1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh đầu đen do histomonas meleagridis trên gà thả vườn nuôi tại huyện phú bình tỉnhthái nguyên

68 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp Dụng Quy Trình Phòng Và Trị Bệnh Đầu Đen Do Histomonas Meleagridis Trên Gà Thả Vườn Nuôi Tại Huyện Phú Bình - Tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Hoàng Thùy Linh
Người hướng dẫn TS. Đặng Thị Mai Lan
Trường học Đại Học Thái Nguyên - Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Thú y
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG THÙY LINH Tên đề tài: “ÁP DỤNG QUY TRÌNH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN DO HISTOMONAS MELEAGRIDIS TRÊN GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN’’ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 1

HOÀNG THÙY LINH

Tên đề tài:

“ÁP DỤNG QUY TRÌNH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN DO

HISTOMONAS MELEAGRIDIS TRÊN GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI

HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN’’

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

HOÀNG THÙY LINH

Tên đề tài:

“ÁP DỤNG QUY TRÌNH PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH ĐẦU ĐEN DO

HISTOMONAS MELEAGRIDIS TRÊN GÀ THẢ VƯỜN NUÔI TẠI

HUYỆN PHÚ BÌNH - TỈNH THÁI NGUYÊN’’

NHẬT KÝ THỰC TẬP

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Lớp: K45 - Thú y - N03 Khóa học: 2013 - 2017 Giảng viên HD: TS Đặng Thị Mai Lan

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự

quan tâm, chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè

và sự động viên khích lệ của gia đình Nhân dịp này em xin được bày tỏ lòng

biết ơn sâu sắc tới:

Giảng viên hướng dẫn TS Đặng Thị Mai Lan đã trực tiếp hướng dẫn,

chỉ bảo em hết sức tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa

luận tốt nghiệp

Em xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty cổ phần thuốc thú y

Đức Hạnh Marphavet, UBND huyện Phú Bình đã tạo điều kiện để em thực

hiện đề tài tốt nghiệp Chi cục thống kê huyện, phòng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn huyện Phú Bình đã cung cấp số liệu giúp em hoàn thành khóa

luận này

Em xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Hữu Quốc và chị Trần Thị

Tuyên đã giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong suốt thời gian em thực tập tại cơ

sở Xin trân trọng cảm ơn các hộ gia đình chăn nuôi gà vườn đồi Phú Bình đã

tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình điều tra

Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ, động viên,

giúp đỡ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn

thành bài báo cáo tốt nghiệp này

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017

Sinh viên

Hoàng Thùy Linh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Kết quả tiêm phòng cho đàn gà tại cơ sở 34 Bảng 4.2 Kết quả điều trị bệnh cho gà 37 Bảng 4.3 Kết quả công tác khác 38 Bảng 4.4 Kết quả khảo sát số gà thả vườn nuôi tại huyện Phú Bìnhnăm 2016

- 2017 39 Bảng 4.5 Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà nuôi tạihuyện Phú Bình - tỉnh

Thái Nguyên trong thời gian thực tập tại cơ sở 40 Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà theo lứa tuổi 41 Bảng 4.7 Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen theo tháng theo dõi 42 Bảng 4.8 Một số triệu chứng lâm sàng của gà nghi nhiễm Histomonastại Phú

Bình - Thái Nguyên 45 Bảng 4.9 Bệnh tích chủ yếu của gà mắc bệnh đầu đen 46 Bảng 4.10 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 48

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs Cộng sự

ILT Viêm thanh khí quản truyền nhiễm

KCTG Ký chủ trung gian

Vđ Vừa đủ

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích của nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện của cơ sở 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng nơi thực tập 6

2.2 Cơ sở khoa học 7

2.2.1 Giới thiệu chung về một số giống gà thả vườn 7

2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh do Histomonas meleagridis 9

2.3 Bệnh do Histomonas gây ra ở gà 14

2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng làm cho gà mắc bệnh đầu đen 15

2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 17

2.4 Triệu chứng và bệnh tích của gà mắc bệnh đầu đen 19

2.4.1.Triệu chứng 19

2.4.2.Bệnh tích 20

2.5 Chẩn đoán và phòng trị bệnh do Histomonas ở gà 22

2.5.1 Chẩn đoán 22

Trang 7

2.5.2 Phòng và trị bệnh do Histomonas ở gà 23

2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 26

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 26

2.6.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp điều tra thống kê 28

3.4.2 Phương pháp mổ khám 29

3.4.3 Phương pháp thử nghiệm phác đồ điều trị 30

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

4.1 Kết quả công tác phòng và trị bệnh cho gà tại cơ sở 32

4.1.1 Công tác chăn nuôi 32

4.1.2 Công tác phòng và trị bệnh 33

4.1.3 Công tác khác 37

4.2 Kết quả tình hình mắc bệnh đầu đen trên gà thả vườn nuôi tại cơ sở 39

4.2.1 Thực trạng chăn nuôi gà thả vườn tại một số xã trên địa bàn huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên trong năm (2016 - 2017) 39

4.2.2 Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà nuôi tại một số xã trên địa bàn huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên 40

4.2.3 Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà theo lứa tuổi 41

4.2.4 Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà theo tháng theo dõi 42

4.2.5 Triệu chứng lâm sàng của bệnh do Histomonas gây ra trên gà 43

Trang 8

4.2.6 Bệnh tích chủ yếu của gà mắc bệnh đầu đen 46

4.2.7 Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị 47

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51

5.1 Kết luận 51

5.2 Đề nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta có những bước phát triển

vượt bậc về số lượng cũng như chất lượng đã góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như: kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng gà thả vườn, giống, thức ăn và đặc biệt là dịch bệnh…

Do tốc độ phát triển chăn nuôi ngày càng tăng, số lượng gia cầm ngày càng nhiều, mật độ chăn nuôi ngày càng lớn nên môi trường ngày càng ô

nhiễm, làm cho nhiều dịch bệnh mới xuất hiện Trong đó, bệnh Histomonosis

là một bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà và gà Tây do loài đơn

bào Histomonas meleagridis gây ra đã và đang trở nên mối lo ngại thường

trực cho người chăn nuôi Bệnh có những bệnh tích đặc trưng: viêm hoại tử

mủ ở manh tràng và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu, tích thâm đen có thể gây chết đến 80% số gà mắc bệnh nếu không được điều trị kịp thời, ngoài ra còn tạo kén ở manh tràng và có tính lây lan nhanh Vì vậy, việc hiểu biết

bệnh do Histomonas gây ra để có biện pháp phòng chống bệnh có hiệu

quả là rất cấp thiết

Huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên là một trong những địa phương có

số lượng gà nuôi thả vườn khá lớn trong tỉnh, nhằm cung cấp lượng thực phẩm lớn cho người dân trong địa bàn và góp phần cải thiện kinh tế cho người chăn nuôi Tuy nhiên, các hộ chăn nuôi vẫn còn gặp phải một số khó khăn trong quá trình phòng trừ dịch bệnh cho gà

Xuất phát từ thực tế đó chúng em tiến hành thực hiện đề tài: “Áp dụng

quy trình phòng và trị bệnh đầu đen do Histomonas meleagridis trên gà thả vườn nuôi tại huyện Phú Bình - tỉnhThái Nguyên’’

