằngcông cụ pháp lý trong những trường hợp cần thiết Ví dụ trường hợp áp dụngmức thuế ưu đãi lãi suất vốn vay đối với các dự án thân thiện với môi trường,các nhà đầu tư có thể quyết định đầu tư một công nghệ sạch để được hưởngmức thuế ưu đãi hay là đầu tư một công nghệ bình thường và vay vốn vớimức lãi suất bình thường Trường hợp khác công cụ kinh tế lại mang tính bắtbuộc và nó gắn với nghĩa vụ pháp lý như trường hợp thuế ô nhiễm môi trường

và phí bảo vệ môi trường đối với nước thải ở đây các chủ thể hoạt động có xảthải ra môi trường làm ô nhiễm môi trường sẽ bị cưỡng chế nộp một khoảnchi phí cho cơ quan nhà nứơc theo đúng quy định của pháp luật

I.2.1 Tại sao phải áp dụng cụng công cụ tế trong quản lý môi trường:

Trang 8

Trong lịch sử phát triển kinh tế của toàn cầu đã cho thấy rằng, giữa pháttriển kinh tế và bảo vệ môi trường có mối quan hệ khăng khít gắn bó khôngthể tách rời Hay nói cách khác hệ thống môi trường và hệ thống kinh tế làhai bộ phận của một thực thể không thể tách rời Nền kinh tế không thể hoạtđộng nếu tách khỏi hệ thống môi trường, hệ thống môi trường đóng vai trò làđầu vào quan trọng cho quá trình hoạt động sản xuất và nó là nơi tiếp nhậnmọi đầu ra của hệ kinh tế Mối quan hệ trên được thể hiện qua sơđồ sau:

Trước đây trong quản lý môi trường các nước trên thế giới chỉ sử dụng nhữngquy định pháp lý để điều chỉnh hành vi liên quan tới môi trường hầu nhưđãkhông đạt được hiệu quả như mong muốn Mặt khác các tổ chức môi trườngthường xuyên thiếu nguồn ngân sách để hoạt động, cũng như các vấn đề môitrường đòi hỏi một nguồn kinh phí lớn đôi khi năng lực tài chính của mộtquốc gia cũng không thể đáp ứng được Mặt khác khi áp dụng các tiêu chuẩn

Hệ kinh tế

Hệ môi trường ( đất, nước, không khí, sinh vật,…)

Trang 9

pháp lý đơn thuần đôi khi qua cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt trong quản lýmôi trường Để giải quyết vấn đề này các công cụ kinh tế đã ra đời và được sửdụng trong quản lý môi trường, bước đầu đã mang lại những kết quả to trong

lỗ lực hạn chế sự ô nhiễm môi trường xuống mức tối đa có thể Khi áp dụngcác công cụ kinh tế trong quản lý môi trường làm tăng hiệu quả chi phí , việc

sử dụng giá cả để làm thước đo cho mọi hoạt động liên quan tới môi trường

đã làm cho các công ty tìm kiếm được mức chi phí hiệu quả nhất trong khảnăng lựa chọn của họ.Một điều nữa là khi áp dụng các công cụ kinh tế sẽkhuyến khích nhiều hơn cho việc đổi mới các dây chuyền công nghệ cũ kỹ lạchậu bằng các công nghệ thân thiện với môi trường hơn Các công cụ kinh tếcũng tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp vì nó giúp doanhnghiệp tính toán được mức chi phí tối ưu nhất trong việc xử lý ô nhiễm môitrường

Trong ngày nay, việc kết hợp giữa các yếu tố pháp lý vào trong cáccông cụ kinh tế trong quản lý môi trường đã và đang mang lại nhiều hiệu quả

to lớn trên con đường phát triển bền vững của nền kinh tế của các quốc gia

và toàn cầu

I.2.2 Thuế và phí bảo vệ môi trường:

Tiền thuế và tiền phí là một trong những loại công cụ kinh tế phổ biến

và được áp dụng rộng rãi nhất trên toàn cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trườngnói chung và lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung Thuế và phí môi trườngmang tính pháp lý cao được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật Bản chất củatiền thuế và tiền phí là làm tăng thêm cái giá phải trả co những hoạt động

mà chúng tham gia vào việc cản trở mục tiêu bảo vệ môi trường và thu nhậpcủa xã hội Trong tiền thuế và tiền phó có thể chia chi tiết thành các khoảnthuế và phí khác nhau ví dụ: thuế cho sản phẩm đầu vào, thuế cho sản phẩmđầu ra, thuế đánh vào người sản xuất hay người tiêu dùng….Trong thực tếthì tiền thuế và tiền phí là hai công cụ kinh tế hữu hiệu nhất trong quản lý

Trang 10

môi trường Đồng thời đây cũng là một trong các nguồn thu chủ yếu cho quỹ

ảo vệ môi trường của các quốc gia Khi các công cụ thuế và phí môi trườngđược áp dụng sẽ có hiệu quả răn đe và mang tính giáo dục cao đối với cácchủ thể gây ô nhiễm môi trường Tuỳ thuộc vào mức thuế suất cao hay thấp

mà mức độ điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm của các chủ thể hành động lànhiều hay ít theo sự mong muốn của các nhà quản lý

Ví dụ về một số loại phí và thuế thường được sử dụng:

+ Tiền phí trả cho mỗi tấn BOD hoặc SO2 thải ra môi trường

+ Tiền thuế cacbon

+Tiền thuế đánh vào việc sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu.+ Lệ phí sử dụng nước,

+ Lệ phí lấp hố rác…

I.2.3 Các chương trình thương mại:

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu, thì xuthế đối thoại đang trở lên là mối quan tâm hàng đầu cùa các doanh quốc gia

và các doanh nghiệp Mọi hoạt động của doanh nghiệp đều hướng tới lợi íchkinh tế cao nhất có thể Trong kinh doanh ngày nay không chỉ có chất lườngsản phẩm là trên hết mà vấn đề danh tiếng, uy tín trên thương trường cũng làmối quan tâm rất lớn trong chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp.Trong bối cảnh đó các chương trình thương mại sẽ có vai trò tích cực đốivới việc điều chỉnh hành vi của chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh Cácchương chình thương mại có liên quan đến bảo vệ môi trường được phản ánhthông qua nhiều hình thức khác nhau nó có thể là:

- Giấy phép phát thải

- Tiền trợ cấp tiêu thụ sản phẩm hoặc sản xuất

- Chứng nhận giảm phát (CER) thải có thể mua bán

Một trong các hình thức thương mại phổ biến hiện nay được sử dụngtrong quản lý môi trường đó là chứng nhận giảm phát thải có thể trao đổi

Trang 11

mua bán trên thị trường Đây là hình thức thương mại chủ yếu đựơc áp dụng

ở hầu hết các quốc gia phát triển hiện nay Và đặc biệt nó đã được đưa vàonghị định thư kyôto như là một trong ba biện pháp giảm thải trong cam kếtcủa nghị định thư nhằm làm giảm thiểu hiệu ứng nhà kính thông qua chứngnhận giảm phát thải được công nhận( các nước có thể thoả thuận với nhau để

đi đến việc trao đổi mua bán các chứng nhận giảm phát thải này) Ví dụtrong cơ chế phát triển sạch, bên tham gia ở đây là một nước phát triển đầu

tư một công nghệ điện chạy bắng sức gió thay thế cho nhà máy nhiệt điện ởmột nước kém phát triển và qua đó họ đã tính toán được lượng khí nhà kínhđược cắt giảm nhờ công nghệ thay thế này Và nước phát triển sẽ đước cấpmột chứng nhận giảm phát thải nước này có thể đem chứng nhận này báncho một nước khác tuỳ theo điều kiện phát thải của mình Hay ta xet một ví

dụ khác về trường hợp buôn bán giấy phép xả thải giữa công ty A và B Giả

sử rằng công ty A có sr thừa một lượng giấy phép xả thải ( do công ty A thựchiện đầu tư công nghệ xử lý chất thải ) và công ty B đang thiếu một lượnggiấy phép, khi đó hai công ty này có thể thương lượng và B mua của Alượng giấy phép dư thừa đó Và như vậy A có nguồn thu từ việc bán giấyphép còn B tiếp tục được xả thải Đồng thời lượng chất thải vẫn được khốngchế trong tổng lượng giấy phép mà nhà quản lý phát hành

Ngoài việc mua bán các giấy phép xả thải trên thị trường còn có thểmua bán nhiều loại giấy phép khác như: giấy phép hoạt động tiêu thụ sảnphẩm đặc biệt, giấy phép buôn bán các chất thải độc hại, giáy phép vật nuôitrên sông…

I.2.4 Hệ thống đặt cọc hoạn trả:

