Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Trang 1Cùng với cả nước, tỉnh Hà Giang đang từng bước phát triển xây dựng cơ
sở hạ tầng từ thị xã đến các huyện lỵ và nông thôn; phát triển các khu kinh tếcửa khẩu và khu công nghiệp, các ngành khai thác khoáng sản Đồng thời cácngành y tế, thương mại, du lịch, giáo dục, thể dục thể thao…ngày càng đượccủng cố và phát triển Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ các ngành lại là mộttrong những tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm và suy thoái môi trường do quá trìnhphát triển kinh tế chưa chú ý hoặc tìm cách né tránh chi phí dành cho bảo vệ môitrường
Để kịp thời đưa ra những chính sách, biện pháp quản lý và sử dụng tàinguyên và môi trường một cách hợp lý nhất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Hà Giang phối hợp với Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện báo cáo “Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang” Báo cáo được xây dựng với mục tiêutrước mắt là đưa ra cái nhìn tổng thể, khái quát về hiện trạng chất thải sinh hoạt;thực trạng công tác thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh và mức
độ ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Đồng thời, đưa ra các biện pháp hạnchế, giảm thiểu lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh Từ đó, đưa
ra giải pháp quy hoạch, xây dựng các bãi chôn lấp phù hợp nhằm tăng hiệu quảthu gom và quản lý rác thải, đề xuất các dự án xử lý và tái chế rác thải Đồngthời, đưa ra một số định hướng chủ yếu trong việc quản lý và xử lý nước thảisinh hoạt cho các địa phương trên địa bàn tỉnh
Trang 22 Cơ sở pháp lý để thực hiện dự án
- Hợp đồng số 2903/HĐ-TNMT ngày 29/3/2008 giữa Sở Tài nguyên
và môi trường Hà Giang và Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên vàMôi trường
- Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29/12/2005
- Nghị định số 80/NĐCP được chính phủ ban hành ngày 09/08/2006
Về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệmôi trường
- Thông tư số 3370/TT-MT ngày 22/12/1995 của Bộ Khoa học Côngnghệ và Môi trường hứơng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố môi trường
- Chỉ thị số 199/TTg ngày 03/04/1997 của Thủ tướng Chính phủ vềnhững biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị vàkhu Công nghiệp
- Quyết định số 86/1998/QĐ-BNN-BVTV ngày 24/06/1998 của Bộtrưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc cấm sử dụng một sốthuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp ở Việt Nam
- Thông tư liên tịch số 1529/1998 ngày 17/10/1998 của Bộ Khoa họccông nghệ và Môi trường và Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn đảm bảo môitrường trong sử dụng amiăng vào sản xuất các sản phẩm, vật liệu và xâydựng
- Chỉ thị số 29/1998/CT-TTg ngày 25/8/1998 của Thủ tướng Chínhphủ về tăng cường công tác quản lý việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vàchất hữu cơ gây ô nhiễm, khó phân huỷ
- Quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành kèm theo quyết định
số 155/1999 QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng chính phủ
3 Tổ chức thực hiện
Báo cáo “Điều tra, phân tích, đánh giá tình hình chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hà Giang” do Sở Tài Nguyên và Môi trường Hà Giang chủ trì.
Trang 3Cơ quan tư vấn: Trung tâm Ứng dụng Công Nghệ Tài nguyên và Môitrường - Công ty Đo đạc ảnh Địa hình.
Các cán bộ tham gia thực hiện:
3 Phương pháp thực hiện
*/ Phương pháp kế thừa
Khai thác và kế thừa các kết quả điều tra hiện trạng môi trường hàng nămcủa tỉnh, các báo cáo khoa học về hiện trạng môi trường các nhà máy, xí nghiệpcủa các viện, các trung tâm nghiên cứu Thu thập, phân tích các thông tin vềhiện trạng môi trường các ngành Thu thập số liệu các yếu tố và các nguồn lựcphát triển kinh tế xã hội tác động tới môi trường của tỉnh
*/ Phương pháp phân tích tổng hợp hệ thống
Trang 4Sử dụng phương pháp này nhằm đánh giá các thông tin một cách toàndiện trên cùng một chuẩn mực Sự đánh giá, so sánh có tính hệ thống và khoahọc nhằm đảm bảo tính hợp lý trong so sánh và đánh giá hiện trạng.
*/ Phương pháp thống kê, điều tra thực dịa
Các số liệu thống kê và điều tra thực địa sẽ là cơ sở để xây dựng các giảipháp điều chỉnh lại các quy hoạch chưa phù hợp làm cơ sở dự báo chính xác xuthế diễn biến môi trường trong tương lai
*/ Phương pháp chuyên gia
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, tập hợp chuyên gia các lĩnh vựcnhằm phân tích đánh giá số liệu, dữ liệu thu thập được góp phần xây dựng kếhoạch bảo vệ môi trường
Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng gópcác chuyên viên trong các lĩnh vực có liên quan, đặc biệt là các nhà quản lý môitrường Đặc biệt là sự đóng góp của các cố vấn PGS.TS Lưu Đức Hải Chủnhiệm Khoa môi trường - ĐH Khoa học Tự nhiên, PGS.TS Hoàng Xuân Cơ -Phó phòng khoa học - ĐHKHTN
Trang 5CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 Điều kiện tự nhiên
Về tổ chức hành chính, hiện nay tỉnh Hà Giang có 1 thị xã tỉnh lỵ (thị xã
Hà Giang) và 10 huyện với 195 xã, phường, thị trấn Trên địa bàn tỉnh có 8 cửakhẩu, trong đó, cửa khẩu Quốc Gia Thanh Thuỷ đang được đầu tư xây dựngthành Cửa khẩu Quốc tế
Hà Giang với 90% diện tích là đồi núi và cao nguyên có độ cao tuyệt đối
từ 50m đến 2.418m Đặc biệt có nhiều dãy núi cao trên 2000m như Ta 2.274m, Tây Côn Lĩnh - 2.418m Hệ thống sông suối có độ dốc lớn, nhiều thácghềnh
Kha-1.1.2 Địa hình, địa chất, thổ nhưỡng
Địa hình: Do cấu tạo địa hình phức tạp, thiên nhiên tạo ra và ưu đãi cho
Hà Giang một nguồn tiềm năng to lớn về khí hậu, đất đai, tài nguyên và khoángsản Vì thế có thể chia Hà Giang thành ba vùng với những điều kiện tự nhiên,kinh tế và xã hội khác biệt, mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng đó là:
- Vùng I: Là vùng cao núi đá phía Bắc gồm 4 huyện: Đồng Văn, Mèo
Vạc, Yên Minh và Quản Bạ Độ cao trung bình từ 1.000 – 1.600 m, gồm nhiềukhu vực núi đá vôi nằm sát với chí tuyến bắc có độ dốc khá lớn, thung lũng vàsông suối bị chia cắt nhiều Vùng này có vùng trũng Yên Minh, chủ yếu là đồinúi thấp có độ cao trung bình 500 – 700 m Diện tích toàn vùng là 2.352,7 km2,dân số trên 20 vạn người chiếm xấp xỉ 34,3% dân số toàn tỉnh Do điều kiện khíhậu rét đậm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè nên rất thích hợp với việc phát
Trang 6triển các loại cây ôn đới như cây dược liệu thảo quả, đỗ trọng; Cây ăn quả nhưmận, đào, lê, táo Cây lương thực chính ở vùng này là cây ngô
- Vùng II: Là vùng cao núi đất phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì và
Xín Mần Diện tích tự nhiên 1.211,3 km2, dân số chiếm 15,9% Độ cao trungbình của vùng từ 900 - 1.000 m, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và sông suốihẹp Điều kiện tự nhiên vùng này thích hợp cho việc phát triển cây trẩu và câythông lấy nhựa
- Vùng III: Là vùng núi thấp gồm các huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Bắc
Mê, Quang Bình và thị xã Hà Giang là vùng trọng điểm kinh tế của Hà Giang.Diện tích tự nhiên 4.320,3 km2, dân số chiếm 49,8% Độ cao trung bình từ 50 –
100 m Địa hình ở đây là đồi núi thấp, thung lũng sông Lô càng xuống phía namcàng được mở rộng Điều kiện tự nhiên thích hợp với các loại cây nhiệt đới,thuận lợi cho việc phát triển nghề rừng, trồng các loại cây nguyên liệu giấy như
bồ đề, mỡ, thông và đây cũng là vùng tre, nứa, vầu, luồng lớn nhất trong tỉnh Ngoài ra đây còn là vùng trồng các loại cây ăn quả có múi như cam, quýt
1.1.3 Khí hậu
Nhiệt độ: Tại Hà Giang đặt 04 trạm quan trắc khí tượng Theo số liệu
quan trắc năm 2006, nhiệt độ không khí trung bình tại trạm Hà Giang là 23,3oC,trạm Bắc Quang là 23,4oC, trạm Bắc Mê là 22,7oC, và trạm Hoàng Su Phì là20,9oC Nhiệt độ cao nhất trong năm đo được tại trạm Bắc Quang là 28,5oC vàotháng 7 và thấp nhất là 15,0oC tháng 1 tại trạm Hoàng Su Phì Chênh lệch nhiệt
độ giữa ngày và đêm khoảng 8oC Giữa mùa đông và mùa hè khoảng 15-20oC
Về mùa đông có lúc nhiệt độ xuống dưới 5oC, kèm theo sương muối và mây mùvùng cao núi đá có băng giá và tuyết
Độ ẩm: Độ ẩm không khí trung bình thường đạt khoảng 80% Số liệu
quan trắc năm 2006 cho thấy độ ẩm trung bình tại trạm Hà Giang là 82%, trạmBắc Quang là 87%, trạm Hoàng Su Phì là 81%, trạm Bắc Mê là 81%
Lượng mưa trung bình năm của Hà Giang tại các trạm quan trắc trungbình trong khoảng từ 1.300 đến 5.000mm (số liệu tổng hợp trung bình nhiềunăm) Năm 2006, lượng mưa giảm hơn so với lượng mưa trung bình nhiều năm.Tổng lượng mưa tại trạm Hà Giang là 1.475,8mm, lượng mưa tại trạm BắcQuang là 4.921,3mm, lượng mưa tại trạm Hoàng Su Phì là 1.326,3mm, tại trạmBắc Mê là 1.527,4mm
Trang 7Gió: hướng gió chính của Hà Giang là hướng Đông Nam với vận tốc
trung bình là 1-5 m/s Do vị trí nằm sâu trong lục địa nên Hà Giang chủ yếuchịu ảnh hưởng gió lốc địa hình, ít bị ảnh hưởng của các đợt bão trong năm.Điều kiện vi khí hậu của Hà Giang mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa và á nhiệtđới Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh có diễn biếnbất thường, hạn hán xảy ra nhiều vùng thường xuyên hơn và mùa khô kéo dàihơn gây nhiều ảnh hưởng xấu đến đời sống sản xuất của nhân dân Các đợt mưatập trung và có cường độ lớn kèm theo gió lốc, mưa đá thường xuyên xảy raxuất hiện các đợt lũ ống, lũ quét ngày càng nhiều hơn gây nhiều thiệt hại lớn vềsản xuất, người và tài sản cho nhân dân
1.1.4 Thuỷ văn
Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng Ở đây có mật độsông suối tương đối dày.Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, dốc, nhiềughềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ Trên các dòng sông, suối của HàGiang có nhiều vị trí thuận lợi để phát triển thuỷ điện nhỏ Đến nay, trên địa bàntỉnh đã xây dựng một số công trình thuỷ điện như: Thuỷ điện Thác Thuý, Nâm
Má, Việt Lâm, Nậm Mu, Thái An và một số công trình thuỷ điện đang chuẩn bịđầu tư xây dựng
Hà Giang có trữ lượng nước mặt rất lớn và có chất lượng tốt với những hệthống sông chính và nhiều sông, suối nhỏ là nguồn nước chủ yếu phục vụ chonhu cầu sinh hoạt và sản xuất
Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lu Lung (Vân Nam,Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã
Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang Đây là nguồn cung cấp nước chính chovùng trung tâm tỉnh
Sông Chảy bắt nguồn từ sườn Tây Nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn ĐôngBắc đỉnh Kiều Kiên Ti, mật độ các dòng nhánh cao Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồnthuộc địa phận tỉnh, nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phíatây của Hà Giang
Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy về gầnthị xã Tuyên Quang nhập vào Sông Lô Đây là nguồn cung cấp nước chính chophần đông của tỉnh
Trang 8Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơnnhư sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏcung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.
