1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh đồng tháp (public investment management in the context of climate change in dong thap province)

218 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Đầu Tư Công Trong Điều Kiện Biến Đổi Khí Hậu Tại Tỉnh Đồng Tháp
Trường học Trường Đại Học Đồng Tháp
Thể loại Luận án
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 2,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, Luận án đã lựa chọn, bổ sung và phát triển về phương pháp luận xác định các nhóm chỉ tiêu sử dụng để đánh giá QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH, gồm: Một là, Nhóm chỉ tiêu đán

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii

DANH MỤC HỘP viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Những đóng góp mới của đề tài 3

5.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận 3

5.2 Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án 4

6 Cấu trúc luận án 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.1.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến biến đổi khí hậu và gắn kết đầu tư công với biến đổi khí hậu 5

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về đầu tư công và đầu tư công cấp tỉnh 9

1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đầu tư công và quản lý đầu tư công cấp tỉnh 12

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án 18

1.2 Phương pháp nghiên cứu 22

1.2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 23

1.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 28

1.2.3 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu 32

Trang 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG CẤP TỈNH

TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 34

2.1 Đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 34

2.1.1 Biến đổi khí hậu 34

2.1.2 Khái niệm đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 35

2.1.3 Đặc điểm đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 38

2.1.4 Nội dung đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 40

2.2 Lý luận chung về quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 41

2.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 41

2.2.2 Nội dung quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 46

2.2.3 Tiêu chí đánh giá quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 53

2.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu 56

2.3 Kinh nghiệm quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu và bài học rút ra cho tỉnh Đồng Tháp 60

2.3.1 Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đầu tư công gắn với biến đổi khí hậu của một số quốc gia trên thế giới 60

2.3.2 Nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu ở một số địa phương tại Việt Nam 62

2.3.3 Bài học rút ra về quản lý đầu tư công cấp tỉnh trong điều kiện biến đổi khí hậu cho tỉnh Đồng Tháp 65

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP 68

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến quản lý đầu tư công tại tỉnh Đồng Tháp 68

3.1.1 Về vị trí địa lý - tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 68

3.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp 70

3.2 Tình hình thực hiện đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2018 73

3.2.1 Thực trạng đầu tư công tỉnh Đồng Tháp phân theo nguồn vốn đầu tư 73

3.2.2 Tình hình chuyển dịch cơ cấu đầu tư công tỉnh Đồng Tháp phân theo ngành, lĩnh vực 75

3.2.3 Tình hình chuyển dịch cơ cấu đầu tư công tỉnh Đồng Tháp phân theo vùng 78

Trang 3

3.3 Thực trạng quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh

Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018 80

3.3.1 Công tác lập kế hoạch đầu tư công 80

3.3.2 Công tác tổ chức và quản lý thực hiện đầu tư công 86

3.3.3 Công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá đầu tư công 94

3.3.4 Công tác phân cấp và phối hợp quản lý đầu tư công 96

3.3.5 Tình hình quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp từ kết quả nghiên cứu điều tra 98

3.4 Đánh giá chung quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018 101

3.4.1 Những thành tựu 101

3.4.2 Hạn chế chủ yếu 111

3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 115

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP ĐẾN NĂM 2025 121

4.1 Quan điểm và định hướng tăng cường quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025 121

4.1.1 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp 121

4.1.2 Quan điểm và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025123 4.1.3 Định hướng tăng cường quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp 124

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp 126

4.3.1 Đổi mới cách làm và nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch đầu tư công 126

4.3.2 Tiếp tục hoàn thiện công tác tổ chức và quản lý thực hiện đầu tư công 128

4.3.3 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra đối với hoạt động đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu, với cơ chế cụ thể và minh bạch nhằm tăng cường giám sát cộng đồng và xã hội 130

4.3.4 Tăng cường hơn nữa công tác phân cấp và phối hợp trong quản lý đầu tư công và rà soát, cập nhật, hoàn thiện các hệ thống văn bản pháp lý có liên quan tới lòng ghép công tác quản lý đầu tư công với nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu, phòng tránh rủi ro thiên tai 131

Trang 4

4.3.5 Xây dựng và hoàn thiện chính sách khuyến khích, ưu đãi khi đầu tư vào các dự án đầu tư công ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng cường đa dạng hóa các loại hình

đầu tư công 132

4.3.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu 135

4.3.7 Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu đầu tư công hợp lý nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý thích ứng với biến đổi khí hậu 136

KẾT LUẬN 140

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 142

PHỤ LỤC 150

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CN-XD Công nghiệp - xây dựng

CQĐP/CQTW CQĐP/ Chính quyền trung ương

DA/ DAĐT/ DAĐTC Dự án/ Dự án đầu tư/ Dự án đầu tư công

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ĐTC/QLĐTC Đầu tư công/ Quản lý đầu tư công

GRDP Tổng sản phẩm nội tỉnh

HSDT/ HSMT Hồ sơ dự thầu/ hồ sơ mời thầu

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NSĐP/NSTW Ngân sách ĐP/ Ngân sách Trung ương

TM-CN Thương mai - Công nghiệp

TM-DV Thương mai - dịch vụ

TN&MT TN&MT

TPCP Trái phiếu Chính phủ

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

(The Asian Development Bank)

(Incremental Capital - Output Rati) IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế

(International Monetary Fund) IPCC Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH

(Intergovermental Panel on Climate Change) M&E Giám sát và đánh giá

(Monitoring & Evaluation) NGO Tổ chức phi chính phủ

(Non-Governmental Qrganization) ODA Hỗ trợ phát triển chính thức

(Official Development Assistance)

PA

Lý thuyết quan hệ người chủ - người thừa hành (Principal-Agent Theory)

PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

(Provincial Competitiveness Index)

(Public Investment) PIM Quản lý đầu tư công

(Public Investment Management) PIMAC Trung tâm Quản lý Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Công cộng và Tư nhân

(Public and Private Infrastructure Investment Management Center ) PPP Hợp tác công - tư

(Public - Private Partner) R&D Nghiên cứu và phát triển

(Research & Development ) VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

(Vietnam Chamber of Commerce and Industry)

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số phiếu phát ra và thực tế thu về đối với phiếu điều tra số 1 31

Bảng 1.2 Số phiếu phát ra và thực tế thu về đối với phiếu điều tra số 2 31

Bảng 3.1 Kết quả đánh giá về “Mức độ xảy ra các hiện tượng thời tiết của biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp trong thời gian gần đây (2011 - 2018)” 71

Bảng 3.2 Kết quả đánh giá “Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của người dân ở Đồng Tháp” 72

Bảng 3.3 Qui mô và cơ cấu nguồn vốn đầu tư công tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 – 2018 73 Bảng 3.4 Quy mô và cơ cấu đầu tư công tỉnh Đồng Tháp theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2011-2018 76

Bảng 3.5 Cơ cấu đầu tư công tỉnh Đồng Tháp theo mục tiêu Thích ứng và Giảm nhẹ đối với biến đổi khí hậu 78

Bảng 3.6 Qui mô và cơ cấu vốn đầu tư công tỉnh Đồng Tháp phân theo vùng giai đoạn 2011-2018 79

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá về “Cơ chế, chính sách đầu tư công thích ứng với biến đổi khí hậu” 81

Bảng 3.8 Kết quả đánh giá về “Đề xuất chủ trương, quy hoạch, kế hoạch đầu tư công” 82

Bảng 3.9 Tình hình thẩm định các dự án đầu tư công giai đoạn 2011-2018 83

Bảng 3.10 Kết quả đánh giá về “Lập chương trình, dự án đầu tư công” 84

Bảng 3.11 Kết quả đánh giá về “Thẩm định và phê duyệt chương trình, dự án đầu tư công” 85 Bảng 3.12 Kết quả đánh giá về “Triển khai thực hiện chương trình, dự án đầu tư công” 87

Bảng 3.13 Số dự án dầu tư công thực hiện lựa chọn nhà thầu giai đoạn 2011-2018 88

Bảng 3.14 Số dự án đầu tư công bị chậm tiến độ thi công và các nguyên nhân 90

Bảng 3.15 Tỷ lệ số dự án đầu tư công phải điều chỉnh giai đoạn 2011-2018 91

Bảng 3.16 Kết quả đánh giá về “Điều chỉnh chương trình, dự án đầu tư công” 92

Bảng 3.17 Số dự án đầu tư công kết thúc đầu tư, bàn giao đưa vào sử dụng giai đoạn 2011-2018 93

Bảng 3.18 Kết quả đánh giá về “Vận hành chươn trình, dự án đầu tư công” 94

Bảng 3.19 Kết quả đánh giá về “Đánh giá và kiểm toán sau khi hoàn thành chương trình, dự án đầu tư công” 96

Bảng 3.20 Qui mô vốn đầu tư công tỉnh Đồng Tháp theo phân cấp quản lý giai đoạn 2011-2018 97

Bảng 3.21 Kết quả tổng hợp tính toán thống kê theo từng biến độc lập 100

Bảng 3.22 Kết quả tính toán thống kê chung theo biến độc lập 101

Bảng 3.23 Đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018 104

Bảng 3.24 Cơ cấu kinh tế (theo ngành) của tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2010-2018 106

Bảng 3.25 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2010-2018 107

Bảng 3.26 Kết quả đánh giá “về chất lượng hiện tại của các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” 111

Bảng 3.27 Chỉ số ICOR tỉnh Đồng Tháp giái đoạn 2011-2018 114

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các quan hệ người chủ - người thừa hành trong đầu tư công 24 Hình 1.2 Quy trình nhận dạng và phân loại đầu tư công cho biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh 27

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000-2018 69 Biểu đồ 3.2 Điểm số trung bình từng khâu của chu trình quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp từ kết quả điều tra 99

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1 Ý kiến của nhóm phỏng vấn về các hiện tượng nước biển dâng và xâm nhập mặn 72 Hộp 3.2 Tổng hợp ý kiến phỏng vấn liên quan các ngành, lĩnh vực 107 Hộp 3.3 Tổng hợp ý kiến phỏng vấn liên quan các công trình thích ứng biến đổi khí hậu 109

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (Susmita Dasgupta và cộng sự, 2007) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba vùng đồng bằng trên Thế giới, trong đó có tỉnh Đồng Tháp sẽ là một trong khu vực dễ bị tổn thương nhất trong cả nước do chịu nhiều tổn thương và thiệt hại về tính mạng, kinh tế do các hiện tượng thiên tai, mưa bão, lũ lụt, sạt lỡ đất nghiêm trọng và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác Để giải quyết được những thách thức trên yêu cầu đặt ra cần có các giải pháp thích ứng, trong

đó ĐTC cũng là nguồn lực rất cần thiết và quan trọng

Mặc dù đầu tư công (ĐTC) và quản lý đầu tư công (QLĐTC) trong điều kiện BĐKH ở tỉnh Đồng Tháp trong những năm qua đã có những thành tựu đáng kể, trong

đó có tính đến việc tập trung các nguồn lực huy động để phát triển bền vững (PTBV) kinh tế - xã hội – môi trường của tỉnh Lượng vốn ĐTC luôn gia tăng hàng năm và phân bổ vào các ngành nghề đã giúp cho cơ cấu kinh tế (CCKT) của Tỉnh có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần

tỷ trọng nông nghiệp Mức tăng tăng trưởng kinh tế (TTKT) của tỉnh Đồng Tháp trong thời gian qua vẫn duy trì được khả năng tăng trưởng khá nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như lượng vốn ĐTC còn thiếu so với như cầu ĐTC ở ĐP, việc phân bổ đầu tư vào các ngành, lĩnh vực chưa thật sự trọng tâm, trọng điểm nên chuyển dịch cơ cấu đầu tư còn chậm, riêng về cơ cấu nguồn vốn còn phụ thuộc nhiều ngân sách Nhà nước (NSNN) (trên 65% tổng vốn ĐTC trên địa bàn tỉnh, trừ năm 2014 chiếm khoảng trên 47%) nên tính chủ động chưa cao trong công tác quản lý đầu tư (QLĐT), nhất là trong hoàn cảnh nền kinh tế thị trường (KTTT) có nhiều thay đổi phức tạp, hội nhập sâu toàn cầu và ảnh hưởng bởi BĐKH hay sức ép từ khi có Luật ĐTC ra đời,…(Lê Văn Tuấn và Từ Quang Phương, 2014; UBND tỉnh Đồng Tháp, 2017) Ngoài ra, do tỉnh có vị trí địa lý nằm ở thượng nguồn thuộc phía tây của vùng ĐBSCL, không tiếp giáp với biển nên ảnh hưởng từ các yếu tố của BĐKH (hạn hán, khô kiệt; mưa bão, lũ lụt; nhiệt độ tăng; nước biển dâng và xâm nhập măn) sẽ khác với các ĐP ở phía hạ nguồn của vùng Từ đặc điểm phân hóa này, dẫn đến các vấn đề về ĐTC và QLĐTC trong điều kiện BĐKH ở các tỉnh cũng sẽ có những đặc trưng riêng Do vậy, công tác QLĐTC trong điều kiện BĐKH ở tỉnh Đồng Tháp đã đảm bảo cân đối, bền vững và có khoa học hay chưa thì còn yêu cầu cần phải nghiên cứu

Trang 10

Hơn nữa, đã có một số công trình nghiên cứu về ĐTC, QLĐTC, QLĐTC cấp tỉnh như Anand Rajaram và cộng sự (2010), Era Babla – Norris và cộng sự (2011), Richard Allen và Daniel Tommasi (2001), Brumby (2008),Vũ Thành Tự Anh (2018),

Vũ Cương (2014), Trần Thanh Hải (2012), Mai Thị Thu (2014) nhưng nghiên cứu có tính hệ thống và sâu về QLĐTC cấp tỉnh, đặc biệt có tính đến BĐKH thì có vẽ như chưa có nghiên cứu nào, kể cả ở Đồng Tháp

Từ các căn cứ trên, vấn đề “Quản lý đầu tư công trong điều kiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Đồng Tháp” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

− Mục tiêu chung

Nghiên cứu tình hình QLĐTC trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2018, chỉ ra những bất cập và đề xuất các giải pháp tăng cường QLĐTC trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp và có giá trị tham khảo đối với các ĐP có điều kiện tương đồng tại vùng ĐBSCL