Trang 10

1.2 Mục đích của nghiên cứu

- Áp dụng quy trình phòng và trị bệnh đầu đen do Histomonas

- Xác định tỷ lệ gà mắc bệnh và chết do bệnh đầu đen Histomonas

- Xác định được triệu chứng, bệnh tích của gà mắc bệnh

- Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh đầu đen cho gà

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp thông tin cần thiết về bệnh do Histomonas gây ra ở gà nuôi

thả vườn tại Phú Bình - Thái Nguyên

- Kết quả của đề tài là những cơ sở khoa học về tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết

và đặc điểm, lâm sàng, bệnh tích bệnh do Histomonas gây ra

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý và chăn nuôi hiểu thêm về nguyên nhân gây bệnh, đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, bệnh lý của bệnh trong

quá trình phát bệnh, mức độ thiệt hại kinh tế do bệnh gây ra Từ đó, áp dụng

quy trình phòng, trị bệnh cho gà, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc

đẩy chăn nuôi gà phát triển, ổn định kinh tế nông hộ (nông trại, trang trại)

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện của cơ sở

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Phú Bình là một huyện trung du nằm ở phía Nam tỉnh Thái Nguyên Trung tâm của Phú Bình là thị trấn Hương Sơn cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 23km về phía Nam Tổng diện tích đất tự nhiên của Phú Bình

là 249,36 km2.Vị trí địa lý của huyện:

- Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ

- Phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên

- Phía Tây Nam giáp huyện Phổ Yên

- Phía Đông giáp huyện Yên Thế, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang

- Phía Nam giáp huyện Hiệp Hòa của tỉnh Bắc Giang

Huyện có 21 đơn vị hành chính bao gồm 20 xã và 1 thị trấn Trong

đó có 7 xã miền núi (Tân Thành, Tân Đức, Tân Hòa, Tân Kim, Tân Khánh, Đồng Liên, Bàn Đạt), 13 xã trung du (Thượng Đình, Điềm Thụy, Nhã Lộng, Nga My, Hà Châu, Úc Kỳ, Bảo Lý, Đào Xá, Xuân Phương, Kha Sơn, Lương Phú, Thanh Ninh, Dương Thành) và một thị trấn Hương Sơn

Phú Bình nằm dọc 2 bên đường quốc lộ 37 với chiều dài 23km chạy qua trung tâm huyện, nối liền các tỉnh phía Bắc (Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn) với các tỉnh phía Nam của huyện (Bắc Giang, Bắc Ninh)

2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn

Theo sự phân bố về địa lý, Phú Bình có địa hình thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nằm ở bắc chí tuyến trong vành đai Bắc bán cầu nên

Trang 12

khí hậu của Phú Bình mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa nóng và mùa lạnh:

Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 hằng năm, thường mưa nhiều Mùa lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa lạnh mưa ít Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 - 24oC, lượng mưa trung bình từ

2000 - 2400mm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 7 và ít nhất là tháng 11

Độ ẩm trung bình trong năm từ 82 - 84%

Nguồn nước của Phú Bình chủ yếu là do Sông Cầu và Hồ Núi Cốc cung cấp Huyện có 2 dòng sông và 3 dòng suối chảy qua Sông Cầu chảy

từ đập thác Huống (xã Đồng Liên) chảy qua 9 xã đổ về Chã (Phổ Yên) với chiều dài 29km Sông Đào với chiều dài 33km bắt đầu từ đập thác Huống chảy qua địa phận 9 xã đổ ra sông Thương của Bắc Giang Ba dòng suối chính đều bắt nguồn từ phía Đông Bắc của huyện chảy về hướng Tây đổ ra Sông Cầu Sông Cầu chạy dọc từ Bắc xuống Nam và 2 hệ thống Thủy nông kênh mương Hồ Núi Cốc, kênh mương Sông Cầu với 48 hồ và đập lớn nhỏ cùng với 34 Trạm bơm điện được xây dựng hợp lý trong toàn huyện có khả năng cung cấp nước tưới cho khoảng 80% diện tích đất Nông nghiệp, khả năng tự chảy là 55% diện tích ruộng Hệ thống kênh mương đang được bê tông hóa để đảm bảo nước tưới cho sản xuất Nông nghiệp Tính đến hết năm 2014 toàn huyện kiên cố hóa được 185,3 km kênh mương theo chính sách đối ứng của tỉnh (Nhà nước và nhân dân cùng làm)

Tuy nguồn nước của huyện phong phú, nhiều suối và các kênh mương nhưng chưa phân bố đều, làm cho công tác thủy lợi gặp nhiều khó khăn, đặc biệt còn nhiều xã miền núi còn phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên, đẫn đến sản xuất Nông nghiệp gặp nhiều bất lợi Do vậy, lượng nước sạch cung cấp cho chăn nuôi cũng còn hạn chế và cũng là một trong nhiều yếu tố tạo điều kiện phát sinh và lây lan mầm bệnh

Trang 13

2.1.1.3 Giao thông, thủy lợi

Phú Bình có mạng lưới giao thông tương đối phong phú Quốc lộ 37 qua suốt chiều dài của huyện gần như chia đôi huyện thành 2 phần Hệ thống giao thông đến các xã đã và đang được bê tông hóa và rải nhựa từng phần Các xã đều có giao thông liên xã thuận lợi cho việc trao đổi Thông tin văn hóa, Khoa học kĩ thuật và Nông sản nền kinh tế của huyện cũng tương đối phát triển

Về đường thủy, với chiều dài Sông Cầu là 29km và Sông Đào là 33km là một trong những thuận lợi cho giao thông đường thủy phát triển Những năm gần đây công tác giao thông của huyện luôn được quan tâm chỉ đạo, thường xuyên đôn đốc các địa phương huy động nguồn lao động công ích để sửa chữa các tuyến đường cấp xã Huyện cấp kinh phí sửa chữa các tuyến đường cấp huyện được phân cấp quản lý đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các bộ ngành từ Trung ương đến Tỉnh đã thực hiện đầu

tư xây dựng nhiều tuyến đường giao thông như: Đường Kha Sơn - Lương Phú; đường Cầu Mây - Tân Khánh Đặc biệt là công trình Cầu Mây qua Sông Cầu và nhiều dự án đường giao thông đang được chuẩn bị đầu tư

2.1.1.4 Dân cư

Phú Bình là một huyện trung du với 21 đơn vị hành chính gồm 20 xã

và 1 thị trấn Tổng dân số của huyện là 147.168 người Vài năm gần đây, tốc độ tăng dân số có giảm dần song do đất chật người đông mật độ dân số vẫn ở mức cao, khoảng 590 người/km2 Trong đó có khoảng 71.539 lao động ở khu vực nông thôn, tỷ lệ sử dụng lao động tăng lên 95% Đây là nguồn nhân lực dồi dào để tăng cường phát triển kinh tế xã hội của huyện song đây cũng là một sức ép lớn về mặt tạo công ăn việc làm cũng như đào tạo kỹ năng cho người lao động nhất là lao động Nông thôn tiếp cận, hội nhập với khu vực và thế giới

Trang 14

Với hơn 90% dân số làm Nông nghiệp nên đời sống văn hóa kinh tế còn chậm phát triển Các phương tiện thông tin đại chúng như tài liệu, sách báo, Khoa học kỹ thuật đến với người dân còn hạn chế nên việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội còn rất khó khăn

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Phú Bình đến năm 2020 với mục tiêu tổng quát là: Xây dựng huyện Phú Bình thành một huyện phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội; Phát triển kinh tế mở, tạo đột phá về phát triển giao thông để thu hút đầu tư cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; Phát triển kinh tế nhanh, vững chắc và sớm hình thành cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ, nông nghiệp

có cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển; Văn hóa, giáo dục đào tạo và y tế tiên tiến; Phát huy và duy trì những bản sắc văn hóa, tinh thần của địa phương và xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh; Chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; Đảm bảo quốc phòng và an ninh