1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên đất
Theo số liệu thống kê năm 2006, Hà Giang có tổng diện tích đất tự nhiên
là 794.579 ha trong đó: Đất nông nghiệp là 138.123,2 ha (chiếm 17,38%), đấtlâm nghiệp có rừng là 356.756,54 ha (chiếm 44,89%), đất chuyên dùng là6.929,53 ha (chiếm 0,87%), đất ở là 4.523 ha (chiếm 0,57%), còn lại là đất chưa
sử dụng (chiếm 36,29%)
Quỹ đất có khả năng sử dụng để phát triển nông lâm nghiệp ở tỉnh còn khánhiều nhưng diện tích có thể trồng cây lương thực, đặc biệt để trồng lúa, ngô rấthạn chế Đất đai rất manh mún, không bằng phẳng và không liền mảnh, khó khăncho việc cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá để hình thành các vùng sản xuất tập trung
Kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 1999 của Viện Quy hoạch và thiết kếNông nghiệp cho thấy: Toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính với 19 đơn vị đất chính
và 60 đơn vị đất phụ Những tính chất chính của từng nhóm đất là:
Nhóm đất phù sa: Diện tích 12.621 ha, chiếm 1,6% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh, gặp ở ven sông Lô và các sông suối khác Nhóm đất này thích hợptrồng cây ngắn ngày, đặc biệt là cây lương thực
Nhóm đất Glây: có diện tích 6.804 ha chiếm 0,86% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh Nhóm đất Glây được hình thành ở nơi có địa hình thấp, luôn giữ ẩm.Nhóm đất này chủ yếu sử dụng để gieo trồng lúa nước
Nhóm đất đen: Có diện tích 1.141 ha, chiếm 0,14% diện tích đất tự nhiên
của tỉnh Đất đen hình thành ở ven chân các dãy núi đá vôi hoặc trong thung lũng
đá vôi Đất thuộc nhóm này thích hợp trồng cây ngắn ngày: ngô, đậu tương…
Nhóm đất than bùn: Có diện tích 36 ha, gặp ở xã Võ Điến (Bắc Quang),
đất có tính lầy, có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình Ít có ý nghĩa trongnông nghiệp
Nhóm đất tích vôi: Có diện tích 1.296 ha chiếm 0,16% diện tích đất tự
nhiên toàn tỉnh Hình thành ở thung lũng đá vôi Canxi tích luỹ nhiều trong đất,thành phần cơ giới của đất nặng Thích hợp trồng cây ngắn ngày
Trang 9Nhóm đất xám: có diện tích 585.418 ha chiếm 74,25% diện tích đất tự
nhiên toàn tỉnh Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất Feralit đều nằm trongnhóm này Đất có phản ứng chua và rất chua Mùn và đạm tổng số ở lớp mặttrung bình và khá, nghèo lân và kali Vùng đất có địa hình thấp thích hợp trồngcây ngắn ngày, vùng đất có địa hình cao thích hợp trồng cây dài ngày
Nhóm đất đỏ: Có diện tích 47.623 ha, chiếm 6,04% diện tích tự nhiên của
tỉnh Đất đỏ được hình thành trên đá Macmabazo và đá vôi Cần chú ý chống xóimòn và bảo vệ đất
Nhóm đất mùn Alít trên núi cao: Có diện tích 4.971ha chiếm 0,63% diện
tích đất tự nhiên của tỉnh, gặp ở độ cao trên 1800m Loại đất này thích hợp trồngcây dài ngày
Nhóm đất tầng mỏng: Có diện tích 237ha, chiếm 0,03% diện tích đất tự
nhiên toàn tỉnh, là sản phẩm của quá trình xói mòn đất, tầng đất mỏng dưới 30cm.Đây là nhóm đất xấu, phục hồi đất bằng trồng rừng tạo thảm thực vật che phủ đất
Nhìn chung đất của Hà Giang bị xói mòn rửa trôi mạnh, đất thường xuyên
bị khô hạn, đất chua, rất nghèo dinh dưỡng dễ tiêu, đất bị quá trình Feralit mạnh,tích luỹ sắt, nhôm lớn Đất thích hợp với các loại cây rừng, cây công nghiệp chếbiến, cây thuốc, cây lấy dầu xuất khẩu và các loại cây ăn quả như: Cam, quít,mận, hồng…
Tài nguyên nước
*/ Nước mặt
Hà Giang có trữ lượng nước mặt lớn, nhưng phân bố không đồng đều cả
về thời gian và không gian Mùa mưa nước ở thượng nguồn sông Lô, sông Gâm,sông Chảy…đổ về có thể gây ngập lụt cho các khu vực vùng trũng của tỉnh Vàomùa khô tại các địa phương có địa hình cao núi đá như: Quản Bạ, Mèo Vạc,Đồng Văn, Yên Minh lại thiếu nước trầm trọng cho sinh hoạt của con người vàcung cấp nước tưới cho nông nghiệp
Trang 10có chiều dày trầm tích mỏng (3-5m), thành phần đất đá gồm: cuội, sỏi, cát, sét,
đá tảng…Nước có chất lượng tốt, tổng khoáng hoá M = (0,2 đến 0,4) g/l, độ pH
= 6 tuy vậy trữ lượng nhỏ, chỉ khai thác nhỏ lẻ, không có khả năng khai thác vớilưu lượng lớn
Nước khe nứt: Tồn tại trong các khe nứt của đất đá cố kết trước Đệ tứ,phân bố hầu hết trên toàn tỉnh Hà Giang
Nhìn chung, các tầng giàu nước, gồm có: hệ tầng Bắc Sơn, nước tồn tạidưới dạng Kaster chứa nước, các nguồn lộ rải rác lưu lượng từ = (0,1-1) l/s, cónơi từ (6-10) l/s, tổng độ khoáng hoá (0,1 - 0,5) g/l, độ pH từ (6-7)
Hệ tầng Phia Phương: phân bố từ Nam Tùng Bá đến núi Pan, nguồn lộ rảirác lưu lượng từ (0,1 - 1)l/s Qua một số khảo sát, thăm dò đã xác định hệ tầngnày khá giàu nước nhưng không đồng nhất
Hệ tầng Hà Giang: phân bố rộng rãi ở phía Tây nam Hà Giang, trong hệtầng này do ảnh hưởng của đứt gãy kiến tạo nên đá vôi nứt nẻ và Kaster pháttriển mạnh Các nguồn lộ thường có lưu lượng (0,01-0,05)l/s đến trên 10 l/s Tạithị xã Hà Giang đã tiến hành thăm dò nước trong tầng này cho thấy kết quả : Q
= (2,03 – 10)l/s, q = (0,12 – 2,35)l/s Nước có chất lượng tốt, tổng khoáng hoá
M = (0,1 – 0,3) g/l
Ngoài ra còn có các tầng chứa nước trung bình và các tầng nghèo nước,với rất nhiều tầng trầm tích tuổi từ Cambri đến Jura bao gồm các trầm tích lụcnguyên và các trầm tích Cacbonat như: Kbh, T2yb, T1hn, P2đđ…, có khả năngtrữ nước kém, không đồng nhất
Tài nguyên khoáng sản
Hà Giang có nguồn khoáng sản phong phú, với 28 chủng loại và 148 điểm
mỏ được đánh dấu Tuy nhiên, do giao thông khó khăn nên thiếu cơ sở lập dự ánkhai thác công nghiệp Có một số loại khoáng sản có thể khai thác sớm để gópphần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, bao gồm:
Antimon: Có hàm lượng khá và được đánh giá là loại có tiềm năng caocủa các tỉnh phía bắc Mỏ Antimon tập trung chủ yếu ở Mậu Duệ, Bó Mới (YênMinh), có triển vọng cho khai thác, chế biến công nghiệp Loại này cần đượckhảo sát để đánh giá trữ lượng
Trang 11Vàng sa khoáng: phân bố ở nhiều nơi, nhưng chủ yếu là huyện: Mèo Vạc,Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang.