Đề xuất các điều kiện, các giải pháp khả thi nhằm tăng cường QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH có giá trị tham khảo về mặt lý luận và thực tiễn đối với tỉnh Đồng Tháp và các ĐP có điều kiện tương đồng tại vùng ĐBSCL

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH, mối quan hệ tương quan giữa BĐKH với QLĐTC cấp tỉnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

− Phạm vi nội dung nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu về ĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH và công tác QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH

− Phạm vi không gian nghiên cứu: tại tỉnh Đồng Tháp (trên lãnh thổ của Tỉnh)

Trang 11

− Phạm vi thời gian nghiên cứu:

Các số liệu thứ cấp của nghiên cứu từ các nguồn chính thống (Niên giám thống

kê, các báo cáo, kế hoạch…) nên bị giới hạn về khả năng phân tách và nguồn thu thập

Do vậy, Luận án tập trung nghiên cứu số liệu giai đoạn 2011 - 2018, định hướng đến năm 2025 và cập nhật theo tiến độ nghiên cứu nhằm phù hợp với số liệu được điều chỉnh theo mẫu mới của các đơn vị cung cấp số liệu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận án kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để nghiên cứu, phân tích và đánh giá QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH Các phương pháp nghiên cứu được dùng trong thu thập thông tin số liệu bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tại bàn, phỏng vấn sâu, quan sát trực tiếp và ghi nhận, phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn

Từ các thông tin, số liệu đã được thu thập, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích thông tin, số liệu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phân tích thống kê toán học với sự trợ giúp của phần mềm phân tích thống kê chuyên sâu SPSS được dùng trong phân tích, tính toán để đưa ra các kết quả nghiên cứu với ngân hàng dữ liệu

5 Những đóng góp mới của đề tài

5.1 Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

Thứ nhất, Trên cơ sở tổng hợp, bổ sung và phát triển một số cơ sở lý luận về QLĐTC, luận án đã xây dựng khái niệm và làm rõ những nội dung và đặc điểm của ĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH, nhất là gắn kết ĐTC cấp tỉnh với BĐKH

Thứ hai, Luận án đã lựa chọn, bổ sung và phát triển về phương pháp luận xác định các nhóm chỉ tiêu sử dụng để đánh giá QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH, gồm: Một là, Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả (KQHQ) ĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH; Hai là, Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả thực hiện các khâu của chu trình QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH (PMIA của Anand Rajaram và cộng sự, 2010), trong phân cấp quản lý và phối hợp quản lý

Thứ ba, Luận án bổ sung và làm rỏ thêm các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả QLĐTC cấp tỉnh, nhất là BĐKH thông qua đề xuất mô hình nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố của BĐKH (Hạn hán, khô kiệt; mưa bão, lũ lụt; nhiệt độ tăng; nước biển dâng và xâm nhập mặn) và QLĐTC cấp tỉnh

Trang 12

5.2 Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án

Từ kết quả phân tích, đánh giá thực trạng kết quả QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp, luận án có những phát hiện, đề xuất như sau:

Một là, Kết quả QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH vừa góp phần thúc đẩy TTKT, vừa cải thiện thu nhập bình quân đầu người và đẩy mạnh chuyển dịch CCKT tỉnh Ngoài ra, kết quả QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH còn giúp cải thiện MTĐT và góp phần cải thiện về mặt XH, thích ứng với môi trường chung trên địa bàn tỉnh

Hai là, Luận án chỉ ra rằng, tất cả các khâu của chu trình QLĐTC trong điều kiện BĐKH trên địa bàn tỉnh vẫn còn nhiều bất cập và cần phải tiếp tục được cải thiện, nhất là công tác đề xuất chủ trương, QHKH ĐTC và công tác quản lý vận hành CTDA ĐTC thích ứng với BĐKH

Ba là, Kết quả nghiên cứu và phân tích mô hình nghiên cứu cho thấy, kết quả QLĐTC cấp tỉnh bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhất là BĐKH Ở Đồng Tháp và các

ĐP tương đồng có vị trí địa lý nằm ở thượng nguồn thuộc phía tây của vùng ĐBSCL, không tiếp giáp với biển thì mối quan hệ tương quan giữa kết quả QLĐTC cấp tỉnh với các yếu tố của BĐKH là khá chặt, lần lượt là hạn hán, khô kiệt (cao nhất); tiếp theo là mưa bão, lũ lụt; nhiệt độ tăng; rồi đến nước biển dâng (thấp) và cuối cùng là xâm nhập mặn (rất thấp)

Bốn là, Trên cơ sở phát hiện đó luận án đề xuất các điều kiện, các giải pháp tăng cường QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH có giá trị tham khảo cho tỉnh Đồng Tháp và các ĐP có điều kiện tương đồng ở vùng ĐBSCL, nhất là các giải pháp đổi mới cách làm và nâng cao chất lượng công tác lập kế hoạch ĐTC trong điều kiện BĐKH và nâng cao chất lượng công tác KTGS, thanh tra đối với hoạt động ĐTC thích ứng với BĐKH, với cơ chế minh bạch, tăng cường giám sát cộng đồng và XH

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được cấu trúc bao gồm 04 Chương: Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH

Chương 3: Thực trạng QLĐTC trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011 - 2018

Chương 4: Giải pháp tăng cường QLĐTC trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp đến năm 2025

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến biến đổi khí hậu

và gắn kết đầu tư công với biến đổi khí hậu

Nghiên cứu của IPCC (2007) khái niệm rằng “Biến đổi khí hậu (climate change) là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đối về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn” Nghiên cứu IPCC (2007) cũng chỉ ra rằng “sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực nước biển dâng là hai biểu hiện chính của BĐKH”

Susmita Dasgupta và cộng sự (2007) với nghiên cứu “The Impact of Sea Level Rise on Developing Countries: A Comparative Analysis” đã đánh giá tác động của nước biển dâng (1m-5m) đến các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam trên các chỉ tiêu: GDP, dân số đất đai, các diện tích về nông nghiệp, đô thị và diện tích đất ngập nước Ở Khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nhất

từ nước biển dâng Trong đó, vùng ĐBSH và vùng ĐBSCL của Việt Nam là hai vùng chịu ảnh hưởng phần lớn Jeremy Carew-Reid (2008) trong nghiên cứu “Rapid Assessment of the Extent and Impact of Sea Level Rise in Viet Nam” đã phân tích và chỉ ra những tổn hại đối với KTXH và môi trường tại những nơi sẽ bị ngập ở Việt Nam trong kịch bản nước biển Đến cuối năm 2100, mực nước biển dâng 1m thì sẽ có khoảng 4,4% diện tích đất, 7,3% dân số, 4,3% diện tích đường, 36 khu bảo tồn thiên nhiên của 39/63 tỉnh/thành phố chịu ảnh hưởng Tại vùng ĐBSCL, sẽ có khoảng 12 tỉnh chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất với 85% diện tích ngập lụt, 90% người nghèo

bị ảnh hưởng và 90% diện tích đường bị ảnh hưởng

Tô Văn Trường (2008) với nghiên cứu “Tác động của BĐKH đến an ninh lương thực quốc gia”, nghiên cứu làm rõ ảnh hưởng của BĐKH đến tài nguyên nước, sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực Theo tác giả, các chính sách an ninh lương thực quốc gia và bài toán quy hoạch tam nông (nông nghiệp, nông thôn, nông dân) có vai trò rất quan trọng trong ứng phó BĐKH trong lĩnh vực nông nghiệp

Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2013) trong nghiên cứu “Tác động của BĐKH đến tăng trưởng và phát triển ở Việt Nam và một số gợi ý chính sách” thông

Trang 14

qua phân tích ảnh hưởng của BĐKH đến tăng trưởng và phát triển kinh tế (PTKT), một số ngành/lĩnh vực chủ chốt ở Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra rằng, BĐKH sẽ hủy hoại các nỗ lực phát triển KTXH của tất cả các quốc gia Yếu tố BĐKH ngày càng được các quốc gia chú trọng đưa vào trong hoạch định chính sách, cũng như lòng ghép chúng vào các chiến lược tăng trưởng và phát triển KTXH, giảm nghèo Việt Nam sẽ

bị ảnh hưởng nhiều từ BĐKH, sự suy giảm về TTKT cũng như đời sống người dân, đe dọa đến an ninh lượng thực quốc gia, Vì vậy, Việt Nam cần có những thay đổi mạnh

mẽ trong chính sách công ở các cấp CQĐP, tăng cường gắn kết BĐKH vào các chính sách, chiến lược, DA trên những lĩnh vực quan trọng như nông nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp, an sinh XH

Trong nghiên cứu của Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành (2013) về “BĐKH ở Việt Nam: Một số kết quả nghiên cứu, thách thức và cơ hội trong hội nhập quốc tế”, với các tập số liệu quan trắc từ hệ thống mạng lưới trạm khí tượng thủy văn của Việt Nam trong quá khứ và các mô hình khí hậu khu vực, nhóm tác giả đánh giá xu thế biến đổi trong tương lai của BĐKH Kết quả chỉ ra, sự BĐKH của Việt Nam không đứng ngoài xu thế chung của BĐKH toàn cầu Cụ thể, về nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng, lượng mưa ở miền Nam có xu hướng tăng, trong khi đó ở miền Bắc thì lại giảm Bên cạnh đó, cần loại bỏ hoặc giảm bớt sự chênh lệch các kết quả dự tính giữa các mô hình BĐKH Cần tiến hành đánh giá BĐKH cũng như mức độ tác động của BĐKH trước khi thực hiện xây dựng chiến lược, kế hoạch ứng phó Cuối cùng, cần nâng cao vai trò của các nhà khoa học Việt Nam trong hợp tác quốc tế về nghiên cứu BĐKH

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Trân (2010) về “ĐBSCL đối mặt với thách thức kép của BĐKH” cho rằng, ĐBSCL đối mặt với thách thức kép của BĐKH: (i) các ảnh hưởng từ phía các nguồn nước đến bị biến động; (ii) các ảnh hưởng của nước biển dâng Nghiên cứu chỉ ra có hai nguyên nhân làm cho thách thức từ nguồn đối với hạ lưu được nhân lên: bởi chính các DA điều tiết nguồn nước, chuyển lưu vực; thứ hai là các công trình đập thủy điện được xây dựng trong lưu vực Từ đó ảnh hưởng nhiều khó khăn đối với nhu cầu về nước của người dân cũng như nhu cầu PTKT trong thời gian tới Cuối cùng, tác động từ nguồn và từ biển tương tác lẫn nhau cùng diễn ra giữa sông, sóng và triều ngay trên vùng ĐBSCL Tương tự, Trần Hữu Hiệp (2015) về “Liên kết vùng trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam (Qua nghiên cứu trường hợp ĐBSCL)” cũng cho rằng, ĐBSCL đứng trước nhiều thách thức BĐKH, nước biển dâng và tác hại của việc xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính của các quốc gia đầu nguồn sông Mekong dẫn đến tình trạng dòng chảy, cũng như lưu lượng và chất lượng của nguồn nước của con sông bị thay đổi Ngoài ra, mùa lũ trong các năm gần đây cũng biến

Trang 15

động không theo qui luật, ở các đô thị thường xuyên bị ngập lụt với phạm vi rộng và thời gian kéo dài lâu hơn, các hiện tượng sạc lở đất, lốc xoáy xuất hiện với tần suất ngày càng nhiều…Lê Việt Phú (2016) với nghiên cứu “Môi trường Hạ vùng Mekong, PTBV và sinh kế bền vững tại Việt Nam” tổng quan cơ bản về BĐKH tại ĐBSCL bao gồm các biểu hiện như: nhiệt độ, lượng mưa, thời tiết; nước biển dâng; xâm ngập mặn; thay đổi dòng chảy và lũ; các hiện tượng thời tiết cực đoan; và các tác động cộng hưởng bên ngoài như xây dựng tại thượng nguồn, tác nhân con người (phát triển KTXH), các giao động thời tiết ngẫu nhiên

Lê Thu Hoa và cộng sự (2013) nghiên cứu về “Công tác tài chính cho hoạt động giảm nhẹ RRTT và thích ứng với BĐKH ở tỉnh Quảng Trị” chỉ ra rằng tỉnh Quảng Trị tuy đã nhận được các nguồn tài chính từ NSNN cũng như các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cho hoạt động liên quan đến giảm nhẹ RRTT và thích ứng với BĐKH nhưng tỉnh vẫn chứ có các công cụ và phương pháp hiệu quả nhằm thu hút nguồn tài chính phục vụ cho các hoạt động này, gián tiếp ảnh hưởng đến các mặt KTXH của ĐP Ngân sách còn phụ thuộc nghiều vào NSTW nên tỉnh chưa chủ động được trong việc xây dựng chương trình/ kế hoạch giảm nhẹ RRTT và thích ứng với BĐKH Đồng thời, việc phân bổ NS này còn nhiều bất cập, chưa hiện diện cụ thể trong các kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh, chưa gắn với hiệu quả của các chương trình/

DA này ở các ngành và địa bàn trong tỉnh Đánh giá thực trạng trên, nhóm tác giả để thúc đẩy huy động các nguồn VĐT cho hoạt động giảm nhẹ RRTT và thích ứng với BĐKH thì tỉnh Quảng Trị cần ưu tiên hơn các biện pháp như: Xây dựng, ban hành và công khai quản bá rộng rải các danh mục CTDA kêu gọi đầu tư đến năm 2020 nhằm tăng cường thu hút đầu tư; tăng cường huy động nguồn VĐT từ nhiều thành phần kinh

tế vào lĩnh vực xây dựng KCHT KTXH của tỉnh; tận dụng tối đa các nguồn vốn hỗ trợ

từ các Bộ, ngành TW, các nguồn vốn tài trợ ODA, NGO,…; Tích hợp BĐKH với CTDA trọng điểm của tỉnh/ các ngành (trồng rừng, xóa đói giảm nghèo,…);…

