Đánh giá tình hình ô nhiễm thuốc trừ sâu tại lưu vực sông Vàm Cỏ - Điển cứu tại huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Trang 1 TĨM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện để
đánh giá dư lượng của một số thuốc trừ sâu
trong mơi trường đất, tạo cơ sở để xác định
hiện trạng ơ nhiễm thuốc trừ sâu ở huyện
Tân Trụ tỉnh Long An Căn cứ vào kết quả
nghiên cứu, chúng tơi nhận thấy rằng cĩ một
vài vị trí mẫu cĩ sự xuất hiện của DDT trong
mơi trường đất, tuy nhiên hàm lượng DDT
này khá thấp và khơng gây ra các tác động
nghiêm trọng đối với con người Các hĩa
chất khác như, Dieldrine và Heptaclor phát
hiện với hàm lượng cao hơn tiêu chuẩn,
Dieldrine vượt tiêu chuẩn trên 2 lần,
Heptaclo vượt tiêu chuẩn trên 6 lần Phần lớn
các vị trí lấy mẫu khác khơng thấy phát hiện
các hĩa chất nơng nghiệp bị cấm sử dụng ‡
ASSESSING THE PRESENT SITUATION
OF PESTICIDE POLLUTION IN VAM
CO WATERSHEDS – CASE STUDY IN
TAN TRU DISTRICT OF LONG AN
PROVINCE
ABSTRACT:
This study is conducted to assess the
residue of some pesticides in soil
environment, following identifying the
present situation of pesticide pollution in
Tan Tru district of Long An province Base
* GV Trường ĐH Cơng nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
**
GS.TSKH Trường ĐH Cơng nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
on the research results we discovered there are some sampling positions
environment, however DDT content is very low and not harmful to farmer Some pesticide such as Dieldrine is discovered over Vietnam Technical Regulation 2 times, and Heptachlor is over Vietnam Technical Regulation 6 times The other samples do not find the residue of pesticides which banned to use
1 GIỚI THIỆU
Hệ thống sơng Vàm Cỏ là phụ lưu cuối cùng của hệ thống sơng Sài Gịn – Đồng Nai, được hình thành từ hai nhánh Vàm Cỏ Đơng (dài 220 km) và Vàm Cỏ Tây (dài 196 km) chảy vào Sơng Đồng Nai tại vị trí cách cửa Sồi Rạp khoảng 15km Hệ thống sơng Vàm Cỏ với nguồn nước phong phú, địa hình bằng phẳng là điều kiện thuận lợi cho phát triển thâm canh nơng nghiệp, do đĩ nơi đây
là một trong những khu vực cĩ hoạt động nơng nghiệp diễn ra sơi nổi Sự phát triển của khoa học cơng nghệ cùng với yêu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng nơng sản, nên trong những năm gần đây hiện tượng ơ nhiễm mơi trường do thuốc trừ sâu
đã xuất hiện phổ biến ở các vùng chuyên canh nơng nghiệp tại Tân Trụ
Vấn đề ơ nhiễm nơng nghiệp khơng chỉ xuất hiện ở các nước đang phát triển, mà
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH Ô NHIỄM THUỐC TRỪ SÂU TẠI LƯU VỰC SÔNG VÀM CỎ - ĐIỂN CỨU TẠI
HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
Võ Đình Long*, Lê Huy Bá**
Trang 2quy mô của nó còn lan sang các quốc gia
phát triển Chính vì tính chất nghiêm trọng
này nên nhiều nước trên thế giới, nhất là các
nước phát triển đã đặc biệt quan tâm đến vấn
đề suy thoái và ô nhiễm môi trường đất do sử
dụng thuốc trừ sâu và ảnh hưởng của chúng
đến sức khỏe cộng động Chẳng hạn như Ủy
ban Châu Âu đã đưa ra một nguyên tắc về sử
dụng đất và thuốc trừ sâu áp dụng cho các
nước thành viên vào năm 1987
Ở Việt Nam, vấn đề ô nhiễm môi