Chì, kẽm: có ở nhiều nơi, nhưng tập trung chủ yếu ở Na Sơn, Tả Pan,Bằng Lang, Cao Mã Pờ Đây là tiềm năng quan trọng trong các loại khoáng sảncủa tỉnh
Quặng sắt: Có trữ lượng khá tập trung ở Tùng Bá, Bắc Mê Loại quặngnày có trữ lượng vào khoảng 260 triệu tấn
Ngoài ra, ở Hà Giang còn có Mangan, thiếc, Thuỷ Ngân, Pirit, Cao lanh,
đá làm xi măng, cát, sỏi, nước khoáng, đất làm gạc, than non, than bùn
Tài nguyên rừng
Do đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, tài nguyên rừng của HàGiang tương đối phong phú về chủng loại và được coi là một trong những khuvực đặc trưng của kiểu vùng nhiệt đới với nhiều sản vật quý hiếm: động vật cócác loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc
am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệunhư sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng…Rừng Hà Giang không nhữnggiữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ
mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xâydựng, y tế
Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môitrường sinh thái trong lành, nhiều hang động và các thắng cảnh đẹp… đây chính
là tiềm lực cho Hà Giang mở rộng phát triển du lịch sinh thái
Theo số liệu thống kê năm 2006, diện tích đất lâm nghiệp của Hà Giang là7984,4 ha Chiếm một diện tích lớn so với tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
Do nhiều nguyên nhân, một số khu vực rừng của Hà Giang bị tàn phá, trữlượng ngày càng cạn kiệt, việc trồng rừng và tái tạo rừng trong những năm quakhông đủ diện tích bù lại diện tích bị khai thác và chặt phá Diện tích đất trống,đồi núi trọc còn nhiều Rừng có ý nghĩa lớn về kinh tế là cơ sở chuyển đổi cơcấu kinh tế vùng theo hướng phát triển ngành theo thế mạnh nghề rừng, tạo rahàng hoá chất lượng cao, bảo vệ môi trường sinh thái, khống chế phần nào lũ lụt
và đóng góp tích cực phục vụ an ninh quốc phòng
Trang 121.2 Đặc điểm kinh tế tỉnh Hà Giang
1.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế
Từng bước khắc phục khó khăn, các cấp uỷ Đảng, chính quyền và đồngbào các dân tộc trong tỉnh cùng các ngành đã và đang đẩy mạnh áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, chú trọng tạo thêm ngành nghề mới, trong khâutiêu thụ sản phẩm, tập trung tạo ra môi trường lành mạnh để hàng hoá giao lưuthuận lợi giữa các vùng trong tỉnh và giữa các tỉnh với nhau, hàng hoá xuất khẩungày càng đa dạng về chủng loại, giá trị ngày càng nâng cao
Cùng với xu hướng phát triển chung của vùng Đông Bắc và cả nước,những năm gần đây nền kinh tế của Hà Giang cũng có bước phát triển khả quan.Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2002 – 2006 đạt 10,59% Cơ cấukinh tế chuyển dịch đúng hướng, trong đó: Nông, lâm nghiệp chiếm 41,4% tổnggiá trị nền kinh tế, giảm 8,11% so với năm 2000; Công nghiệp - xây dựng chiếm23,5%, tăng 2,66%; Thương mại - dịch vụ chiếm 35,1%, tăng 5,45% Tỷ suất
hàng hoá ngày càng lớn, một số sản phẩm (cả truyền thống và mới) đã nâng dần
sức cạnh tranh và có thị phần ổn định cả thị trường nội địa và xuất khẩu; hạ tầngkinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng khá; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp và các hoạt động dịch vụ; vận tải, thông tin, điện, nước, tín dụng,…cóbước phát triển Thu ngân sách và huy động vốn đầu tư phát triển tăng, kể cảđầu tư từ ngân sách nhà nước và của các thành phần kinh tế; đời sống nhân dânđược cải thiện Thu nhập bình quân đầu người đạt 3,2 triệu đồng, tăng 1,9 lần sovới năm 2000
Bảng 1.2.1 GDP theo khu vực kinh tế thời kỳ 2002 - 2006 (giá so sánh năm 1994)
Đơn vị: triệu đồng
Tổng GDP 1.042.028 1.152.294 1.268.676 1.404.460 1.560.636Nông - lâm - nghiệp,
Trang 131.2.2 Thực trạng phát triển các khu vực kinh tế
Khu vực kinh tế nông nghiệp
Năm 2006 giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 1.129.285 tỷđồng, tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2002 - 2006 đạt 5,78%/năm, cao gấp1,48 lần tốc độ tăng của ngành nông, lâm nghiệp cả nước (trung bình cả nước là3,9%/năm)
Ngành sản xuất nông nghiệp
Năm 2006 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 889,45 tỷ đồng (giá so sánh năm1994) Cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng có bước chuyển biến tích cựctheo hướng sản xuất hàng hóa, tỷ trọng trồng trọt giảm dần từ 46,71% năm 2002xuống còn 40,86 % năm 2006
- Trồng trọt: Diện tích trồng cây hàng năm tăng 21% so với năm 2000.Giảm diện tích trồng ngô năng suất thấp, tăng diện tích thâm canh, mở rộng diệntích và đưa vào gieo trồng một số cây có hiệu quả kinh tế cao như: gieo trồnglúa chất lượng cao; trồng hoa, rau ở Đồng Văn, Quản Bạ; tăng diện tích trồngđậu tương, lạc, tiếp tục trồng cỏ ở các huyện vùng cao…
Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 2006 đạt 127.003,7 ha, tăng2.956,6 ha so với năm 2005, trong đó: Cây lương thực có hạt 79.173 ha; câycông nghiệp hàng năm 21.146,8 ha, tăng 777,7 ha so với năm 2005
Diện tích lúa gieo cấy năm 2006 đạt 34.397,5 ha, tăng 433,7 ha so vớinăm 2005, năng suất lúa đạt 45,4 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha Diện tích ngô 43.269,8ha; diện tích ngô thâm canh chiếm 70,6%, năng suất ngô đạt 20,9 tạ/ha Tổngsản lượng lương thực đạt 274.202 tấn, trong đó sản lượng thóc 158.205 tấn, tăng3,4 ngàn tấn; ngô 90.689 tấn, khoai lang 5.955,8 tấn; sắn 19.351,9 tấn
Các loại cây rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày được chú trọng đầu
tư mở rộng diện tích, trong đó: Đậu tương gieo trồng 15.893,6 ha, tăng 182 ha,năng suất đạt 8,9 tạ/ha; cây lạc 4.286,7 ha, tăng 565,5 ha so với năm 2005, năngsuất đạt 11,6 tạ/ha
Cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm tiếp tục phát triển mạnh Diệntích chè trồng mới đạt 165,6 ha, tổng diện tích chè hiện có 15.183,6 ha, trong đódiện tích cho sản phẩm 12.589,1 ha, tăng 1.784 ha Tổng diện tích cam quýt toàntỉnh đến 2006 là 4.078,4 ha, giảm 545,4 ha
Trang 14Trồng cỏ thức ăn gia súc 1.917,8 ha, diện tích cỏ đã trồng từ năm 2003đến nay đạt 3.223 ha; chương trình trồng cỏ chăn nuôi đã đạt được kết quả đáng
kể và đem lại hiệu quả thiết thực, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tham giatích cực, góp phần phát triển đàn gia súc, nâng cao đời sống của đồng bào ở cáchuyện vùng cao
Chăn nuôi: theo số liệu thống kê năm 2006 toàn tỉnh có đàn trâu 141.051con, đàn bò 80.167 con; đàn dê 141.730 con, tăng 32.270 con so với năm 2005;đàn lợn 336.943 con, tăng 7.811 con so với năm 2005; 8.249 con ngựa, giảm4.616 con
Ngành lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới và khoanh nuôi trong 5 năm đạt 30.147 ha rừng
Độ che phủ của rừng đạt 43%, tăng 6% so với năm 2000 Riêng diện tích rừngtrồng được 7.033 ha, trong đó: Rừng phòng hộ đặc dụng 3.610,8 ha, hỗ trợ nhândân giống trồng sa mộc được 3.422,4 ha Công tác khoanh nuôi, bảo vệ, chămsóc rừng đúng quy trình kỹ thuật, đảm bảo thời vụ và kế hoạch giao; bảo vệ rừng84.876 ha, khoanh nuôi phục hồi 33.059 ha, chăm sóc rừng trồng 17.176,9 ha
Năm 2006 tổng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 160,531 tỷ đồng(giá so sánh năm 1994), tăng 6,64 tỷ đồng so với năm 2005
Ngành thuỷ sản
Năm 2006, diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trên toàn tỉnh đạt1.275,26 ha, giá trị sản xuất ngành thủy sản đạt 19,04 tỷ đồng (giá hiện hành năm2006)
Khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng
- Công nghiệp: Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển cả về sốlượng, quy mô và trình độ công nghệ, hình thành được cơ sở vật chất kỹ thuậtquan trọng, xây dựng được các mô hình phát triển công nghiệp thuỷ điện, khaithác và chế biến khoáng sản, chế biến lâm sản như: Nhà máy thuỷ điện NậmMu; nhà máy khai thác, tuyển, luyện ăngtimon kim loại; nhà máy Caolin,Penspát; phân xưởng nghiền Clinke; các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy: LongGiang, Vĩnh Tuy, Cầu Ham, Ngòi Sảo; nhà máy sản xuất và lắp ráp ô tôTRAEMC, Trường Thanh; nhà máy gạch Tuynel ở huyện Vị Xuyên, huyện YênMinh và nhiều cơ sở khác ở Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Bắc Mê, Sản
Trang 15xuất hàng mây, tre đan v.v Giá trị sản xuất ngành công nghiệp năm 2006 đạt318,87 tỷ đồng (giá so sánh 1994).
Trong đó, nhóm ngành sản xuất điện, nước và chế biến chè tăng khá so vớinăm trước, sản lượng điện sản xuất tăng 26,5%, nước máy tăng 24,5%, chè chếbiến tăng 33,7%
- Xây dựng: Công tác quy hoạch và xây dựng đô thị đã được chú trọng, nhất
là trung tâm các huyện, các thị tứ, thị trấn, Kết cấu hạ tầng được đầu tư lớn, cóbước phát triển mới Giá trị sản xuất xây dựng năm 2006 theo giá so sánh 1994đạt 688,09 tỷ đồng
Khu vực kinh tế dịch vụ
Hoạt động dịch vụ ở Hà Giang thời gian qua phát triển khá phong phú và
đa dạng, thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Đặc biệt một sốngành như dịch vụ - thương mại, du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm… có tốc
độ phát triển nhanh
- Thương mại: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ thị trường xã hộităng bình quân hàng năm từ 25% trở lên, năm 2006 đạt 1.090,2 tỷ đồng; giá trịsản xuất của ngành thương mại, dịch vụ và khách sạn nhà hàng trong năm 2006của toàn tỉnh đạt 173,62 tỷ đồng (giá so sánh 1994); giá trị xuất khẩu hàng hoátrên địa bàn đạt 4,348 triệu USD; giá trị nhập khẩu đạt 4,976 triệu USD Hệthống chợ nông thôn, chợ đại gia súc, chợ biên giới được mở rộng
- Du lịch: Trong năm qua đã thu hút trên 20.000 lượt khách nước ngoài vàtrên 23.000 lượt khách nội địa vào Hà Giang, doanh thu du lịch đạt 85,5 tỷ đồng
- Vận tải: Hoạt động vận tải đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh
và đi lại của nhân dân, Quốc lộ 2 đã nâng cấp cải tạo xong, nhu cầu vận chuyểnhàng hoá của các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh qua cửa khẩu Thanh Thuỷtăng hơn so các năm trước Khối lượng hàng hoá vận chuyển ước đạt 566 ngàntấn, tăng 10,5%; vận chuyển được 579,8 ngàn lượt hành khách, tăng 10,59% sonăm 2005
- Bưu chính viễn thông: Tăng cường đầu tư củng cố nâng cao chất lượng
và năng lực mạng lưới, trong năm đã hoàn thành đưa vào sử dụng tuyến truyềndẫn cáp quang Tân Quang - Hoàng Su Phì, tiếp tục thi công tuyến Hà Giang -Mèo Vạc; nâng cấp mở rộng hệ thống chuyển mạch Bưu điện tỉnh; xây dựng 6
Trang 16cột Anten Xín Mần, Mèo Vạc, Quản Bạ, Đồng Văn, Yên Minh, Bắc Quang; nhàđặt tổng đài huyện Đồng Văn…đến nay trung tâm 11 huyện, thị đã được phủsóng điện thoại di động Doanh thu năm 2006 của ngành bưu chính viễn thôngtỉnh đạt 92,15 tỷ đồng; toàn tỉnh hiện có 40.599 máy điện thoại, tăng 8450 máy
so với năm 2005; 195 xã phường được trang bị điện thoại
1.3 Dân số, đời sống xã hội
Hà Giang có 10 huyện và 1 thị xã với 195 xã, phường, thị trấn Năm 2008,toàn tỉnh có 690.000 người Mật độ dân số vào loại thưa, bình quân toàn tỉnhhiện nay là 83,8 người/km2 Đặc điểm đáng chú ý là dân số của tỉnh phân bốkhông đồng đều, vùng đông dân cư như Thị xã Hà Giang là 335người/km2nhưng vùng núi cao như Quản Bạ thì mật độ dân số là 78 người/km2, thậm chí
có huyện như Bắc Mê chỉ có 51 người/km2 Như vậy, vùng đông dân cư có mật
độ cao gấp 6-7 lần vùng ít dân cư Đây là một trở ngại cho việc đồng đều hoámức sống giữa các khu vực
Lao động: Toàn tỉnh có 312.855 lao động, lao động khối nông lâm nghiệp
là chủ yếu, chiếm 93,17% lao động toàn tỉnh, lao động dịch vụ chiếm 5,41%, laođộng công nghiệp chiếm 1,42% Hiện nay, Hà Giang còn 4-5 vạn lao động chưa
có việc làm, dự kiến đến năm 2010 Hà Giang có khoảng 36-37 vạn lao động.Như vậy, tỉnh phải tạo việc làm cho khoảng 15 vạn lao động trong những nămtới, đây là sức ép lớn trong công cuộc xây dựng kinh tế của tỉnh
Thu nhập và đời sống: của đồng bào các dân tộc trong Tỉnh còn gặp nhiều
khó khăn, tỉnh có 10 huyện thì có tới 4 huyện thuộc các huyện đặc biệt khókhăn Trong tổng điều tra trước đây thì thu nhập bình quân chung của các hộ ởnông thôn chỉ bằng 43% thành thị Tăng trưởng GDP đạt tốc độ tăng trưởng cao,giai đoạn 2001-2005 đạt bình quân 10,3%/năm, thu nhập bình quân đầu ngườinăm 2006 khoảng 3,5 triệu đồng/năm, hệ thống điện- đường - trường - trạmđược tập trung đầu tư đáp ứng nhu cầu của người dân Phấn đấu đến năm 2010
sẽ giảm tỷ lệ nghèo từ 26% xuống còn 15%
1.3.1 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Toàn tỉnh Hà Giang có 11 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị xã và 10huyện với tổng số 195 xã, phường thị trấn với 5 phường nội thị của thị xã HàGiang, 9 thị trấn (trong đó có 7 thị trấn huyện, lỵ) và 181 xã Dân cư phân bố
Trang 17không đồng đều giữa các đơn vị hành chính cấp huyện và tập trung với mật độcao ở thị xã Hà Giang.