Nghiên cứu của Trần Thọ Đạt và Đinh Đức Trường (2019) về “Tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam và hàm ý về chính sách”, nhóm tác giả chỉ ra rằng BĐKH đang là một thách thức lớn đối với sự PTBV của Việt Nam, để chủ động ứng phó với BĐKH, ngoài nguồn kinh phí hỗ trợ từ NSNN, Việt Nam cần huy động thêm nguồn tài chính từ khu vực kinh tế tư nhân Nghiên cứu của nhóm tác giả phân tích thực trạng chính sách tài chính đối với với BĐKH ở Việt Nam, những thách thức về huy động nguồn tài chính mà Việt Nam đang gặp phải, từ đó đưa ra hàm ý chính sách để huy động hiệu quả nguồn tài chính cho BĐKH Trong đó, nguồn tài chính ứng phó với BĐKH ở Việt Nam được thực hiện từ các nguồn bao gồm: Một là, Chi tiêu công cho BĐKH, nhất là báo cáo đánh giá chi tiêu công và đầu tư cho BĐKH nhằm đưa ra bức

Trang 16

tranh về chi tiêu cho ứng phó với BĐKH để định hướng thực hiện các chính sách chi tiêu liên quan đến BĐKH (World Bank, UNDP và MPI 2015); Hai là, Chính sách tài khóa huy động nguồn tài chính cho BĐKH; Ba là, Tiếp nhận và sử dụng vốn quốc tế cho BĐKH; Bốn là, Chi tiêu khu vực tư nhân cho BĐKH Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả cho rằng, nguồn lực tài chính cho ứng phó với BĐKH phải huy động đồng thời nguồn lực trong nước và quốc tế Cụ thể, các nguồn lực tài chính có thể được huy động từ những nguồn sau: (i) KVNN; (ii) Khu vực kinh tế tư nhân, qua các định chế tài chính và thị trường tài chính; (iii) Nguồn vốn vay ưu đãi và viện trợ của nước ngoài

Trong thời gian qua, có nhiều khung lý thuyết về hướng dẫn lòng ghép/tích hợp BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH như: “Tích hợp vấn đề BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH” của Trần Thục và Cộng sự (2012) – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi Trường, cẩm nang “Phương pháp lòng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH của ĐP” của Lê Anh Tuấn (2011) – Trường Đại học Cần Thơ, “Ngân sách cho ứng phó với BĐKH ở Việt Nam: Đầu tư thông minh cho tương lai bèn vững” Bộ

Kế hoạch và đầu tư, UNDP và WB (2015),….Việc tích hợp/lòng ghép BĐKH vào kế hoạch phát triển KTXH hướng tới kết hợp các biện pháp thích ứng BĐKH và giảm nhẹ rủi ro thảm họa sẽ giúp nâng cao sức chống chịu của cộng đồng, đảm bảo sinh kế bền vững và ổn định XH Từ đó, giúp năng cao năng lực quản lý và sự tham gia của người dân Tuy nhiên, thực tế cho thấy các vấn đề trên là một vấn đề vẫn mới Đối với Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá trình thực hiện nên trong quá trình triển khai các nhà hoạch định chính sách gặp nhiều khó khăn

Trong nghiên cứu về “Báo cáo Nghiên cứu rà soát ĐTC cho BĐKH và TTX tại khu vực ĐBSCL (CPEIR Mekong 2018)” của Bộ KH&ĐT, UNDP và USAID (2018), nghiên cứu này khắc phục được một số hạn chế của CPEIR 2015, Báo cáo nhiên cứu rào soát ĐTC cho BĐKH và TTX được thực hiện đánh giá tại 13 tỉnh vùng ĐBSCL sử dụng Hướng dẫn phân loại ĐTC và chi tiêu công do Bộ KH&ĐT ban hành Các số liệu

sử dụng trong báo cáo được rà soát từ các Quyết định, Nghị quyết phê duyệt kế hoạch ĐTC trung hạn giai đoạn 2016-2020 của 13 tỉnh ĐBSCL; các quyết định giao vốn ĐTC trung hạn nguồn vốn NSNN; các báo cáo giải ngân hằng năm và các tài liệu về

kế hoạch hành động BĐKH, TTX…Báo cáo đã phân tích đánh giá là toát lên được thực trạng về bức tranh toàn cảnh ĐTC cho BĐKH và TTX ở 13 tỉnh vùng ĐBSCL với một số phát hiện như: tỷ lệ ĐTC cho BĐKH và TTX trong tổng NS đầu tư cho toàn vùng; mức tăng chi ĐTC cho BĐKH; các giá trị đầu tư cho BĐKH tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực thích ứng (95,3%), chỉ có 1,1% cho giảm nhẹ và 3.7% vốn cho cả

thích ứng và giảm nhẹ…

Trang 17

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về đầu tư công và đầu tư công cấp tỉnh

Benedict Clements và cộng sự (2003) với nghiên cứu “External Debt, Public Investment, and Growth in low - income counties”, nhóm tác giả đã nhận định tầm quan trọng ĐTC đối với PTKT và mối quan hệ giữa ĐTC, nợ nước ngoài và TTKT

Để đưa ra được các nhận định trên, nhóm nhiên cứu sử dụng các lý thuyết có liên quan, các mô hình tăng trưởng, mô hình ĐTC tiến hành định lượng và phân tích các tác động qua chứng minh thực tế ở các quốc gia có thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam Bên cạnh thể hiện vai trò kinh tế, ĐTC còn có vai trò XH Một trong những vai trò xã hội của ĐTC là giảm nghèo Edward Anderson và cộng sự (2006) với nghiên cứu “The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidences and Methods”, Nghiên cứu chứng minh tác động giảm nghèo của ĐTC thông qua chứng minh hiệu quả ĐTC trong tăng trưởng, sản xuất, trong các lĩnh vực như GTVT và truyền thông, thủy lợi, nghiên cứu và phát triển nông nghiệp… Phương pháp phân tích

“chi phí – lợi ích” vẫn là phương pháp lý tưởng để xác định những nhu cầu của hầu hết các loại ĐTC ở các quốc gia Tuy nhiên, phương pháp phân tích này có thể thực hiện không đầy đủ nếu bị hạn chế về tài nguyên và hạn chế về thông tin Ngoài ra, nghiên cứu cũng đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong lựa chọn chính sách xung quanh ĐTC giảm nghèo: (i) Cải thiện phương pháp đán giá ĐTC, (ii) Nâng cao hiểu biết về quá trình hoạch định chính sách

Nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia với các phương pháp nghiên cứu khác nhau cho các kết luận nghiên cứu cũng khác nhau, một số nghiên cứu từ các quốc gia đã và đang phát triển cho kết quả là ĐTC thực sự lấn át đầu tư tư nhân như các nghiên cứu của H Ahmed và S Miller (2000), S S Everhart và M A Sumlinski (2000) Ngược lại kết quả nghiên cứu trên, ĐTC lại có tác động hỗ trợ cho đầu tư tư nhân như các nghiên cứu của D Ghura và B Goodwin (2000) Đối với nghiên cứu của M D Ramirez (1998) ở Mexico và Ấn Độ chỉ ra rằng ĐTC lấn át đầu tư tư nhân, trong khi thì V Sundarajan và S Thakur (1980) nghiên cứu ở Ấn Độ và Hàn Quốc lại cho kết quả ngược lại

Trần Thanh Hải (2012) với nghiên cứu “ĐTC tại Long An giai đoạn 2020” cho rằng, ĐTC có tác động tích cực không những đến TTKT của tỉnh, mà còn

2009-cả trong lĩnh vực anh sinh XH, thu hút đầu tư Nghiên cứu chỉ ra một số khó khăn, thách thức trong công tác ĐTC của tỉnh bao gồm: (i) nhu cầu ĐTPT rất lớn, nhất là ĐTXD KCHT KTXH, trong khi đó nguồn vốn thì có hạn; (ii) trình độ QLĐT chưa theo kịp tốc độ phát triển của XH; (iii) vẫn còn hiện tượng thất thoát lãng phí trong ĐTC Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tham khảo ý kiến chuyên

Trang 18

gia và nghiên cứu tại bàn các văn bản pháp lý hiện hành về Luật NSNN, các quyết định và văn bản hướng dẫn thi hành Nghiên cứu chưa chú trọng đến việc sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ĐTC và chỉ dừng ở phân tích thực trạng ĐTC, chưa nghiên cứu sâu về công tác QLĐTC trên địa bàn tỉnh

Vũ Hữu Tài (2012) nghiên cứu về “ĐTC trên địa bàn TP Hà Nội giai đoạn 2006-2020”, các bất cập trong hoạt động ĐTC từ NSNN của TP Hà Nội được tập trung phân tích Thông qua một số DA điễn hình nghiên cứu của tác giả cũng đã làm

rõ được lãng phí trong đầu tư của Hà Nội Ngoài ra, các nội dung quản lý và cơ chế QLĐTC ở TP Hà Nội cũng được tác giả đầu tư phân tích và làm rõ Bằng các chỉ tiêu đánh giá KQHQ đạt được như: khối lượng VĐT thực hiện, TSCĐ tăng thêm, năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm, ĐTC góp phần TTKT, cải thiện MTĐT, cải thiện bộ mặt nông thôn,…và các chỉ tiêu HQĐT về mặt tài chính, tác giả cho thấy các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng VĐT của Hà Nội ngày một kém đi và tính hiệu quả kinh tế chưa cao, chưa bền vững do nhiều hạn chế và nguyên nhân Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp mô tả, thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp

Mai Thị Thu (2014) với nghiên cứu “Áp dụng mô hình phân tích tương quan đầu vào - đầu ra để đánh giá thực trạng, đề xuất phương hướng và giải pháp tái cấu trúc ĐTC của Hà Nội” với việc sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu kết hợp phương pháp điều tra khảo sát, cộng với các công cụ đánh giá thông qua mô hình cân đối liên ngành (Bảng I/O) và chuổi thời gian thì kết quả nghiên cứu đã chỉ ra ĐTC góp phần thúc đẩy TTKT Hà Nội, tạo động lực thu hút các nguồn VĐT khác trong nền kinh tế, thu nhập của người dân được nâng cao Tuy nhiên, ĐTC của Hà Nội vẫn còn bố trí dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa tập trung mang tính đột phá; quy hoạch đầu tư chưa bám sát mục tiêu, nhiệm vụ phát triển KTXH; công tác QLĐTC còn nhiều bất cập; công tác báo cáo về ĐTC không được tốt

Trong nghiên cứu của Phạm Minh Hóa (2017) với đề tài “Nâng cao hiệu quả ĐTC tại Việt Nam”, tác giả phân tích, đánh giá hiệu quả ĐTC ở Việt Nam trên khía cạnh kinh tế (mức độ tác động đến TTKT, hiệu quả sử dụng VĐT, thúc đẩy đầu tư tư nhân) và khía cạnh XH (mức độ tác động đến giảm nghèo) Trong đó, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để đo lường một số chỉ tiêu hiệu quả ĐTC như: hiệu quả ĐTC đối với thực hiện mục tiêu TTKT, GDP/người, thúc đẩy đầu tư tư nhân, hiệu quả sử dụng vốn ĐTC (ICOR) và mối quan hệ ĐTC với giảm nghèo Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hiệu quả ĐTC cần phải kết chặt chẽ với việc thực hiện mục tiêu PTBV, nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi XH; mức độ lan tỏa, hiệu quả ĐTC còn được đo lường thông qua việc thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển; kiểm soát và quản lý chặt chẽ chất lượng ĐTC; đồng bộ trong hoạch, QĐĐT với khả năng bố trí nguồn lực;…

Trang 19

Trong nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn NSNN cho ĐTPT cơ sở hạ tầng kinh tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa” của Hoàng Anh Tuấn (2000), tác giả đã làm rõ một số vấn đề thực tiễn về hoạt động ĐTPT CSHT kinh tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

và sử dụng nguồn VĐT từ NSNN đối với hoạt động ĐTPT CSHT kinh tế trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Phan Thanh Mão (2003) với nghiên cứu “Giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, đã hệ khái quát hóa các vấn đề lý luận về chi NSNN, ĐTXD cơ bản và hiệu quả VĐT XDCB trong nền KTTT Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả VĐT XDCB từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An Đặc biệt, các kiến nghị với các cấp về bổ sung sửa đổi chính sách chế độ, chế tài, quy trình nghiệp vụ cấp phát, cho vay vốn NSNN và bộ máy tổ chức quản lý tài chính đối với hoạt động XDCB bằng NSNN Nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả, nếu phương pháp kiểm định được sử dụng để chứng minh các nhân tố có tác động nhiều nhất đến HQĐT XDCB từ NSNN thì các giải pháp tài chính đưa ra sẽ thuyết phục hơn

Hoàng Văn Thành (2005) với nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư từ NSNN”, có bốn nhóm chính giải pháp để nâng cao HQĐT từ NSNN, nhất là các giải pháp về cơ chế, chính sách; tài chính; con người trong QLĐT

từ NSNN Tuy nhiên, các giải pháp của tác giả đề ra còn rất chung cho toàn bộ hoạt động quản lý DAĐT từ vốn NSNN và cũng như để nâng cao HQĐT của nó, chưa thể hiện được những giải pháp nào sẽ được áp dụng cho từng ĐP riêng biệt

Khác với Phan Thanh Mão (2003) chỉ dừng lại giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn tỉnh, Cấn Quang Tuấn (2009) bằng nghiên cứu “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB tập trung

từ NSNN do TP Hà Nội quản lý” đã nghiên cứu đầy đủ hơn các giải pháp giúp cho côn tác sử dụng VĐT đạt hiệu quả tốt hơn Do phạm vi nghiên cứu nên công trình chủ yếu đề cập tới khía cạnh quản lý và sử dụng vốn của hoạt động ĐTXD bằng NSNN, chưa đào sâu phân tích cụ thể các chỉ tiêu (định lượng) đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT và gần như không phân tích cụ thể các chỉ tiêu này ở phần thực trạng của nghiên cứu

Dựa trên các công trình nghiên cứu trước của Phan Thanh Mão (2003), Hoàng Văn Thành (2005), Nguyễn Khắc Thiện (2006), Cấn Quang Tuấn (2009), trong nghiên cứu “Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 – 2020” của Vũ Thúy Quỳnh (2012) đã tiếp tục làm rõ các vấn đề lý luận

