Thiªn tµi cña d©n téc ViÖt Nam trong viÖc b¶o vÖ tiÕng nãi cña m×nh lµ trong khi kiªn quyÕt kh«ng chÊp nhËn bÊt cø ng«n ng÷ níc ngoµi nµo nh lµ ng«n ng÷ chÝnh thèng cña m×nh, th× ®ång th[r]
Trang 1phòng giáo dục hữu lũng
trờng THCS Hòa Lạc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Báo cáo tham luận
Về việc dạy kiến thức Tiếng Việt và bài tập Tiếng Việt lý thú
Kính tha: - Các đồng chí lãnh đạo - Đại diện phòng giáo dục huyện Hữu Lũng
Phòng giáo dục hữu lũng
Trờng THCS Hoà Lạc Cộng hoà x hội chủ nghĩa Việt Namã
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
báo cáo tham luận
Về việc dạy kiến thức Tiếng Việt và
bài tập Tiếng Việt lý thú
Tổ: Văn – Sử Trờng THCS Hoà Lạc
Hoà Lạc, ngày 23 tháng 3 năm 2007
Trang 2- Các quý vị đại biểu, cùng toàn thể các đồng chí giáo viên
Biết rằng Tiếng Việt của chúng ta vô cùng phong phú, nhng làm thế nào để cho học sinh cấp THCS tự nguyện tham gia, nghiên cứu một cách đúng đắn tiếng
mẹ đẻ và hiểu rõ ngọn nguồn từ vựng khi phát âm Tự rèn kỹ năng nói, một trong 5
kỹ năng mà ở cấp học THCS phải nắm chắc, theo quan điểm đổi mới dạy học là:
“nghe”, “nói”, “đọc”, “viêt” và “tính toán nhanh” Bởi thế phân môn Tiếng Việt trở thành một môn học không thể thiếu trong nhà trờng phổ thông
Hôm nay chúng tôi xin phép đợc bàn luận đôi chút về sự phong phú và lý thú của Tiếng Việt thông qua tham luận:
Kiến thức Tiếng Việt và bài tập Tiếng Việt lý thú
I Mở đầu
Tiếng Việt của chúng ta rất giàu: tiếng ta giàu bởi đời sống muôn màu, đời sống t tởng và tình cảm dồi dào của dân tộc ta; bởi kinh nghiệm đấu tranh lâu đời
và phong phú, kinh nghiệm đấu tranh gai cấp, đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm; bởi những kinh nghiệm sống của bốn nghìn năm lịch sử dựng nớc và giữ nớc Tiếng Việt của chúng ta phản ánh sự hình thành của xã hội Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, của tập thể nhỏ là gia đình, họ hàng, làng xóm và của tập thể lớn là dân tộc, quốc gia
Cơn thử thách nặng nề và khốc liệt nhất của Tiếng Việt và ngời Việt là một nghìn năm Bắc thuộc và gần một trăm bị thực dân độ hộ, kẻ xâm lợc đã dùng bạo lực và chính sách đồng hóa gắt gao, áp đặt cho nhân dân Việt Nam một thứ ngôn ngữ ngoại lai, một hệ thống văn hóa nô dịch Thiên tài của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ tiếng nói của mình là trong khi kiên quyết không chấp nhận bất cứ ngôn ngữ nớc ngoài nào nh là ngôn ngữ chính thống của mình, thì đồng thời lại tỏ
ra rất mềm dẻo và sáng tạo trong việc tiếp thu những cái quý báu, cái u việt của ngôn ngữ nớc ngoài việt hóa chúng làm cho Tiếng Việt thêm giàu, thêm đẹp Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay Tiếng Việt có địa vị giống nh các ngôn ngữ phát triển trong số gần 5000 ngôn ngữ hiện có trên thế giới Ngày hôm nay chúng ta luôn phải tự hào và gìn giữ vì Tiếng Việt là ngôn ngữ cộng đồng của dân tộc Việt, đồng thời là công cụ giao tiếp chung của các dân tộc anh em sống trên đất nớc Việt Nam Nh Bác Hồ-vị cha già kính yêu của dân tộc đã khẳng định “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng quý báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng
nó, làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp” (Hồ Chí Minh)
II Thực trạng dạy và học Tiếng Việt ở trờng THCS Hòa Lạc Mặc dù chúng ta luôn khẳng định với nhau rằng Tiếng Việt là ngôn ngữ của cộng đồng, là công cụ giao tiếp xong thực tế Tiếng Việt lại vô cùng phong phú chính vì sự phong phú đó mà nhiều khi chúng ta gặp phải không ít khó khăn trong
Trang 3quá trình tìm hiểu, phân tích, tạo lập hệ thống ngôn ngữ trong giao tiếp hoặc tạo lập văn bản … Nhìn nhận ở một góc độ nào đó việc học tập Tiếng Việt của các em học sinh gặp không ít khó khăn nh:
- Cơ sở vật chất:
+ Cha có phòng chức năng rèn luyện cách phát âm, luyện nghe, đọc
+ Ngoài sách giáo khoa các em không có điều kiện mua sắm sách tham khảo trong khi th viện nhà trờng hiện không có
+ Sự quan tâm của các bậc cha mẹ cha thật đầy đủ trong việc tạo điều kiện cho các em có nhiều thời gian học tập, cha thật chú trọng rèn luyện kỹ năng phát
âm, nói cho các em trong việc giao tiếp hàng ngày ở gia đình
- Về bản thân học sinh:
+ Một số em rất ngại và lời rèn kỹ năng Tiếng Việt trong nói và viết Tình trạng này xảy ra phổ biến ở các đối tợng học sinh có sức học trung bình-yếu:
Thứ nhất lợng kiến thức Tiếng Việt của các em rỗng và hầu nh các em cha
có ý thức tự trau dồi, sửa đổi
Ví dụ vấn đề phát âm ở học sinh lớp 6, 7: các em thờng nhầm lẫn giữ phụ âm
đầu: “L”, “N”, “Tr” và “Ch” hoặc trong giao tiếp các em có thể phát ngôn tùy tiện, thiếu thành phần câu nh:
- Cô giáo hỏi: Em ơi! các bạn lớp mình đâu cả rồi?
- Học sinh: Về hết rồi!
Đối với học sinh lớp 8, 9 các em lại mắc lỗi về câu trong việc tạo lập văn bản
Ví dụ khi làm bài tập làm văn: “ Thuyết minh về con vật em yêu thích” có
em viết nh sau:
- Em thích mình đợc nh con trâu
- Con trâu nhà em nó ngoan lắm con trâu nhà em có hai cái sừng to dài em
đi học về là đi chăn trâu ngay
Hoặc khi viết giấy xin phép có em lại viết: “em xin cô nghỉ một ngày vì em
bị đau răng đau tởng nh có thể khóc đợc với nó” …
Thứ hai các em gặp khó khăn khi phân biệt các loại câu, đặc biệt là câu ghép nhiều thành phần hoặc còn lẫn lộn giữa trợ từ, h từ và tình thái từ vì các em không nắm chắc khái niện và đặc điểm của từ loại Tiếng Việt
Bởi vậy kiến thức Tiếng Việt của các em sẽ ngày càng mai một nếu nh không
có ý thức trau dồi và tích lũy hợp lý Câu hỏi đặt ra với những thầy giáo, cô giáo dạy phân môn Tiếng Việt là làm thế nào để các em có thể tích lũy đợc vốn từ, sử dụng vốn từ ấy cho hoạt động giao tiếp hàng ngày và trong việc tạo lập văn bản
Để từ đó các em có thể phát huy sự giàu đẹp, phong phú của Tiếng Việt Tin yêu và bảo vệ phơng tiện giao tiếp của cộng đồng dân tộc Việt Nam