1.3.1.1 Thực trạng phát triển đô thị
Mạng lưới đô thị của tỉnh Hà Giang hiện nay phân bố theo dạng chuỗitrên hai trục không gian chính là trục Bắc – Nam và trục Đông – Tây Trụckhông gian đô thị Bắc – Nam nằm dọc theo quốc lộ 2 bao gồm các đô thị như thịtrấn Vĩnh Tuy, Việt Quang (Bắc Quang), Việt Lâm, Vị Xuyên và thị xã HàGiang Thị trấn Mèo Vạc (Mèo Vạc), Phó Bảng (Đồng Văn), Tam Sơn (QuảnBạ) và thị trấn Yên Minh (Yên Minh) là các thị trấn miền núi phân bố trên trụckhông gian đô thị Đông – Tây dọc theo quốc lộ 4C thuộc vùng cao núi đá củatỉnh Các đô thị phát triển mạnh trong tỉnh tập trung theo chuỗi bám dọc theotrục Quốc lộ 2 từ Bắc Quang lên cửa khẩu Thanh Thuỷ
Dân số trung bình của tỉnh Hà Giang năm 2006 là 690.194 người, dân số
đô thị là 75.032 người, tỷ lệ đô thị hoá của Hà Giang hiện nay là 11,03% thấphơn so với bình quân toàn quốc (25%) do tốc độ đô thị hoá diễn biến chậm
Hà Giang có 1 đô thị cấp tỉnh là thị xã Hà Giang có quy mô dân số khuvực nội thị 28.960 người, tổng diện tích tự nhiên 17.123 ha, trong đó quy mô đấtxây dựng đô thị khoảng 450ha; là đô thị loại IV và là trung tâm tỉnh lỵ của HàGiang
Các đô thị cấp huyện phân bố cơ bản dọc theo 3 trục chính: Trục trungtâm từ phía Nam lên phía Bắc tỉnh dọc theo Quốc lộ 2 bao gồm các thị trấn VĩnhTuy, Việt Quang, Việt Lâm, Vị Xuyên; trong đó thị trấn Việt Quang đang đượcđầu tư xây dựng quy hoạch đạt tiêu chuẩn thị xã trong thời gian tới Khu vựcphía Đông của tỉnh gồm thị trấn Tam Sơn, Yên Minh, Phó Bảng, Mèo Vạc bámdọc theo Quốc lộ 4C Khu vực phía Tây tỉnh gồm Yên Bình nằm trên quốc lộ
279 và thị trấn Vinh Quang trên tỉnh lộ 177
1.3.1.2 Thực trạng phát triển dân cư nông thôn
Hà Giang là tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam dân cư chủ yếu là nôngthôn, toàn tỉnh có 181 xã, hàng nghìn bản làng với tổng dân số nông thôn là575.520 người Hệ thống dân cư nông thôn của Hà Giang phân bố không đồngđều, mật độ dân số dao động từ 51 người/km2 (huyện Bắc Mê) đến 335người/km2 (tại thị xã Hà Giang) Các điểm dân cư của tỉnh được sắp xếp thànhcác hình thái có các đặc điểm cơ bản sau:
Trang 18Dân cư vùng biên: Toàn tỉnh Hà Giang có 34 xã vùng biên thuộc địa bàn
của 7 huyện có chiều dài đường biên là 274 km, có tổng diện tích tự nhiênkhoảng 1.185,14 km2 và khoảng 85.109 người với 20 dân tộc anh em sinh sống,ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp Trong vùng có 8 cửa khẩu quan trọng giaolưu với Trung Quốc Vì vậy đây là vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triểnkinh tế xã hội và an ninh quốc phòng
Dân cư nông thôn ngoài vùng biên: Hệ thống dân cư nông thôn phân
thành các dạng chủ yếu sau:
Dân cư nông nghiệp ở các làng xã, hoạt động sản xuất lúa màu, phần lớntập trung ở các huyện vùng thấp như Bắc Quang, Quang Bình, Bắc Mê Khu vựcnày mật độ dân cư nông thôn tập trung cao nhất toàn tỉnh Các trung tâm cụm
xã, trung tâm xã phân bố tập trung các trục lộ chính như Quốc lộ 2, Quốc lộ279…
Dân cư nông, lâm nghiệp thuộc các nông trường khai thác các loại câycông nghiệp, trồng và quản lý rừng mới được hình thành và phát triển
Dân cư sống rải rác, không tập trung, chủ yếu canh tác lúa, ngô và trồng màu tạicác huyện vùng cao như Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh, Hoàng SuPhì và Xín Mần Các điểm dân cư nông thôn miền núi nhìn chung đời sống cònthấp, điều kiện hạ tầng xã hội và kỹ thuật chưa phát triển Việc xây dựng pháttriển còn chậm và mang tính tự phát, chưa có sự quản lý
1.3.2 Văn hoá dân tộc và lễ hội truyền thống
Hà Giang có 22 dân tộc anh em như: Mông, Dao, Nùng, Tày, Lô Lô,Giáy, PU Péo, Cờ Lao, Kinh…với các nhóm ngôn ngữ khác nhau: Tày - Thái,Mông - Dao, Việt - Mường, Hoa, Tạng - Miến… mỗi dân tộc đều có nét văn hoáđặc trưng riêng
Lễ mừng nhà mới dân tộc Lô Lô: Lễ mừng nhà mới kéo dài khoảng 2ngày 2 đêm ở ngôi nhà mới của người dân tộc Lô Lô Cả bản kéo tới ăn mừngcho ngôi nhà mới Thầy cúng đi hát, sau đó cùng ăn uống vui chơi, hòa tấu kènsáo và hát giao duyên nam nữ
Lễ hội mùa xuân: Đây là lễ hội vui xuân của dân tộc H'mông và dân tộcDao, thường được tổ chức vào những ngày sau Tết Nguyên Đán và kéo dài từ 3
Trang 19đến 7 ngày Lễ hội mang tính chất tổng hợp mừng công, cầu mưa, cầu con trai.
Lễ hội có thi bắn nỏ, hát giao duyên, ném pa páo, uống rượu, mở tiệc đãi khách
Hà Giang có 22 dân tộc Mỗi dân tộc có một nếp sinh hoạt và tập tục lễhội riêng thường tập trung vào mùa xuân Trong đó “Chợ tình Khâu Vai” tổchức ngày 27 tháng 3 âm lịch hàng năm là lễ hội độc đáo và đặc sắc nhất
Trang 20CHƯƠNG II TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỈNH HÀ GIANG
2.1 Đánh giá chung về tài nguyên thiên nhiên
*/ Những lợi thế tài nguyên thiên nhiên
Đất đai của Hà Giang còn rộng, khí hậu và thổ nhưỡng cho phép tỉnh cóthể phát triển kinh tế trang trại, vườn đồi, chăn nuôi gia súc…
Nguồn tài nguyên khoáng sản tuy trữ lượng chưa lớn, chưa được hìnhthành cụ thể song khá phong phú và đa dạng nên triển vọng phát triển côngnghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng trong tương lai là rất lớn
Điều kiện phát triển du lịch thuận lợi do có nhiều danh lam thắng cảnh,các di tích lịch sử Cách mạng, hang động kỳ thú, các mỏ suối nước khoángnóng….có thể kết hợp với các tỉnh bạn để phát triển du lịch tổng hợp
Đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang có truyền thống Cách mạng: một bộphận dân cư có trình độ, tập quán, kinh nghiệm sản xuất, sử dụng đất đai quýbáu, thích hợp với điều kiện vùng núi, nhạy bén và năng động trong tổ chức sảnxuất kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hoá một cách tích cực và bền vững
*/ Khó khăn, hạn chế
Địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, độ dốc lớn đã ảnh hưởng lớn đến khảnăng khai thác đất nông nghiệp ở quy mô tập trung, đến phát triển giao thông,thuỷ lợi, xây dựng các công trình kỹ thuật, hạ tầng xã hội Để phát triển tỉnhphải có đầu tư đáng kể cả công sức và tiền của
Tài nguyên đất và nguồn nước của tỉnh không thuận lợi cho phát triển đặcbiệt là với vùng cao và vùng sản xuất cây lương thực
Một số nguồn tài nguyên chưa được đánh giá, khảo sát đầy đủ đã hạn chếphần nào khả năng khai thác và sử dụng trên địa bàn tỉnh
Trang 21Trên địa bàn tỉnh có cửa khẩu Thanh Thuỷ khá lớn song so với các cửakhẩu Móng Cái (Quảng Ninh), Hữu Nghị (Lạng Sơn), Lào Cai (Lào Cai)…thì vịthế và khả năng khai thác vẫn còn hạn chế.