Trang 20

cơ bản về ĐTXD cơ bản, phân tích tình hình ĐTXD cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2006 - 2020 và thông qua một số chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hiệu quả để đánh giá tỉnh hình sử dụng VĐT XDCB từ NSNN của Tỉnh Tuy nhiên, các chỉ tiêu đánh giá vẫn còn ít và rất chung chung, nghiên cứu chưa đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả VĐT XDCB từ NSNN mà phần cơ

sở lý luận đã có nêu Ngoài ra, công tác QLNN hoạt động ĐTXD cơ bản từ NSNN trên địa bàn tỉnh cũng chỉ được tác giả nêu lên một số công tác thực hiện nhưng vẫn còn ít

và chưa cụ thể thực tế tại ĐP

Nghiên cứu về “Đầu tư PTKT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2020” của Lê Văn Tuấn (2013), tác giả đã hệ thống hoá và góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ĐTPT trên cơ sở đó áp dụng vào phân tích thực tế tại tỉnh Đồng Tháp Trong đó, nghiên cứu tập trung khái quát nội dung ĐTPT kinh tế Tỉnh và làm rõ sự đóng góp của đầu tư KVNN trên địa bàn tỉnh vào công cuộc phát triển KTXH của ĐP thông qua các chỉ tiêu phản ánh kết quả (TSCĐ mới tăng thêm, năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm) và hiệu quả đầu tư (ICOR), mức tăng của giá trị sản xuất so với toàn bộ VĐT phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu, và một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả về mặt XH) Lê Văn Tuấn và Từ Quang Phương (2014) với nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả ĐTC trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư nói chung và ĐTC nói riêng tại tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn 2006 – 2014 Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả ĐTC tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới ĐTC góp phần thực hiện đạt được các mục tiêu phát triển KTXH của Tỉnh Thời gian qua, công tác xúc tiến đầu tư được tăng cường, phần nào thu hút được các nguồn VĐT trong và ngoài nước, tập trung ĐTPT KCHT, tạo động lực thúc đẩy phát triển KTXH của Tỉnh Tuy nhiên, hiệu quả ĐTC chưa cao, như cầu đầu tư cao so với VĐT còn hạn hẹp, thất thoát lãng phí vẫn còn diễn ra,…

2006-1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đầu tư công và quản lý đầu tư công cấp tỉnh

Angel de la Fuente (2004) với nghiên cứu “Second-best redistribution through public investment: a characterization, an empirical test and an application to the case

of Spain”, chính sách ĐTC được đánh giá tối ưu bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Phân tích trường hợp Tây Ban Nha, cho thấy rằng chính sách khu vực hiện nay đã vượt quá mức độ tối ưu của phân bổ lại của ĐTC Để tăng hiệu quả trong việc phân bổ khu vực đầu tư CSHT thì nên đầu tư nhiều hơn trong một số khu vực giàu có nhất và ít hơn đáng kể ở một số trong những người nghèo nhất Tác giả khuyến cáo rằng, những kết luận của nghiên cứu có được từ nghiên cứu thực nghiệm tại Tây Ban

Trang 21

Nha, và không thể ngoại suy trực tiếp toàn bộ sang các quốc gia của EU do có sự khác biệt về thể chế chính trị, cơ chế chính sách,…

Trong nghiên cứu của Wolfgang Streeck và Daniel Mertens (2011) về “Fiscal Austerity and Public Investment: Is the Possible the Enemy of the Necessary?” cho rằng, các nghiên cứu hiện nay đa phần xem trọng năng lực của các Chính phủ trong trường hợp tài chính bị thắt chặt với mục đích di chuyển những nguồn lực tài chính trong phần thu hẹp chi tiêu tùy ý từ cũ sang các mục đích mới, và do đó tài trợ cho tương lai - định hướng đầu tư nhằm làm cho XH công bằng hơn và hiệu quả Vì vậy,

xu hướng ĐTC vào phần mềm được phát triển, trong đó bao gồm đầu tư cho giáo dục, R&D, hỗ trợ gia đình, và chính sách thị trường lao động chủ động Để làm rỏ quan hệ giữa ĐTC và ĐTC vào phần mềm, công trình đã thực hiện với việc đánh giá tình hình ĐTC giai đoạn 1981 - 2007 của các quốc gia Thụy Điển, Mỹ và Đức Kết quả chỉ ra, trong điều kiện bị áp lực tăng củng cố tài chính thì đòi hỏi Chính phủ phải có khả năng chuyển các nguồn lực cho đầu tư một cách cân đối sao cho đạt hiệu quả cao, giảm thâm hụt NS và nợ công

Trong nghiên cứu của M Emranul Haque và Kneller (2008) với nghiên cứu

“Public investment and growth: the role of corruption” cho rằng hiệu quả ĐTC chịu sự ảnh hưởng của thể chế là rất lớn Nghiên cứu chỉ rằng, việc sử dụng nguồn VĐT XDCB và lựa chọn DA ĐTPT chịu ảnh hường các vấn đề như thái độ thất thường, tình trạng quan liêu và tham nhũng Kết quả làm cho tổng VĐT bị bóp méo dẫn đến kém hiệu quả, lãng phí, hoặc tham nhũng…điều này cũng được minh chứng trong nghiên cứu của Era Babla - Norris và cộng sự (2011)

Cùng nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng thể chế đến mức độ, sự biến động

và chất lượng đầu ĐTC, trong nghiên cứu về “Institutions and public investment: an empirical analysis” của Francesco Grigoli và Zachary Mills (2013) cho thấy mối quan

hệ nghịch đảo giữa các mức ĐTC và chất lượng thể chế, chất lượng quản trị thấp hơn làm tăng sự biến động của ĐTC Ở một số quốc gia, các nhóm có lợi ích khác nhau coi ĐTC như công cụ để tìm kiếm lợi ích của họ Đây thách thức rất lớn trong quá trình cải cách hệ thống QLĐTC của các quốc gia, nhất là Việt Nam Hiệu quả và hiệu lực QLĐTC chịu nhiều ảnh hưởng bởi sự phân chia quyền lực giữa cơ quan hành pháp và

cơ quan lập pháp Việc hệ thống thể chế quy định rõ vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia vào hoạt động của các DA ĐTC sẽ góp phần tăng hiệu quả của các hoạt động ĐTC

Nghiên cứu “Public Investment Management in the EU” của Thomas Laursen

và Bernard Myers (2008) nhận đình rằng, việc lập kế hoạch hiệu quả và quản lý CSHT

Trang 22

công cộng là một trong những khó khăn lớn đối với các nước thành viên EU Trên cơ

sở khảo sát bảy quốc gia thành viên EU, đặc biệt ở Anh và Ailen Trong thời gian qua, các nước dẫn đầu về nợ công trên thế giới lại đều thuộc khối EU Mặc dù có sự khác biệt trong truyền thống hành chính và chính trị, những kinh nghiệm của Ailen và Anh

có thể có ích cho các quốc gia khác ở châu Âu như: (i) chiến lược ĐTC phải được gắn chặt chẽ với NS; (ii) VĐT DA cần được cam kết tài trợ nhiều năm bao gồm cả thời gian thực hiện DA hoặc các giai đoạn của chu kỳ DA; (iii) Cần đánh giá chi phí – lơi ích của DA; (iv) Đánh giá DA và bài học đút kết; (v) kiểm toán và báo cáo hiệu quả nhằm tăng cường tính minh bạch và thông tin phản hồi; (vi) Tăng cường kỹ năng lập

và QLDA

Trong những nỗ lực đầu tiên để khái niệm hóa một hệ thống QLĐTC, Anand Rajaram và cộng sự (2010) với nghiên cứu “A Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management”, Khung làm rõ một số tính năng phải có và rất cần thiết để đạt được ĐTC hiệu quả: (i) Định hướng đầu tư, phát triển DA và lựa chọn sơ bộ; (ii) Đánh giá tiền khả thi và đánh giá khả thi DA; (iii) Đánh giá độc lập đối với thẩm định DA; (iv) lựa chọn và lập NS của DA; (v) thực hiện DA; (vi) điều chỉnh DA; (vii) vận hành DA; (viii) đánh giá và kiểm toán sau khi hoàn thành DA Các tác giả cũng phát triển một khuôn khổ chẩn đoán để đánh giá các giai đoạn chính của chu trình QLĐTC Việc xác định các điểm yếu cốt lõi sẽ cho phép cải cách để tập trung nguồn lực quản lý và kỹ thuật khan hiếm Ngoài ra, khung được thiết kế để thúc đẩy các chính phủ để thực hiện định kỳ tự đánh giá của các hệ thống ĐTC và cải cách thiết

kế để năng suất của ĐTC được nâng dần Việc sử dụng các chỉ số của khung chẩn đoán này vào các quốc gia cụ thể cần phải gắn kết QLĐTC với tổng thể hệ thống thể chế, chính sách QLKTcủa quốc gia đó

Era Babla - Norris và cộng sự (2011) với nghiên cứu “Investing in Public Investment: An Index of Public Investment Efficiency” đã xây dựng dựa trên khung chẩn đoán đánh giá của WB (Anand Rajaram và cộng sự, 2010), qua đó tiếp tục giới thiệu một khung QLĐTC nhằm mục đích đánh giá quá trình QLĐTC Chỉ số tìm cách đánh giá chất lượng và hiệu quả của quá trình đầu tư trải qua 4 bước: thẩm định DA, lựa chọn, thực hiện và đánh giá được nghiên cứu tại 71 quốc gia phát triển và quốc gia đang nổi, trong đó có 41 quốc gia có thu nhập thấp Đánh giá chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cập nên không đánh giá toàn diện hết các bên có liên quan đến QLĐTC Các chỉ số

có thể dùng ở cấp độ các quốc gia có chính sách ĐTC tương đồng, nhất vấn đề cải cách trong ĐTC Ở cấp độ ĐP chỉ chỉ sử dụng được một số nội dung của chỉ số cho phù hợp

Trang 23

Với nghiên cứu “Hiệu quả QLĐTC tại Thành phố Hồ Chí Minh: vấn đề và giải pháp” của Nguyễn Hoàng Anh (2008), với phương pháp nghiên cứu mô tả, phân tích, tổng hợp, và phối hợp lấy kiến chuyên gia, tác giả về cơ bản khái quát được thực trạng ĐTC và QLĐTC trên địa bàn Thành phố giai đoạn 2001 – 2007 Tác giả đã đánh giá được hiệu quả QLĐTC thông qua đánh giá kết quả TTKT của Thành phố so với chi phí đầu tư bỏ bằng các chỉ tiêu vĩ mô như: Hệ số ICOR của Thành Phố so với cả nước,

tỷ lệ GDP/đầu tư của Thành phố so với cả nước, các nguyên nhân của một số DA có hiệu quả thấp Tuy nhiên, nghiên cứu cần đầu tư nhiều hơn trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả ĐTC, làm rõ hơn công tác QLĐT tại Thành phố Cần dùng nhiều hơn nữa chỉ tiêu đánh giá KQHQ đầu tư, chứ không chỉ dừng lại chỉ số ICOR và GDP/đầu tư

Nghiên cứu về “Đổi mới quản trị công ở Việt Nam nhìn từ mô hình bảng điểm cân bằng” của Sử Đình Thành (2010) cho rằng, quản lý khu vực công ở Việt Nam bộc

lộ nhiều hạn chế, chưa có sự gắn kết giữa phương thức quản lý với phân bổ nguồn lực, trách nhiệm người quản lý, đội ngũ công chức với kết quả thực hiện Vấn đề đặt ra, cần đổi mới quản ý khu vực công nhằm cải thiện phân bổ nguồn lực; giúp hàng hóa công được cưng ứng đầy đủ, đáp ứng yêu cầu phát triển của XH trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế Để hướng đến xây dựng một khuông khổ quản trị công mới, tác giả đề xuất việc sử dụng mô hình Bảng điểm cân bằng, đặc biệt phiên bản thế hệ thứ 3 được Liên Hiệp Quốc đưa ra vào năm 2002 với tên gọi Quản lý dựạ vào kết quả (Results Based Management) bao gồm 4 yếu tố chính: (i) Định nghĩa mục tiêu chiến lược để tập trung hành động; (ii) Chi tiết hóa kết quả mong đợi mà nó đóng góp đến mục tiêu, qua đó thiết lập quy trình nội bộ và sử dụng nguồn lực; (iii) Giám sát và đo lường thực hiện; (iv) Cải thiện trách nhiệm và minh bạch trên cơ sở các thông tin phản hồi để cải thiện thực hiện Thông qua phân tích quản trị công cổ điển và quản trị công mới, ứng dụng và phát triển bảng điểm cân bằng trong quản trị công sẽ khắc phục các hàng rào trong quá trình thực hiện chiến lược: (i) Vượt qua hàng rào chắn về tầm nhìn thông qua truyền tải chiến lược; (ii) vượt qua rào chắn con người; (iii) vượt qua hàng rào chắn về tài chính; (iv) vượt qua hàng rào chắn về quản lý Từ đó, đổi mới quản trị

kỳ vọng hướng đến đạt được các giá trị cơ bản như: khu vực công gọn nhẹ; hiệu lực và phục vụ tốt hơn Tuy nhiên, khi ứng dụng bảng điểm cân bằng vào đo lường thực hiện

và kết quả cần chú ý các khác biệt về hoạt động giữa tổ chức công và khu vực tư

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Minh (2011) về “QLĐTC trên địa bàn tỉnh

Bình Định”, tác giả mô tả tình hình thực hiện và QLĐT trên địa bàn Bình Định, các chỉ tiêu định lượng để đánh KQHQ đầu tư chưa được được tập trung nghiên cứu

Trang 24

nhưng về cơ bản tác giả cũng đã góp phần hệ thống hóa lý luận công tác QLĐTC cũng như làm sáng tỏ bức tranh ĐTC của Bình Định trong tiến trình CNH - HĐH Các giải pháp hoàn thiện công tác QLĐTC trên địa bàn tỉnh được đề xuất, từ đó giúp cho lãnh đạo của ĐP có những chính sách QLĐT phù hợp nhằm thúc đẩy tốc độ TTKT của tỉnh cao và ổn định trong dài hạn

Đặng Quỳnh Anh (2012) với nghiên cứu cứu “Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động ĐTC bằng nguồn vốn NSĐP tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn

2008 - 2020”, Nghiên cứu đã hệ thống hóa được vấn đề lý luận liên quan đến ĐTC, đầu tư bằng nguồn NSĐP và QLĐTC, nội dung QLNN về hoạt động ĐTC Phân tích thực trạng QLĐTC bằng nguồn NSĐP tại thị xã Sông Công giai đoạn 2008-2011, đề xuất các giải pháp tăng cường công tác QLĐT bằng NSĐP tại thị xã Sông Công giai đoạn 2012 - 2020 Theo tác giả, một số tiêu chí để đánh giá kết quả QLĐTC bằng nguồn NSĐP bao gồm: (i) đảm bảo mục tiêu PTKT của ĐP; (ii) những thay đổi về chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư; (iii) các công trình xây dựng được đảm bảo về chất lượng, tuổi thọ Ngoài ra, QLĐT bằng nguồn vốn NSĐP chịu sự tác động bởi nhiều nhân tố như: năng lực QLNN; kinh phí; thủ tục hành chính và các quy định của pháp luật; bối cảnh KTXH, chính trị và các yếu tố môi trường tự nhiên; công luận và thái độ của các nhóm có liên quan Nhìn chung, Tác giả chủ yếu phân tích QLĐT XDCB bằng NSĐP tại thị xã Sông Công Phương pháp phân tích chủ yếu phân tích thống kê, mô tả ở mức độ rất chung chung, chưa đi sâu phân tích đánh giá KQHQ của hoạt động đầu tư bằng các chỉ số tài chính

Vũ Thành Tự Anh (2018) với nghiên cứu “Quản lý và phân cấp QLĐTC: Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” tác giả sử dụng khung chẩn đoán đánh giá QLĐTC (Anand Rajaram và cộng sự, 2010) để so sánh với thực trạng QLĐTC tại Việt Nam Khung chẩn đoán này đã nêu ra tính chất bắt buộc phải có theo từng bước của chu trình QLĐTC hiệu quả, bao gồm: (i) định hướng đầu tư, phát triển DA và lựa chọn

sơ bộ; (ii) thẩm định DA chính thức; (iii) đánh giá độc lập với thẩm định DA; (iv) lựa chọn và lập NS DA; (v) triển khai DA; (vi) điều chỉnh DA; (vii) vận hành DA; (viii) đánh giá và kiểm toán sau khi kết thúc DA Tuy nhiên, trong nghiên cứu của tác giả chỉ sử dụng hệ thống văn bản pháp lý hiện hành như một trong nhiều căn cứ để xem xét thực trạng QLĐTC tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số hạn chế của chính sách phân cấp ĐTC như: phân cấp đồng loạt và đại trà, không đồng bộ, cơ chế phối hợp giữa các ĐP còn yếu, cơ chế giám sát ĐTC còn thiếu và yếu Theo tác giả, QLĐTC ở Việt Nam cần thay đổi phương thức làm quy hoạch, thẩm định DA và kiểm tra thẩm định DA độc lập, lựa chọn DA phải đi đôi với lập DAĐT, triển khai DA có

Trang 25

hiệu quả, đẩy mạnh tính kỷ luật đối với việc điều chỉnh DA, coi quản lý vận hành DA như một khâu quan trọng trong quy trình QLĐTC, cần kiểm soát và đánh giá sau khi

DA kết thúc, gắn kết QLĐTC với tổng thể hệ thống thể chế, chính sách QLKT

Phạm Văn Hùng và Cộng sự (2012) với nghiên cứu “Đổi mới công tác QLĐT nhằm thực hiện tái cấu trúc ĐTC tại Việt Nam” đã cho rằng tái ĐTC là một trong ba lĩnh vực trọng tâm của tái cấu trúc nền kinh tế Để tái cấu trúc ĐTC đáp ứng yêu cầu của thời đại cần phải cải thiện một bước công tác QLĐT nói chung và ĐTC nói riêng Theo nhóm nghiên cứu, các giải pháp cần được tập trung thực hiện bao gồm: tái cấu trúc đầu tư và thực hiện ĐTC phải được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc hiệu quả, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các tiêu chí phân bổ vốn ĐTPT bằng nguồn vốn NSNN, hoàn thiện khung pháp lý về phân công, phân cấp và hệ thống phân bổ NSNN, đổi mới công tác QLĐT của DNNN, đổi mới cơ chế quản lý tín dụng đầu tư nhà nước, thực hiện đổi mới phương thức QLĐTC, nhất là nguyên tắc công khai minh bạch và giám sát độc lập

Để chỉ ra những bất cập trong khuông khổ pháp lý về QLĐTC của Việt Nam, đặc biệt là theo tinh thần của Luật ĐTC được Quốc hội ban hành năm 2014, Vũ Cương (2014) với nghiên cứu “Tăng cường hiệu lực của hệ thống QLĐTC theo tinh thần Luật ĐTC tại Việt Nam” đã sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích tại chổ các văn bản pháp lý hiện hành liên quan đến QLĐTC của Việt Nam, kết hợp với phương pháp phỏng vấn một số chuyên viên trực tiếp tham gia vào quá trình QLĐTC ở các tỉnh và

bộ ngành TW với khung chuẩn đoán đánh giá QLĐTC (Anand Rajaram và cộng sự,

2010 trích bởi Vũ Thành Tự Anh, 2018) được tác giả rút gọn lại thành 3 khâu lớn bao gồm CBĐT, triển khai thực hiện và cuối cùng là hoàn thành, bàn giao, đánh giá ĐTC Những hạn chế chính được tác giả chỉ ra bao gồm: về khuôn khổ thể chế chưa thông thoáng; năng lực thể chế còn thấp, chưa rỏ ràng trong trách nhiệm giải trình; trong bản

kế hoạch chưa chú trọng kế hoạch hành động trung hạn và khung kết quả; còn yếu trong thẩm định DAĐT, kể cả lựa chọn DA; thiếu khách quan trong công tác đánh giá

DA ĐTC

Để nhấn mạnh tầm quan trọng quản lý chi NSNN trong ĐTXD cơ bản, Theo Trịnh Thị Thúy Hồng (2012) nghiên cứu về “Quản lý chi NSNN trong ĐTXD cơ bản trên địa bàn tỉnh Bình định”, nội dung quản lý chi NSNN trong ĐTXD cơ bản được tiếp cận theo quy trình NS để nghiên cứu Tác giả đề xuất nên áp dụng các xây dựng

dự toán NS theo kết quả đầu ra do có nhiều tính ưu việt so với các phương pháp khác Tác giả kết hợp các chỉ tiêu truyền thống đánh giá KQHQ chi NSNN trong ĐTXD cơ bản, kết hợp điều tra khảo sát quy trình quản lý chi NSNN trong ĐTXD cơ bản Tuy

Trang 26

nhiên, nhiên cứu chỉ giới hạn phân tích ở nội dung quản lý chi NSNN trong ĐTXD cơ bản

Nguyễn Thị Thanh (2016), với nghiên cứu “Hoàn thiện phân cấp QLĐT XDCB

sử dụng nguồn vốn NS của TP Hà Nội đến năm 2020”, nghiên cứu chỉ ra được hiệu quả của việc sử dụng vốn phân cấp trong ĐTXD cơ bản của ĐP ở các cấp trên địa bàn

TP Theo tác giả, khung phân cấp quản lý NSNN, cộng với thể chế pháp lý, các văn bản quy phạm pháp luật về phân cấp đầu tư thực sự ảnh hưởng nhiều đến các QĐĐT,

dự toán thu chi và phân bổ NSNN, thông qua đó đã tác động rất lớn đến công tác QLĐT XDCB sử dụng vốn NSNN

Nghiên cứu “Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá chi tiêu công dựa trên kết quả ở Việt Nam” của Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2012) cho rằng hệ thống M&E (Monitoring & Evaluation: M&E) chi tiêu công của Việt Nam đang tồn tại nhiều khoảng trống nhất định Nghiên cứu đề xuất quá trình thiết lập hệ thống M&E dựa trên kết quả phải đi từ lựa chọn các chính sách để lấp các khoảng trống đó và tiếp đến xây dựng các nền tảng về thể chế và kỹ thuật để hiện thực hóa hệ thống M&E mới Mục tiêu xây dựng hệ thống M&E chi tiêu công dựa trên kết quả được nhấn mạnh trên các khía cạnh: (i) hỗ trợ ra quyết định chính sách tài chính công; (ii) phát triển và phân tích chính sách tài chính công, phát triển chương trình hay DA công; (iii) gia tăng tính minh bạch và trách nhiệm chi tiêu công Nghiên cứu thực hiện đánh giá các tài liệu sẵn

có đề cập đến các tranh luận về lý thuyết và thực tiễn quản lý NS, hệ thống M&E ở các nước phát triển và đang phát triển; tiếp theo, rà soát khung pháp lý của hệ thống M&E

ở Việt Nam, xem xét tới các vấn đề then chốt để phát hiện ra các khoảng trống Đồng thời, phỏng vấn sâu các chuyên gia làm việc trong các cơ quan dân cử, cơ quan giám sát;…

1.1.4 Khoảng trống nghiên cứu của đề tài luận án

“Quản lý đầu tư công” là khái niệm đã được nhiều học giả nghiên cứu như Anand Rajaram và cộng sự (2010), Era Babla – Norris và cộng sự (2011), Richard Allen và Daniel Tommasi (2001), Vũ Thành Tự Anh (2018), Vũ Cương (2014) Nhiều hướng nghiên cứu được các học giả đề cập đến như: làm rõ khái niệm về QLĐTC; các nội dung QLĐTC; mối quan hệ giữa QLĐTC với hiệu quả ĐTC; đánh giá QLĐTC;…các nghiên cứu thường tiếp cận trên một khía cạnh cụ thể như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng cường công tác huy động vốn hoặc riêng cho một ngành, quốc gia, một lĩnh vực cụ thể Một số ít nghiên cứu một cách tổng thể các bước của chu trình quản lý CTDA ĐTC Một số khác được thực hiện trong từng thời điểm và

Trang 27

trong các bối cảnh khác nhau như: một số nghiên cứu có thời gian nghiên cứu đã quá lâu so với hiện tại có nhiều thay đổi về tình hình đầu tư; nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, dường như trong từng ngữ cảnh khác nhau thì có sự khác nhau

và chưa có sự thống nhất về kết quả của các nghiên cứu Ngoài ra, các nghiên cứu về QLĐTC, cũng như QLĐTC cấp tỉnh tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chủ yếu mang tính chất thống kê mô tả Một số nghiên cứu thiên về hệ thống lý luận và đưa các suy luận, đánh giá từ chủ quan và kinh nghiệm (Nguyễn Hoàng Anh, 2008; Nguyễn Thanh Minh, 2011; Trần Thanh Hải, 2012); một số nghiên cứu khác thì chỉ dừng lại ở mức độ thống kê mô tả là chính; Một vài nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá hệ thống văn bản pháp lý hiện hành (Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh, 2012; Phạm Văn Hùng và Cộng sự, 2012; Vũ Cương, 2014; Vũ Thành Tự Anh, 2018) Một số ít nghiên cứu định lượng nhưng ở phạm vi cấp thành phố trực thuộc TW hoặc đối với cấp ĐP thì lại theo hướng nghiên cứu ở một khía cạnh (Mai Thị Thu, 2014; Sử Đình Thành, 2010; Trịnh Thị Thúy Hồng, 2012) Có thể cho rằng, QLĐTC tại Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu nhiều và QLĐTC cấp tỉnh (thành phố) thì dường như ít ai nghiên cứu, hay nghiên cứu một cách sâu và đánh giá đầy đủ, đặc biệt trong điều kiện áp lực của BĐKH

Trong nghiên cứu của Brumby (2008) về QLĐTC ở một số nước, Việt Nam là một trong số đó Thông qua so sánh hiệu quả và hiệu lực của QLĐTC giữa các quốc gia với nhau, nghiên cứu chỉ ra chất lượng của các bước trong chu trình QLĐTC của Viêt Nam đạt mức thấp Trong 8 khâu của quy trình (từ định hướng, phát triển DA, sàn lọc bước đầu cho đến thẩm định DA chính thức, đánh giá độc lập đối với thẩm định, lựa chọn và lập NS….) thì có đến 5 khâu có mức đánh giá yếu và kém Vì vậy, muốn tăng cường hiệu quả của QLĐTC trong nổ lực tái cơ cấu ĐTC thì những yếu kém đã chỉ ra ở các khâu quản lý trên cần được ưu tiên khắc phục Vũ Cương (2014) cũng cho rằng, từ khi có Luật ĐTC ra đời thì các hệ thống các văn bản dưới luật về ĐTC được xây dựng trong thời gian trước bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp Yêu cầu cải thiện ở tất cả các bước của chu trình QLĐTC là hết sức cần thiết Cải thiện hệ thống QLĐTC là một công việc lâu dài, gắn chặt với quá trình cải cách thể chế và tái cơ cấu ĐTC ở nước ta Vì vậy, công tác QLĐTC nói riêng và QLĐT nói chung cần phải được tăng cường cải thiện mới có thể thực hiện tốt yêu cầu đề ra Đặc biệt trong trường hợp Luật ĐTC đã được ban hành

Mặt khác, thuật ngữ “BĐKH” và sự nóng lên của toàn cầu không còn xa lạ và chứa đựng nhiều nguy cơ sự tiềm ẩn do hậu quả tác động của nó, trong nhiều nghiên cứu tiếp cận giải thích những tác động của BĐKH đến điều kiện tự nhiên, KTXH và môi trường (IPCC, 2007; Lê Anh Tuấn và Nguyễn Văn Bé, 2008; Nguyễn Ngọc Trân,

Trang 28

2010; Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành, 2013; Susmita Dasgupta và cộng sự, 2007;

Tô Văn Trường, 2008; Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2013) Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng nhất bởi BĐKH và nước biển dâng (Susmita Dasgupta và cộng sự, 2007) nhưng khái niệm về BĐKH và những tác động tiềm tàng cũng như nhu cầu thích ứng BĐKH vẫn chưa được nghiên cứu sâu và hiểu đúng Vì vậy, việc tích hợp BĐKH vào trong lập kế hoạch phát triển KTXH quốc gia, vùng, ĐP

là vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu (Bộ Kế hoạch và đầu tư và UNDP & World Bank Group, 2015; Bộ Tài Nguyên và Môi tường, 2008)