Hệ thống đặt cọc hoàn trả là việc ký quỹ một số tiền cho các sản phẩm

có tiềm năng gây ô nhiễm môi trường, hoặc là đặt cọc cho một hoạt độngkinh tế có khả năng ảnh hưởng lớn tới môi trường Nếu các sản phẩm đượcđưa trả các điểm thu hồi qui định theo pháp luật hoặc hoàn trả lại các nhà

Trang 12

cung cấp thì tiền ky thác sẽ được hoàn trả lại Cũng tương tự như vậy cácchủ thể hành động khi thực hiện đúng cam kết hoàn nguyên lại môi trườngban đầu thì khi đó ssố tiền ký thac sẽ được hoàn trả lại Và nếu như các xínghiệp hoặc các chủ thể hành động không thực hiện đúng cam kết thì số tiềnđặt cọc đó sẽ bị giữ lại Hình thức này được áp dụng khá phổ biến đối vớicác doanh nghiệp khai thác khoáng sản và đang có xu hướng phát triểnmạnh mẽ trong các năm gần đâyđặc biệt là ở một số các doanh nghiệp kinhdoanh đồ uống đóng chai như nước giải khát, Họ có chính sách thu hồi lạicác vỏ chai cũ này để tái sử dụng bằng hình thức đặt cọc hoàn trả Khi chúng

ta đi mua một chai nước khoáng chảng hạn thì chúng ta sẽ phải mất mộtkhoản tiền đặt cọc cho chiếc vỏ chai, sau khi dùng ta đem trả lại vỏ chai chocửa hàng thi f sẽ được nhận lại số tiền đặt cho vỏ chai ấy

Tuy nhiên đối với hình thức đặt cọc hoàn trả này trong thực tế áp dụng,tính hiệu quả của nó không cao như mong đợi Bởi vì với đời sống ngày càngcao như hiện nay thì số tiền đặt cọc ít ỏi cho việc trả lại vỏ chai sau khi dùngkhông khuyến khich được khách hàng đem trả lại Mặt khác chi phí để hoànnguyên lại môi trường như trước khi khai khoáng là rất lớn, do đó các doanhnghiệp sau khi thực hiện xong hoạt động khai thác họ thường chụi mất đikhoản đặt cọc ký thác mà không chụi chi cho vấn đè hoàn nguyên môitrường Trườn hợp này có thể viện dẫn ví dụ ở các công ty khai thá than ởViệt Nam, đối với các công ty này thì việc hoàn nguyên cho môi trường là vôcùng tốn kém và mất rất nhiều thời gian cho nên họ thường chụi mất khoảnchi phí đặt cọc cho nhà quản lý môi trường chứ không thể thực hiện theođúng cam kết nư ban đầu hoàn nguyên lại môi trường cho các mỏ khai thác

đã hết hạn sử dụng

I.2.5 Những chính sách khuyến khích về tài chính:

Các chính sách khuyến khích tài chính liên quan đến môi trường,thường được các nhà nước đề như: tiền trợ cấp tiêu thụ sản phẩm, trợ cấptrong vốn vay đối với các dự án thân thiện với môi trường hay các dự án cải

Trang 13

tạo môi trường, thực hiện giảm thuế cho các cơ sở thực hiện tốt các biện phápbảo vệ môi trường… Đối với công cụ kinh tế này đã khuyến khích được cácdoanh nghiệp quan tâm đến vấn đề môi trường do các chương chình này cóliên quan trực tiếp tới chi phí và lợi ích kinh tế của các chủ thể hành động nókhuyến khích khen thưởng kịp thời các hành vi bảo vệ môi trường Một trongcác chính sách khuyến khích về tài chính là chính phủ sẽ giảm thuế quan vàcho vay vốn với lãi suất bằng không đối với các dự án môi trường.

II.Kinh nghiệm thực tiễn áp dụng các công cụ kinh tế trong quản

lý môi trường của các nước trên thế giới:

II.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới:

Các nước này họ đã trải qua thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá

từ lâu và cũng vì vậy mà họ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong vấn đề xử lý

và ngăn chặn ô nhiễm môi trường Trong lịch sử chống ô nhiễm môi trườngcủa các nước đi trước đã chứng minh rằng các công cụ kinh tế đã rất có hiệulực trong quản lý môi trường Tất cả các loại công cụ kinh tế như; Thuế môitrường, hệ thống đặt cọc hoàn trả, khuyến khích về tài chính… đều đã đượccác nước phát triển thuộc OECD sử dụng rất hiệu quả Sau đây chúng ta sẽxem xét một số kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ kinh tế trongquản lý môi trường của họ

* Ví dụ về việc sử dụng tiền đặt cọc khi mua hàng: Chúng ta thấy rằng

ở Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản họ đã triển khai áp dụng cho các mặthàng như các sản phẩm dùng bao bì, đồ uống hay săm lốp, điện tử dândụng…còn ở Canada khi mua một lon nước giải khát phải trả them 10 cent,khi trả lại vỏ lon khách hang sẽ được tả lại số tiền này Công cụ này cũngđược áp dụng ngày càng rộng rãi ở Mỹ tuy là nước không phải đi đầu tronglĩnh vực bảo vệ môi trường nhưng đã có tỷ trọng 51% nhu cầu đồ dùng bằngnhôm tái chế chính vì vậy mà công cụ kinh tế này tỏ ra rất hiệu quả trongviệc thu hồi các sản phẩm đã qua sử dụng Tuy nhiên các tiền đặt cọc chocác vỏ đồ uống thương ít và không lớn lên đối với người dân các nước có

Trang 14

nền kinh tế phát triển có rất it người quan tâm tới việc trả lại vỏ chai để lấylái số tiền đặt cọc Mà ở các nước này thường có những tổ chức từ thiệnđứng ra thu thập các bao bì để bán lấy tiền làm từ thiện.

* Ví dụ về việc sử dụng các chương chình thương mại: Đây cũng làcông cụ kinh tế được các nước OECD sử dụng nhiều nhất trong công tác bảo

vệ môi trường Như giấy phép phát thải có thể trao đổi mau bán trên thịtrường, tín hiệu giảm phát thải và tiền trợ cấp tiêu thụ hoặc sản xuất sảnphẩm… Lần đầu tiên ở Mỹ và một số nước tây Âu, đặc biệt là ở Đức người

ta đã đưa ra hình thức giấy phép phát thải có thể mua bán được Các giấyphép này sử dụng dựa trên nguyên tắc là bất cứ sự gia tăng chất thải nàocũng phải được cân bằng với việc giảm chất thải tương ứng và thường lớnhơn số lượng ví dụ một công ty X nào đó được phép xả thải 100 đơn vị ônhiễm nhưng công ty này chỉ thải có 80 đơn vị ô nhiễm như vậy công ty này

có thể bán quyền thải 20 đơn vị ô nhiễm cho công ty khác

Trong các chương chình thương mại thì tín phiếu giảm phát thải vàtiền trợ cấp tiêu thụ sản phẩm hoặc sản xuất cũng được các nước OECD sửdụng nhiều Các nước này sử dụng tìn phiếu phát thải nhằm tạo ra một thịtrường “ô nhiễm” tức là tạo ra các thị trường để người ta có thể mua bánhoặc chuyển nhượng các quyền được gây ô nhiễm của mình cho nhữngngười khác Thực tế ở Mỹ đã sử dụng rất hiệu quả công cụ kinh tế này tronglĩnh vực khống chế ô nhiễm môi trường không khí

Hình thức trợ cấp tài chính đã được sử dụng cho mục đích bảo vệ môitrường ở khối OECD chủ yếu được chia làm ba loại: Trợ cấp không hoàn lại,thường là các khoản trợ cấp tài chính trong các trường hợp người gây ra ônhiễm sẽ thực hiện các biện pháp để giảm bớt mức độ ô nhiễm trong tươnglai ; Cho vay với lãi suất thấp, loại này thường được áp dụng cho nhữngngười gây ô nhiễm khi họ áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm hoặccho những dự án thân thiện với môi trường; loại thứ ba là tiền trợ cấp qua

Trang 15

thuế dành cho những người áp dụng các biện pháp chống ô nhiễm đã quyđịnh.