2.2 Đánh giá chung về hiện trạng môi trường Hà Giang
*/ Môi trường công nghiệp
Với đặc thù là nền công nghiệp chưa phát triển nhưng vốn những nhà máy
xí nghiệp đang hoạt động, tình trạng ô nhiễm môi trường đã diễn ra cục bộ.Theo quy hoạch đến năm 2010 giá trị sản lượng công nghiệp - xây dựng trong
cơ cấu GDP là 37,5%, mức độ phát thải của các nhà máy xí nghiệp sẽ rất lớn.Việc quy hoạch chi tiết các vùng phát triển và ngành công nghiệp thân thiện vớimôi trường, đồng thời đề ra các giải pháp bảo vệ môi trường là hết sức cần thiết
Đến nay, các hoạt động khoáng sản trên địa bàn Hà Giang đã tuân thủnghiêm theo quy định của Luật Khoáng sản và các văn bản hướng dẫn Công tácquản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản căn cứ vào các quy định để hướngdẫn cho các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động khoáng sản
Với các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hiện tại có công nghệ lạc hậu nằm xen kẽvới khu dân cư là nguồn gây ô nhiễm và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống củanhân dân Đây đang và sẽ là những thách thức trong công tác bảo vệ môi trườngtrên địa bàn tỉnh Hà Giang
*/ Suy thoái môi trường đất
Với đặc thù là miền núi, địa hình chia cắt mạnh nên hiện tượng suy thoáiđất do xói mòn, bạc màu diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh Trong một thời gian dàirừng bị tàn phá, địa hình chủ yếu là đồi núi, nhân dân canh tác nương rẫy trênđất dốc, các biện pháp canh tác không hợp lý nên vào mùa mưa đất bị rửa trôilàm trơ sỏi đá và gây ô nhiễm nguồn nước Hiện nay do chưa có điều kiện nênviệc đánh giá và lập bản đồ về hiện trạng suy thoái đất chưa được thực hiện đểđánh giá chính xác mức độ suy thoái đất trên địa bàn toàn tỉnh nhưng với số liệuthống kê đến cuối năm 2002, toàn tỉnh có 1.367,1 ha đất bạc màu, 62.565 ha đất
bị hoang mạc hoá, 48.484 ha đất trồng trọt bị thoái hoá và xói mòn nặng
*/ Môi trường khu vực nông thôn
Trang 22Trong khu vực nông thôn, nguồn nước sạch cho sinh hoạt và nước phục
vụ sản xuất rất khan hiếm, nhất là vào mùa khô ở các vùng cao Rừng đã bị tànphá dẫn đến khả năng giữ nước và cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân khôngđảm bảo Phân tích chất lượng nước mặt cho thấy nước bị ô nhiễm các chỉ tiêuBOD5 và thành phần vi sinh E-Coli Điều kiện vệ sinh môi trường hàng ngàycủa nhân dân còn nhiều bất cập, nhà vệ sinh nhiều nơi chưa có hoặc tạm bợ gây
ô nhiễm môi trường Gia súc gia cầm nuôi thả rông làm ảnh hưởng đến nguồnnước mặt dùng cho sinh hoạt, các công trình chuồng trại chưa được bố trí hợplý… Bên cạnh đó, một số tập tục vệ sinh lạc hậu vẫn còn tồn tại
*/ Môi trường khu vực đô thị
Tại thị xã Hà Giang và các huyện còn lại, công tác vệ sinh môi trường đãbước đầu được chú trọng nhưng vẫn chưa đi vào nền nếp Một phần do trình độdân trí chưa cao, lại do đặc thù các tỉnh miền núi với nhiều dân tộc và nhiều nềnvăn hoá sinh sống nên ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn hạn chế Rácvẫn bị đổ ra sông, suối…nơi công cộng ở nhiều khu vực Bên cạnh đó, lượng rácthải phát sinh ngày càng lớn nhưng số lượng nhân công trực tiếp cũng như cán
bộ quản lý môi trường còn thiếu Trang thiết bị hỗ trợ thu gom rác còn ít và lạchậu dẫn đến tình trạng rác thải và chất thải khác vẫn chưa được thu gom và xử lýtriệt để (kể cả ở trung tâm các huyện), gây mất mỹ quan và ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng
2.3 Hiện trạng môi trường không khí tỉnh Hà Giang
*/ Các nguồn khí thải chính trên địa bàn tỉnh Hà Giang bao gồm:
- Khí thải của công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm: sản xuất
xi măng, sản xuất gạch nung, khai thác đá xây dựng Các loại hình sản xuất nàyphát thải các loại khí thải như: SO2, NO2, CO, CO2, VOC và bụi
- Khí thải công nghiệp sản xuất giấy, phát thải các loại khí thải như:metacaptan, Cl2, SO2, NO2, CO, CO2, VOC và bụi
- Khí thải công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, phát thải các loạikhí thải như: SO2, NO2, CO, CO2, VOC, O3 và bụi
Trang 23- Khí thải các ngành xây dựng chủ yếu là các loại khí thải từ động cơ máymóc xây dựng như: SO2, NO2, CO, CO2, VOC, O3 và bụi.
- Khí thải các ngành giao thông vận tải, bao gồm SO2, NO2, CO, CO2,VOC, O3 và bụi
Theo kết quả đo đạc, phân tích chất lượng môi trường không khí tỉnh HàGiang trong năm 2007 của Công ty cổ phần kỹ thuật và phân tích môi trường đãđưa ra cái nhìn tổng thể về chất lượng môi trường không khí tại Hà Giang nhưsau:
Tại các khu vực huyện, thị: hầu hết các vị trí quan trắc, các thông số quantrắc đều nằm trong khoảng cho phép theo tiêu chuẩn TCVN 5937-2005 vàTCVN 5938 - 2005 Tại trung tâm thị xã Hà Giang, huyện Vị Xuyên, BắcQuang là những nơi tập trung đông dân cư và các cơ sở sản xuất, tuy nhiên,nồng độ các khí độc hại không cao, nồng độ bụi ở nhiều nơi bị ảnh hưởng củacác phương tiện giao thông và công nghiệp lớn hơn tiêu chuẩn cho phép nhưngkhông nhiều Tại khu vực bến xe tạm thị xã Hà Giang, hàm lượng bụi cao hơntiêu chuẩn cho phép từ 1.1 đến 1.2 lần Tại khu vực cửa khẩu Thanh Thuỷ vàcổng nhà máy gạch Tuynel Vị Xuyên, kết quả cho thấy hàm lượng bụi và nồng
độ khí NO2 đều vượt tiêu chuẩn cho phép (theo TCVN 5937-2005), tuy nhiên,cao hơn không đáng kể
Tại các khu vực nông thôn: tất cả các vị trí đo đều có chất lượng môitrường không khí đạt tiêu chuẩn cho phép theo TCVN 5937-2008 và TCVN5938-2005
Trên địa bàn tỉnh Hà Giang, ảnh hưởng của ô nhiễm không khí tập trung ởnhững khu vực đông dân cư, cạnh các nhà máy, xí nghiệp Đối với ô nhiễmkhông khí và tiếng ồn gây ra bởi các phương tiện giao thông là điều không thểtránh khỏi trong quá trình đô thị hoá Tại tỉnh Hà Giang, mức độ ảnh hưởng bởi
độ ồn là không lớn, hiện tại mới chỉ diễn ra trong những giờ cao điểm
Đối với ô nhiễm do công nghiệp gây ra, điều kiện thời tiết có ảnh hưởnglớn đến những tác động của ô nhiễm không khí đến đời sống nhân dân Mộttrong những ảnh hưởng có thể nhận thấy rõ nhất là ảnh hưởng của khí thải nhà
Trang 24máy Xi măng Hà Giang đối với dân cư quanh khu vực nhà máy tại thị xã HàGiang Nhà máy được xây dựng giữa những dãy núi cao, ống khói nhà máykhông đủ cao, cộng thêm khí thải nhà máy không được xử lý triệt để và thảithẳng ra Để khắc phục tình trạng này, nhà máy hiện đang tiến hành chuyểngiao, đổi mới công nghệ sản xuất theo với phương án đầu tư dây chuyền sảnxuất xi măng lò quay công suất 500.000 tấn/năm nhưng dự kiến đến năm 2010mới hoàn thành Hiện tại, khói thải nhà máy vẫn gây ảnh hưởng lớn đến cuộcsống của dân cư xung quanh Khi nhà máy Xi-măng Hà Giang hoạt động trongđiều kiện thời tiết bình thường, thì lượng bụi cùng khí CO2, CO, SO2,VOC sẽthải ra môi trường ở con số trên 90 mg/m3 khí thải Nếu hôm nào thời tiết xấu,lại có gió, lượng khí thải và bụi sẽ tập trung vào từng khu vực sẽ làm cho nồng
độ tăng cao, có điểm trong quá trình đo đạt tới trên 120 mg/m3 khí thải
Những cơ sở sản xuất nhỏ nằm xen kẽ trong khu vực dân cư có côngnghệ sản xuất còn đơn giản, không có các biện pháp bảo vệ môi trường trongquá trình sản xuất nên có ảnh hưởng cục bộ đến đời sống của những hộ dântrong khu vực Đối với những lò gạch, lò vôi thủ công nằm trong khu dân cư tựphát xây dựng có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ và sản xuất của người dân nhưngkhó có biện pháp giải quyết
2.4 Hiện trạng môi trường nước tỉnh Hà Giang
2.4.1 Nước mặt:
Các mẫu nước mặt do Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường đã phântích cho thấy hầu hết các mẫu đều có hàm lượng các chất ô nhiễm nằm trongtiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên tại một số điểm cá biệt có hiện tượng ô nhiễmbởi vài chỉ tiêu đặc trưng:
+ Nước Sông Lô gần cửa khẩu Thanh Thuỷ có hàm lượng TSS, COD caohơn tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 cho phép
+ Nước suối Đỏ và nước sông Chảy tại cầu Cốc Pài -Xín Mần có các chỉtiêu TSS, COD, BOD5, Zn, Pb cao hơn tiêu chuẩn cho phép
+ Nước suối (sau khi đã nhận nước thải của các nhà máy sản xuất giấy)đều có hàm lượng TSS, pH, COD cao hơn tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên nước
Trang 25suối sau nhà máy giấy Thuỳ Linh có chất lượng tốt hơn do tại thời điểm lấy mẫunhà máy đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải.