Đồng Tháp là ĐP duy nhất có 2 nhánh sông chính của sông Mekong (Sông Tiền

và sông Hậu) chảy qua trung tâm của vùng ĐBSCL, cung cấp phù sa và cũng như nguồn nước ngọt dồi dào phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản Bên canh đó, thủy sản và lúa (vựa lúa lớn thứ 3 của Việt Nam) là hai thế mạnh của Tỉnh (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2011) Ngoài ra, do có đặc điểm về vị trí gần thượng lưu sông Tiền với các tuyến giao thông đường thủy và đường bộ từ biên giới Việt Nam – Campuchia

ra biển, tạo điều kiện thuận lợi về kinh tế đối ngoại hướng ra các nước Đông Nam Á

và là cửa ngỏ của vùng Tứ giác Long Xuyên hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (UBND tỉnh Đồng Tháp, 2014) Do vậy, Đồng Tháp có nhiều thuận lợi cho việc ĐTPT sản xuất nông nghiệp Ngoài việc được cung cấp nguồn nước ngọt, bồi đắp phù

sa Đồng tháp còn có tuyến hệ thống giao thông thủy quốc tế quan trọng nối cảng Đồng Tháp với Campuchia và biển Đông, cảng Cần Thơ và TP Hồ Chí Minh Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh PTKT theo hướng xuất khẩu

Trong những năm qua, tuy hoạt động đầu tư nói chung và ĐTC trên địa bàn tỉnh

đã đạt được nhiều kết quả đáng kể Lượng vốn ĐTC gia tăng hàng năm và phân bổ vào các ngành nghề đã giúp cho CCKT của tỉnh có sự chuyển dịch theo hướng tích cực góp phần làm cho tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng dần Mức TTKT của tỉnh trong thời gian qua vẫn duy trì được khả năng tăng trưởng khá nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế như lượng vốn ĐTC còn thiếu so với như cầu ĐTC ở ĐP, việc phân bổ đầu tư vào các ngành, lĩnh vực chưa thật sự trọng tâm, trọng điểm nên chuyển dịch cơ cấu đầu tư còn chậm, riêng về cơ cấu nguồn vốn còn phụ thuộc nhiều NSNN (trên 65% tổng vốn ĐTC trên địa bàn tỉnh, trừ năm 2014 khoảng trên 47%) nên tính chủ động chưa cao trong công tác QLĐT, nhất là trong hoàn cảnh nền KTTT có nhiều thay đổi phức tạp, hội nhập toàn cầu và BĐKH hay sức

ép từ khi có Luật ĐTC ra đời,…(Lê Văn Tuấn và Từ Quang Phương, 2014; UBND tỉnh Đồng Tháp, 2017)

Bên cạnh đó, ĐBSCL là một trong 3 vùng đồng bằng trên Thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi BĐKH Tỉnh Đồng Tháp có vị trí nằm ở biên giới phía Tây của

Trang 29

Vùng nên phần chịu tác động của triều cường, mặn xâm nhập và nước biển dâng sẽ ít hơn các tỉnh ven biển Hiện tại Đồng Tháp là tỉnh duy nhất trong 13 tỉnh ĐBSCL chưa

bị nhiễm mặn do nước biển dâng Tuy nhiên trong tương lai, Đồng Tháp sẽ phải chịu chung cảnh ngộ với các tỉnh trong khu vực Nếu mực nước biển dâng 100 cm, khoảng 4,64% diện tích của tỉnh Đồng Tháp có nguy cơ bị ngập (tương đương 15.576,7 ha/337.860 ha) (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2016) Hơn nữa, trước tác động của việc khai thác nước ở các quốc gia thượng nguồn bởi các DA đập thủy điện hình thành nên mối đe dọa kép đối với mực nước, dòng chảy của hạ lưu sông Mekong Trong những năm vừa qua BĐKH, chính những đợt hạn kéo dài cộng với tổng lượng mưa giảm, cùng với việc các đập thủy điện tích trữ nước và sự gia tăng việc dẫn nước nhập điền của các quốc gia thượng lưu sông Mekong đã làm suy giảm mực nước trên sông Mekong, dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản…trên địa bàn tỉnh (Lê Minh Hùng, 2016)

Trước tác động của BĐKH, tỉnh Đồng Tháp đã bước đầu chủ động ứng phó, thích nghi; tập trung nguồn lực để phục vụ cho phát triển KTXH bền vững Trong đó, huy động các nguồn lực triển khai các đề án, DA về ứng phó với BĐKH Đồng Tháp luôn vượt qua những rào cản về địa lý, gạt bỏ tự ti của một tỉnh lẻ xa xôi: là tỉnh không thuộc vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ, không thuộc vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL,

là tỉnh không nằm trong trục giao thông chính quốc lộ 1A từ TP Hồ Chí Minh đi Cà Mau (Đàm Văn Nhuệ và cộng sự, 2015; UBND tỉnh Đồng Tháp, 2014), để tiếp tục là điểm sáng của ĐBSCL và cả nước về MTĐT, đặc biệt trong hoàn cảnh chịu nhiều tác động bởi BĐKH

Tóm lại, từ tổng quan nghiên cứu cho thấy, các nghiên cứu đã ít nhiều trang bị

về cơ bản cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐTC và QLĐTC, qua đó ít nhiều đóng góp cho các nhà quản lý trong việc tăng cường công tác QLĐTC Với những nghiên cứu tại từng thời điểm hoàn cảnh khác nhau, việc vận dụng để đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp cho QLĐTC ở Việt Nam hoặc ở từng ĐP tại Việt Nam thì cần phải áp dụng

một cách hợp lý với những điều kiện nhất định

Nhìn chung, số ít nghiên cứu sâu về ĐTC cấp tỉnh và nếu có thì chủ yếu mang tính khái quát rất chung chung, chưa mang tính cụ thể cho một tỉnh (ĐP) hay vùng kinh tế nào đó trên góc độ đầy đủ của ĐTC, nhất là theo tinh thần của Luật ĐTC năm

2014, cập nhật theo Luật ĐTC năm 2019 Khi nghiên cứu điển hình ở một ĐP (tỉnh) thì các nghiên cứu thường tiếp cận trên một khía cạnh cụ thể nào đó như ĐTPT từ NSNN nói chung, ĐTXD cơ bản từ NSNN, nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT, tăng cường công tác huy động VĐT hoặc riêng cho một ngành, một lĩnh vực cụ thể, thẩm định, đánh giá và lựa chọn DAĐT của các DNNN , Bên cạnh đó, có những nghiên

Trang 30

cứu có thời gian nghiên cứu đã được thự chiện nghiên cứu có thể nói là đã quá lâu so với thời gian hiện tại đã có nhiều thay đổi về tình hình đầu tư – về các hệ thống văn bản Luật và dưới Luật

Một số nghiên cứu cũng ít và chưa đi sâu nghiên cứu đánh giá và chỉ ra được đâu là những khâu được xem là yếu kém nhất và đâu là khâu tốt nhất trong chu trình QLĐTC cấp tỉnh để từ đó có những cơ sở sát đáng cho việc tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này Hoặc nghiên cứu những đề xuất khả thi về các tiêu chí để áp dụng trong đánh giá hiệu quả ĐTC cấp tỉnh và tiêu chí đánh giá công tác QLĐTC cấp tỉnh, qua đó thiết lập một quy trình toàn diện hơn cho liên kết chính sách,

kế hoạch và NS trong QLĐTC trên địa bàn tỉnh

Một số nghiên cứu khác cũng chưa thể chứng minh cụ thể được mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến công tác QLĐT nói chung và cụ thể hơn về công tác

QLĐTC cấp tỉnh, nhân tố nào ảnh hưởng nhiều nhất, nhân tố nào ảnh hưởng ít nhất, và chưa lượng hóa được mức độ tác động của từng nhân tố đến công tác quản lý đối với ĐTC ở ĐP trong từng bối cảnh nghiên cứu Thông thường sẽ theo hướng lượng hóa liên hệ giữa ĐTC với đầu tư tư nhân, với TTKT, Ở Việt Nam và khu vực ĐBSCL nói chung mặc dù có một số nghiên cứu về QLĐTC nhưng các vấn đề gắn kết ĐTC với BĐKH nhằm đảm bảo đạt được KQHQ của phát triển KTXH, từ đó đặt ra các yêu cầu

gì đối với công tác QLĐTC cần phải có để đảm bảo đạt kết quả ĐTC như đề ra Mối liên hệ chặt giữa QLĐTC với các yếu tố ảnh hưởng, nhất là các yếu tố của BĐKH cũng chưa được phân tích sâu toàn diện

Mặc khác, BĐKH ảnh hưởng chung đến toàn vùng ĐBSCL nhưng cũng do tác động của BĐKH mà các yếu tố tạo vùng có thể sẽ chịu sự ảnh hưởng khác nhau Với những cực đoạn xuất hiện trở nên thường xuyên của lũ và hạn – mặn, các biện pháp ứng phó khác nhau tại mỗi tiểu vùng sẽ tác động đến các yếu tố của mô hình phát triển vùng, vùng giáp biên giới bị ảnh hưởng của lũ (Đồng Tháp và An Giang), vùng trung tâm đồng bằng bị ảnh hưởng của cả 2 yếu tố (Cần Thơ), và vùng giáp biển đông chịu tác động của mặn (các tỉnh còn lại của Vùng ĐBSCL) Chính sự phân hóa về tác động của BĐKH làm cho sự đồng nhất vốn có của vùng ĐBSCL không còn Từ đó cũng sẽ

có các cơ chế, chính sách QLĐTC trong điều kiện BĐKH phù hợp với từng ĐP của

các tiểu vùng ở ĐBSCL Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước, đề tài “QLĐTC

trong điều kiện BĐKH tại tỉnh Đồng Tháp”, kỳ vọng sẽ bổ sung một phần khoảng trống trong nghiên cứu

1.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 31

1.2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu

1.2.1.1 Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu của luận án dựa trên các lý thuyết QLĐTC hiện đại cũng như kinh nghiệm của các quốc gia đang phát triển trên thế giới Theo tác giả nghiên cứu có các

cơ sở lý thuyết làm nền tản lý luận cho nghiên cứu bao gồm: lý thuyết người ủy quyền

- người đại diện (Principal-Agent Theory, PA) của Olivier Bouba-Olga (2010); khung chẩn đoán đánh giá QLĐTC của Anand Rajaram và cộng sự (2010); Hướng dẫn phân loại ĐTC cho BĐKH và TTX của Bộ KH&ĐT(2018)

a) Lý thuyết người ủy quyền – người đại diện hay còn gọi là lý thuyết người đại diện

Lý thuyết người ủy quyền – người đại diện dựa trên vấn đề tác bạch rỏ rệt giữa

quyền điều hành với quyền sở hữu, từ đó dẫn đến sự mẫu thuẩn giữa người sở hữu và người đại diện (Michael C Jensen và William H Mickling, 1976) Vấn đề người ủy quyền – người đại diện cũng có thể được hiểu là những trường hợp người ủy quyền tuyển dụng người thừa hành nhằm có thể thực hiện các mục tiêu nhất định Tuy nhiên, người ủy quyền trở nên khó kiểm soát do không cân xứng về thông tin nên sẽ có sự khác nhau về theo đuổi mục tiêu giữa hai người (Huỳnh Thế Du, 2015) Sự không hoàn hảo, không đối xứng về thông tin giữa người ủy quyền và người đại diện làm

phát sinh “chí phí người đại diện (Agency cost)” Lý thuyết người đại diện tập trung

nghiên cứu việc xây dựng hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện, các giải pháp để làm giảm chi phí người đại diện Theo lý thuyết, người ủy quyền sẽ thực hiện nhiều biện pháp khác nhau, phụ thuộc vào từng tình huống hay từng DA Nếu khả năng giám sát được thì tăng cường thông tin minh bạch Nếu mức độ giám sát hạn chế thì giữa người chủ và người thừa hành cần một hợp đồng quy định chi tiết trách nhiệm của mỗi bên với “chi phí cố định” (Holmstrom, 1982; Baron và Myerson, 1982) Nếu vẫn không thể có được một hợp đồng rõ ràng cho hai bên thì có thể sử dụng đến dạng hợp đồng hợp tác đồng sở hữu nhằm phân tán rủi ro và gắn trách nhiệm với nhau (Grossman và Hart, 1986)

Trang 32

Hình 1.1 Các quan hệ người chủ - người thừa hành trong đầu tư công

Nguồn: Nguyễn Đức Thành và Đinh Tuấn Minh (2012)

Cũng cùng chung lý thuyết trên nhưng với tên gọi khác “Lý thuyết quan hệ

người chủ - người thừa hành (Principal-Agent Theory, PA)” của Nguyễn Đức Thành

và Đinh Tuấn Minh (2012) cho rằng ĐTC là một điển hình của quan hệ giữa người chủ - người người thừa hành (Hình 1.1) Người dân và người đóng thuế trao tiền và ủy thác cho các cấp TW và (hoặc) ĐP (thông qua hình thức những khoản thu NS từ thuế

và khai thác tài nguyên) nhằm cung cấp các dịch vụ công thông qua thực hiện các DA Sau đó, Chính quyền cấp TW tiếp tục ủy thác cho chính quyền cấp ĐP thực hiện Nhưng vì họ không thể trực tiếp thực hiện việc này nên lại tiếp tục ủy thác cho các nhà thầu DA để xây dựng các công trình và bàn giao cho một đơn vị khác của chính quyền quản lý sau khi xây dựng xong các công trình

b) Khung chẩn đoán đánh giá QLĐTC

Khung chẩn đoán đánh giá QLĐTC (Anand Rajaram và cộng sự, 2010), đây là

bộ chuẩn mực hệ thống QLĐT hiệu quả trên thế giới được WB xây dựng Các nghiên cứu gần đây (Vũ Cương, 2014; Vũ Thành Tự Anh, 2018) đã sử dụng để đánh giá tình hình QLĐTC ở Việt Nam Theo khung chẩn đoán thì chu trình QLĐTC hiệu quả phải bao gồm 8 tính chất (bước) như sau:

b.1) Xây dựng định hướng đầu tư, lập DA và chọn lộc sơ bộ

Định hướng chiến lược đầu tư thể hiện những ưu tiên của quốc gia nên việc đề

ra phải do cấp cao nhất quyết định Đây cũng là cơ sở để Các Bộ - Ngành và các cấp