II.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển:

Trong những năm gần đây do vấn đề ô nhiễm môi trường đã trở lên làmột vấn nạn không chỉ đối các nước đang phát triển mà nó đã là vấn đề củatoàn nhân loại Chính vì thế ngay tại các nước đang phát triển các nhà lãnhđạo các nước này đã bắt đầu tiếp thu kinh nghiêm quản lý môi trường củacác nước phát triển đi trước cùng với việc được sự trự giúp về kỹ thuật cũngnhư tài chính của khôi các nước OECD một số chính phủ đã chú ý coi trọngviệc dùng các công cụ kinh tế như là một biện pháp hữu hiệu cho công cuộcbảo vệ môi trường của quốc gia mình Tuy nhiên các công cụ kinh tế mới chỉphổ biến ở các nước công nghiệp mới phát triển và một số nước có nền kinh

tế chuyển đổi ở Đông Nam Á và Mỹ La Tinh Tại các nước này có một đặcđiểm là công cụ kinh tế không sử dụng tách rời mà nó thường đước kết hợpvới các công cụ pháp lý ở đây các công cụ kinh tế không phải là thay thếhoàn toàn cho công cụ pháp lý mà nó chí là công cụ bố sung hỗ trợ cho công

cụ pháp lý mà thôi Tại các nước này công cụ pháp lý vẫn là công cụ chủ yếuđược dùng trong qủan lý môi trường nhưng các công cụ pháp lý này được bổsung thêm tính mềm dẻo và linh hoạt của các công cụ kinh tế chính nhờ đặcđiểm này lên các chính sách môi trường của các nước này đã mang lại hiệuquả cao Bởi vì tại các nước đang phát triển thì hệ thống pháp luật vẫn chưahoàn thiện và nền kinh tế thị trường chưa được xác lập một cách đầy đủ do

đó đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa yếu tố kinh tế và pháp luật đây là biệnpháp tối ưu nhất để đảm bảo cho các công cụ kinh tế được thực thi tại cácnước này Chúng ta có thể viện dẫn kinh nghiệm của một số nước áp dụngthành công công cụ kinh tế trong quản lý môi trường sau đây:

* Ở Philipin: Việc áp dụng công cụ kinh tế dựa trên cơ sở thị trường

đã được thực hiện từ những năm 1980 và ngày càng trở lên phổ biến trong

Trang 16

những năm trở lài đây Đầu năm 1997 trường hợp “ thực sự “áp dụng lệ phí

sử dụng môi trường được tiến hành nơđã vượt qua sự phản đối của cácngành một cách suôn sẻ Đó là trường hợp bắt các nguồn xả thải nước vào hồLaguna phải trả tiền Căn cứ để tính lệ phí cho các xí nghiệp là nồng độBOD có trong nước thải Thành công đạt được trong việc thu phí đối với các

xí nghiệp trên là do tính chất đặc thù của một tổ chức có tên là LLDA - một

cơ quan của chính phủ có quyền lực pháp định rất lớn trong việc quản lý hồLaguana Sự chống đối ban đầu của các ngành đã phải lùi bước trước áp lực

xã hội và trước thực tế rằng các khoản chi phí phải nộp chỉ là một phần trongtoàn bộ giá thành của các hãng này

Chính phủ Philipin cũng đã thiết lập thị trường về phế thải và thựchiện trợ giá cho các hoạt động phòng chống ô nhiếm Chính phủ đã miễnthuế cho các hoạt động mua sắm thiết bị chống ô nhiễm Việc này được ápdụng thành công nhưng rất hạn chế và dường như không là yếu tố chính đểtạo ra động cơ tài chính cho các xí nghiệp Chính phủ cũng đã thực hiệnchính sách giảm lãi suất và miễn thuế thu nhập cho các hoạt động kinh doanhbảo vệ môi trường

Mặt khác Philipin còn đưa ra chính sách quản lý rủi ro tài chính đốivới các rui ro môi trường 5 năm trước đây, chính phủ đã đưa ra việc đánhgiá rui ro môi trường vào công tác thẩm định vốn vay dự án ngân hàng Kếtquả cho đên hiện nay đã trở lên phổ biến đối với các ngân hàng tư nhân vàngân hàng quỗ doanh Tuy nhiên kinh nghiệm cho thấy rằng các ngân hàngcòn thiếu năng lực trong việc thẩm định môi trường và còn ngần ngại chinhiều cho công tác này Do đó họ chỉ chủ yếu dựa vào đánh giá về rủi ro môitrường của chính phủ, nếu chính phủ cấp giấy phép về môi trường thì ngânhàng cho rằng những rủi ro môi trường này là chấp nhận được

* Một ví dụ khác từ Trung Quốc: Tại đây hình thức thu phí và lệ phí

được sử dụng chủ yếu đối với các chất gây ô nhiễm cho nguồn nước, khí thải

Trang 17

và chất thải rắn Trên cơ sở quy định tiêu chuẩn cho các chất thải Nếu cácdoanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất xả thải vượt quá tiêu chuẩn quy định thì sẽphải chụi một khoản tiền phí nhất định Cho đến hiện nay Trung Quốc đãxây dựng được một hệ thống phí gây ô nhiễm dựa trên nguyên tắc PPP vớihơn 100 mức phí khác nhau cho 5 yếu tố gây ô nhiễm đó là: Cống, khí thải,chất thải lắng đọng, tiếng ồn và các loại khác Tuy nhiên các mức phí nàycòn thấp nên chưa thực sự phát huy được hiệu quả cao trong bảo vệ môitrường và giảm thiểu ô nhiễm.

* Tại Maláysia:Việc sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi

trường cũng đã mang lại những kết quả ban đầu Trong đó công cụ kinh tếđược sử dụng nhiều nhất là phí môi trường được xây dựng trên nguyên tắcPPP Cơ quan quản lý môi trường quy định các chất thải gây ô nhiễm môitrường như: BOD,Cd, Cr,Pb,Hg… phải chụi suất phí nhất định dựa trên nồng

độ các chất này có trong chất thải Qua đó các cơ sở xả thải sẽ phải trả mộtkhoản chi phí tương ứng với khối lượng và nồng độ các chất có trong nướcthải VIệc thu phí như vậy đã hạn chế được lưu lượng nước thải ra môitrường, và giúp cho cơ quan qủan lý môi trường lắm bắt được tình trạng môitrường nước thải thông qua việc quan trắc môi trường nước của các cơ sởgây ô nhiễm này

III Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trong quản lý môi trường:

3.1 Phương pháp luận cho việc tính phí bảo vệ môi trường đối với

nước thải công nghiệp:

Chúng ta thấy rằng giữa thuế và phí có sự khác biệt nhất định Tuynhiên giữa hai công cụ này còn một sốđiểm chung, đặc biệt là cùng đánh vàongười gây ô nhiễm Mục tiêu đánh thuế và thu phí cũng có nhiều điểmchung, trong đó có việc làm thay đổi hành vi của người sản xuất và ngườitiêu dùng theo hướng giảm phát thải ra môi trường Nếu xác định mức thuế

Trang 18

và phí thích hợp còn có thể khuyến khích các cơ sở sản xuất lắp đặt các thiết

bị xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Vì vậy, trong chừng mực nàođấy có thể coi phương pháp luận của việc tính thuế và tính phí là tương đồngvới nhau

Như chúng ta đã biết, Pigou, nhà kinh tế học người Anh đãđưa ra mộtgiải pháp làđánh thuế vào từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm sao cho khôngcòn có sự chênh lệch giữa chi phí cá nhân của hãng(MC) và chi phí biên của

xã hội(MSC) Gọi t là mức phíđánh vào 1 đơn vịđo chất thải ta có:

MSC = t + MC hay t = MSC – MC.

Hiệu số (MSC – MC) cũng chính là chi phí ngoại ứng trên một đơn vịsản phẩm tạo ra chất thải (MEC), qua đó ta có:

t = MSC – MC =MEC.

Mức thúê thu được đánh theo sản lượng và do vậy để tối đa hoá lợi

nhuận xã hội thì doanh nghiệp phải chịu mức thuế /phít * = MSC – MC = MEC tại mức sản lượng tối ưu của doanh nghiệp đã tính đến chi phí ngoại

ứng Với mức thuế này buộc người sản xuất phải điều chỉnh hoạt động vềmức tối ưu Q* vậy Khi đó sẽđạt tối đa hoá lợi nhuận toàn xã hội

Khi một doanh nghiệp đầu tư thay đổi qui trình công nghệđể làm giảmthải chất ô nhiễm mà doanh nghiệp vẫn giữđược sản lượng tối ưu và giảmđược ngoại ứng nghĩa là doanh nghiệp đã phải bỏ ra một chi phíđể làm giảmchất ô nhiễm hay là xử lý chất thải trước khi thải ra môi trường Chi phíđểgiảm thải trên một đơn vị lượng chất thải chính là chi phí cận biên giảm thải

ô nhiễm Một khi doanh nghiệp giảm thải chất ô nhiễm ra môi trường càngnhiều thi chi phíđể giảm thải càng cao Đây cùng là căn cứ cho việc xác địnhsuất phí trên một đơn vị chất thải thích hợp sao cho cả xã hội lẫn doanhnghiệp đều có lợi, hay không bên nào chịu thiệt

Trang 19

Mục tiêu của việc thu phíô nhiễm môi trường có thể khác nhau, có thểnhằm cải thiện chất lượng môi trường thông qua việc thay đổi hành vi củangười gây ô nhiễm hoặc nhằm mục đích tăng doanh thu cho ngân sách nhànước Nhưng phí môi trường cần mang tính trung lập, có nghĩa nó khôngnhằm mục đích buộc các nhà sản xuất ngừng sản xuất, cũng không vì mụctiêu lợi nhuận mà huỷ hoại môi trường.