trường đất cũng rất được quan tâm nhất là
khi hoạt động nông nghiệp đang phát triển
mạnh như hiện nay, việc sử dụng thuốc trừ
sâu không đúng liều lượng và thời lượng đã
làm ảnh hưởng đến môi trường đất và sức
khỏe con người Đã có rất nhiều các nghiên
cứu về ô nhiễm trong nông nghiệp [2],[3],
tuy nhiên, chưa đánh giá mức độ ảnh hưởng
của thuốc bảo vệ thực vật nói chung hay
thuốc trừ sâu nói riêng trên các mô hình canh
tác khác nhau của địa phương Đây là một
vấn đề cụ thể và cần thiết trước mắt để các
nhà quản lý và nông dân tại địa phương có
hướng phòng ngừa và sử dụng thuốc trừ sâu
hợp lý
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
Các mẫu đất được lấy trực tiếp tại
huyện Tân Trụ để xác định hàm lượng thuốc
trừ sâu với các chỉ tiêu phân tích sau:
- Chlor hữu cơ: Aldrin, Dieldrin,
Endrin, HetaChlor, DDT, DDD, DDE
MethylParathion và Methamidos
Độ sâu lấy mẫu được xác định từ tầng
líp đến độ sâu 40 – 50cm với mục đích đánh
giá dư lượng của thuốc trừ sâu cũng như còn
đường lan truyền của chúng, khả năng ảnh
hưởng tới môi trường và sức khỏe con
người
Cholinesterase trong máu của một số nông
dân nông dân phun xịt thuốc trừ sâu, ngay sau khi phun xịt TBVTV 30ph – 01 giờ Lấy
2 cc máu được bảo quản chống đông, Phòng Phân tích sinh hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy phân tích
Thời gian lấy mẫu được bố trí thành 2 đợt:
- Đợt 1: sau vụ Đông Xuân năm 2008
- Đợt 2: sau vụ Hè thu năm 2008
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ
Kết quả về hàm lượng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ trong đất qua hai đợt lấy mẫu được thể hiện qua bảng 1 và bảng 2:
Bảng 1 Kết quả hàm lượng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ dư lượng trong đất (đợt 1)
STT Tên mẫu
Chỉ tiêu
Dimethoate Methylparathion Methamidophos
1 TT02
2 TT02
3 TT07
4 TT07
KPH : Không phát hiện
Bảng 2 Kết quả hàm lượng thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ (đợt 2)
STT Tên mẫu
Chỉ tiêu
Dimethoate Methylparathion Methamidophos
1 TT02
2 TT02
3 TT07
Trang 3STT Tên mẫu
Chỉ tiêu
Dimethoate Methylparathion Methamidophos
40cm)
KPH : Không phát hiện
Trên đây là các loại thuốc trừ sâu gốc
lân hữu cơ cao được xếp vào loại độc tính
cao Ia và Ib – Bảng phân chia nhóm độc theo
WHO, đã bị cấm sử dụng Hơn nữa loại này
không bền trong môi trường (thời gian dư
lượng lâu nhất là 20 ngày) nên kết quả cho
thấy không phát hiện tại các điểm khảo sát
trong môi trường đất trong cả hai đợt khảo
sát
3.2 Thuốc trừ sâu gốc Chlor hữu
cơ
Kết quả định lượng thuốc trừ sâu gốc
Chlor hữu cơ trong mẫu đất như sau:
* Đối với lấy mẫu đợt 1
So sánh hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo hữu cơ tồn dư trong đất (đợt 1)
với QCVN 15:2008
1
10
100
1000
Đồ thị 1 So sánh hàm lượng thuốc trừ
sâu gốc Chlor hữu cơ dư lượng
trong đất đợt 1 với QCVN 15:2008
* Đối với lấy mẫu đợt 2
So sánh hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo hữu cơ tồn dư trong đất
đợt 2 với QCVN 15:2008
0.1
10
1000
Dieldrine Endrin Heptaclor DDT DDD DDE QCVN15:2008
trừ sâu gốc Chlor hữu cơ dư lượng
trong đất đợt 2 với QCVN 15:2008
* Nhận xét:
Một số thuốc trừ sâu có gốc Chlor hữu cơ vẫn còn dư lượng trong môi trường đất trong cả hai đợt khảo sát (cuối vụ Đông Xuân và Hè thu), mặc dù nhà nước đã cấm lưu hành và sử dụng thuốc trừ sâu có gốc Chlor hữu cơ trong nhiều năm Với hàm lượng HeptaChlor và Dieldrin có trong đất nhiều nhất và vượt giới hạn cho phép, chủ yếu tập trung tại vị trí trồng lúa TT02; hàm lượng Aldrin, DDD và DDE không phát hiện
ở cả hai đợt khảo sát; hàm lượng DDT định lượng phát hiện ở tất cả các vị trí khảo sát Tuy nhiên tồn tại mức thấp dưới giới hạn cho phép (<0,01 ppm) Đối với Endrin chủ yếu phát hiện tại TT02 và TT07 (lấy mẫu đợt 2) Tại cùng một vị trí lấy mẫu trong hai đợt khác nhau, chúng tôi thấy rằng hàm lượng Dieldrin tập trung nhiều ở vị trí TT02; đối với HeptaChlor nhiều nhất tại vị trí TT02 trên tầng líp trong đợt lấy mẫu lần 2, trong khi đó đợt 1 lại không phát hiện, điều này chứng tỏ rằng người nông dân chỉ sử dụng HeptaChlor trong vụ hè thu
0 200 400 600 800 1000
ppb
Hàm lượng thuốc trừ sâu gốc Clo hữu cơ tồn dư trong đất
tại hai đợt khảo sát 1 và 2
trừ sâu trong đất giữa hai đợt khảo sát
3.3 Kết quả hàm lượng men Cholinesterase trong máu người
sử dụng thuốc trừ sâu
Cholinesterase trong máu của một số nông
dân nông dân phun xịt thuốc trừ sâu, ngay
sau khi phun xịt TBVTV 30ph – 01 giờ, Kết
Trang 4quả thu thập như sau:
Bảng 3 Kết quả lượng men
Cholinesterase trong máu người phun thuốc
BVTV ở huyện Tân Trụ
1 TT01 4551 Nam
2 TT02 4279 Nam
Kết quả phân tích cho thấy, hàm
lượng men Cholinesterase trong máu của
nông dân phun thuốc trừ sâu đều ở mức
bình thường, trong giới hạn 3000 - 7400
(micromol/L) Điều này chứng tỏ sau khi
phun thuốc trừ sâu lượng men có biến đổi
theo chiều hướng giảm xuống dưới mức
nhiễm độc Do enzym Cholinesterase có
khả năng hấp thu nhanh vào cơ thể qua
niêm mạc tiêu hóa, hô hấp hay qua da
nên nguy cơ nhiễm độc đối với người
nông dân khi phun xịt thuốc rất cao,
ngoài ra do độc tính của enzym
Cholinesterase cao, nếu người bị nhiễm
độc không được chữa trị kịp thời rất dễ
dẫn đến tử vong [1]
4 KẾT LUẬN
Dựa vào kết quả nghiên cứu về tình
hình sử dụng thuốc trừ sâu như trên, chúng
tôi rút ra các kết luận như sau:
1 Người nông dân vẫn còn sử dụng
những thuốc đã cấm sử dụng có gốc Chlor
hữu cơ như endrine, heptachlor, dieldrine
Cholinesterase trong máu người phun thuốc
ở mức trung bình (khoảng 4279 – 4551
micromol/L) Dao động hàm lượng men
không lớn trong máu đối với các đối tượng
lấy máu khác nhau
3 Mức dư lượng thuốc trừ sâu trong môi trường đất canh tác tại huyện Tân Trụ tỉnh Long An như sau:
- Thuốc trừ sâu gốc lân hữu cơ không phát hiện tồn dư trong đất
- Thuốc trừ sâu gốc Chlor:
Aldrine, DDE và DDD không phát hiện tại vùng khảo sát
Endrine và DDT có phát hiện nhưng thấp hơn giới hạn cho phép (QCVN15:2008/BTNMT)
Dieldrine và Heptaclor phát hiện với hàm lượng cao hơn tiêu chuẩn Dieldrine gấp 2-20 lần, Heptaclor hơn 6-90 lần
[1] Lê Huy Bá, Độc học môi trường,
Tập 1, 2, NXB Đại Học Quốc Gia Tp.HCM
(2006)
[2] Lê Huy Bá và cộng sự - Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đối với môi trường đất và nước vùng lúa cao sản – rau tỉnh Long An Báo cáo khoa học 09/2004
[3] Nguyễn Trần Oánh – Sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật - NXB Nông Nghiệp
Hà Nội (2007)