III Kiến thức Tiếng Việt và bài tập Tiếng Việt lý thú
Trang 4Bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ Văn trong đó có phân môn Tiếng Việt thiết nghĩ muốn cho các em học sinh có lợng kiến thức Tiếng Việt đủ,
đảm bảo cho quá trình giao tiếp vận dụng vào việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trong
đời sống hàng ngày thì tất yếu các thầy giáo, cô giáo, giúp các em nắm chắc một trong số rất nhiều kiến thức đơn giản nhứng lại vô cùng cần thiết Trong điều kiện cho phép chúng tôi không có tham vọng đa ra đây tất cả mọi vấn đề về dạy và học Tiếng Việt mà chúng tôi chỉ muốn đề cập đến một góc độ nhỏ đó là sự phong phú
và lý thú của một số bài tập Tiếng Việt loại rất ngắn nhng nó lại làm nổi rõ những quy luật rất chặt chẽ của Tiếng Việt Điều mà nhiều học sinh bỏ qua khi tiếp nhận kiến thức Tiếng Việt hay nói cách khác đó là những bài tập Tiếng Việt thờng thức
Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập (ngôn ngữ không biến hình) ngôn ngữ thanh
điệu Tiếng Việt có 10 đặc điểm để phân biệt với các ngôn ngữ khác (các đặc điểm của Tiếng Việt )
Âm tiết Tiếng Việt (ở dạng đầy đủ) gồm 5 thành phần: phụ âm đầu, âm đệm,
âm chính, âm cuối và thanh điệu
Hình vị là đơn vị gốc cấu tạo từ Tiếng Việt (có khoảng bốn vạn vỏ âm thanh
để cấu tạo hình vị) Hình vị âm tiết có hình thức cấu tạo giống nhau, trùng nhau, có thể gọi là hiện tợng “ một đơn vị 3 chức năng”
Từ gồm có từ đơn (một hình vị), từ ghép (hai hình vị trở lên) từ ghép chia ra
từ ghép nghĩa, từ ghép láy (từ láy), từ ghép tự do Từ một hình vị còn gọi là từ đơn tiết, từ hai hình vị là từ song tiết, từ ba hình vị trở lên gọi là từ đa tiết (từ song tiết chiếm khoản 80% tổng số từ)
Vốn từ Tiếng Việt bao gồm từ, thành ngữ, thuật ngữ (hiện nay có trên một triệu thành ngữ và danh từ chuyên môn) Trong số vốn từ Tiếng Việt có một bộ phận từ gốc Hán (chiếm 60% vốn từ ngoại lai, trong đó có khoảng 25% đã đợc Việt hóa hoàn toàn) và một số ít mợn tiếng Pháp và các ngôn ngữ khác
Từ loại Tiếng Việt có thể phân chia ra thành: thực từ, h từ, tình thái từ + Thực từ gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
+ H từ gồm: Phó từ, quan hệ từ
+ Tình thái từ: trợ từ và thán từ
Từ và cụm từ là các đơn vị cấu tạo nên câu, câu đợc cấu tạo các vị tính vị ngữ Câu phân chia ra thành: câu đơn (một đơn vị tính vị ngữ), câu trung gian (hai
đơn vị tính vị ngữ, trong đó một đơn vị này phụ thuộc vào một thành phần đơn vị kia), câu phức hợp (hai đơn vị tính vị ngữ độc lập trở lên có quan hệ với nhau)
Phong cách Tiếng Việt gồm phong cách ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết với nhiều loại phong cách khác nhau và các biện pháp tu từ
Trên đây là một hệ thống kiến thức Tiếng Việt cơ bản mà các em học sinh cần nắm chắc trong việc học phân môn Tiếng Việt ở trờng THCS Để các em có thể
Trang 5thực hiện thành thạo hơn nữa kỹ năng Tiếng Việt chúng tôi muốn đa ra một số ví