Để xác định phí môi trường cần xem xét thêm mối quan hệ chi phí cậnbiên làm giảm ô nhiễm ( MAC ) và phí gây ô nhiễm Chi phí cận biên làmgiảm ô nhiễm của một hãng hay một nghành công nghiệp cho biết chi phí đểgiảm bớt đi một đơn vị chất thải Thông thường, chi phí cận biên giảm thải ônhiễm thấp hơn chi phí môi trường mà doanh nghiệp phải nộp, doanh nghiệp

sẽ lựa chọn phương án đầu tư làm giảm thải chất thải gây ô nhiễm thay vìnộp phí Lý do là phương án này có lợi cho doanh nghiệp hơn vì nó rẻ hơn.Ngược lại, khi MAC cao hơn phí gây ô nhiễm phải trả, lúc đó doanh nghiệp

sẽ lựa chọn phương án nộp phí vì như vậy sẽ rẻ hơn so với việc tiếp tục ápdụng các biện pháp giảm thải gây ô nhiễm Như vậy, doanh nghiệp hầu nhưphải chụi hai lần chi phí, thứ nhất để giảm ô nhiễm chừng nào MAC thấp hơnphí ô nhiễm và sau đó đóng phí khi MAC lớn hơn mức phí phải đóng.Thực tếcho thấy các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp…thường có hàm chiphí cận biên giảm thải ô nhiễm khác nhau do thiết bị, công nghệ, đầu vào vàkhả năng thay thế khác nhau nhiều hoặc ít Đây cũng là những yếu tố quyếtđịnh đến chi phí làm giảm ô nhiễm, để cho một doanh nghiệp cân nhắc trướckhi xây dựng hệ thống xử lý chất thải hay đóng phí

Vấn đề đặt ra đối với xác định phí ô nhiễm là phí có tác dụng khuyếnkhích các doanh nghiệp tiếp tục sản xuất để có lợi nhuận nhưng đồng thờiphải đảm bảo được tiêu chuẩn chất lượng môi trường qui định Theo kinhnghiệm của nhiều nước thì việc xác định xuất phí là một vấn đề phức tạp gâynhiều tranh cãi, trong đó nguyên nhân quan trọng chíh là thiếu thông tin hay

Trang 20

thông tin không chính xác dẫn đến không đủ cơ sở để xác định chi phí thiệthại và qua đó không thể đưa ra một mức phí chính xác.

3.2.Cơ sở xác định phí nước thải công nghiệp:

3.2.1.Dựa vào tổng lượng nước thải.

Tổng lượng chất thải là một trong các căn cứ quan trọng để xác định tổngchi phí mà các doanh nghiệp phải đóng cho cơ quan quản lý môi trường, đó là

cơ sở để cho các cơ quan quản lý này thu phí bảo vệ môi trường Thông quaviệc xác định tổng lượng chất thải (ở đây là tổng lượng nước thải ) của từngdoanh nghiệp mà chúng ta có thể biết được lưu lượng nước thải của các doanhnghiệp này lớn hay nhỏ từ đó xác định được mức độ nghiêm trọng của hành vi

xả thải đối với môi trường của các doanh nghiệp này

3.2.2.Dựa vào đặc tính của các chất gây ô nhiễm.

Đặc tính của các chất gây ô nhiễm là một trong các yếu tố không thểthiếu đế xác định xuất phí cho các doanh nghiệp xả thải.Sau đây là một số chấtgây hại đặc trưng thường hay có trong môi trường nước thải của các doanhnghiệp

+ Nhâu cầu oxy sinh hoá BOD:Đây là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác

định mức độ ô nhiễm chất hữu cơ có thể phân huỷ bởi vi sinh vật trong nướcthải đô thị và chất thải công nghiệp Nhu cầu BOD được định nghĩa là nhu cầuoxy cần cho vi sinh vật trong quá trìh phân huỷ các chất hữu cơ Trong thực tếngười ta không thể lượng oxy cần thiết để phân huỷ hoàn toàn chất hữu cơ vìnhư thế tốn quá nhiều thời gian mà chí xác định lượng oxy cần thiết trong 5ngày đầu ở nhiệt độ ủ 200 c ký hiệu BOD-5 chỉ tiêu này được chuẩn hoá và

sử dụng ở hầu khắp các nước trên thế giới Giá trị BOD lớn nghĩa là mức độ ônhiễm chất hữu cơ càng cao

Trang 21

+ Nhu cầu oxy hoá học COD: Thông số này được dùng để đặc trưng cho

hàm lượng các chất hữu cơ của nước thải và nước tự nhiên COD được địnhnghĩa là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hoá hoá học các chất hữu cơtrong mẫu thành CO2 và nước Lượng oxy này tương đương với hàm lượngchất hữu cơ có thể ị oxy hoá Thông số COD biểu thị tất cả các chất hữu cơ, kể

cả phần khong thể bị oxy hoá bằng vi sinh vật, do đó có giá trị cao hơn BOD

+ Tổng chất thải rắn lơ lửng TSS: Chất rắn lơ lửng là các nhân tố ảnh

hưởng tiêu cực đến tài nguyên thuỷ sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảmquan ( tăng độ đục cho nước ) và gây bồi lắng dòng chảy Đây cũng là chỉ tiêu

3.2.3.Dựa vào hàm lượng các chất gây ô nhiễm.

Hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong nước thải cũng là một cơ sở

để tính phí nước thải phải nộp cho các doanh nghiệp Cùng một lượng nướcthải như nhau nhưng nguồn nước thải nào có trong đó hàm lượng các chất độchại nhiều hơn thì mức phí phải đóng sẽ cao hơn Cũng có các thành phần cácchất thải như nhau nhưng nguồn thải của một doanh nghiệp sản xuất A lại cóhàm lượng các chất độc hại cao hơn xí nghiệp sản xuất B như vậy chứng tỏrằng mức độ gây ô nhiễm môi trường của xí nghiệp A là lớn hơn xí nghiệp B

do đó A sẽ phải chụi một mức phí lớn hơn B

3.2.4.Dựa vào hệ số chịu tải môi trường.

Hệ số này biểu thị mức độ chịu tải của môi trường của một vùng phụthuộc vào thực trạng môi trường, tìnhhình kinh tế xác hội của vùng đó và nócũng phản ánh mức độ thiệt hại tiềm tàng tương ứng do ô nhiễm gây ra Khảnăng chịu tải của vùng nông thôn, vùng núi, những vùng không có khu côngnghiệp káhc với các vùng thành phố lớn và các khu công nghiệp Hệ số chịutải của môi trường sẽ làm tăng hay giảm phí ô nhiễm tuỳ thuộc vào mức độchịu tải của môi trường đó

Trang 22

Chúng ta có thể xác định hệ số chịu tải môi trưòng thông qua việc xácđịnh mật độ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và các cơ quan có nguồnthải gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng trên 1 km2 và mật độ dân số tịa khuvực hay đơn vị hành chính đó.Thứ hai ta có thể xác định hệ số chịu tải dựa vàotiêu chuẩn môi trường quốc gia Thứ ba chúng ta có thể xác định theo cácthành phố, khu vực công nghiệp, khu chế xuất.

3.2.5.Dựa vào chi phí biên bỏ ra lắp đặt hệ thống giảm thải.

Việc xác định phí gây ô nhiễm nước thường dựa trên cơ sở tính toán chiphí cho các biện pháp xử lý nước thải ra môi trường Cách này trên thực tế rấtkhó thực hiện do chi phí biên để giảm thải thêm một đơn vị chất thải rất khácnhau, và là một hàm số phụ thuộc vào nhiều biến số như tuổi đời, chất lượngcủa thiế bị, hệ số hiệu quả của thiết bị Hơn nữa đa số các doanh nghiệp ViệtNam có quy trình công nghệ sản xuất cũ và thiết bị máy móc của các xí nghiệplại khác nhau… Do đó, khó xác định xuất phí chính xác Tuy nhiên vẫn có thểước tính được xuất phí dựa trên phương pháp này bằng cách chọn một số thiết

bị giảm thải dự đoán phù hợp cho các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng và lấybình quân chi phí tối thiẻu của các thiết bị này nhằm giảm thêm 1 đơn vị chấtthải cùng loại để xác định suất phí Thông thường, chi phí biên để giảm thiểu ônhiễm đối với một loại chất thải tăng khi nồng độ của nó giảm hay doanhnghiệp sẽ chịu chi phí càng cao nếu giảm thỉa chất gây ô nhiễm càng nhiều.Đối với các doanh nghiệp, chi phí biên để giảm thỉa gây ô nhiễm bao giờ cũngphụ thuộc vào qui mô sản xuất

3.2.6.Dựa vào giá trịước tính tác hại do một đơn vị chất thải gây ra.