Trang 33

CQĐP nghiên cứu xây dựng các chương trình và các QĐĐTphù hợp với mình Đồng thời, đây cũng là căn cứ để soạn thảo các các hồ sơ DAĐT Bên cạnh đó, cần tiến hành sàn lộc lựa chọn sơ bộ các DA được đề suất để đảm bảo yêu cầu các điều kiện tối thiểu (tính cấp thiết đầu tư, tính đồng nhất trong ưu tiên,…) khi tiến hành đánh giá ở các bước tiếp theo

b.2) Thẩm định DA

Đánh giá tiền khả thi sẽ làm rõ thêm các thông tin cung cấp cho kết luận ý đồ của DA Kết quả cuả giai đoạn này giúp đo lường trước những thuận lợi, khó khăn khi tiến hành nghiên cứu khả thi

Đánh giá khả thi: Để khẳng định thêm tính khả thi của Luận chứng kinh tế - kỹ thuật thì giai đoạn này được xem có tính chính xác cao nhất, các nội dung đánh giá ở trạng thái động theo từng tình huống, mọi yếu tố không ổn định đều được đề cập đến trong quá trình nghiên cứu Chất lượng bước này là phụ thuộc rất nhiều vào tính khách quan, động cơ, năng lực và độ tin cậy của dữ liệu của tổ chức đánh giá

b.3) Đánh giá độc lập đối với thẩm định DA

Để đảm bảo tính khách quan của hoạt động thẩm định DA, nhất là trong trường hợp các DA lớn và chính do cơ quan thực hiện tự thẩm định, cần đánh giá độc lập và thậm chí thuê tư vấn độc lập để thẩm định DA

b.4) Lựa chọn và lập NS DA

DA ĐTC là một trong những bộ phận cấu thành nên kế hoạch ĐTC tổng thể, và

kế hoạch ĐTC cũng thuộc kế hoạch phát triển KTXH 5 năm, hàng năm Do đó, việc lựa chọn và xây dựng NS cho DA cần tích hợp với kế hoạch phát triển KTXH 5 năm, hàng năm, cũng hòa hợp với chu kỳ NS Việc lựa chọn được DA tốt sẽ giúp cho ĐTC

có hiệu quả Bên cạnh đó, việc đảm công tác quản lý và bảo trì tài sản có chất lượng cũng sẽ giúp cho ĐTC hiệu quả Chính vì vậy, cần phải điều chỉnh NS thường xuyên cho phù hợp và phản ánh đúng các khoản mục chi mới phát sinh

b.5) Triển khai DA

Đối với từng nhiệm vụ, cần có những hướng dẫn chi tiết trong việc triển khai

DA Việc thực hiện DA thuận lợi và đạt kết quả cao tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: (i) lựa chọn đúng DA tốt; (ii) mức độ chính xác của NS của DA được lập; (iii) sự chuẩn bị chu đáo về khả năng quản lý tài chính, bộ máy tổ chức và con người, thu hồi đất; (iv) phương án mua sắm máy móc, vật tư; (v) công tác quản lý chi phí chặt chẽ; (vi) trong công tác quản lý những rủi ro phát sinh có thể tác động đến tiến độ, cũng như các chi phí của DA

b.6) Điều chỉnh DA

Trang 34

Để hạn chế những điều chỉnh DA khi có các tình huống phát sinh có thể tác động đối với các thiết kế, cũng như tiến độ và NS của DA, vì vậy cần làm tốt các công tác ở các khâu phía trước từ bước thẩm định cho đến đánh giá lựa chọn, các thỏa thuận mua sắm, kể cả các công việc liên quan đến công tác chuẩn bị cho triển khai DA Đồng thời, phải tiến hành định kỳ KTGS, đánh giá nhằm cập nhật thường xuyên quá trình thực hiện Nếu cần thiết, khi phát hiện các DA kém hiệu quả và lãng phí thì phải

có cơ chế ngừng thực hiện, thậm chí khai tử những DA đó

b.7) Vận hành DA

DA ĐTC sau khi hoàn thành, bước tiếp theo cần: (i) DA được bàn giao cho đơn

vị vận hành; (ii) vận hành DA; (iii) bảo trì, bảo dưỡng những tài sản do DA tạo ra; (iv) Giá trị tài sản DA cần được hạch toán; (v) phân tích mức độ hữu dụng của DA

b.8) Tiến hành công tác đánh giá và cũng như kiểm toán đối với DA sau khi hoàn thành

Thực hiện bước này nhằm các mục đích sau: (i) đánh giá kết quả và chất lượng của việc triển khai thực hiện thiết kế, tiến độ và NS so với kế hoạch; (ii) Những bài học kinh nghiệm đút kết được (có tham khảo trong và ngoài nước); (iii) đánh giá mức

độ tuân thủ pháp luật về ĐTC của DA

c) Hướng dẫn phân loại ĐTC cho BĐKH và TTX

Trong thời gian qua, để có thể ứng phó với những thách thức nguy hại từ ảnh hưởng của BĐKH và cũng như đảm bảo cho cho công cuộc phát triển đất nước, Đảng

và Chính phủ đã bước đầu có những cải cách về thể chế, chính sách theo định hướng TTX và ứng phó BĐKH, đã được cụ thể hóa bằng các chiến lược, các kế hoạch hành động ở tất cả các cấp từ Quốc gia, cho đến các Bộ, Ngành, ĐP và đang được tích cực thực hiện dựa trên các nguồn lực huy động trong nước và hỗ trợ của cộng đồng quốc

tế Vì vậy, phân tích và làm rõ thêm hoạt động ĐTC cho BĐKH sẽ góp phần làm sáng

tỏ thêm bức tranh của hoạt động ĐTC và cũng như công tác QLĐTC trong thời gian qua

Hướng dẫn phân loại ĐTC cho BĐKH và TTX Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018) được xây dựng phù hợp với nguyên tắc và nội dung xây dựng kế hoạch ĐTC hằng năm

và gia đoạn trung hạn Trên cơ sở hướng dẫn, quy trình nhận dạng và phân loại ĐTC cho BĐKH và TTX tiến hành theo những bước chính thể hiện như sau:

Trang 35

Hình 1.2 Quy trình nhận dạng và phân loại đầu tư công cho biến đổi khí hậu và

tăng trưởng xanh

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018) Bước chuẩn bị: Công việc chính của bước này là tập hợp các số liệu, tài liệu từ các danh mục DA ĐTC lấy từ biểu giao kế hoạch ĐTC bao gồm các thông tin chi tiết đến từng CTDA về tình hình giao vốn và thực hiện vốn ĐTC của tỉnh; phân chia theo ngành, lĩnh vực, theo thời gian, địa điểm thực hiện DA, hoặc các QĐĐT DA Các tài liệu khác như các báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, cung cấp thông tin chi tiết và

hữu hiệu cho việc xác định phân loại DA ĐTC cho BĐKH và TTX

Bước 1: Rà soát và xác định những DA ĐTC có liên quan đến BĐKH và TTX

Trên cơ sở danh mục các DA đã được thu thập được từ bước chuẩn bị, tiến hành xác định những DA đóng góp vào hoạt động ứng phó BĐKH và TTX và xác định vốn ĐTC của DA cho thích ứng, giảm nhẹ BĐKH

Bước 2: Xếp DA theo nhiệm vụ chiến lược về BĐKH và TTX Các DA thích ứng, giảm nhẹ hoặc cả hai được chỉ ra ở bước 1 sẽ được xác định mã phân loại cụ thể tương ứng của DA và qua đó, DA sẽ được phân loại theo mã phân loại với NS ĐTC

tương ứng theo các mục tiêu chính sách

Bước 3: Kiểm tra chất lượng kết quả phân loại Rà soát, đảm bảo quá trình phân loại căn cứ trên các dữ liệu, tài liệu cụ thể, đảm bảo chất lượng Từ đó, tăng tính

minh bạch và độ tin cậy của báo cáo

Bước 4: Tổng hợp và lập báo cáo kết quả phân loại: Tổng hợp tình hình đầu tư

và chi tiêu công cho BĐKH và TTX tại tỉnh Trong đó làm rõ các nội dung như: đặc điểm của danh mục các DA và chương trình đầu tư cho BĐKH và TTX trong từng năm, cơ cấu ĐTC cho thích ứng và giảm nhẹ, tỷ lệ vốn ĐTC phân bổ cho những ưu

tiên chính sách BĐKH và TTX so với mức ĐTC của tỉnh

Bước 2:

Xếp DA theo nhiệm vụ chiến lược về BĐKH và

TTX

Bước 3:

Kiểm tra chất lượng kết

quả phân loại

Bước 4:

Tổng hợp và lập báo cáo kết quả phân loại đầu tư cho BĐKH và TTX

Trang 36

1.2.1.2 Khung phân tích

Từ các lý thuyết trên, nghiên cứu kế thừa sử dụng khung chẩn đoán đánh giá QLĐTC của Anand Rajaram và cộng sự (2010), Vũ Cương (2014) và tiếp cận theo các bước của chu trình quản lý CTDA ĐTC nhằm phù hợp với Luật ĐTC, tác giả xây dựng khung phân tích QLĐTC cấp tỉnh trong điều kiện BĐKH, tập trung nghiên cứu như sau:

Một là, Công tác lập kế hoạch ĐTC trong điều kiện BĐKH bao gồm: (i) đề xuất chủ trương ĐTC, QHKH ĐTC; (ii) lập, thẩm định và phê duyệt CTDA ĐTC; (iii) Phân

bổ và giao kế hoạch ĐTC

Hai là, Công tác tổ chức tổ chức và thực hiện ĐTC trong điều kiện BĐKH bao gồm: (i) quản lý đấu thầu; (ii) quản lý thực hiện thi công xây dựng công trình; (iii) điều chỉnh DA ĐTC; (iv) hoàn thành, bàn giao đưa DA ĐTC vào vận hành

Ba là, công tác KTGS và đánh giá ĐTC trong điều kiện BĐKH

Bốn là, công tác phân cấp và phối hợp QLĐTC trong điều kiện BĐKH

1.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

− Phương pháp nghiên cứu tại bàn

Luận án nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến đối tượng nghiên cứu để làm cơ

sở lý luận Ngoài ra, Tác giả còn quan sát và tổng kết các lý thuyết liên quan đối tượng nghiên cứu từ thực tế Nguồn dữ liệu của phần này được thu thập từ các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành,…có liên quan nhằm phục vụ cho cơ sở lý luận chung cho luận án Các số liệu thống kê được thu thập chủ yếu từ các cơ quan quản lý các cấp của Tỉnh như: UBND Tỉnh, Cục Thống kê, sở KH&ĐT, sở Công thương, sở Tài chính, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT,

− Phỏng vấn sâu (phụ lục 4), quan sát trực tiếp và ghi nhận (hình ảnh, mô tả)

Tiến hành phỏng vấn sâu với các biên liên quan như, các chuyên gia, chủ đầu

tư, Ban QLDA, với những người đang trực tiếp quản lý và thực hiện ĐTC ở các đơn vị tại ĐP Cụ thể, tác giả thực hiện phỏng vấn 06 cán bộ ở các cơ quan như 01 cán bộ Sở KH&ĐT tỉnh Đồng Tháp, 01 cán bộ Sở TN&MT tỉnh Đồng Tháp, 01 cán bộ Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Tháp, 01 cán bộ ở UBND tỉnh Đồng Tháp Bên cạnh đó, tác giả cũng phỏng vấn 01 cán bộ ở UBND TP Cao Lãnh và 01 cán bộ ỏ Ban QLDA tỉnh Đồng Tháp Các nội dung phỏng vấn xoay quanh các thông tin liên quan về tỉnh hình xảy ra các hiện tượng thời tiết của khí hậu tại tỉnh và cũng như công tác QLĐTC, ảnh hưởng BĐKH đến QLĐTC trên địa bàn tỉnh

Tác giả cũng tiến hành phỏng vấn sâu đối với đại diện của một số HTX có SXKD tại tỉnh Đây cũng là các HTX SXKD các các sản phẩm mà ĐP có lợi thế như

Trang 37

Cá, xoài, cam, lúa…Cụ thể, tác giả phỏng vấn 01 đại diện hộ gia đình ở HTX dịch vụ nông nghiệp Mỹ Hội (Xoài, Chanh), 01 đại diện hộ gia đình HTX Bình Hàng Trung (Xoài, Chanh); 02 đại hiện hộ gia đình HTX Bình Thạnh (Xoài, Cá), 01 đại diện hộ gia đình HTX Phong Mỹ (Lúa, Cam) Các thông tin phỏng vấn tập trung chủ yếu về nhận thức các hiện tượng thời tiết xảy ra ở ĐP hiện nay như thế nào, mức độ ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của các hộ gia đình trong HTX, các hoạt động thích ứng của các hộ gia đình trước các hiện tượng thời tiết của BĐKH, hoặc nhận định về các đầu tư hỗ trợ của CQĐP/nhà nước đối với các hộ gia đình trong HTX trước tác động của các hiện tượng thời tiết của BĐKH,…

Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện trong khoảng thời gian 01 tháng (trung tuần tháng 4/2019 đến trung tuần tháng 5/2019) Thời gian tiến hành mỗi cuộc phỏng vấn sâu từ 30 phút đến 45 phút Đối với các cán bộ tại các cơ quan thì cuộc phỏng vấn được tiến hành ngay tại phòng làm việc của họ và đối với các đại diện của các HTX thì cuộc phỏng vấn được tiến hành nhà riêng của các đại diện Trước khi tiến hành thực hiện phỏng vấn thì tác giả có gửi trước các câu hỏi/thông tin trao đổi đến các đối tượng phỏng vấn để tham khảo trước Tại buổi phỏng vấn, ngoài ghi chép trên giấy có chuẩn

bị sẳn thì các cuộc phỏng vấn đều được ghi âm bằng điện thoại nhằm đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin cũng như tránh bỏ sót thông tin từ đối tượng phỏng vấn Các cuộc ghi

âm đều được lưu giữ cẩn thận vào máy tính và được gở băng thành văn bản phục vụ cho phân tích của luận án

− Phương pháp điều tra

Phiếu điều tra:

Phiếu điều tra số 1 (Phục lục 1): Đánh giá từng khâu chu trình QLĐTC trong điều kiện BĐKH Phiếu được thiết kế dựa trên kế thừa các câu hỏi khung đánh giá QLĐTC của Anand Rajaram và cộng sự (2010), Vũ Thành Tự Anh (2015) về QLĐTC trong điều kiện BĐKH Đối với yếu tố BĐKH thì tác giả kế thừa dựa trên nghiên cứu của Vũ Thị Hoài Thu (2013), cùng với sử dụng phương pháp cho điểm thông qua thang đo Likert từ 1 đến 5 tương ứng mức độ đồng tình với quan điểm hay ý kiến được thiết kế trong phiếu điều tra Đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là các cán bộ đang làm công tác chuyên môn có liên quan đến công tác QLĐTC ở tỉnh