2.1.2 Điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng nơi thực tập

2.1.2.1 Cơ sở vật chất

Huyện Phú Bình là một huyện phát triển có đầy đủ các cơ sở vật chất

để phát triển ngành chăn nuôi Các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm được các hộ gia đình đầu tư xây dựng rất chắc chắn và có quy mô Được trang bị đầy đủ các thiết bị và hệ thống thức ăn, nước sạch để phục vụ cho đàn gia súc, gia cầm Vì huyện Phú Bình có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh nên người dân ở huyện đầu tư rất nhiều vốn vào con gà thả vườn chăm sóc và nuôi dưỡng rất tốt Từ đó cho ra những đàn gà khỏe mạnh, rất đẹp và chất lượng thương phẩm tốt Ngoài ra, Trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Phú Bình có kho lạnh bảo quản vaccine để chất lượng vaccine được đảm bảo phòng được bệnh cho đàn gia súc, gia cầm của người chăn nuôi

Trang 15

Huyện có 21 cán bộ thú y phục vụ công tác thú y cho các xã

Chính vì huyện Phú Bình có ngành chăn nuôi phát triển mạnh như vậy nên toàn bộ sự quan tâm của người dân đều tập trung cho đàn gia súc, gia cầm Bà con chăn nuôi rất chú trọng đến vấn đề phòng bệnh cho đàn vật nuôi do vậy các xã có rất nhiều các quầy thuốc thú y để phục vụ cho bà con chăn nuôi Các quầy thuốc làm nhiệm vụ phòng bệnh và tư vấn khám chữa bệnh cho các đàn gia súc, gia cầm để hạn chế dịch bệnh một cách thấp nhất tránh làm hao phí tiền bạc của bà con Tuy nhiên, bà con chăn nuôi cũng luôn muốn được tìm đến những đại lý thuốc thú y có uy tín và trình

Trang 16

Gà mái một năm tuổi nặng 1,2 - 1,5 kg; 4 - 5 tháng tuổi bắt đầu đẻ Sức đẻ năm đầu 100 - 120 trứng, trứng nặng 40 - 45 g, vỏ màu trắng Gà đẻ theo từng đợt 15 - 20 trứng, nghỉ đẻ và đòi ấp Nuôi con khéo Gà trống ba tháng đã biết gáy Một năm tuổi gà trống nặng 1,5 - 2 kg

Thịt gà Ri thơm, ngon, có màu trắng, sợi cơ nhỏ, mịn

2.2.1.2 Gà Mía

Giống gà gốc từ xã Đường Lâm (Hà Tây) Lông con trống màu đỏ tía

và vàng đất, con mái màu vàng đất, có khi có đốm đen ở cổ, đầu cánh và đuôi

Gà trống có mào đơn, tích và dái tai màu đỏ Thể chất khoẻ, xương to, chân

to, dáng lùn vừa phải Cơ ngực, cơ đùi phát triển

Con trống trưởng thành nặng 3,2 - 3,8 kg; con mái 2,6 - 3,0 kg Cho 60

- 75 trứng/mái/năm Trứng nặng 52 - 55 g, màu vỏ không đồng nhất, thường

là màu trắng phớt vàng Gà con chậm lớn, chậm mọc lông Gà mía thuộc loại

gà kiêm dụng theo hướng thịt trứng Thịt thơm ngon được người Việt Nam ta

ưa chuộng từ lâu đời

2.2.1.3 Gà Lương Phượng

Đây là giống gà kiêm dụng được Viện chăn nuôi nhập từ Trung Quốc

về từ 1999 và đến nay loại gà này có mặt hầu hết trên khắp nước ta Gà Lương Phượng có lông màu vàng, nhiều đốm màu, phần lớn có màu hoa mơ,

da và chân màu vàng, ức sâu nhiều thịt, mào đơn

Trọng lượng tăng khá nhanh, 10 tuần tuổi đạt 1,8 - 1,9 kg/con Gà mái bắt đầu đẻ trứng ở tuần tuổi thứ 21 với sản lượng 175 quả/mái/năm, tỷ lệ nở

80 - 85%, trọng lượng 50 - 55 g/quả, thời gian khai thác trứng kéo dài 52 tuần Tiêu tốn 2,6 - 2,7 kg thức ăn/ kg tăng trọng Nếu nuôi thả vườn, 3 tháng

có thể đạt 1,9 - 2,4 kg/con, tỷ lệ sống 92 - 95% tùy thuộc vào kinh nghiệm và

kỹ thuật chăn nuôi

Trang 17

2.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh do Histomonas meleagridis

2.2.2.1 Giới thiệu bệnh

Histomonosis là một bệnh ký sinh trùng truyền nhiễm nguy hiểm ở gà

và gà Tây do một loại đơn bào Histomonas meleagridis gây ra Bệnh có

những đặc trưng: Sốt cao, rét run, xù lông sã cánh, tiêu chảy phân lúc đầu như cầu trùng sau loãng trắng nhờ nhờ như nước cơm loãng kèm theo cục phân màu bã trầu…, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen nên từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Blackhead) Cũng vì các biến đổi đặc trưng viêm hoại tử tạo mủ tập trung song hành ở gan và ruột thừa (manh tràng), bệnh lại

có tính lây lan nhanh, nên bệnh còn có tên là bệnh viêm hoại tử Ruột - Gan

(Infectious Enterohepatitis)

Ở Việt Nam do các biến đổi đặc trưng ở giai đoạn cuối của bệnh tạo kén rất giống với kén tằm ở manh tràng nên người chăn nuôi thường gọi là bệnh kén ruột

Tháng 3 - 2010, Lê Văn Năm [5] đã có nghiên cứu đầu tiên về bệnh

và thấy rằng bệnh xảy ra ở tất cả các giống gà, chủ yếu là gà thả vườn đồi Do điều kiện của Việt Nam chăn nuôi gà Tây còn ít nên để hoàn thành khoá luận chúng em tìm hiểu về bệnh và nghiên cứu trên những gà nuôi thả vườn tại huyện Phú Bình - Thái Nguyên gồm có những giống gà như: Lương Phượng,

Gà mía, lai mía và các loại gà lai tạp khác giữa chúng với nhau và gà Ri Việt Nam, bà con chăn nuôi gọi chung là gà ta

2.2.2.2 Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis kí sinh ở gia cầm

* Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh

Trong mô tả đầu tiên của Smith (1895) [35], đơn bào H meleagridis

được biết đến là trùng amip Theo Van der Heijden H (2009) [37], vị trí của

đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại nguyên sinh động

vật như sau:

Trang 18

Sinh vật: Eukaryota

Giới: Excavata

Ngành: Metamonada Lớp: Parabasalia Bộ: Trichomonadida Họ: Monocercomonadidae (Diatamoebidae) Giống: Histomonas

Loài: Histomonas meleagridis Tuy nhiên, những năm sau đó việc phân loại Histomonas meleagridis đã

liên tục thay đổi

Gần đây, căn cứ vào kết quả phân tích trình tự gen, Cepicka và cs

(2010) [15] đã cho biết vị trí phân loại của H meleagridis như sau:

Giới: Protozoen (Protozoa)

Ngành: Parabasalia

Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis

* Hình thái học loài Histomonas meleagridis

Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen Smith (1895) [35] nhận thấy: ở gà Tây mắc bệnh thì gan và manh tràng là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh soi tươi, tác giả đã tìm thấy tác nhân gây

bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc ovan,

đường kính 8 - 14 µm Trong mô gan được cố định và nhuộm màu, đơn bào

có dạng hình ovan, đường kính dao động từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu

trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân Tác nhân gây bệnh có tên là H