Điều này khó thực hiện bởi vì không xác định được chính xác hàm thiệthại của chất thải và trên thực tế mức độ thiệt hại của các chất thải nhìn chungkhông có thể đo trực tiếp, mà đòi hỏi phải tính toán thông qua một số yếu tốtrung gian, có khi dễ thấy nhưng đôi khi lại rất khó thấy

Trang 23

3.2.7.Dựa vào tiêu chuẩn môi trường.

Tiêu chuẩn môi trường có thể coi là một chuẩn mực dùng để xác địnhtrách nhiệm của đối tượng gây ô nhiễm môi trường Nói cách khác khi ngườisản xuất thải chất ô nhiễm có nồng độ vượt tiêu chuẩn cho phép thì họ đã viphạm quy định Khi đó, việc xác định mức phí phải cao hơn nhiều và được coinhư là tiền phạt cho việc vi phạm tiêu chuẩn.Tiêu chuẩn môi trường có thểphân theo các vùng khác nhau và theo khả năng chịu tải của môi trường khácnhau thì khác nhau, cho các chất thải và các doanh nghiệp khác nhau thì khácnhau theo việc các doanh nghiệp sử dụng các công nghệ cũ hay mới…

Trang 24

CHƯƠNG II: HIỆNTRẠNGSẢNXUẤTCÔNGNGHIỆP

VÀMÔITRƯỜNGNƯỚCTHẢICÔNGNGHIỆP TRÊNĐỊABÀNTHÀNHPHỐ HÀ NỘI:

I Hiện trạng sản xuất công nghiệp:

1.1.Tình hình sản xuất công nghiệp:

Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới ( 1996 ), đặc biệt trong thời kỳ 1996 đếnnay, sản xuất công nghiệp ở Hà Nội đã có những thay đổi lớn Tốc độ tăngtrưởng giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm đạt 14% và tỷ trọng giá trị sảnxuất công nghiệp trong GDP hàng năm có xu thế tăng liên tục, cụ thể là 34,9%năm 1996, 35,3% ( 1997 ), 36,1% ( 1998), 37,5% ( 1999) và năm 2000 đạt xấp

sỉ 39% Nền công nghiệp ở Hà Nội có những biến đổi lớn như:

- Những ngành sản xuất còn phù hợp với thị trường đã và đang từngbước đổi mới công nghệ và thiết bị, còn các nhà máy có sản phẩm khôngđược thị trường chấp nhận đã tìm hướng kinh doanh mới hoặc giả thể

- Công nghệ lắp ráp hàng nhập ngoại phát triển nhanh song quy mô chưalớn và tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm còn thấp

- Công nghiệp hiện đại công nghệ cao đã hình thành tại một số khu vựctập trung mới được đầu tư xây dựng, có hạ tầng kỹ thuật tốt như: Khu côngnghiệp Sài Đồng B, Bắc Thăng Long, Nội Bài, Sóc Sơn…

- Cơ cấu sản xuất công nghiệp đã hình thành bốn nhóm ngành có ý nghiãthen chốt Đó là các ngành cơ kim khi, dệt may, da giầy, chế biến lương thực,thực phẩm và công nghệ điện, điện tử Ngành công nghiệp hoá chất tuy hiệnđang chiếm tỷ trọng tương đối 17% nhưng đang có chiều hướng giảm trừ hoádược vì không hợp với hướngphát triển của thủ đô

Năm 2002 Hà Nội có 265 doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh trong đó

có 163 doanh nghiệp Quốc doanh Trung uơng; 15880 doanh nghiệp côngnghiệp ngoài Quốc doanh trong đó : 175 hợp tác xã, 37 doanh nghiệp tư nhân,

305 doanh nghiệp hỗn hợp và 15365 hộ kinh doanh cá thể Hà Nội là địa bàn

Trang 25

tập trung công nghiệp cao nhất ở Bắc Bộ và đứng thứ hai của cả nước Tỷ lệGDƠ công nghiệp trong cở cấu kinh tế Hà Nội hiện chiếm 36% và đang cóchiều hướng gia tăng Trong những năm qua, công nghiệp Hà Nội đạt nhịp độtăng trưởng khá cao Giá trị sản xuất công nghiệp đóng góp khoảng 40% tổngthu ngân sách và hơn 70% kim ngạch xuất khẩu của thành phố, Tỷ suất côngnghiệp đạt trên 60% Cơ cấu ngành công nghiệp Hà Nội đã hình thành 4 nhómngành chính sau:

- Cơ khí ( chiếm 20-13% )

- Dệt-da-may mặc ( chiếm 22-25% )

- Lương thực - thực phẩm ( chiếm 16-18%)

- Đồ điện - điện tử ( chiếm 5-8%)

1.2.Những tác động tới môi trường nước của hoạt động sản xuất công nghiệp.

Chúng ta biết rằng nước là một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống nókhông chỉ cần thiết cho sinh hoạt mà còn rất cần thiết đối với quá trình sảnxuất công nghiệp Theo thống kê ở Hà Nội có khoảng 300.000-320.000 m3/ngày đêm thì trong đó 1/3 là nước thải công nghiệp Đặc điểm của nước thảicủa các khu công nghiệp này là chất lượng nước rất kém hầu nhưđều chứa cácchất độc hại qua tiêu chuẩn cho phép rất nhiều lần và lưu lượng xả thải rất lớn.Nước từ các khu công nghiệp được xả thải trực tiếp ra môi trường và chảy vàocác dòng sông nội thành đã gây ra ô nhiễm môi trường nước mặt và nướcngầm nghiêm trọng.Qua khoả sát thực tế chất lượng nước ở các dòng sôngchính như sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ, sông kim Ngưu… chúng ta thấyrằng hầu nhưđều chứa các chất độc hài ở mức cao vượt quá tiêu chuẩn chophép rất nhiều lần Thể hiện qua bảng sau đây:

Trang 26

Kết quả phân tích chất lượng nư c sông L ớc sông Lừ ừ.

cầu tàu Bay cầu Lừ

2002 – Công ty thoát nước Hà Nội.

Các nguồn gây ô nhiễm chính hầu hết là từ các khu công nghiệp thải ravới khối lượng nước thải rất lớn Mặt khác các khu công nghiệp này lại không

có hoặc rất ít chú ý tới vấn đề xử lý nước thải cộng với công nghệ cũ vàlạc hậudẫn đến môi trường nước ở Hà Nội ngày càng trở lên ô nhiễm trầm trọnghơn,ta có bảng sau đây:

Trang 27

Bảng tổng hợp ô nhiễm từ 6 khu công nghiệp chính trên đ a b n H N i.ịa bàn Hà Nội àn Hà Nội àn Hà Nội ội.

Stt Khu công nghiệp

tỉa lượng chất ô nhiễm lượng nước thải ( m

3 /ngày)

TSS(kg/ng

đ)

COD(kg/ng

đ)

BOD(kg/ng

Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội-năm 2002

Qua bảng số liệu trên cho thấy rằng khu công nghiệp Sài Đồng là khu

có lượng nước thải lớn nhất và tải lượng các chất gây ô nhiễm cũng lớn nhất,tiếp đó là khu công nghiệp Chèm có lượng nước thải ít nhất à chất lượng nướccũng còn ở mức tốt

Qua đánh giá tình hình ô nhiễm trên chúng ta rut ra kết luật là môitrường nước ở Hà Nội đã ô nhiễm ở mức báo động, trong thời gian tới nếukhông có các biện pháp xử lý kịp thời dự báo khả năng ô nhiễm sẽ tăng lêngấp 3-5 lần vào năm 2010, đe doạ trực tiếp đến đời sống của dân cư và mỹquan đô thị

Trang 28

II Tổng quan về ngành dệt may Hà Nội.

2.1.Hiện trạng sản xuất và vai trò của ngành dệt may Hà Nội.