+ Nước suối (nhận nước thải từ phòng cháy chữa cháy, bệnh viện, bãi rác)
có COD và BOD5 cao hơn so với tiêu chuẩn TCVN 5942-1995
2.4.2 Nước ngầm
Theo số liệu quan trắc của Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường trong
03 đợt, đợt I (tháng 9/2006), đợt II (tháng 12/2006) và đợt III (tháng 4/2007) Cóthể kết luận chất lượng nước ngầm trên địa bàn tỉnh Hà Giang như sau:
Đối với nước tại các giếng khoan: Hàm lượng các kim loại nặng, NO2-,
NO3-, xyanua, clorua, độ cứng và coliform đều đạt tiêu chuẩn theo TCVN
5944-1995 Tuy nhiên nước ngầm khu vực thị xã Hà Giang đã bị nhiễm NH4+ với hàmlượng tương đối cao từ 7 đến 10 mg/l, trong khi tiêu chuẩn của Bộ y tế ban hànhthì hàm lượng Amoni trong nước sử dụng cho ăn uống là 1,5 mg/l Như vậy, cácnguồn nước này cần phải được xử lý trước khi dùng cho ăn uống để đạt tiêuchuẩn nước dùng cho mục đích ăn uống do bộ Y tế quy định (theo TC1329/BYT-QĐ/2002)
Đối với nguồn nước tại các giếng đào: hầu hết các thông số đều đạt tiêuchuẩn nước ngầm và tiêu chuẩn nước ăn uống, riêng thông số coliform ở cácmẫu nước giếng đào không đạt tiêu chuẩn cho phép
Trang 26CHƯƠNG III HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ, THU GOM VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG
3.1 Hiện trạng quản lý môi trường
Hà Giang có 1 thị xã và 10 huyện Trước năm 2004, hệ thống quản lý thugom rác của tỉnh Hà Giang chia thành nhiều đơn vị khác nhau Trong đó, Công
ty dịch vụ công cộng và môi trường Hà Giang đảm nhận công tác thu gom và xử
lý rác thải tại khu vực thị xã Hà Giang Các huyện còn lại, việc thu gom và xử lýrác được giao cho các tổ vệ sinh môi trường tại địa phương do Uỷ ban nhân dânhuyện trực tiếp quản lý Một phần nguyên nhân do việc quản lý về chất thải rắntại các địa phương còn chưa chuyên nghiệp Mặt khác do phương thức hoạtđộng khác nhau giữa các đơn vị, không có sự thống nhất trong quản lý nên hiệuquả công tác thu gom và xử lý chất thải chưa cao
Năm 2004, được sự chỉ đạo của tỉnh uỷ và UBND tỉnh, Công ty dịch vụcông cộng và môi trường Hà Giang đã đảm nhiệm thêm chức năng thu gom ráctại các huyện Công ty đã thành lập thêm các chi nhánh tại các trung tâm huyện,
lỵ, thống nhất công tác thu gom và xử lý trên địa bàn toàn tỉnh, dần đưa công tácthu gom rác thải vào nền nếp Công tác thu gom rác thải sinh hoạt tại thị xã HàGiang và trung tâm các huyện lỵ năm 2004 đã được thực hiện khá tốt
Đến tháng 12 năm 2007, việc duy trì vệ sinh môi trường tại các huyện đã
đi vào nền nếp, việc quản lý về duy trì vệ sinh môi trường tại các huyện lại đượctách về từng huyện và do UBND huyện quản lý Công ty dịch vụ công cộng vàmôi trường Hà Giang tập trung lực lượng quản lý, duy trì vệ sinh môi trường tạiđịa bàn thị xã Hà Giang
Công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại cấp tỉnh chỉ có Phòngquản lý môi trường với 05 cán bộ trong đó chỉ có 02 cán bộ được đào tạo vềchuyên ngành môi trường, còn lại là các chuyên ngành khác nên hiệu quả côngviệc chưa cao Tại cấp huyện đã có Phòng tài nguyên và môi trường nhưng hầuhết cán bộ được đào tạo về ngành quản lý đất đai, thông tin và kiến thức về môitrường còn hạn chế, rất khó trong việc triển khai các hoạt động quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường tại cấp cơ sở
Trang 27Công ty Dịch vụ công cộng và môi trường Hà Giang là công ty đang đảmnhiệm việc thu gom và xử lý chất thải trên địa bàn thị xã Hà Giang Tổng sốnhân viên trong công ty là 486 người: trong đó, nhân công vệ sinh tại thị xã HàGiang là 132 người Với lượng rác thải phát sinh lớn và ngày càng tăng như hiệnnay tại Hà Giang, số lượng nhân công như trên chưa thể đáp ứng được nhu cầuthu gom, xử lý triệt để rác thải sinh hoạt trên toàn địa bàn.
Hiện tại, nhân lực có trình độ chuyên môn về chuyên ngành môi trườngtại công ty cũng còn quá ít, toàn Công ty chỉ có 01 cử nhân môi trường Do vậy,việc đào tạo cán bộ có trình độ chuyên môn (quản lý, kỹ thuật và công nghệ môitrường…) là rất cần thiết và cấp bách
Trang thiết bị về kiểm soát môi trường hầu như không có cả ở cấp tỉnh vàcấp huyện dẫn đến khó khăn trong quá trình tác nghiệp Tại Công ty dịch vụcông cộng và Môi trường, số lượng trang thiết bị cũng còn rất thiếu và lạc hậu.Đến năm 2008, toàn Công ty chỉ có 3 xe ép rác, 4 xe công nông chở rác Tổng
số xe đẩy tay thu gom rác đang hoạt động trên các địa bàn cũng chỉ có 285chiếc
Như vậy, nhìn tổng thể có thể thấy, để đảm bảo điều kiện cho việc thugom và xử lý triệt để rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, cần phải có sự đầu tưđồng bộ về trang thiết bị và tăng cường nhân lực trực tiếp Đồng thời, đẩy mạnhviệc thu hút và đào tạo cán bộ quản lý có chuyên môn về môi trường tại tất cảcác cấp quản lý
Trước tháng 8 năm 2007, toàn bộ các địa bàn có các hạng mục duy trì vệsinh môi trường đều thực hiện việc thu phí vệ sinh theo mức thu cũ của UBNDtỉnh Hà Giang Hầu hết các đối tượng đều thực hiện tương đối nghiêm túc việcnộp phí vệ sinh theo các mức thu như trong quy định Tỷ lệ thu phí vệ sinh tại cácđịa bàn khá cao, đạt khoảng 70-90%, đặc biệt đối với khu vực thị trấn, thị xã
Kể từ tháng 8 năm 2007, Uỷ Ban nhân dân tỉnh Hà Giang đã ban hànhquyết định số 2111/2007/QĐ-UBND “quy định mức thu, quản lý, sử dụng phí
vệ sinh trên địa bàn tỉnh Hà Giang” và việc thu phí vệ sinh được thực hiện theoquy định mới này Theo điều tra khảo sát của Trung tâm Ứng dụng Công nghệTài nguyên và môi trường, tháng 9/2008 cho thấy: Đối với các hộ gia đình, mặc
dù mức phí có điều chỉnh nhưng tăng không đáng kể vì thế hầu hết các hộ giađình đều chấp hành việc nộp phí vệ sinh khá nghiêm túc Tỷ lệ thu phí tại các
Trang 28địa bàn đối với các đối tượng là hộ gia đình, có những nơi đạt tới 90 – 95% Tuynhiên, một khó khăn mới nảy sinh do hầu hết các hộ kinh doanh không chấphành mức phí mới với lý do mức thu cao, không hợp lý Để tận thu phí vệ sinhtại các hộ kinh doanh trên địa bàn, góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước,
Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang cần có những biện pháp giải quyết hợp lý nhằmkhắc phục tình trạng này
3.2 Tải lượng phát sinh và hiện trạng thu gom, quản lý chất thải rắn sinh hoạt trong khu dân cư tại các địa phương trên địa bàn tỉnh
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh từ quá trình sinh hoạthàng ngày của con người Chất thải rắn sinh hoạt có thể được phát sinh từ cácnguồn sau:
Rác thải dân cư từ các thị trấn, thị xã
Rác thải dân cư từ các khu vực nông thôn
Rác thải từ các cơ quan, công sở, trường học
Rác thải quét gom từ các đường phố
Rác thải từ các khu du lịch, thương mại, chợ, bến xe, nhà ga, côngtrình công cộng
Rác thải từ các hoạt động dịch vụ, khách sạn, nhà hàng
Rác thải từ các hoạt động xây dựng
Lượng chất thải rắn phát sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố kinh tế - xã hội.Nói chung, mức sống càng cao thì lượng chất thải rắn phát sinh càng nhiều.Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tại các thành phố lớn như NewYork,lượng phát sinh chất thải rắn là 1,8kg/người/ngày.đêm, Singapo, Hồng Kông là0,8 – 1 kg/người/ngày.đêm…
Tại Việt Nam, theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2004 vềchất thải rắn, lượng chất thải rắn phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 15triệu tấn/năm, trong đó có khoảng hơn 150.000 tấn là chất thải nguy hại Dự báođến năm 2010, lượng chất thải rắn có thể tăng lên từ 24% đến 30% Theo số liệuthống kê năm 2002, lượng chất thải rắn sinh hoạt trung bình từ 0,6-0,9 kg/người/ngày.đêm ở các đô thị và 0,4-0,5 kg/người/ngày.đêm ở các đô thị nhỏ và nông
Trang 29thôn Đến năm 2006, tỷ lệ đó đã tăng lên tương ứng là 0,8-1,2kg/người/ngày.đêm và 0,5-0,65 kg/người/ngày.đêm.
Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hànhchương trình điều tra chất thải rắn sinh hoạt tại địa bàn tỉnh Hà Giang với sựphối hợp và cung cấp thông tin và các tài liệu có liên quan từ phía các cơ quanhữu quan các cấp của Tỉnh Theo kết quả điều tra, với mức sống và tốc độ pháttriển kinh tế và đô thị như ở Hà Giang hiện nay, lượng chất thải rắn phát sinhtrung bình theo đầu người tại Hà Giang chưa cao Tuy nhiên, do chất thải rắnkhông được thu gom, hiệu quả xử lý còn thấp nên đây là một vấn đề khá bứcxúc đối với môi trường Hà Giang
Chương trình điều tra chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ dân cư
Đối với chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ dân trên toàn địa bàn tỉnh HàGiang, Trung tâm Ứng dụng công nghệ Tài nguyên và Môi trường đã tiến hànhđiều tra tại 4 khu vực, cụ thể đến từng huyện, thị Tại mỗi huyện, thị phòng Tàinguyên và Môi trường chọn ra những địa bàn dân cư cụ thể, đảm bảo tính đặctrưng để cán bộ Trung tâm tiến hành điều tra đối với từng hộ gia đình Quá trìnhtiến hành điều tra của các cán bộ điều tra có sự phối hợp, giám sát chặt chẽ của
Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang; Phòng Tài nguyên và Môi trườngcác huyện, thị; Uỷ ban nhân các xã, phường; đặc biệt là quá trình phối hợp cungcấp thông tin và hướng dẫn địa bàn (đến từng hộ dân) của các trưởng thôn, bản.Công việc điều tra tại mỗi hộ gia đình bao gồm:
Phát phiếu điều tra, tiến hành phỏng vấn theo các thông tin yêu cầu trênphiếu Trên mỗi phiếu điều tra, có chữ ký xác nhận của người được phỏng vấn
và điều tra viên Một số hình ảnh về điều tra chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàntỉnh Hà Giang được thể hiện tại phụ lục 12 và phụ lục 13 của báo cáo
Phát các túi chuyên dụng đựng rác thải cho các hộ điều tra vào đầu giờsáng và tiến hành cân lượng rác phát thải vào cùng giờ sáng hôm sau Ghi lại sốlượng chất thải phát sinh vào phiếu điều tra tương ứng (số liệu thu thập được ghilại căn cứ trên khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi hộ gia đình và căn cứvào số liệu thu thập được trong quá trình phỏng vấn về “ lượng chất thải rắn phátsinh trung bình tại hộ gia đình”)
Cụ thể chương trình điều tra được tiến hành như sau:
*/ Khu vực I: Bao gồm thị xã Hà Giang và các huyện Bắc Quang, Vị Xuyên,
Trang 30- Thị xã Hà Giang: gồm 8 phường, xã.