Trang 19

Trong tất cả các giai đoạn, cấu tạo của đơn bào H meleagridis đều

thiếu ty thể nên chúng hô hấp yếm khí Đồng thời, những hạt nhỏ hình cầu

trong tế bào chất chính là hydrogenomes H meleagridis đã sử dụng

hydrogenomes để chuyển đổi pyruvate và malate trong môi trường yếm khí,

để tạo năng lượng dưới dạng ATP, đồng thời giải phóng phân tử hydro, acetate, carbon dioxyde

hình Amip và hình lưới Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có hai nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ) từ

nhân to mọc ra 4 cái roi Theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H

* Vòng đời Histomonas meleagridis

Trong tự nhiên đơn bào Histomonas meleagridis được tìm thấy trong đất,

nước, trong đường tiêu hóa, đường sinh dục của nhiều loài gia súc, gia cầm Trong cơ thể gia cầm chúng ký sinh và tồn tại rất lâu ở niêm mạc ruột thừa, gan và một số vị trí khác

con đường: lây nhiễm trực tiếp dưới hình thức gà ăn phân tươi chứa mầm bệnh và lây nhiễm gián tiếp từ môi trường chăn nuôi đã bị ô nhiễm bởi trứng

giun kim có phôi chứa H meleagridis

+ Truyền bệnh trực tiếp

Horton - Smith G và Long P L (1956 ) [21] cũng làm nhiều thí nghiệm gây nhiễm bằng cách cho gà khỏe nuốt trực tiếp gan và huyễn dịch trong manh tràng của gà bệnh nặng ở các thời gian đói khác nhau, phát hiện thấy gà khỏe nhiễm bệnh với tỷ lệ khác nhau Sở dĩ gây nhiễm bệnh cho gà khỏe qua

Trang 20

đường tiêu hóa thu được tỷ lệ nhiễm thấp là do H meleagridis không phù hợp

với môi trường pH thấp của đường tiêu hóa

McDougald L R và Fuller L (2005) [29] đã làm thí nghiệm gây nhiễm bệnh cho gà 2 tuần tuổi bằng cách: đưa vào lỗ huyệt mỗi gà với liều 200.000

tiến hành mổ khám gà chết thấy gan và manh tràng xuất hiện tổn thương điển

định: Bệnh Histomonosis truyền lây bệnh chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp Tuy nhiên, năm 2010 Jana Choutkova [39] khi lây nhiễm H meleagridis qua đường miệng lại thấy rằng tỷ lệ gà ốm và chết do Histomonosis thấp hơn

nhiều so với phương pháp gây bệnh qua lỗ huyệt Tỷ lệ mắc khoảng 20% và

tỷ lệ chết khoảng 2 - 3% trong khi lây nhiễm qua lỗ huyệt có tỷ lệ mắc trên 65% và tỷ lệ chết trên 45%

Một số tác giả cũng tiến hành gây nhiễm bệnh qua lỗ huyệt cho gà ở các lứa tuổi khác nhau với các liều khác nhau, sau đó tiến hành theo dõi trong 10 - 15 ngày những gà gây nhiễm, tỷ lệ chết lên đến trên 80%

+ Truyền bệnh qua giun kim

Hu J (2002) [23] đã đưa ra bằng chứng thuyết phục về hình thái học

của H meleagridis trong đường sinh sản và trứng của Heterakis dưới kính hiển vi quang học Tác giả đã tìm thấy H meleagridis ở cả giun Heterakis đực

và cái Trong Heterakids đực, H meleagridis ở trong lòng ruột, xâm nhập

các tế bào ruột và trong ống sinh tinh của tinh hoàn, ống dẫn tinh và túi

Trang 21

tinh H meleagridis xác định trong tất cả các bộ phận ở đường sinh dục của Heterakis cái

Ngoài sự tồn tại của H meleagridis trong giun kim Heterakis

ở đất nuôi gia súc, gia cầm Các nỗ lực để tìm H meleagridis trong các trứng

giun sán đã không đi đến kết luận nào Những con giun đất đóng vai trò quan

trọng trong sự lưu giữ trứng Heterakis, bởi giun đất là sinh vật “thu gom” và

“tập trung” trứng Heterakis từ môi trường vườn bãi; sân chơi hoặc nền

chuồng nuôi gà Ở những vùng mà kiểu khí hậu và loại đất thuận lợi cho sự

sinh trưởng của giun kim Heterakis và giun đất, cần chú ý kiểm soát bệnh đầu

đen tái diễn đều đặn theo chu kỳ ở gà

+ Truyền bệnh qua giun đất

Năm 1907, Curtice C [16] thông báo lần đầu tiên giun đất có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ trứng giun kim có phôi và trở thành nguồn lây

bệnh tiềm tàng trong đất Theo tác giả khi gà mắc bệnh Histomonosis chúng thải H meleagridis ra môi trường đất bằng hai cách: cách đầu tiên là H

trong phân gà bệnh có trứng giun kim mang mầm bệnh H meleagridis, khi gà bệnh thải phân mang H meleagridis bằng cả hai cách nêu trên ra ngoài thì

được giun đất sẽ ăn phân gà và trở thành kho chứa bảo lưu nguồn bệnh

Kemp R L và Springer W T (1978) [24] đã thực hiện nghiên cứu vai trò

của giun đất trong bệnh đầu đen bằng cách: Lấy giun đất Helodrilus gieseleri từ khu vực nuôi gà ta và gà Tây nhiễm H meleagridis và H gallinareus và đã xảy

ra bệnh đầu đen Đem hâm nóng cơ thể giun đất thì thấy rằng có rất nhiều ấu

trùng giun kim Heterakis nổi lên bề mặt cơ thể giun đất (theo tác giả khi giun đất ăn phải trứng giun kim có phôi chứa đơn bào H meleagridis và

Trang 22

H.gallinareus thì các ấu trùng giun kim sẽ được giải phóng trong đường tiêu hóa và di hành lên các xoang và mô chứa nhiều tế bào biểu mô để ký sinh và

phát triển, khi gà ăn phải các giun đất này sẽ bị lây nhiễm Histomonosis) Tác giã cũng cho biết thêm trứng giun kim Heterakis chứa H meleagridis và

năng gây bệnh, bởi giun đất đã bảo vệ ấu trùng giun kim tránh được các tác động bất lợi có nguồn gốc lý học, hóa học và các hoàn cảnh khắc nghiệt ngoài tự nhiên

2.3 Bệnh do Histomonas gây ra ở gà

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện vào tháng 3 năm 2010, Lê Văn Năm (2010) [5] cho biết bệnh gây thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi, làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống xã hội của một bộ phận không nhỏ người dân ở nước ta Tác giả cũng cho rằng các trang trại chăn nuôi gà thịt đang bị ô nhiễm nặng giun kim mà loài giun này được biết đến như 1 vectơ sinh học

truyền bệnh đơn bào H meleagridis cho gà và gà Tây

Trong tự nhiên bệnh đã phát ra hầu hết các loại gia cầm và hoang cầm như: gà Tây, gà ta, chim trĩ, chim công, chim câu, chim sẻ, chim cút, gà lôi,

đà điểu, vịt, ngan … Trong đó, theo Lotfi A R và cs (2012) [27] cho biết: gà Tây và gà là loại gia cầm mẫn cảm nhất, tỷ lệ mắc, ốm, chết cao nhất so với các loại gia cầm và hoang cầm khác