2.1.1 Vai trò của ngành dệt may Hà Nội.

Công nghiệp dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển banđầu của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệphoá ở nhiều nước Ngành công nghiệp dệt may là ngành tạo được nhiềucông ăn việc làm, tăng thu lợi nhuận để tích luỹ làm tiền đề phát triển cácngành công nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hìnhchính trị xã hội

Công nghiệp dệt may phát triển sẽ kéo theo và thúc đẩy sự pháttriển của nhiều ngành công nghiệp khác Đó là các ngành cung cấp nguyênliệu và các ngành sử dụng sản phẩm dệt may

Vai trò của dệt may đặc biệt to lớn đối với nền kinh tế của nhiềuquốc gia trong điều kiện buôn bán hàng hoá quốc tế Xuất khẩu hàng dệtmay đem lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng để nhập khẩu máy móc thiết bị,nguyên vật liệu cần thiết mà trong nước chưa có để phục vụ sản xuất, làm

cơ sở cho nền kinh tế cất cánh, điều này thể hiện rõ trong lịch sử phát triểnkinh tế của nhiều nước như Anh, Nhật, các nước mới công nghiệp hoá(NICs), Trung Quốc, Nam á và Đông Nam á

Ở các nước đang phát triển hiện nay, công nghiệp dệt may đanggóp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn qua phát triển sản xuất bông,đay, tơ tằm và là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nôngnghiệp sang kinh tế công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển côngnghiệp dệt may sản xuất ra những sản phẩm cao cấp có giá trị gia tăng cao,đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, càng đa dạng của người tiêu dùng

Trang 29

a Đối với ngành dệt may Việt Nam:

* Về sản phẩm:

chúng ta thấy rằng trong cở cấu ngành công nghiệp của thànhphố Hà Nội thì ngành dệt may chiếm một tỷ trọng rất lớn Giá trị sản lượngcủa ngành dệt may đóng góp không nhỏ trong cở cấu GDP của cả thànhphố Không những thế dệt may Hà Nội còn chiếm vị trí quan trọng trongngành dệt may Việt Nam thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng II.1: S n lản lượng một số sản phẩm ượng một số sản phẩmng m t s s n ph mội ố sản phẩm ản lượng một số sản phẩm ẩm ch y u c a ng nh d t may Hủ yếu của ngành dệt may Hà ếu của ngành dệt may Hà ủ yếu của ngành dệt may Hà àn Hà Nội ệt may Hà àn Hà Nội

N i v to n qu c n m 2000ội àn Hà Nội àn Hà Nội ố sản phẩm ăm 2000

Mặt hàng Đơn vị Toàn quốc Hà Nội Tỷ trọng (%)

2 Vải, lụa thành phẩm triệu m 304,000 36,3 11,17

5 Quần áo dệt kim các loại 1000 sp 90,114 21,9 24,33

Nguồn: Niên giám Thống kê 2000, VINATEX

Chúng ta thấy rằng sản lượng dệt may Hà Nội chiếm một tỷ trọng rấtlớn trong toàn quốc có những mặt hàng chiếm tới 86,5% như Bít Tất và vảimàn chiếm tới 47,05 % Điều đó chứng tỏ năng lực sản xuất của ngành dệtmay Hà Nội là rất lớn và có tiềm năng tăng trưởng nhanh trong tương lai

Không những chiếm ưu thế về ssản lượng mà ngay cả giá trị của ngànhdệt may Hà Nội cũng chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng giá trị dệtmay của cả nước Mức tăng trưởng của dệt may Hà Nội so với dệt may cảnước có phần tăng trưởng nhanh và đều hơn khẳng định vị thế dẫn đầu trong

Trang 30

toàn ngành của dệt may Hà Nội Điều đó được thể hiện qua các bảng số liệuthống kê sau đây:

Bảng II.2:So sánh me t s ch tiêu c a to n ng nh, VINATEX, d t mayội ố sản phẩm ỉ tiêu của toàn ngành, VINATEX, dệt may ủ yếu của ngành dệt may Hà àn Hà Nội àn Hà Nội ệt may Hà

HN (n m 2000)ăm 2000T.T Hạng mục Đơn vị ngànhToàn VINATEX

%VNT/

toànngành

Hà Nội

%HN/Toànngành

Nguồn: Niên giám Thống kê 2000, VINATEX

BảngII.3:Giá trị sản xuất ngành dệt may Hà Nội so với dệt may cả nước và dệt may cả nước so với toàn ngành công nghiệp từ 1996 đến 2000 :

n v : t ng (giá c nh 94), theo Niên giám Th ng kê vĐơn vị: tỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê và ịa bàn Hà Nội ỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê và đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê và ố sản phẩm địa bàn Hà Nội ố sản phẩm àn Hà Nội.VIVATEX

Toàn ngànhCN 118.096,6 134.419,7 151.223,3 168.749,7 195.321,4Dệt may cả nước 9.775,2 11.589,2 13.034,1 14.406,5 16.734,0

Trang 31

b Trong tổng thể công nghiệp thành phố Hà Nội:

Nhưđã nói ở trên ngành dệt may Hà Nội không chỉ có vai trò to lớntrong toàn ngành dệt may Việt Nam mà nó còn có vị trí quan trọng trong ngànhcông nghiệp của thành phố Hà Nội Dệt may là một trong 4 nhóm ngành chủchốt của thành phố, nó đóng góp tới 50,1% tổng thu ngân sách của toàn thànhphố ( năm 1997 ) và chiến 6.41 % trong giá trị sản lượng công nghiệp củathành phố ( năm 1998) và chiếm 14,09% kim nghạch xuất khẩu công nghiệpthành phố Điều đó được thể hiện qua một số bảng kê sau đây:

Bảng II.4: Tỷ trọng thu ngân sách trên địa bàn của ngành dệt may

Hà Nội so với công nghiệp nói chung

Đơn vị: tỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê vàn v : t ịa bàn Hà Nội ỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê và đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê vàng, %

Nguồn: Xử lý theo số liệu của Cục Thống kê Hà Nội và báo cáo tổng kết của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội

Bảng II.5: Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội

Đơn vị: tỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê vàn v : tri uịa bàn Hà Nội ệt may HàUSD

Trang 32

Một số nhóm ngành chủ lực có mức tăng trưởng khá như cơ kimkhí, điện, điện tử, thực phẩm, dệt, da, may, nếu tính riêng may, da thì cónhịp độ tăng trưởng trên 20%/năm.

Bảng II.6:Nhịp độ tăng trưởng trung bình năm thời kỳ 1991-1999 của ngành dệt-da-may (tính theo GDP công nghiệp)

Đơn vị: tỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê vàn v : t ịa bàn Hà Nội ỷ đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê và đồng (giá cố định 94), theo Niên giám Thống kê vàng (giá 1994), %

1990 1999 Nhịp độ tăng bình quân

1991-1999

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Cục Thống kê Hà Nội

Qua đây có thể thấy rằng dệt may và da giày là nhóm hàng chủlực trong công nghiệp Hà Nội, chiếm tỷ trọng gần 50% trong nhóm hàngchủ lực và gần 25% trong các nhóm hàng của toàn ngành công nghiệp.I.2.

2.1.2.Tì́nhhình phát triển ngành dệt may Hà Nội

a Thực trạng về tổ chức, quy mô ngành dệt may trên địa bàn Hà Nội:

Theo Niên giám Thống kê Hà Nội năm 2000 các cơ sở dệt may trên địa bàn

Hà Nội theo phân cấp quản lý như sau

Nhà nướctrung ương

Nhà nướcđịa phương

Ngoàinhà nước

Có vốnĐTNN

13

76

2.860

3502.510

7

43GTSXCN dệt may (triệu

301.870

247.41354.457

174.696

48.392126.304

77.863

61.28116.582

7.479

3.9383.541

10.440

2.4108.030

950

430520

Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội năm 2000.

Các cơ sở nhà nước bao gồm :

11 cơ sở dệt :

Trang 33

Dệt 8/3; Dệt may hà nội, Dệt vải công nghiệp, Dệt kim Đông xuân, Dệt10/10, Dệt nhuộm Tô Châu, Dệt Minh Khai, Dệt kim Thăng Long, Dệt 19/5,Dệt len Mùa Đông, Dệt kim Hà Nội

14 cơ sở may :

May Thăng long, May chiến thắng, May 10, May Đức giang, May Hồgươm, May 20, May 26, May 40, May Tháng 8, May Thăng long TALIMEX,May Thanh Trí, May Thăng Long, Cổ phần may Lê Trực, May 19/5

Cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài :

3 cơ sở dệt : Công ty Arkison, Tập đoàn 19/5, Thêu ren tơ tằm

4 cơ sở may : May mặc xuất khẩu Hà Nội, Công ty Qualitex, Michael

Manufacturer Vietnam, Công ty TNHH IPANIMA

- Ngoài ra còn có 350 cơ sở dệt và 2.510 cơ sở may ngoài nhà nước

Qua khảo sát thực tế hầu hết các thiết bị, công nghệ của các hộ sản xuấtnày đều lạc hậu và không áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường chocộng đồng và cho chính bản thân họ V́i thế những tác động đến môi trường

Trang 34

đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân cư xung quanh và ảnh hưởnglâu dài đến môi trường sinh thái trong một phạm vi rộng.