Phiếu điều tra số 2 (Phụ lục 2 và 3): Để đánh giá kết quả QLĐTC cấp tỉnh chịu

sự tác động từ BĐKH, tác giả dựa dựa trên thực tiễn và phương pháp phân cấp hệ thống đầu nguồn của Davide Wordige (1990) và các công trình có ứng dụng phương pháp này như Davide Wordrige (1992), Hoàng Sỹ Động (2020) và các công trình có liên quan Ngoài đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là các cán bộ đang làm công tác chuyên môn có liên quan đến công tác QLĐTC ở tỉnh, bên cạnh đó còn phỏng vấn đối

Trang 38

với các đối tượng thụ hưởng liên quan đến các công trình ĐTC ở tỉnh bao gồm như các nhà nghiên cứu – giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, DN, hợp tác xã, trang trại

và các hộ gia đình

Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được tác giả lựa chọn nhằm phù hợp với điều kiện hạn chế về nguồn lực (thời gian, tài chính, mối quan hệ, …), căn cứ vào phân cấp quản lý, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham gia QLĐTC… Theo phương pháp này thì hình thức chọn mẫu là phi xác xuất, việc chọn mẫu dựa trên khả năng mà người nghiên cứu có thể tiếp cận tới được các đối tượng nghiên cứu và kích thước mẫu tối thiểu là 100 quan sát (Đinh Phi Hổ, 2011; Nguyễn Đình Thọ, 2012; Nguyễn Văn Thắng, 2017) Theo phương pháp này, tác giả lựa chọn tiến hành khảo sát mẫu ở các đơn vị có sử dụng, QLĐTC và cũng như căn cứ vào phân cấp quản lý, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tham gia QLĐTC ở cấp tỉnh Đồng Tháp bao gồm như UBND tỉnh, Sở Tài chính, sở KH&ĐT, Các Ban QLDA tỉnh, Sở NN&PTNT, Sở TN&MT Ở Cấp dưới tỉnh, tác giả lựa chọn các ĐP có qui mô diện tích lớn và gần trung tâm tỉnh và có nhiều HTX, DN để thuận tiện kết hợp với phỏng vấn sâu một số HTX điển hình, các ĐP được chọn bao gồm UBND H Cao Lãnh, UBND Tp Cao Lãnh và UBND H Thanh Bình Để tăng tính đại diện và độ tin cậy của mẫu điều tra thì tác giả tiến hành điều tra trực tiếp thông qua phiếu điều tra Bên cạnh đó, để giảm

sự chênh lệch và cũng như sai lệch do sẽ có hiện tượng không trả lời (non-response bias) trong quá trình điều tra thu thập, tác giả đã nhờ đến hỗ trợ trực tiếp của những cán bộ đang công tác chuyên môn tại đơn vị được gửi phiếu khảo sát và theo dõi cũng như tư vấn quá trình trả lời bảng hỏi của các cán bộ để đảm bảo các câu hỏi được trả lời nghiêm túc và chính xác Trước đó, tác giả có hướng dẫn chi tiết đối với những cán

bộ được nhờ phát và thu phiếu điều tra nhằm đảm bảo họ có thể hiểu và hướng dẫn lại các cán bộ được phát phiếu điều tra

Thời gian khảo sát:

Đối với phiếu điều tra số 1 được tiến hành trong 02 tháng, từ tháng 3/2019 đến tháng 4/2019 Số phiếu khảo sát được in ra để phát là 208 phiếu, thực tế số phiếu thu

về là 185 phiếu sau khi đã sàng lọc và loại bỏ các phiếu không hợp lệ (phiếu không có

đủ đáp áp trả lời, hoặc phiếu có số câu trả lời hoàn toàn giống nhau, mẫu thuẩn trong trả lời…) Tác giả sử dụng kết quả 185 phiếu để dùng trong phân tích chính thức (đạt khoảng 88,89%)

Trang 39

Bảng 1.1 Số phiếu phát ra và thực tế thu về đối với phiếu điều tra số 1

TT Đơn vị khảo sát

Phát ra (Phiếu)

Thực tế thu về (hợp lệ) Phiếu cơ cấu (%)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Đối với phiếu điều tra số 2, được thực hiện sau so với phiếu điều tra số 1 nhằm

đi sâu nghiên cứu kết quả QLĐTC bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của BĐKH và các đối tượng được khảo sát cũng đa dạng hơn Thời gian tiến hành khảo sát từ 01 tháng (tháng 3/2020) Số phiếu khảo sát được in ra để phát là 200 phiếu, thực tế số phiếu thu

về là 179/200 phiếu sau khi đã sàng lọc và loại bỏ các phiếu không hợp lệ (phiếu không có đủ đáp áp trả lời, hoặc phiếu có số câu trả lời hoàn toàn giống nhau, mẫu thuẩn trong trả lời…) Tác giả sử dụng kết quả 179 phiếu để dùng trong phân tích chính thức (đạt khoảng 89,50%)

Bảng 1.2 Số phiếu phát ra và thực tế thu về đối với phiếu điều tra số 2

TT Đơn vị khảo sát

Phát ra (Phiếu)

Thực tế thu về (hợp lệ) Phiếu cơ cấu

3 DN, HTX, hộ gia đình 70 67 37,43%

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Ghi chú: Những tính toán thống kê đều dựa trên cơ sở số liệu điều tra, thu thập khách quan và đảm bảo quy luật số lớn (thông thường trong nghiên cứu kinh tế và xã hội, số mẫu >100 là đảm bảo (Nguyễn Đình Thọ, 2012; Nguyễn Văn Thắng, 2017)

Trang 40

1.2.3 Phương pháp phân tích thông tin, số liệu

− Phương pháp phân tích, tổng hợp Từ những số liệu và tài liệu đã được xử lý,

sử dụng phương pháp này để phân tích, tổng hợp các kết quả phân tích, lập luận phân tích đưa ra các lý luận và nội hàm trên các lý thuyết và thực tiễn, các mối quan hệ các nhân tố, xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu trong tương lai,

từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp và có hiệu quả

− Phương pháp chuyên gia: được sử dụng nhằm đưa ra mục tiêu nghiên cứu và

những bài học kinh nghiệm, cùng các vấn đề chuyên sâu theo tiêu chí định tính có liên quan đến vấn đề nghiên cứu thông qua trao đổi trực tiếp, hội thảo

− Phương pháp phân tích thống kê

Từ kết quả điều tra khảo sát, sử dụng kết hợp phương pháp thống kê mô tả với các phương pháp phân tích, tổng hợp để thống kê điểm được đánh giá của từng nội dung của khung chẩn đoán QLĐTC trong điều kiện BĐKH và cũng như đối với yếu tố BĐKH như các giá trị điểm trung bình, điểm thấp nhất, điểm cao nhất dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS Kết quả phân tích sẽ giúp cho tác giả có cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp tập trung góp phần tăng cường công tác QLĐTC trong điều kiện BĐKH ở tỉnh

Thông qua phương pháp giúp tính toán và đưa ra các chỉ tiêu định lượng và phản ánh các đặc trưng của các biến nghiên cứu Hàm toán học sử dụng trong phân tích (hàm hồi quy tuyến tính bội):

Y = f(X) = A + B X1+ C X2 + D X3 + E X4 + G X5

Trong đó:

Y là biến phụ thuộc (kết quả QLĐTC cấp tỉnh bị ảnh hưởng bởi BĐKH)

A, B, C, D, E, G: là các tham số có liên quan

Xi là các biến độc lập biểu hiện cho các các yếu tố của BĐKH bao gồm: X1 (hạn hán, khô kiệt), X2 (mưa bão, lũ lụt); X3 (nhiệt độ tăng); X4 (nước biển dâng); X5 (xâm nhập mặn)

Các chỉ tiêu tính toán phân tích thống kê chính bao gồm: (1) Hệ số tương quan (phản ánh mức độ liên hệ chặt giữa các đại lượng nghiên cứu); (2) Độ chính xác trong tính toán hay còn gọi là mức độ tin cậy của phân tích thống kê phù hợp với dữ liệu; hệ

số Hệ số Durbin – Watson trong việc kiểm tra hiện tượng tự tương quan chuỗi và một vài chỉ tiêu khác Phần mềm phân tích thống kê chuyên sâu SPSS được dùng trong phân tích, tính toán để đưa ra các kết quả nghiên cứu với ngân hàng dữ liệu

Ngày đăng: 11/04/2021, 09:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anand Rajaram, T.M. Le, N. Biletska và J. Brumby (2010), A Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management, Policy Research Working Paper No.WPS5397, World Bank, Washinton DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Diagnostic Framework for Assessing Public Investment Management
Tác giả: Anand Rajaram, T.M. Le, N. Biletska và J. Brumby
Năm: 2010
2. Anand Rajaram Tuan Minh Le, Kai Kaiser, Jay-Hyung Kim, và and Jonas Frank (2014), The Power of Public Investment Management: Transforming Resources into Assets for Growth, Directions in Development, Washington, DC: World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Power of Public Investment Management: Transforming Resources into Assets for Growth
Tác giả: Anand Rajaram Tuan Minh Le, Kai Kaiser, Jay-Hyung Kim, và and Jonas Frank
Năm: 2014
3. Angel de la Fuente (2004), "Second-best redistribution through public investment: a characterization, an empirical test and an application to the case of Spain", Tạp chí Regional Science and Urban Economics, Số 34,Trang: 489-503 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Second-best redistribution through public investment: a characterization, an empirical test and an application to the case of Spain
Tác giả: Angel de la Fuente
Năm: 2004
4. Baron và Myerson (1982), "Regulating a monopolist with unkown costs", Tạp chí Econometrica, Số 50,Trang: 911-930 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regulating a monopolist with unkown costs
Tác giả: Baron và Myerson
Năm: 1982
5. Benedict Clements, Rina Bhattacharya và Toan Quoc Nguyen (2003), "External Debt, Public Investment, and Growth in low - income counties", Tạp chí IMF Working Paper, Số 03/249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: External Debt, Public Investment, and Growth in low - income counties
Tác giả: Benedict Clements, Rina Bhattacharya và Toan Quoc Nguyen
Năm: 2003
8. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2018), Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT về việc ban hành Hướng dẫn phân loại đầu tư công cho Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng xanh, ban hành ngày 16 tháng 7 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1085/QĐ-BKHĐT về việc ban hành Hướng dẫn phân loại đầu tư công cho Biến đổi khí hậu và Tăng trưởng xanh
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2018
11. Brumby J. (2008), "Efficient Management of Public Investment: An Assessment framework", Presentation for World Bank, KI Conference, Seoul: 20-21 November Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficient Management of Public Investment: An Assessment framework
Tác giả: Brumby J
Năm: 2008
12. Chính phủ (2006), Nghị định sô 92/2006/NĐ-CP về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, ban hành ngày 07 tháng 9 năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định sô 92/2006/NĐ-CP về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
13. Chính phủ (2011a), Nghị quyết sô 11/2011/NQ-CP về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kính tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh, ban hành ngày 24 tháng 2 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết sô 11/2011/NQ-CP về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kính tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh
14. Chính phủ (2011b), Chỉ thị sô 1792/2011CT-TTg về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ, ban hành ngày 15 tháng 10 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị sô 1792/2011CT-TTg về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ
15. Chính phủ (2017), Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, ban hành ngày 14 tháng 11 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2017
16. Chính phủ (2020), Nghị định sô 40/2020/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công, ban hành ngày 06 tháng 4 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định sô 40/2020/NĐ-CP về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đầu tư công
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
17. Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp (2019), Niên giám Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2018, Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thống kê tỉnh Đồng Tháp năm 2018
Tác giả: Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp
Nhà XB: Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2019
18. Cấn Quang Tuấn (2009), Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do Thành phố Hà Nội quản lý, Luận án tiến sĩ, Học Viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung từ ngân sách nhà nước do Thành phố Hà Nội quản lý
Tác giả: Cấn Quang Tuấn
Năm: 2009
19. D. Ghura và B. Goodwin (2000), "Determinants of private investment: a cross-regional empirical investigation", Tạp chí Applied Economics, Số 32,Trang: 1819-1829 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of private investment: a cross-regional empirical investigation
Tác giả: D. Ghura và B. Goodwin
Năm: 2000
20. Đàm Văn Nhuệ, Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Cúc (2015), Giáo trình Quản lý phát triển Địa phương, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý phát triển Địa phương
Tác giả: Đàm Văn Nhuệ, Nguyễn Xuân Thu và Nguyễn Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2015
21. Đặng Quỳnh Anh (2012), Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động đầu tư công bằng nguồn vốn ngân sách địa phương tại thị xã Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2020, Luận văn thạc sĩ, Đại hoc Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác quản lý hoạt động đầu tư công bằng nguồn vốn ngân sách địa phương tại thị xã Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2020
Tác giả: Đặng Quỳnh Anh
Năm: 2012
22. Davide Wordige (1990), Method for watershed classification, Nhà xuất bản MRC, 23. Đinh Phi Hổ (2011), Phương pháp nghiên cứu định lượng & những nghiên cứu thựctiễn trong kinh tế phát triển - nông nghiệp, Nhà xuất bản Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Method for watershed classification", Nhà xuất bản MRC, 23. Đinh Phi Hổ (2011), "Phương pháp nghiên cứu định lượng & những nghiên cứu thực "tiễn trong kinh tế phát triển - nông nghiệp
Tác giả: Davide Wordige (1990), Method for watershed classification, Nhà xuất bản MRC, 23. Đinh Phi Hổ
Nhà XB: Nhà xuất bản MRC
Năm: 2011
24. Đoàn Thị Hải Yến (2017), Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015, Truy cập ngày 20/11 2017], từ liên kết:http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=19377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Đoàn Thị Hải Yến
Năm: 2017
25. Edward Anderson, P. D. Renzio và S. Levy (2006), "The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidences and Methods", Tạp chí Overseas Development Institute, Số Working Paper 263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Public Investment in Poverty Reduction: Theories, Evidences and Methods
Tác giả: Edward Anderson, P. D. Renzio và S. Levy
Năm: 2006

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w