Theo Hafez H M và cs (2010) [20], tại Đức bệnh Histomonosis đã xảy ra ở

một trại gà đẻ nuôi thả vườn và đã làm chết trên 50% số gà trong trại Nhưng đến

năm 2003, McDougald L R [28] đã quan sát thấy bệnh Histomonosis đã gây chết

100% số gà Tây và 80% số gà ta tại một số vùng của Cộng hòa liên bang Đức

Ở Mỹ trong thời gian này cũng có nhiều thông báo tương tự về tình hình bệnh

do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà (Landman W J và cs., 2004 [25])

Trang 23

Ở các vùng khác thuộc châu Âu bệnh đã được nhiều tác giả phân tích, đánh giá và thống nhất với nhận định của Barriga O O (1981) [12]; Vander Heijden H

và cs., 2009 [37]

Ở Việt Nam trước năm 2010 không có một bất cứ thông báo nào về sự

có mặt của Histomonosis Cho đến tháng 3 năm 2010, Lê Văn Năm [5] đã cho

biết một loạt gia trại nuôi gà ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang; huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Ba Vì - Hà Nội … và một số địa phương khác đã xuất

hiện bệnh kén ruột tức là bệnh đầu đen hay Histomonosis ở gà nuôi thả vườn

Và cũng theo tác giả này bệnh Histomonosis đã có mặt ở hầu hết các địa

phương ở nước ta trong năm 2015

2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng làm cho gà mắc bệnh đầu đen

*Tuổi gia cầm mắc bệnh Histomonosis

Theo Lori Ann Lollis (2010) [26] tuổi gia cầm mắc bệnh được cho là yếu tố quan trọng nhất trong nghiên cứu dịch tễ bệnh Đầu đen bởi nó liên quan đến sức đề kháng của cơ thể gia cầm Tỷ lệ nhiễm (mắc), ốm và chết Gia cầm ở mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm bệnh, trong đó gia cầm non là mẫn cảm nhất, tuổi gia cầm càng cao thì khả năng kháng bệnh càng tốt nên tỷ lệ mắc bệnh càng giảm

Theo Jana Choutkova (2010) [39] gia cầm ở lứa tuổi từ 1 đến 2 tháng

tuổi bị mắc Histomonosis cao nhất và Histomonosis có các biểu hiện lâm

sàng, bệnh tích rõ nhất, điển hình nhất

Kết quả nghiên cứu của Hu J Fuller và McDougald L.R (2004) [22] cũng cho biết: Gà ở lứa tuổi 3 - 4 tuần có tỷ lệ mắc ốm và chết cao nhất sau

đó giảm dần ở gà đạt 5 - 6 tháng tuổi

Trang 24

* Động vật mắc bệnh Histomonosis

Histomonosis thấy ở đàn gà, gà Tây trên toàn thế giới Trong tự nhiên,

gà Tây, gà, chim trĩ, chim công, chim cút, gà lôi, đà điểu, vịt đều có thể bị bệnh Trong đó gà Tây mẫn cảm hơn cả

Cũng giống như gà Tây, gà dễ nhiễm bệnh, nhưng khả năng cảm nhiễm của gà thấp hơn so với gà Tây Tỷ lệ chết ở gà là 10% trong khi con số này ở

gà Tây có thể đạt 80 đến 100%

* Tính biệt trong bệnh Histomonosis

Mối liên quan tính biệt (giới tính) của gia cầm đến khả năng kháng

bệnh Histomonosis còn nhiều tranh cãi trên thế giới Popp C và HaFez H M

(2007) [32] cho rằng trong tự nhiên gà trống mẫn cảm và dễ mắc, ốm và chết

bởi Histomonosis hơn là gà mái Nhưng đến năm 2008 thì Liebhart D và cs [19] công bố không có sự khác nhau tỷ lệ nhiễm, ốm và chết do H

Năm 2011, Lê Văn Năm [6] cũng đã có các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

gà trống mắc và chết do bệnh Histomonosis cao hơn ở gà mái

* Mùa vụ thời tiết ảnh hưởng đến bệnh Histomonosis ở gia cầm

Bệnh đầu đen đã được ghi nhận tại khắp các Châu lục trên thế giới và bệnh cũng trải dài khắp các vùng khí hậu từ Nhiệt đới đến Ôn đới sang Hàn đới Tuy nhiên, các tác giả đều chỉ rõ nhiệt độ và ẩm độ là các yếu tố quan

trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, lưu hành H meleagridis và vì thế có

sự thống nhất cao: Bệnh Histomonosis thường xuyên xảy ra ở các nước trên

thế giới vào các tháng nóng nhất (nhiệt độ cao nhất) và ẩm độ cao nhất Ở miền Bắc Việt Nam, Lê Văn Năm (2011) [6] cũng đã công bố bệnh thường phát ra vào các mùa nóng ẩm: cuối xuân đến hè và đầu thu Tuy nhiên, bệnh cũng rất phổ biến trong các tháng mưa dầm trong và ngoài Tết Nguyên đán

Trang 25

* Ảnh hưởng của hình thức chăn nuôi đến bệnh Histomonosis

Đường truyền lây bệnh là cơ sở vững chắc về mặt khoa học có tác động

lớn nhất đến sự ảnh hưởng của hình thức chăn nuôi lên mức độ bệnh

gà con mà gà bị nhiễm chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp (ăn trực tiếp phân gà bệnh) hoặc gián tiếp do môi trường, dụng cụ, thiết bị, thức ăn, nước uống bị ô

nhiễm trứng giun kim có phôi chứa H meleagridis Ngoài ra, căn nguyên còn

được giun đất bảo vệ trước các tác động khắc nghiệt của môi trường tự nhiên nên trở thành nguồn bệnh gián tiếp nguy hiểm nhất

Với việc làm sáng tỏ phương thức truyền lây bệnh các chuyên gia trên thế giới đã thống nhất hình thức chăn nuôi gà khác nhau sẽ có tỷ lệ mắc, ốm

và chết do bệnh Histomonosis khác nhau, trong đó chăn nuôi thả vườn có tần

số xuất hiện bệnh cao nhất (Tyzzer E E và Collier J., 1925 [36])

* Ảnh hưởng của điều kiện vệ sinh chăn nuôi đến bệnh Histomonosis

Vệ sinh chăn nuôi tốt có ý nghĩa to lớn trong việc ngăn chặn sự xuất hiện căn nguyên, hạn chế phát tán chúng ra môi trường xung quanh và làm giảm thiểu tối đa tác động xấu của các yếu tố stress khác lên cơ thể gia cầm

Do đặc điểm H meleagridis được lưu giữ lâu trong trứng giun kim có

phôi trong phân gà và trong cơ thể giun đất, nên việc đảm bảo vệ sinh chăn nuôi đóng vai trò to lớn không những trong quá trình xuất hiện bệnh mà còn hết sức đặc biệt quan trọng trong quá trình chống tái nhiễm sau điều trị (bởi vì căn nguyên đang tồn tại trong giun đất)

2.3.2 Cơ chế sinh bệnh

Căn nguyên H meleagridis thâm nhập vào cơ thể bằng hai đường cơ

bản: đó là đường miệng và lỗ huyệt

Trong tự nhiên gà bị nhiễm H meleagridis chủ yếu qua đường tiêu hóa

Do gà không tự tổng hợp được Vitamin B12 nên chúng ta phải bổ sung bắt

Trang 26

buộc Vitamin B12 vào thức ăn hoặc chúng phải tự ăn phân của nhau để hấp thu Vitamin B12 Vì thế hiện tượng gia cầm nói chung và gà nói riêng ăn phân của nhau là rất phổ biến