Lựa chọn 4 phường, xã đại diện bao gồm phường Trần Phú, phường MinhKhai, phường Nguyễn Trãi và xã Ngọc Đường Mỗi phường, xã chọn 3 tổ dânphố đại diện được cho các tổ có số dân cao, trung bình và thấp trong phường.Mỗi khu phố tiến hành điều tra 30 hộ Việc lựa chọn các hộ điều tra trên cơ sởcác hộ đó đại diện được cho các nhóm hộ dân có mức sống cao, trung bình vàthấp
Tổng số hộ đã tiến hành điều tra ở Thị xã Hà Giang là 360 hộ
- Huyện Bắc Quang và Vị Xuyên:
Mỗi huyện điều tra 3 xã, mỗi xã điều tra 3 bản Huyện Bắc Quang lựachọn địa bàn điều tra gồm thị trấn Việt Quang, thị trấn Vĩnh Tuy, xã Kim Ngọc.Huyện Vị xuyên lựa chọn thị trấn Vị Xuyên, xã Quảng Ngần, xã Linh Hồ Cácbản, xã điều tra được lựa chọn chia thành các nhóm có mật độ dân cư cao, trungbình và thấp Mỗi bản điều tra 30 hộ, trong đó các hộ điều tra đảm bảo đại diệnđược cho các nhóm hộ dân có mức sống cao, trung bình và thấp
Tổng số hộ đã được tiến hành điều tra trên huyện Bắc Quang và Vị Xuyên
là 540 hộ
- Tại các khu vực này, tiến hành lựa chọn lấy mẫu phân tích nước thải cho một
số điểm đại diện.
Nước thải sinh hoạt: Thị xã Hà Giang: 3 điểm
Huyện Bắc Quang, Vị Xuyên: 4 điểm
*/ Khu vực II: Bao gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình.
Mỗi huyện điều tra 3 xã Chương trình điều tra chất thải rắn trên địa bànhuyện Hoàng Su Phì được tiến hành tại xã Nam Sơn, xã Thông Nguyên và thịtrấn Vinh Quang Huyện Xín Mần tiến hành điều tra tại xã Cốc Pài, xã Nấm Dẩn
và xã Thèn Phàng Huyện Quang Bình tiến hành điều tra tại xã Yên Bình, xãYên Thành, xã Xuân Giang Mỗi xã điều tra 3 thôn, bản Các thôn, bản đượcđiều tra được lựa chọn chia thành các nhóm có mật độ dân cư cao, trung bình vàthấp Mỗi thôn, bản 15 hộ, trong đó các hộ điều tra đại diện được cho các nhóm
hộ dân có mức sống cao, trung bình và thấp
Tổng số hộ điều tra trên khu vực II là 405 hộ
Trang 31*/ Khu vực III: Bao gồm các huyện Bắc Mê, Yên Minh, Quản Bạ.
Mỗi huyện điều tra 3 xã Chương trình điều tra chất thải rắn trên địa bànhuyện Bắc Mê được tiến hành tại xã Yên Định, xã Lạc Nông, xã Yên Phú.Huyện Yên Minh tiến hành điều tra tại thị trấn Yên Minh, xã Lũng Hồ, xã MậuDuệ Huyện Quản Bạ được tiến hành tại xã Tam Sơn, xã Quyết Tiến, xã Cán Tỷ.Mỗi xã 3 thôn, bản Các thôn, bản điều tra được lựa chọn chia thành các nhóm
có mật độ dân cư cao và thấp Mỗi thôn, bản điều tra 15 hộ, trong đó các hộ điềutra đại diện được cho các nhóm hộ dân có mức sống cao, trung bình và thấp
Tổng số hộ điều tra trên khu vực III là 405 hộ
*/ Khu vực IV: Bao gồm các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc
Mỗi huyện điều tra 3 xã Chương trình điều tra chất thải rắn trên địa bànhuyện Đồng Văn được tiến hành tại 4 xã, thị trấn bao gồm: thị trấn Đồng Văn, xã
Hố Quáng Phìn, xã Lũng Phìn, xã Đồng Văn Tại huyện Mèo Vạc, tiến hành điềutra tại 03 xã bao gồm: xã Xín Cái, xã Niêm Sơn và thị trấn Mèo Vạc Mỗi xã, thịtrấn điều tra 03 thôn, bản Các thôn, bản được điều tra được lựa chọn chia thành cácnhóm có mật độ dân cư cao và thấp Mỗi bản điều tra 9 hộ, trong đó các hộ điều trađại diện được cho các nhóm hộ dân có mức sống cao, trung bình và thấp
Tổng số hộ trên khu vực IV sẽ điều tra: 162 hộ
Như vậy, tổng số hộ được điều tra trên các khu vực tại địa bàn tỉnh Hà
Giang là 1872 hộ.
/ Kết quả điều tra:
Khu vực I gồm thị xã Hà Giang, huyện Vị Xuyên và huyện Bắc Quang 3.2.1 Thị xã Hà Giang
Thị xã Hà Giang là trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị và là động lựcphát triển kinh tế của cả tỉnh Hà Giang Do đặc thù kinh tế khá phát triển, mật độdân số cao và dịch vụ du lịch phát triển, thị xã Hà Giang lại chính là nơi cólượng phát sinh chất thải rắn lớn nhất trên địa bàn toàn tỉnh
Phụ trách thu gom rác thải sinh hoạt tại thị xã Hà Giang là các đội dịch vụ
vệ sinh Công cộng thuộc Công ty Dịch vụ công cộng và Môi trường Hà Giangquản lý Tuy nhiên, trang thiết bị và nhân công vẫn còn chưa thật đầy đủ để đápứng đủ yêu cầu công việc trên địa bàn
Trang 32Sau khi tiến hành điều tra tại các hộ gia đình tại khu vực thị xã Hà Giang,kết quả tổng hợp phiếu điều tra được thể hiện trong bảng 3.2.1a sau:
Bảng 3.2.1a. Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực thị xã Hà Giang
TRA (khẩu)
TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC
(kg/ngày.đêm)
Lượng phát thải TB
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng công nghệ Tài nguyên và môi trường
Theo kết quả điều tra, phân tích và thống kê của Trung tâm Ứng dụngCông nghệ tài nguyên và Môi trường, thị xã Hà Giang có lượng phát thải bìnhquân đầu người khoảng 0,85 kg/người/ngày.đêm Như vậy, với số dân và tốc độtăng dân số tự nhiên tại thị xã Hà Giang , có thể tính được lượng phát sinh chấtthải rắn tại thị xã Hà Giang trong năm 2008 như sau:
Bảng 3.2.1b Tải lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại Thị xã Hà Giang
(tấn/ngày.đêm)
(Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài Nguyên và Môi trường, 2008)
Tại thị xã Hà Giang, hệ thống thu gom được đầu tư khá tốt so với các địabàn khác trong tỉnh Theo báo cáo, hiệu quả thu gom năm 2006 là 85% và đếnnăm 2008 là 90% Đây là tỷ lệ cao, tuy nhiên, tỷ lệ này chỉ thống kê đối với cácphường nội thị tại thị xã Hà Giang Đối với các phường mới hay các xã thuộc thị
xã, tỷ lệ thu gom còn chưa cao Nguyên nhân chính là do nhận thức của ngườidân về việc thu gom rác thải sinh hoạt còn chưa đúng và đầy đủ Bên cạnh đó,phần lớn người dân vẫn quen với nếp sống cũ, rác thải sinh hoạt hàng ngày vẫnđược đổ ra suối, ra vườn nhà hoặc đốt lấy tro bón ruộng Thậm chí, theo quansát và điều tra cho thấy, khi đã có xe thu gom của công ty Dịch vụ công cộng vàmôi trường đến thu gom thì hầu hết các hộ dân đều không mang rác ra xe Côngnhân thu gom ở các trục đường này chỉ dọn và thu gom rác đường cùng một số ít
Trang 33rác nhà dân hai bên trục đường Cần phải tăng cường tuyên truyền, vận độngngười dân tự giác tham gia công tác vệ sinh môi trường để nâng cao hiệu quảthu gom tại các hộ dân.
3.2.2 Huyện Bắc Quang
Bắc Quang là một huyện với nền kinh tế tương đối phát triển so với cáchuyện khác trong tỉnh Công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện do Trạmdịch vụ vệ sinh và môi trường Bắc Quang đảm nhận Trạm được tái thành lậpnăm 2007 theo quyết định số 3449/QĐ-UBND ngày 7/12/2007 (trước đó thuộcCông ty dịch vụ Công cộng và Môi trường Hà Giang) Do mới đi vào hoạt động,công tác vệ sinh môi trường hiện mới chỉ được thực hiện trên 3 địa bàn chính làThị trấn Việt Quang, trung tâm xã Tân Quang và trung tâm xã Hùng An Côngnhân môi trường của Trạm đi thu gom rác tại các tuyến thu gom bằng xe gomđẩy tay Rác thải thu gom được tập kết tại các điểm dọc tuyến Quốc lộ 2 sau đó
xe chuyên dụng tới vận chuyển ra bãi xử lý rác Hiện tại, để phục vụ cho côngtác duy trì vệ sinh môi trường cho toàn địa bàn huyện, trạm Dịch vụ vệ sinh vàmôi trường Bắc Quang được trang bị 45 xe gom đẩy tay và 01 xe chuyên chở
Việc điều tra chất thải rắn sinh hoạt được tiến hành tại huyện Bắc Quangvới tổng số 270 hộ gia đình cho kết quả điều tra tại bảng 3.2.2a sau:
Bảng 3.2.2a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Bắc Quang
ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA SỐ KHẨU
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường
Theo số liệu điều tra, phân tích thực tế tại địa bàn cho thấy, lượng phátthải trung bình đối với rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Bắc Quang là 0,5kg/người/ngày.đêm Như vậy, với số dân và tốc độ tăng dân số tự nhiên tại
Trang 34huyện Bắc Quang, có thể tính được lượng phát thải chất thải rắn tại địa bànhuyện trong năm 2008 như sau:
Bảng 3.2.2b. Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Bắc Quang
(tấn/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008.