Thiết bị và công nghệ lạc hậu - Sự thay thế khó khăn do thiếu vốn:

Cùng với ngành dệt may cả nước, ngành dệt may Hà Nội cũng đangtích cực đầu tư hiện đại hoá thiết bị Tuy nhiên trong quá trính phát triển việcđầu tư nhiều giai đoạn làm cho thiết bị và công nghệ của ngành dệt may HàNội rất đa dạng Hiện nay vẫn còn sử dụng những thiết bị của thập kỷ 60,70 ởmột số doanh nghiệp

Cụ thể, cho đến nay thiết bị và công nghệ đã được đổi mới như sau:

- Ngành may đã đổi mới trên 95% thiết bị và công nghệ

- Ngành kéo sợi đã đổi mới trên 32% thiết bị và công nghệ

- Ngành dệt kiểu thoi đổi mới trên 25% thiết bị và công nghệ

- Ngành hoàn tất đổi mới trên 35% thiết bị và công nghệ

Đại đa số các cơ sở đóng trên địa bàn Hà Nội đều đã hoạt động trên 20năm, nhà xưởng chỉ đựợc cải tạo, bảo dưỡng sửa chữa, trang thiết bị máy mócmới chỉ được cải tạo, thay thế một phần, đầu tư mới không đáng kể do đó cácđịnh mức tiêu hao ở mức cao và hầu hết chưa quan tâm được nhiều đến vấn

đề bảo vệ môi trường

* Về thiết bị ngành dệt:

Sau hơn 10 năm đổi mới, các doanh nghiệp trên địa bàn đã đầu tư chiềusâu, đổi mới thiết bị công nghệ cũ lạc hậu được hơn 44% (theo giá trị thiết bị),bước đầu đã nâng cao được chất lượng kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất, đã cóđược sản phẩm dệt kim xuất khẩu theo phương thức FOB và có trên 25 % sảnlượng vải được dùng làm hàng may xuất khẩu

Trang 35

* Về thiết bị may: Các đơn vị may đã đầu tư đổi mới xong 100% thiết

bị cũ, đã chuyển dịch từ 2, 3 ca sang 1 ca/ngày; tăng thêm năng lực sản xuất

mở rộng liên doanh liên kết với các địa phương khác tạo thêm công ăn việclàm thu hút lao động

* Về nhà xưởng: Ngoại trừ một vài cơ sở mới đầu tư mới gần đây như

nhà máy dệt vải Denim của Công ty dệt Hà Nôi, Phân xưởng dệt kim củaCông ty 20 còn lại hầu hết đã được đầu tư từ 20-40 năm nay và chỉ được tu

bổ sửa sang lại

Chi tiết về địa diểm, mặt bằng, nhà xưởng, máy móc công nghệ (xembảng tổng hợp và các phiếu điều tra trong phụ lục)

* Về phân bố trên địa bàn:

Phân bố địa lý của các cơ sở dệt may:

- Đặc điểm của ngành dệt may Hà Nội là được phân bố và phát triểntrên khắp các quận huyện

- Các doanh nghiệp dệt được tập trung vào một số khu vực với mật độcao như khu vực Vĩnh Tuy, nhưng còṇ nhiều doanh nghiệp nằm rải rác ở tất

cả các quận nên rất khó quy hoạch về bảo vệ môi trường

- Các doanh nghiệp dệt may Hà Nội thường được xây dựng cạnh nhữngkhu đông dân cư hoặc do quá trinh đô thị hoá diễn ra nhanh chóng nên cónhiều doanh nghiệp dệt may hiện nay đang nằm giữa các khu dân cư đôngđúc Ví dụ như Công ty dệt kim Đông xuân nằm ở trung tâm quận Hai BàTrưng, Công ty dệt kim Thăng Long nằm giữa trung tâm quận Hoàn Kiếm

Đặc điểm này làm cho áp lực về môi trường ngày một gia tăng đối vớicác doanh nghiệp dệt may Hà Nội

Thực trạng phát triển các khu vực tập trung công nghiệp hiện có:

Trang 36

Hà Nội hiện có 9 khu vực tập trung công nghiệp là: Minh Khai-VĩnhTuy, Trương Định - Đuôi Cá, Văn Điển - Pháp Vân, Thượng Đ́nh, Cầu Diễn -Mai Dịch, Gia Lâm - Yên Viên, Đông Anh, Chèm, Cầu Bươu Ngoài ra còn

có các xí nghiệp công nghiệp phân bố rải rác trong nội và ngoại thành Năm

1998 tổng số lao động công nghiệp đang làm việc trong các khu vực tập trungcông nghiệp này khoảng 76,6 ngh́in người, chiếm khoảng 41,9% tổng laođộng công nghiệp toàn thành phố

Ngành dệt may Hà Nội chủ yếu tập trung tại khu công nghiệp MinhKhai-Vĩnh Tuy và một vài cơ sở tại khu Thượng Đính, Gia Lâm, v.v Tổng sốlao động của ngành đang làm việc trong các khu này khoảng 16.700 người,chiếm khoảng 21% so với tổng số lao động trong các khu vực công nghiệp tậptrung

Gần đây, Hà Nội đang xây dựng hai khu công nghiệp quy mô nhỏ tạiThanh Tŕi và Gia Lâm để thu hút các cơ sở công nghiệp di dời từ nội thành ra.Đây cũng là 2 trong 4 địa chỉ quy hoạch phát triển dệt may Hà Nội mà chúngtôi đề xuất

c Thực trạng về trình độ sản phẩm:

Sau khi thị trường Đông Âu tan vỡ, từ năm 1995 đến nay dệt may HàNội đã dần thích nghi và ổn định được sản xuất cho các thị trường EU, Nhật bước đầu phục hồi thị trường SNG và Đông Âu, thâm nhập thị trường Trungđông, châu Phi và đặc biệt là thị trường Mỹ Với vị trí đặc thù, Hà Nội cũng làmột thị trường có sự cạnh tranh gay gắt của các luồng hàng dệt may khácnhau với xu hướng tự do hoá mậu dịch, kể cả hàng buôn bán tiểu ngạch, hàngtrốn thuế Trong cơ chế thị trường cạnh tranh đó, một số sản phẩm của dệtmay Hà Nội vẫn có những chỗ đứng vững chắc trên thị trường như :

Trang 37

- Vải lụa thành phẩm: Hàng năm dệt may Hà Nội sản xuất khoảng 14triệu mét chiếm 4,6% so với cả nước trong khi trên thị trường Hà Nội có rấtnhiều lụa của TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nam Định, Hà Tây

- Vải dệt kim đan dọc hàng năm sản xuất hơn 9,4 triệu mét, chiếm hơn47% sản lượng của cả nước, được nhiều người biết đến dưới dạng màn tuyncủa Công ty cổ phần dệt 10/10

- Vải dệt kim với sản lượng gần 22 triệu mét cũng chiếm hơn 60% sảnlượng vải dệt kim toàn quốc với sản phẩm được nhiều người biết đến dướidạng T-shirt, Polo-shirt của Dệt may Hà Nội, Dệt kim Đông Xuân

- Quần áo may sẵn: hàng năm dệt may Hà Nội sản xuất gần 30 triệu sảnphẩm chiếm gần 9% so với cả nước, tuy chỉ bằng 1/7 so với thành phố Hồ ChíMinh nhưng gấp 2 lần so với Đà Nẵng và hiện tại có rất nhiều của hàng giớithiệu sản phẩm này của TP Hồ Chí Minh, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế

- Bít tất: Hàng năm các cơ sở dệt bít tất trên địa bàn Hà Nội như Công

ty dệt kim Hà Nội, Công ty 20, Công ty 26 sản xuất khoảng 10,5 triệu đôi,chiếm 86,5 % so với cả nước; đây có thể nói là mặt hàng Hà Nội chiếm tỷtrọng lớn có thể do đặc thù về không gian địa lư của Hà Nội, tuy nhiên đâycũng là mặt hàng được đánh giá cao tại các nước trong khu vực

- Khăn mặt: Hàng năm dệt may Hà Nội sản xuất khoảng 34,3 triệu sảnphẩm chiếm hơn 10% so với cả nước, đây cũng là mặt hàng nhiều nơi làmđược như Hải Pḥòng, Nam Định, Đà Nẵng, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh

* Về mặt hàng sợi: Hiện nay sợi sản xuất trên địa bàn chủ yếu từ Công

ty dệt may Hà Nội, Công ty dệt 8/3

Trong suốt cả thập kỷ 80, các mặt hàng sợi được sản xuất chủ yếu làcác loại sợi bông chải thô, chi số Nm 12, 14, 20-34, 36, 39, 54, 71, cung cấpnội địa, dệt các mặt hàng phổ thông như: vải bạt quân dụng, mành lốp xe đạp,

Trang 38

vải bảo hộ lao động, một ít phin, kaki và vải láng Sợi bông chi số thấp, chấtlượng cũng thấp, hầu hết đạt mức đường 75% thống kê Uster thế giới trởxuống.