Phân gà chứa trứng giun kim có phôi trong đó có H meleagridis bằng

cách này hay cách khác được gieo rắc vào môi trường chăn nuôi: đất, nguồn nước, thức ăn, dụng cụ thiết bị chăn nuôi… Thậm chí giun đất sống trong đất cũng sẽ bò lên ăn phân gà bệnh và lưu giữ nguồn bệnh Gà bị nhiễm căn nguyên từ các nguồn ô nhiễm nêu trên gọi là nhiễm bệnh gián tiếp

Vào đến đường tiêu hóa vỏ trứng giun kim bị phá vỡ dưới sự tác dụng

trực tiếp của dịch dạ dày ruột và giải phóng ra H meleagridis Các H

ruột và di hành đến các tế bào biểu mô ở đoạn hồi tràng đặc biệt là manh tràng Tại đây, chúng chui vào ký sinh trong các tế bào đích và sinh trưởng, phát triển rất nhanh theo nguyên tắc trực phân và chỉ trong thời gian rất ngắn chúng đã tăng lên với số lượng khổng lồ dẫn đến các tế bào biểu mô đích bị

phá vỡ và giải phóng ra hàng loạt các H meleagridis thế hệ mới gọi là thể

phân lập 1 Các thể phân lập 1 này nhanh chóng thâm nhập vào các tế bào biểu mô mới và tiếp tục sinh trưởng, phát triển để tạo ra các thể phân lập thế

hệ 2, 3 …

Về bản chất quá trình này của bệnh do H meleagridis gây ra hoàn toàn

có cơ chế sinh bệnh và tác hại của bệnh giống hệt như bệnh cầu trùng Giai đoạn này được gọi là giai đoạn 1 hoặc pha 1 của cơ chế sinh bệnh, một số các thể phân lập thế hệ 1, 2 … trong thời điểm này đã thâm nhập vào đường huyết

và tiếp tục di hành trong khắp cơ thể gà gây nên nhiễm trùng huyết (gà bị sốt cao, uống nhiều nước, tiêu chảy loãng …) Hess M., Kolbe T và cs (2006) [17]; Senties - Cúe và cs (2009) [33]

Trang 27

Ngoài gan và manh tràng, người ta còn tìm thấy H meleagridis trong dạ dày tuyến, tá tràng, ruột già, tuyến tụy, túi Fabricius, thận, lá lách, tim, phổi,

tuyến ức, não, tủy xương Tuy đến khắp các tổ chức, cơ quan cơ thể gà nhưng

các thể phân lập của H meleagridis chỉ sống và tồn tại được một số nơi như:

gan, lách, thận, dạ dày tuyến … Trong đó gan là cơ quan phù hợp thứ hai sau

manh tràng để H meleagridis tồn tại lâu và gây bệnh

2.4 Triệu chứng và bệnh tích của gà mắc bệnh đầu đen

2.4.1.Triệu chứng

Theo Lê Văn Năm (2010) [5], thời kỳ ủ bệnh thường kéo dài từ 1 - 4

tuần và phụ thuộc rất nhiều vào nhiễm trùng thứ phát

Bệnh thể hiện ở hai thể cấp tính và mãn tính, rất ít khi bệnh xảy ra ở thể quá cấp

* Thể quá cấp và cấp tính

Các triệu chứng lâm sàng bệnh ở thể quá cấp và cấp tính này rất dữ dội

và thường thấy ở gà 2 - 4 tháng tuổi:

Bệnh xảy ra hết sức đột ngột, gà đột nhiên ủ rũ và rúc đầu vào dưới

cánh, đứng dạng rộng chân, sã cánh, xù lông, bỏ ăn, sốt cao 43 - 44oC, tiêu chảy phân vàng lẫn bọt màu lưu huỳnh, nhưng đôi khi là phân vàng xanh, vàng trắng lẫn máu Da mép, da vùng đầu, mào, tích nhanh chóng có màu xám xanh rồi chuyển sang xanh đen hoặc thâm đen, nhìn thấy rõ nhất là ở gà Tây, từ đây bệnh có tên là bệnh đầu đen (Black Head)

Gần cuối giai đoạn ốm thân nhiệt gà giảm mạnh xuống dưới mức bình thường (39 - 38oC) nên gà cảm thấy rất rét Vì vậy, cho dù bệnh xảy ra trong các tháng mùa nóng, nhưng những gà ốm vẫn tìm những nơi có ánh nắng mặt trời hoặc lò sưởi để sưởi ấm, mắt nhắm nghiền, đứng im không cử động Bệnh kéo dài 7 - 20 ngày nên gà rất gầy, chúng có biểu hiện run rẩy hoặc co giật rồi chết do suy nhược cơ thể Tỷ lệ chết rất cao 80 - 95% (nếu

Trang 28

không được điều trị kịp thời) Gà bị nhiễm trùng ở thể nhẹ hoặc nghiêm trọng gây ra tỷ lệ tử vong cao Phân gà màu lưu huỳnh kết hợp với máu thải ra ngoài nên bệnh trở nên nghiêm trọng, bệnh lý này của gà gần giống bệnh cầu trùng Theo AbdulRahman Lotfi (2011) [10], gia cầm khoảng 3 - 12 tuần tuổi

có tỷ lệ và cường độ nhiễm H meleagridis cao, với các triệu chứng điển hình

và tỷ lệ chết lên tới 70 - 90% Thời gian ủ bệnh từ 15 - 21 ngày Gia cầm mắc bệnh đột nhiên thấy sốt cao 43 - 44oC, đứng ủ rũ, hai mắt nhắm nghiền, ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nước nhiều (Barger và Card., 1949 [11]; McDougald., 2008 [30]), lông xù, vùng hậu môn lông bết và bẩn do bị tiêu chảy, phân màu lưu huỳnh (Burr., 1987 [14]) Triệu chứng tiêu chảy phân màu lưu huỳnh xảy ra trong giai đoạn cuối của bệnh, khi chức năng gan bị suy yếu Gia cầm sã cánh, đứng run rẩy, giấu đầu vào dưới cánh (McDougald., 2008 [30])

* Thể mãn tính

Thể mãn tính thường thấy ở gà ta, gà Tây lớn tuổi với sự xuất hiện các triệu chứng đặc trưng như đã mô tả ở phần thể cấp tính, nhưng cường độ biểu hiện yếu vì thế có thể quan sát thấy thể trạng đàn gà lúc tốt, lúc xấu Các giai đoạn phát triển giống như cầu trùng Lúc đầu gà ỉa chảy loãng, phân sống sau chuyển sang sệt màu cà phê hoặc vàng xanh lẫn máu, sau 5 - 7 ngày mắc bệnh phân nhầy lẫn nhiều máu hơn, thậm chí máu tươi khó đông giống như máu cá chết, sau đó phân đóng thành thỏi rắn có màu gạch non, xung quanh bãi phân

là toàn nước sữa loãng Bệnh kéo dài 2 - 3 tuần thậm chí hàng tháng nên gà rất gầy và kết thúc gà bị chết vì suy nhược và tự nhiễm độc hoặc chết do bệnh thứ phát

2.4.2 Bệnh tích

Bệnh tích bệnh do Histomonas tập trung chủ yếu ở manh tràng và gan

Trang 29

* Các biến đổi ở manh tràng:

Qua gây nhiễm, Kemp R L và Springer W T (1978) [24] đã xác định được tổn thương đầu tiên trong manh tràng từ ngày thứ 8 sau khi nhiễm Manh tràng bị viêm sưng, thành manh tràng dày lên gấp nhiều lần Sau đó trong dịch tiết có hồng cầu, bạch cầu, ký sinh trùng và chất dịch từ thức ăn tích lại tạo thành kén rắn chắc, màu trắng giống như pho mát Đôi khi còn thấy manh tràng bị viêm loét, thủng, rò rỉ chất chứa gây viêm phúc mạc