dụ mà theo chúng tôi nó gây hứng thú cho học sinh học Tiếng Việt
1 Những bài tập lý thú về âm đầu.
Âm đầu trong các âm tiết Tiếng Việt bao giờ cũng là phụ âm Phụ âm đầu có
số lợng lớn hơn phụ âm cuối và nguyên âm (gồm 21 phụ âm) Số lợng âm vị làm
âm đầu nhỏ hơn số lợng vần nhng nó lớn hơn so với số lợng âm vị của bất kỳ thành
tố nào của phần vần Chức năng làm ký hiệu phân biệt của âm đầu là lớn nhất so với các thành tố khác cấu tạo nên âm tiết
Nhờ chức năng phân biệt của phụ âm đầu mà ta có cơ sở sử dụng các con chữ đứng đầu âm tiết để viết tắt:
Ví dụ:
- Hợp tác xã có thể viết tắt là: HTX
- Chủ nghĩa xã hội có thể viết tắt là: CNXH
Chức năng phân biệt của phụ âm đầu thể hiện rõ rệt trong các từ tợng thanh: canh cách, bôm bốp, lộp độp, vù vù, vi vu, cành cạch, phành phạch, bành bạch … Tùy theo tiếng động của từ tợng thanh mô phỏng mà dùng phụ âm tắt hay phụ âm xát
Từ đặc điểm và chức năng của phụ âm đầu, hãy cùng làm bài tập sau
- Khi túng toan lên bán cả trời
Trời cời thằng bé nó hay chơi
- Cua càng cà cuống can qua
Cuốc cò còn cứ con cà con kê Các bạn hãy thử tính xem 14 tiếng trong hai câu thứ nhất và 14 tiếng trong hai câu thứ hai có bao nhiêu âm đầu?
Để vững lòng tin về vốn liếng ngôn ngữ của mình mời các bạn tham gia làm trọng tài về trò chơi sau đây:
Lan và Hòa cùng tham gia trò chơi về âm đầu Hễ ngời nào đọc trớc một câu
có âm đầu gì thì ngời sau đọc tiếp một câu chọi lại cùng có phụ âm đầu đó Và đây
là diễn biến của cuộc thi
Lan: Con cò quằm quặm cái cổ cao Hòa: Chíu cha chíu chít con chim chích Lan: Con cua càng có cái càng kỳ quặc Hòa: Chú chiền chiện có cái cẳng cao cao Vậy trọng tài cho ai thắng cuộc đây?
- Lan thắng cuộc
Nếu thế là bạn đã có khẳ năng làm trọng tài rồi đấy Hòa đã nhầm lẫn giữ
âm “Cờ” (C) và âm “Chờ”(Ch)
Trang 6Bây giời chuyển sang một trò chơi khác mời các bạn làm “giám khảo” chấm giúp những bài tập sau:
Đề ra: hãy tìm những từ hai tiếng có chung một âm đầu
Bài làm:
+ Đảm đang, đì đùng, bì bõm, đung đa, đu đa , đờng đất, đê điều, độc đáo,
đền đài, đen đủi, đơn đặt, đá đỏ, đá đổ…
+ Lung lay, lay lắt, lúng liếng, lọc lừa , lạnh lắm, lá liễu, lòng lợn, lênh láng,
lu loa, loang lổ, lơ là, lú lấp, lạnh lùng, lầm lạc, lây lan …
+ Côi cút, ca cẩm, con cá, con cua, cái chai, cô quạnh, cò kèm quê kệch, còm cõi, cong queo, quả chanh, cà chua, cà cuống …
“Giám khảo” bắt đợc bao nhiêu lỗi ? Nhớ chữa và giải thích chỗ sai cho
“Học sinh” nhé!
Để kết thúc phần âm đầu này, tôi xin phép tặng các bạn một bài thơ của nhà thơ Tú Mỡ:
“ Mêng mông muôn mẫu một màn ma Mỏi mắt miên mang mãi mịt mờ Mộng mị mỏi mòn mai một một
Mĩ miều may mắn mấy mà mơ”
Bạn có nhận xét gì về phụ âm đầu trong bài thơ không ?
2 Những bài tập lý thú về vần (âm đệm)
Âm đệm là âm xuất hiện giữa âm đầu và âm chính (nguyên âm) nó dóng vai trò của một âm lớt, một bán nguyên âm , tức là âm vị không làm đình của âm tiết
âm đệm có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết chứ không phải tạo nên âm sắc chủ yếu của âm tiết Cho nên âm đệm không có tính âm tiết
Vậy bạn có thể cho biết: vần Tiếng Việt có nhiều nhất là mấy vần?nếu bạn trả lời đợc vần nhiều âm nhất là vần có bán nguyên âm đứng trớc và âm cuối đứng sau, cụ thể: âm đệm + âm chính + âm cuối
Ví dụ: Uân, uất
Vậy những vần nào của Tiếng Việt đợc ghi bằng nhiều chữ cái nhất?