Sợi bông chải kỹ chỉ chiếm 3% sản lượng toàn ngành Mặt hàng sợi phaPolyester (67/33, 65/35) với các chi số Nm 76, 67 là chủ yếu, tỷ trọng mặthàng sợi pha trong suốt thập kỷ 80 chỉ chiếm 16-20% sản lượng toàn ngành

Sợi OE chiếm 2,3% sản lượng toàn ngành mà chủ yếu là tận dụng phếliệu và nguyên liệu cấp thấp Sợi làm chỉ may công nghiệp năm cao nhấtchiếm 1,16%

Từ những năm 91 trở lại đây các mặt hàng sợi đa dạng và phong phúhơn, sợi bông chải kỹ chất lượng cao Nm 85-120; Các mặt hàng sợi Polyesterpha bông với nhiều tỷ lệ pha khác nhau: 50/50, 65/35, 83/17, tăng tỷ trọng lênrất nhiều Các loại sợi 100% Polyester cũng bắt đầu được sản xuất tại nhiềucông ty trong ngành Bước đầu các sản phẩm Cotton/visco, Cotton/acrylic chuchuyển trên thị trường trong nước và xuất khẩu Các loại sợi có lơi đàn tínhsản xuất phục vụ cho dệt bít tất và đồ lót

* Về mặt hàng dệt kim:

Mặt hàng dệt kim rất đa dạng và diện sử dụng cũng rất rộng, songchúng ta mới quan tâm tới sản xuất các mặt hàng trên máy đan mà phần lớn

là áo Polo-shirt, T-shirt từ sợi Cotton và Pe/Co

Mặt hàng dệt kim ta đang xuất khẩu từ sợi Pe/Co chiếm 75-80% hàngdệt kim và giá trị xuất khẩu thuộc nhóm giá thấp và trung b́inh 2,5-3,5USD/sản phẩm

Ngoài ra còn một số sản phẩm như 10,5 triệu đôi bít tất và 1,846 triệusản phẩm áo len các loại với 9,504 triệu mét vải tuyn

Trang 39

* Về mặt hàng dệt kiểu thoi:

- Đối với mặt hàng dệt kiểu thoi sử dụng sợi bông 100%, nhiều doanhnghiệp trung ương đã khép kín được sản xuất từ khâu nguyên liệu đến hoàntất các mặt hàng dệt kiểu thoi sử dụng sợi đơn chải kỹ chi số cao phục vụ cho

sơ mi xuất khẩu; những mặt hàng này góp phần giảm đáng kể các mặt hàngvải diềm bâu, vải calicot cấp thấp

Nhiều mặt hàng vải dệt kiểu thoi dày được tăng cường công nghệ làmbóng, phông co cơ học như kaki, chéo đã xuất khẩu được qua các thị trườngchâu Âu và Nhật

Trong lĩnh vực sản xuất khăn bông để xuất khẩu trong toàn quốc đã có

sự tăng trưởng nhảy vọt sau khi chuyển từ thị trường Đông Âu sang châu á

Trong lĩnh vực sản xuất màn, sản lượng màn tuyn tăng trưởng tươngđối nhanh, tiêu thụ nội địa là chủ yếu và khu vực thành thị là nơi tiêu thụchính

- Mặt hàng vải dệt kiểu thoi sử dụng sợi pha: Hàng loạt mặt hàng dàymỏng từ sợi pha như các loại katê đơn màu từ sợi Nm 76, các loại carô kẻ sọc

từ sợi 76 đơn hoặc sợi dọc 76/2, các loại vải bay từ sợi 76/2, các loại vải dàypha như Gabadin, kaki, simili phục vụ rộng răi thị trường trong nước, kể cảnhu cầu của Bộ Công an, Bộ Quốc pḥng

Ngoài ra còn có một số mặt hàng pha cotton/acrylic, lông cừu/polyester,cotton/petex, Pe/Co/Petex, tuy sản lượng không lớn nhưng cũng đáp ứngđược các nhu cầu về “mốt” cho thị trường nội địa

- Mặt hàng vải dệt kiểu thoi sử dụng sợi tổng hợp 100%, nhờ đầu tưthêm thiết bị, trang bị các hệ thống xe săn sợi độ săn cao, thiết bị comfit, thiết

bị giảm trọng lượng đă tạo ra nhiều mặt hàng mỏng, hàng dầy giả tơ tằm,giả len sử dụng thích hợp với khí hậu nhiệt đới, làm phong phú thêm các mặt

Trang 40

hàng áo dài, các bộ đồ mặc trong nhà, giúp cho ngành dệt sợi Petex phát triểntương đối mạnh, nhu cầu sử dụng loại nguyên liệu này lên đến 40.000tấn/năm.

Ngày đăng: 08/11/2012, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17.Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội)-Báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giáô nhiễm môi trường công nghiệp TP.Hà Nội”, 1999-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giáô nhiễm môi trường công nghiệp TP.Hà Nội
1.Nguyến Thế Chinh.Ứng dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2020,1998.Tập bài giảng về quản lý môi trường,1998.Phân tích tác động của chính sách thúê môi trường đến phía cung của nền kinh tế,1998 Khác
3. Bùi Thanh Huyền.Tiếp cận công cụ kinh tế: Phí/lệ phí ô nhiễm môi trường nước và không khí ở Việt Nam, 1997. Luật án thạc sĩ khoa học môi trường Khác
4. Lê Thị Thanh Mỹ.Công cụ knh tế trong quản lý môi trường; thị trường giấy phép ô nhiễm ( các khía cạnh cân nhắc ),1998 Khác
5. Trần võ Hùng Sơn.Ứng dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền: trường hợp lệ phí khu công nghiệp,1998 Khác
6. Giáo trình kinh tế môi trường.Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân Hà Nội- nhà xuất bản giáo dục Khác
7. Giáo trình kinh tế môi trường.Nhà xuất bản giáo dục năm 1995 Khác
11. Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Hà Nội.Cục môi trường,năm 2002 Khác
12. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thủ đô đến năm 2010 13. Chiến lược phát triển công nghiệp của thành phố Hà Nội.Sỏ công nghiệp năm 2002 Khác
15. Nghịđịnh 67/2003/NĐ-CP và thông tư125/2003/TTL-BTC-BTNMT 16. Dự án đầu tư công nghệ xử lý nước thải của công ty dệt nhuộm Phước Long Khác
18,JICA-VINATEX-CEETIA (Đại học Xây dựng Hà Nội)- Dựán ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp, 1999-2001 Khác
19.Tổng Công ty dệt may Việt Nam- Hiện trạng sản xuất ngành dệt amy Việt Nam và các thách thức trong tương lai, 12/2002 Khác
21.WHO-Assessment of Sources of Air, Water and Land pollution. A Guide to rapid source inventory techniques and their use in formulating environmental control strategies, 1993 Khác
22.H.Rüffer, K.H.Rosenwinkel-Taschenbuch der Industrieabwasserreinigung, 1991 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp ô nhiễm từ 6 khu công  nghiệp chính trên địa bàn Hà Nội. - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng t ổng hợp ô nhiễm từ 6 khu công nghiệp chính trên địa bàn Hà Nội (Trang 27)
Bảng II.1: Sản lượng một số sản phẩm  chủ yếu của ngành dệt may Hà  Nội và toàn quốc năm 2000 - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
ng II.1: Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu của ngành dệt may Hà Nội và toàn quốc năm 2000 (Trang 29)
Bảng II.2:So sánh meột số chỉ tiêu của toàn ngành, VINATEX, dệt may HN  (năm 2000) - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
ng II.2:So sánh meột số chỉ tiêu của toàn ngành, VINATEX, dệt may HN (năm 2000) (Trang 30)
Bảng II.4: Tỷ trọng thu ngân sách trên địa bàn của ngành dệt may Hà   Nội so với công nghiệp nói chung - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
ng II.4: Tỷ trọng thu ngân sách trên địa bàn của ngành dệt may Hà Nội so với công nghiệp nói chung (Trang 31)
Hình 2.1- Sơđồ quy trình công nghệ chung của dệt may kèm dòng thải - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
Hình 2.1 Sơđồ quy trình công nghệ chung của dệt may kèm dòng thải (Trang 46)
Hình - Nguồn phát sinh nước thải từ các công đoạn dệt nhuộm - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
nh Nguồn phát sinh nước thải từ các công đoạn dệt nhuộm (Trang 49)
Bảng 2.4- Lượng nước thải và nguồn thải của một số nhà máy dệt may ở Hà Nội (năm 2000) - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng 2.4 Lượng nước thải và nguồn thải của một số nhà máy dệt may ở Hà Nội (năm 2000) (Trang 51)
Bảng đặc trưng nước thải của các công đoạn khác nhau trong dệt may - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
ng đặc trưng nước thải của các công đoạn khác nhau trong dệt may (Trang 51)
Bảng kê khai chi phí cho dự án - Mô hình tính phí nước bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp cho một số cơ sở dệt may trên địa bàn thành phố Hà Nội
Bảng k ê khai chi phí cho dự án (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w