Bảng số liệu cho thấy, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bànhuyện Bắc Quang trung bình khoảng 54,766 tấn/ngày.đêm hay 19.989,59tấn/năm
Theo báo cáo của Trạm dịch vụ và môi trường Bắc Quang, lượng chấtthải thu gom được và vận chuyển đến bãi xử lý hàng ngày là 10,448tấn/ngày.đêm So với lượng phát sinh hàng ngày trên toàn địa bàn có thể thấyvẫn còn một khối lượng lớn chất thải rắn phát sinh hàng ngày vẫn chưa được thugom, xử lý Có hiện tượng này là do ở các địa bàn chưa được thu gom rác vàduy trì vệ sinh đường phố, toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đình và
cơ sở sản xuất vẫn bị xả thải bừa bãi ra các con suối hoặc khu đất trống hayvườn nhà Trạm dịch vụ và môi trường Bắc Quang cần sớm được đầu tư về nhânlực và vật lực, nhanh chóng mở rộng địa bàn duy trì vệ sinh và thu gom triệt đểlượng rác phát sinh trong ngày
3.2.3 Huyện Vị Xuyên
Công tác duy trì vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện Vị Xuyên do Độidịch vụ công cộng và môi trường Vị Xuyên đảm nhận Toàn bộ công nhân laođộng trong Đội là 17 người Đội được trang bị 18 xe gom đẩy tay và 01 xechuyên chở để thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Mỗi ngày 2 lần, xegom được công nhân vệ sinh của Đội đẩy đi thu gom chất thải rắn sinh hoạt tạicác khu vực, tập kết tại 10 điểm trung chuyển trên địa bàn Sau đó, xe ép rác sẽvận chuyển lượng rác này từ các trạm trung chuyển về bãi xử lý
Diện tích thu gom toàn khu vực mà Đội đảm nhận là 122.000 m2 Baogồm 13 tuyến thu gom với tổng chiều dài là 15,25km, bao gồm: Đường quốc lộ
2 (Km 17 đến Km 23) thị trấn Vị Xuyên; Từ Km 26 đến Km 30 thị trấn ViệtLâm; Trục đường đê Thanh Hà; Chợ Vạt; Toàn bộ các trục đường nội huyện thịtrấn Vị Xuyên; Trung tâm xã Minh Tân huyện Vị Xuyên
Trang 35Theo kết quả điều tra, phân tích của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tàinguyên và Môi trường, tháng 9/2008 tại 270 hộ trên địa bàn huyện Vị Xuyên,kết quả tổng hợp phiếu điều tra được thể hiện trong bảng 3.2.3a sau:
Bảng 3.2.3a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Vị Xuyên
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường
Theo kết quả phân tích trên, tải lượng phát sinh chất thải rắn trung bìnhtrên địa bàn huyện Vị Xuyên là 0,45 kg/người/ngày.đêm Như vậy, lượng chấtthải rắn sinh thực tế trên địa bàn huyện Vị Xuyên hiện nay như sau:
Bảng 3.2.3b. Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Vị Xuyên
(tấn/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008
Nhìn vào bảng số liệu 3.2.3b có thể thấy, hiện tại, mỗi ngày lượng chấtthải rắn sinh hoạt phát sinh thực tế trên địa bàn là khoảng 42,5 tấn/ngày.đêm haykhoảng 15.512,5 tấn/năm Theo báo cáo của Đội dịch vụ công cộng và môitrường Vị Xuyên, mỗi ngày lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom vận chuyểnđến bãi thu gom trung bình khoảng 10 tấn/ngày.đêm Như vậy, lượng chất thảirắn sinh hoạt phát sinh không được thu gom, xử lý vào khoảng 35 tấn/ngày.đêmhay 12.775 tấn/năm
Khu vực 2: Gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình
3.2.4 Huyện Hoàng Su Phì
Huyện Hoàng Su Phì là một trong những huyện vùng cao của Hà Giang.Việc duy trì vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện được giao cho Đội dịch vụ
Trang 36công cộng và môi trường Hoàng Su Phì đảm nhiệm Đội gồm 14 lao động, trong
đó, lao động gián tiếp 3 người và lao động trực tiếp là 11 người Tổng số xe gomhoạt động trên địa bàn là 45 xe gom Hiện tại, Đội thực hiện duy trì thu gom rác
và quét gom, vận chuyển, xử lý rác trên khu vực trung tâm huyện (thị trấn VinhQuang) và trung tâm xã Thông Nguyên Đối với các khu vực có duy trì vệ sinhmôi trường, hiệu quả thu gom đạt khoảng 80% Tuy nhiên, ngoài địa bàn cóhạng mục duy trì vệ sinh môi trường, toàn bộ lượng chất thải rắn phát sinh vẫn
bị đổ thải tự do vào môi trường
Theo kết quả điều tra, phân tích của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tàinguyên và Môi trường, kết quả tổng hợp phiếu điều tra tại 135 hộ trên địa bànhuyện Hoàng Su Phì được thể hiện trong bảng 3.2.4a sau:
Bảng 3.2.4a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Hoàng Su Phì
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC kg/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường
Theo kết quả phân tích tại bảng trên, lượng chất thải rắn phát thải trungbình tại huyện Hoàng Su Phì là 0,4 kg/người/ngày.đêm Như vậy, lượng chấtthải rắn phát sinh thực tế trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì hiện nay như sau:
Bảng 3.2.4b. Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Hoàng Su Phì
(tấn/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008
Theo báo cáo của Đội dịch vụ công cộng và môi trường Hoàng Su Phì,lượng chất thải rắn thu gom được hiện nay bao gồm:
Tại thị trấn Vinh Quang: 1175,3 tấn/năm
Tại khu trung tâm xã Thông Nguyên: 116,8 tấn/năm
Trang 37Nghĩa là lượng chất thải rắn thu gom được trung bình hiện nay là khoảng3,59 tấn/ngày.đêm Như vậy, lượng chất thải rắn phát sinh chưa được thu gomtriệt để là rất lớn, vào khoảng gần 20 tấn/ngày đêm.
số trục chính tại trung tâm huyện Việc thu gom tại các trục này cũng chưa thực
sự triệt để do nhận thức của người dân chưa cao Người dân trong vùng vẫnquen với nếp sống cũ nên cần có sự tuyên truyền, vận động họ tham gia công tác
vệ sinh môi trường thường xuyên và đầy đủ hơn
Theo kết quả điều tra thực tế tại địa bàn huyện Xín Mần của Trung tâmỨng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, lượng chất thải rắn phát thảitrung bình trên địa bàn huyện được tổng hợp tại bảng 3.2.5a sau:
Bảng 3.2.5a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Xín Mần
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC (kg/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường
Như vậy, địa bàn huyện Xín Mần có lượng phát thải trung bình là 0,4kg/người/ngày và tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyệnXín Mần hiện nay được thể hiện trong bảng 3.2.5b sau
Bảng 3.2.5b. Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Xín Mần
Năm Dân số Tổng lượng chất thải (tấn/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008
Trang 38Bảng số liệu trên cho thấy, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinhtrên toàn địa bàn huyện Xín Mần hiện nay khoảng 21,8 tấn/ngày.đêm tươngđương với 7.957 tấn/năm Tuy nhiên, trên thực tế, theo số liệu báo cáo của Đội
vệ sinh công cộng và môi trường Xín Mần thì tổng lượng chất thải rắn sinh hoạtthu gom được trên địa bàn huyện Xín Mần trung bình đạt 2,2 tấn/ngày.đêm Nhưvậy, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chưa được thu gom trên địa bànước tính khoảng 19,6 tấn/ngày đêm
3.2.6 Huyện Quang Bình
Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Quang Bình doĐội DVCC vệ sinh môi trường Quang Bình đảm nhận Tại địa bàn huyệnQuang Bình, mặc dù mới Đội DVCC VSMT đã hoàn thành khá tốt các hạngmục được giao trên địa bàn Tuy nhiên, do còn thiếu về nhân công cũng nhưtrang thiết bị thu gom nên việc triển khai công tác vệ sinh môi trường trên toànđịa bàn huyện còn chưa nhiều, mới chỉ tập trung ở vài trục chính tại trung tâmhuyện
Kết quả tổng hợp phiếu điều tra tại 135 hộ dân trên địa bàn huyện QuangBình của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường được thểhiện trong bảng 3.2.6a sau:
Bảng 3.2.6a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Quang Bình
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC (kg/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường
Theo kết quả tổng hợp tại bảng trên, lượng chất thải rắn phát sinh trungbình trên địa bàn huyện Quang Bình là 0,4 kg/ngày/người Như vậy, lượng chấtthải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn huyện Quang Bình hiện nay như sau:
Bảng 3.2.6b. Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Quang Bình
Trang 39Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008
Bảng số liệu trên cho thấy, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinhtrên toàn địa bàn huyện Quang Bình hiện nay là 22,680 tấn/ngày.đêm tươngđương với 8278,2 tấn/năm
Theo báo cáo của Đội dịch vụ Công cộng và Môi trường, lượng chất thảirắn phát sinh trên địa bàn huyện đã được thu gom là 1,008 tấn/ngày.đêm Nhưvậy, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chưa được thu gom xử lý ước tínhkhoảng 21,7 tấn/ngày.đêm
Khu vực 3: gồm các huyện Bắc Mê, Yên Minh, Quản Bạ
3.2.7 Huyện Bắc Mê
Tại huyện Bắc Mê, một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Hà Giang, côngtác vệ sinh môi trường còn gặp nhiều khó khăn Đội Dịch vụ công cộng và Môitrường Bắc Mê là một đơn vị mới được thành lập cuối năm 2007 Hiện tại, Độimới chỉ duy trì vệ sinh môi trường tại trung tâm huyện, bao gồm 4 tổ trên địa bàn
xã Yên Phú Toàn Đội có 5 xe gom đẩy tay và 01 xe chuyên chở đến bãi xử lý
Theo kết quả điều tra, phân tích thực tế của Trung tâm Ứng dụng Côngnghệ Tài nguyên và Môi trường tại địa bàn huyện Bắc Mê với 135 hộ gia đìnhđược chọn đã cho bảng tổng hợp kết quả phiếu điều tra như sau:
Bảng 3.2.7a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Bắc Mê
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC (kg/ngày.đêm)
Trang 40Từ kết quả phân tích tại bảng 3.2.7a cho thấy, lượng phát sinh rác thảisinh hoạt trung bình trên địa bàn huyện là 0,35 kg/người/ngày.đêm Như vậy,tổng lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các hộ gia đình trên địa bànhuyện Bắc Mê trong năm 2008 được thể hiện trong bảng 3.2.7b sau.
Bảng 3.2.7b Lượng chất thải rắn phát sinh huyện Bắc Mê
Năm Dân số Tổng lượng chất thải (tấn/ngày.đêm)
Nguồn: Trung tâm ứng dụng Công nghệ Tài nguyên và Môi trường, 2008Như vậy, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn địa bàn huyệnBắc Mê năm 2008 vào khoảng 15,361 tấn/ngày.đêm hay 5606,765 tấn/năm
Theo báo cáo của Công ty dịch vụ công cộng và Môi trường Hà Giang,tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom được hàng ngày trên toàn bộ địa bànthu gom mới chỉ đạt khoảng 4 tấn/ngày.đêm Như vậy, lượng rác phát sinh chưađược thu gom trên toàn địa bàn huyện còn khoảng trên 11 tấn/ngày.đêm
3.2.8 Huyện Yên Minh
Việc thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Minh do ĐộiDVCC vệ sinh môi trường đảm nhận Đội được thành lập vào tháng 12/2007 với
15 cán bộ công nhân viên, trong đó, công nhân lao động phổ thông chiếm 80%
Tại địa bàn thị trấn Yên Minh, mặc dù mới Đội DVCC VSMT đã hoànthành khá tốt các hạng mục được giao trên địa bàn Tuy nhiên, do còn thiếu vềnhân công cũng như trang thiết bị thu gom nên việc triển khai công tác vệ sinhmôi trường trên toàn địa bàn huyện đòi hỏi phải có thời gian lâu dài và sự đầu tưhợp lý Hiện tại, khối lượng duy trì trên địa bàn huyện còn rất ít, do đó, lượngchất thải rắn sinh hoạt phát sinh chưa được thu gom trên địa bàn rất lớn
Theo kết quả điều tra của Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Tài nguyên vàMôi trường tại 135 hộ gia đình trên địa bàn huyện về chất thải rắn sinh hoạt, kếtquả tổng hợp phiếu điều tra được thể hiện trong bảng 3.2.8a sau:
Bảng 3.2.8a Kết quả tổng hợp phiếu điều tra khu vực huyện Yên Minh
ĐỊA BÀN SỐ KHẨU ĐIỀU TRA (khẩu) TỔNG KHỐI LƯỢNG RÁC (kg/ngày.đêm)