Này nhé: vần ghi bằng nhiều chữ cái nhất là vần có bán nguyên âm đứng
tr-ớc, nguyên âm đôi đứng giữa và phụ ân cuối có hai chữ đứng sau:
Ví dụ: Uyếch-tất cả 5 chữ cái
Các bạn thử kiểm chứng lại xem có chính xác không nhé
Bây giờ xin mời các bạn làm trọng tài cho cuộc chơi sau đây: Luật chơi nh sau: sau khi bốc thăm, ngời thắng sẽ đợc quyền hô lên, chẳng hạn:
- Chơi 4 tiếng vần “ơi”
- Chơi 5 tiếng vần “am” … và không đợc lặp vần
Hôm đó bạn Mai đợc quền hô trớc
Trang 7- Ba tiếng vần “ao”
Tôi làm trọng tài nên đợc thổi còi mở đầu cuộc chơi
Bạn Mai: Gió xôn xao Bạn Hà: cây rì rào Bạn Mai: Tấm chiến bào Bạn Hà: Dới chiến hào Bạn Mai: Núi cao cao Bạn Hà: Lòng nôn nao Bạn Mai: Chú cào cào Bạn Hà: Nh đón chào Bạn Mai: Chú chào mào Bạn Hà: Hỡi đồng bào Trọng tài thổi còi kết thúc cuộc chơi Ban đã kết luận đợc ai thắng cuộc cha? Còn tôi cho rằng: Bạn Mai thắng cuộc vì bạn Hà phạm luật lặp lại tiếng
“bào” đã có trong câu trớc “Tấm chiến bào” các bạn đồng ý không
Và sau đây mời các bạn hãy thử làm một bài thơ 8 câu có vần “eo”
Tôi làm bài thơ nh sau:
Thầy ra đề vần oe
Khó quá tôi buồn teo
Bỗng dng một chú mèo
Nhìn tôi kêu meo meo
Bực mình tôi tung cớc
Đá chú bay cái vèo
Chú mèo kêu meo meo
Em tôi chạy lại: eo!
Các bạn đừng cời vì bài thơ đó nhé Nó không hay nhng có thể dùng làm ví
dụ đấy
III Kết thúc
Nói chung các biện pháp tu từ trong Tiếng Việt rất đa dạng mỗi cách tu từ có một nét riêng, đợc sử dụng trong các phong cách ngôn ngữ khác nhau chúng làm cho sự diễn đạt ý tởng phong phú, sinh động , bóng bẩy, tế nhị, giàu sắc thái biểu cảm, làm cho sự giao tiếp Tiếng Việt đạt hiêu quả cao Các biện pháp tu từ còn giúp chúng ta phát triển trí tuệ, chúng là công cụ cho mỗi ngời phát triển tài năng sáng tạo trong công việc sử dụng ngôn ngữ Bởi vì trình độ phát triển ngôn ngữ thể hiện trình độ phát triển t duy Lẽ tất nhiên, trớc hết mỗi chúng ta phải dày công học tập nâng cao vốn từ vựng, nắm vững các chuẩn mực Tiếng Việt, nói đúng, viết đúng, từ
đó nói hay viết hay, giữ gìn và phát triển sự trong sáng của Tiếng Việt
Kính tha các quý vị chúng tôi mong muốn rằng ý kiến chúng tôi đa ra đây sẽ
đợc các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí chuyên viên, các thầy cô giáo góp ý kiến
Trang 8cho chúng tôi để chúng tôi, một đơn vị xa trung tâm có cơ hội đợc giao lu học hỏi nâng cao năng lực chuyên môn xin cảm ơn các đồng chí chú ý lăng nghe
Hoà Lạc, ngày 23 tháng 3 năm 2007
Ngời viết tham luận Triệu Thị Huyền