Có thể chỉ một trong hai bên hoặc cùng một lúc cả 2 manh tràng xuất

hiện các biến đổi: Lúc đầu phồng to, dài hơn, sau đó thành manh tràng dày lên

và rắn chắc hơn Màu sắc, độ đàn hồi và độ trơn bóng của manh tràng bị thay đổi Bề mặt bên trong manh tràng trở nên sần sùi, có màu vàng xám, niêm mạc manh tràng tăng sinh dầy lên và rắn chắc Khi bổ đôi manh tràng ta thấy chất chứa có màu trắng vàng xanh hoặc trắng nâu lẫn máu hoặc máu tươi do thẩm xuất chứa Fibrin đóng quánh cùng các tế bào viêm khác nhau bị cazein hóa, đóng thành cục theo từng lớp cuộn tròn, các chất viêm dần dần nút chặt lòng ruột manh tràng Không ít trường hợp khi bổ đôi dọc theo chiều dài của manh tràng ta thu được một lõi chất chứa màu trắng ngà có các nếp ngang rất giống con tằm hoặc con sâu khoai Có lẽ vì thế nên bà con chăn nuôi gọi bệnh đầu đen là “bệnh kén ruột”

Niêm mạc manh tràng bị viêm loét nặng, thậm chí bị thủng và chảy chất chứa vào xoang bụng gây viêm phúc mạc nặng khi đó gà chết đột tử

Rất nhiều trường hợp 2 manh tràng dính chặt với nhau hoặc 1 trong 2 manh tràng dính vào các cơ quan nội tạng hoặc phúc mạc bụng Vết loét nhỏ hoặc lớn ăn sâu vào thành ruột làm thủng thành ruột và khi đó có thể vỡ ra tràn phân và dịch viêm vào xoang bụng gây viêm dính xoang bụng với ruột

Trang 30

* Các biến đổi ở gan:

Tổn thương gan thường bắt đầu vào ngày thứ 10 Gan sưng to cực đại, gấp 2 - 3 lần bình thường, mềm nhũn và nhìn thấy rất nhiều ổ viêm xuất huyết, hoại tử trên bề mặt gan Lúc đầu trên bề mặt gan có các đốm đỏ thẫm làm cho gan lỗ chỗ như đá hoa cương, sau đó biến thành ổ hoại tử màu trắng hình hoa cúc như ổ lao hoặc như khối u của bệnh marek

Về sau các ổ viêm loét hoại tử có màu trắng xám đỏ, đặc nhưng lõm ở giữa Chúng có hình tròn, rìa mép ổ viêm có hình răng cưa Với độ lớn rất khác nhau, nhưng chủ yếu to từ 1 - 2 cm, khi cắt đôi ổ loét ta thấy chúng có hình nón chứa đầy chất chứa đặc quánh

Nếu lấy chất chứa xung quanh ổ loét để xét nghiệm sẽ thấy chúng gồm

các tế bào bạch cầu, đại thực bào, đơn bào và ký sinh trùng Histomonas

còn sống

Các tổn thương ở các cơ quan khác như túi Fabricius, phổi, lá lách,

tuyến tụy, thận, dạ dày tuyến và màng treo ruột đôi khi có thể xảy ra dưới dạng các ổ hoại tử tròn, màu trắng hoặc màu vàng (Shivaprasaud H L và cs.,

Trang 31

* Với gà đã chết

Phương pháp chẩn đoán sau khi gia cầm chết là phương pháp chính xác nhất Việc chẩn đoán được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích kết hợp với việc lấy các cơ quan nội tạng như gan, manh tràng để

tìm đơn bào H meleagridis ký sinh

Tiến hành mổ khám gà chết do Histomonosis, quan sát thấy ở gan và

manh tràng bị tổn thương nặng, bệnh tích điển hình của bệnh là: gan to gấp 2

- 3 lần, bề mặt gan có những ổ hoại tử lỗ chỗ như đá hoa cương hoặc ổ hoại tử hình hoa cúc màu trắng hoặc vàng nhạt

- Thường xuyên quét dọn, vệ sinh khu vực chăn nuôi

- Chia khu vực chăn nuôi thành nhiều ô, thực hiện nuôi luân phiên gà trên các ô, tiến hành làm sạch, khử trùng tiêu độc ô chuồng vừa nuôi, để trống

chuồng một thời gian dài giúp phòng bệnh Histomonosis có hiệu quả (Burr.,

1987 [14])

- Thức ăn và nước uống phải được vệ sinh sạch sẽ, thiết kế vị trí để sao cho không lây nhiễm phân vào thức ăn, nước uống của gà (Barger E H và Card L E., 1949 [11])

- Không thả gà ra vườn vào những ngày mưa gió

- H meleagridis có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh, do đó cần hạn chế cho

gà tiếp xúc với đất, nên nuôi gà trên nền bê tông

Trang 32

- Hàng tuần cần phun thuốc khử trùng chuồng trại, cuốc xới vườn rồi rắc vôi bột để diệt trứng giun kim

* Trị bệnh

Ở Hoa Kỳ, Dimetridazole và Ipronidazole là 2 loại thuốc điều trị

nhiên, những năm 1990 các nhà quản lý thực phẩm và thuốc ở Hoa Kỳ đã có quyết định cấm sử dụng 2 sản phẩm này vì thuốc tồn dư lâu trong sản phẩm

và có thể gây ung thư

Nitarsone, một hợp chất chứa asen, có hiệu quả trong ngăn ngừa bệnh đầu đen khi sử dụng liên tục trong thức ăn, nhưng đây là một loại thuốc đắt tiền Hiện tại chưa có loại hóa dược nào điều trị đầu đen có hiệu quả cao

Ở Việt Nam hiện nay cũng đã có một số loại thuốc được sử dụng để điều trị bệnh đầu đen cho gà mang lại hiệu quả cao

+ Liều lượng: 100g/ 700kgP/ ngày

+ Cách dùng: Pha nước uống hoặc trộn thức ăn

- Sulfamono - Tri:

+ Thành phần: Sulfamonomethoxine: 50g

Trimethoprime : 10mg

Tá dược đặc biệt vđ : 100g

Trang 33

+ Liều lượng: 1g/ 25 - 30kg TT/ ngày

+ Cách dùng: Pha nước uống hoặc trộn thức ăn

- T Cúm gia súc:

+ Thành phần: Acetaminophen : 20g

Tá dược và phụ gia vừa đủ: 100g

+ Liều lượng: 2g/ 1 lít nước/ ngày

+ Cách dùng: Pha với nước uống hoặc trộn với thức ăn

+ Liều lượng: 1g/ 1 lít nước/ ngày

+ Cách dùng: Pha với nước uống hoặc trộn đều với thức ăn

- Sulfa Tri 5- 1:

+ Thành phần: Sulfadimethoxine : 10.5g

Trimethoprime : 2.1g

Tá dược, thảo dược và dung môi vđ: 100ml

+ Liều lượng: 1ml/ 1 lít nước cho uống tương đương 1ml/ 4 - 6 kg TT + Cách dùng: Pha nước uống hoặc cho uống trực tiếp

- T.Flox.C:

+ Thành phần: Norfloxacin : 10,0g

Vitamin C : 1,0g

Tá dược vừa đủ: 100g

+ Liều lượng: 10g/ 50kgP/ ngày

+ Cách dùng: Pha với nước uống hoặc trộn với thức ăn

Trang 34

2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] cho biết: Giun Heterakis kích

thích niêm mạc ruột gây tụ huyết, ngoài ra còn chiếm đoạt dinh dưỡng của gà làm con vật gầy yếu, gà con chậm lớn Trong quá trình ký sinh, chúng tiết độc tố và sản vật khác nên gà bị trúng độc và dễ mắc bệnh viêm gan, ruột

do loại đơn bào H meleagridis xâm nhập vào trứng giun kim, gà ăn phải

trứng này thì mắc bệnh

Nguyễn Xuân Bình và cs (2002) [1], đơn bào H meleagridis gây bệnh

có thể tồn tại 2 - 3 năm trong trứng của giun kim, gà ăn phải trứng giun

kim có chứa H meleagridis sẽ bị bệnh

Phạm Sỹ Lăng và Tô Long Thành (2006) [4] đã có những thông tin về

đơn bào H meleagridis và những tác hại của chúng gây ra ở gà, gà Tây ở nước ta và cũng thống nhất đặt tên bệnh là “bệnh viêm gan ruột do trùng roi

ở gà (Infectious Enterohepatitis)”

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2008) [3], H meleagridis sống ký sinh trong trứng loài giun kim Heterakis gallinae Cả hai loài này đều sống ký

sinh trong ruột gà, gà Tây và cả hai đều gây bệnh cho gà

Tháng 3/2010, Lê Văn Năm (2010) [5], bắt đầu đề cập về căn bệnh này tại một số tỉnh phía Bắc Tác giả kết luận rằng, nguyên nhân cơ bản gây nên hiện tượng chết hàng loạt gà thịt tại thời điểm đó là do sự cảm nhiễm, xâm

nhập và nhân lên nhanh chóng của đơn bào có tên khoa học là H meleagridis

trong cơ thể gà thông qua việc đàn gà đang bị nhiễm nặng giun kim và trứng giun kim có chứa ấu trùng gây bệnh

Trương Thị Tính (2016) [9] đã gây nhiễm bệnh đầu đen cho 20 gà qua

lỗ huyệt, liều 300.000 Histomonas/gà để nghiên cứu bệnh tích của gà bị

bệnh đầu đen

Ngày đăng: 11/04/2021, 07:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002), 66 bệnh gia cầm và cách phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 17 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 66 bệnh gia cầm và cách phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
2. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 130 - 133, 138 - 140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang (2008), Ký sinh trùng học thú y (giáo trình dùng cho bậc cao học), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 72 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng học thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Thị Lê, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
4. Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành (2006), Bệnh đơn bào ký sinh ở vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 92 - 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đơn bào ký sinh ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Tô Long Thành
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Lê Văn Năm (2010), “Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh đầu đen, bệnh kén ruột thừa”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập II, số 3, tr. 53 - 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm Gan - Ruột truyền nhiễm ở gà, bệnh đầu đen, bệnh kén ruột thừa"”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2010
6. Lê Văn Năm (2011), “Bệnh đầu đen ở gà và gà tây”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XVII, số 4, tr. 88 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đầu đen ở gà và gà tây"”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Văn Năm
Năm: 2011
7. Nguyễn Văn Thiện (2008), Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
8. Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm, Đỗ Thị Vân Giang (2015), ‘‘Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang’’, Tạp chí khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XXII, số 3, tr. 53 - 59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm, Đỗ Thị Vân Giang
Năm: 2015
9. Trương Thị Tính (2016), ‘‘Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra trên gà tại Thái Nguyên, Bắc Giang và biện pháp phòng trị’’, Luận án Tiến sĩ Thú y, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis" gây ra trên gà tại Thái Nguyên, Bắc Giang và biện pháp phòng trị’’, "Luận án Tiến sĩ Thú y
Tác giả: Trương Thị Tính
Năm: 2016
10. AbdulRahman Lotfi (2011), Untersuchungen zur Pathogenese und Prophylaxe der Histomonose beim Geflügel, Aus dem Institut für Geflỹgelkrankheiten des Fachbereiches Veterinọrmedizin der Freien Universitọt Berlin, pp. 12 - 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Untersuchungen zur Pathogenese und Prophylaxe der Histomonose beim Geflügel
Tác giả: AbdulRahman Lotfi
Năm: 2011
11. Barger E. H. và Card L. E. (1949), Diseases and parasites of poultry, Lea & Febiger, Philadelphia, pp. 224 - 231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diseases and parasites of poultry
Tác giả: Barger E. H. và Card L. E
Năm: 1949
12. Barriga O. O. (1981), The immunology of parasitic infections, University Park Press, Baltimore, pp. 60 - 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The immunology of parasitic infections
Tác giả: Barriga O. O
Năm: 1981
13. Bleyen N., De Gussem K., De Gussem J. và Goddeeris B. M. (2007), Specific detection of Histomonas meleagridis in turkeys by a PCR assay with an internal amplification control, Vet. Parasitol, 143, 3 - 4, pp. 206 - 213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Specific detection of Histomonas meleagridis in turkeys by a PCR assay with an internal amplification control
Tác giả: Bleyen N., De Gussem K., De Gussem J. và Goddeeris B. M
Năm: 2007
14. Burr E. W. (1987), Companion bird medicine, Iowa State University Press, Iowa, pp. 129 - 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Companion bird medicine
Tác giả: Burr E. W
Năm: 1987
15. Cepicka I., Hamp V. và Kulda J. (2010), Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species, Protist, 161, pp. 400 - 433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Critical Taxonomic Revision of Parabasalids with Description of one new Genus and three new Species
Tác giả: Cepicka I., Hamp V. và Kulda J
Năm: 2010
16. Curtice C. (1907), The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease, R. I. Agri. Exp. Sta. Bull, 123, pp. 1 - 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The rearing and management of turkeys with specireference to the blackhead disease
Tác giả: Curtice C
Năm: 1907
17. Hess M., Kolbe T., Grabensteiner E. và Prosl H., (2006), Clonal cultures of Histomonas meleagridis, Tetratrichomonas gallinarum and a Blasctocystis sp. established through micromanipulation, Parasitology 133, pp. 547 - 554 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clonal cultures of Histomonas meleagridis, Tetratrichomonas gallinarum and a Blasctocystis sp. established through micromanipulation
Tác giả: Hess M., Kolbe T., Grabensteiner E. và Prosl H
Năm: 2006
18. Liebhart D., Weissenbock H., Hess M. (2006), “In - situ hybridization for the detection and identification of Histomonas meleagridis in tissues”, J.Comp. Pathol., 135, pp. 237 - 242 Sách, tạp chí
Tiêu đề: In - situ hybridization for the detection and identification of "Histomonas meleagridis" in tissues”, "J. "Comp. Pathol
Tác giả: Liebhart D., Weissenbock H., Hess M
Năm: 2006
19. Liebhart D., Grabensteiner E., Hess M. (2008), ‘‘A virulent mono - eukaryotic culture of Histomonas meleagridis is capable of inducing fatal Histomonosis in different aged turkeys of both sexes, regardless of the infective dose’’, Avian Dis., 52 (1), pp. 168 - 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histomonas meleagridis" is capable of inducing fatal "Histomonosis "in different aged turkeys of both sexes, regardless of the infective dose"’"’, "Avian Dis
Tác giả: Liebhart D., Grabensteiner E., Hess M
Năm: 2008
20. Hafez H. M., Hauck R., Gad W., De Gussem K., Lotfi A. (2010), “Pilot study on the efficacy of paromomycin as a histomonostatic feed additive in turkey poults experimentally infected with Histomonas meleagridis”, Arch Anim Nutr, 64 (1), pp. 77 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pilot study on the efficacy of paromomycin as a histomonostatic feed additive in turkey poults experimentally infected with Histomonas meleagridis
Tác giả: Hafez H. M., Hauck R., Gad W., De Gussem K., Lotfi A
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w