ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ HÀ MY Tên đề tài: “ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRONG PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRONG GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔ
Trang 1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ HÀ MY
Tên đề tài:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRONG PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRONG GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRANG TRẠI NHÂM XUÂN TIẾN, THÔN ĐÔNG HÒA,
XÃ ĐÔNG Á, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH.”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
Khóa học: 2014 – 2018
Thái Nguyên - 2018
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ HÀ MY
Tên đề tài:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRONG PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON TRONG GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRANG TRẠI NHÂM XUÂN TIẾN THÔN ĐÔNG HÒA,
XÃ ĐÔNG Á, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp : Thú y - K46 - N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Mạnh Cường
Thái Nguyên - 2018
Trang 3Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Nguyễn Mạnh Cường đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện thành công khóa luận này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện khóa luận này Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi thú y đã tạo điều kiện, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới trang trại Nhâm Xuân Tiến,
đã giúp đỡ về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực tập tại trang trại
Tôi xin cảm ơn đội ngũ kỹ thuật trại anh Nguyễn Hồng Thanh đã chia
sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp quý báu cho tôi
Cuối cùng, tôi xin dành lòng biết ơn tới người thân, gia đình và bạn bè
đã giúp đỡ, cổ vũ, động viên về tinh thần và vật chất cho tôi trong suốt thời gian tiến hành thực tập và hoàn thành khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ đó!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2018
Sinh viên
Trang 4
ii
DANH MỤC BẢNG Trang Bảng 3.1 Quy trình phòng bệnh bằng vaccine tại trại 33
Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 3 năm gần đây 37
Bảng 4.2 Kết quả tiêm phòng cho lợn tại cơ sở 38
Bảng 4.3 Kết quả điều trị bệnh cho lợn 39
Bảng 4.4 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh theo đàn và theo cá thể 40
Bảng 4.5 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo tháng theo dõi 41
Bảng 4.6 Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi 42
Bảng 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 44
Bảng 4.8 Các triệu chứng lâm sàng của lợn mắc bệnh phân trắng 44
Bảng 4.9 Kết quả mổ khám bệnh tích 45
Bảng 4.10 Kết quả thử nghiệm hai phác đồ điều trị bệnh 46
Bảng 4.11 Kết quả thực hiện công tác khác trên đàn lợn 47
Trang 6iv
MỤC LỤC Trang LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại 3
2.1.2 Đánh giá chung 7
2.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước 7
2.2.1 Cơ sở khoa học 7
2.2.1.6 Bệnh phân trắng lợn con 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 25
2.2.3 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 27
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 29
3.1 Đối tượng 29
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 29
3.3 Nội dung thực hiện 29
3.3.1 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn tại trại 29
3.3.2 Quy trình phòng và trị bệnh cho lợn tại trại 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 36
Trang 7v
3.4.1 Phương pháp điều tra 36
3.4.2 Phương pháp chẩn đoán lâm sàng 36
3.4.3 Xác định bệnh tích thông qua kết quả mổ khám tại chỗ 36
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm gần đây 37
4.2 Kết quả tiêm phòng vaccine cho lợn tại cơ sở 38
4.3 Kết quả điều trị bệnh cho lợn 39
4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con từ sơ sinh - 21 ngày tuổi tại trại 39
4.4.1 Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng theo đàn, theo cá thể 39
4.4.2 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tháng theo dõi 41
4.4.3 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo lứa tuổi 42
4.4.4 Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con theo tính biệt 44
4.4.5 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc bệnh phân trắng lợn con 44
4.4.6 Kết quả mổ khám bệnh tích lợn chết do mắc bệnh phân trắng lợn con 45 4.4.7 Kết quả thử nghiệm hiệu lực của hai phác đồ điều trị 46
4.4.8.Công tác khác 47
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHỤ LỤC
Trang 81
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Nước ta vốn là một nước nông nghiệp, trong đó chăn nuôi là một ngành nghề rất quan trọng và thu hút được nhiều lao động Chăn nuôi cung cấp một nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người,
có giá trị dinh dưỡng cao như: thịt, trứng, sữa…, cung cấp phân bón cho ngành trồng trọt, các phụ phẩm: da, lông, sừng… cho công nghiệp chế biến Chính vì thế chăn nuôi lợn hiện đang là nghành đang rất phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế hộ gia đình nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, chăn nuôi truyền thống chuyển sang mô hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hiện đại
Cùng với đó việc chăn nuôi lợn ngày càng được mở rộng và phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa thì tình hình dịch bệnh xảy ra như một thách thức đồi với ngành chăn nuôi, làm ảnh hưởng rất lớn đến năng xuất, chất lượng hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi lợn Đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nới trên thế giới, ở các nước đang phát triển Như Việt Nam bệnh xảy
ra hầu như quanh năm, nhất là khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm…) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh, lợn con sinh ra không được bú kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đủ chất dinh dưỡng
Bệnh phân trắng ở lợn con là bệnh truyền nhiễm cấp tính Lợn con mắc
bệnh này sẽ bị ỉa chảy, bệnh do vi khuẩn E.coli gây nên, khi lợn con mắc
bệnh nếu điều trị không kịp thời sẽ dẫn đến còi cọc, chậm lớn, làm ảnh hưởng đến chất lượng con giống, khả năng sinh trưởng, phát triển chậm, gây tổn thất kinh tế lớn cho người chăn nuôi Do đó ngoài yếu tố dinh dưỡng, chế độ chăm
Trang 92
sóc nuôi dưỡng thì công tác thú y là khâu rất quan trọng Việc phòng và điều trị bệnh phân trắng cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản và đảm bảo cho sự tăng trưởng trong cơ cấu đàn
Mặc dù đã được quan tâm chăm sóc rất tốt, xong do ảnh hưởng của thời tiết và một phần công tác thú y chưa mang lại hiệu quả, nên bệnh phân trắng ở lợn con vẫn xảy ra thường xuyên và gây hậu quả nghiêm trọng
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự hướng dẫn của thầy giáo ThS
Nguyễn Mạnh Cường tôi thực hiện đề tài: “Áp dụng quy trình kỹ thuật trong phòng và điều trị bệnh phân trắng lợn con trong giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi.”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại chăn nuôi
- Nâng cao được trình độ chuyên môn
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn của ông Nhâm Xuân Tiến
- Ứng dụng và đánh giá hiệu lực 1 số pháp đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả
Trang 103
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trang trại
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trại lợn nái của ông Nhâm Xuân Tiến nằm trên địa phận thôn Đông Hòa, xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, là trại lợn gia công của Công Ty Chăn Nuôi Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng
cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đầu tư giống lợn, thức ăn, thuốc thú y
và cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nhâm Xuân Tiến làm chủ, cán
bộ kỹ thuật của Công Ty Chăn Nuôi Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
Trang 114
2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn của ông Nhâm Xuân Tiến nằm trên địa phận thôn Đông Hòa,
xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Hiện nay, trang trại do cán bộ
kỹ thuật của Công Ty CP chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại, với đội ngũ công nhân và nhóm sinh viên thực hiện công việc chuyên môn Trại phân ra làm các khu khác nhau như: khu chuồng đẻ, khu chuồng bầu, khu chuồng cách ly và khu chuồng cai sữa Các khu có bảng chấm công riêng cho từng công nhân và sinh viên trong tổ, ngoài ra các trưởng khu có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong khu nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trại
Trang trại có tổng diện tích là 4,0 ha nằm trên địa bàn thôn Đông Hòa,
xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, có địa hình củ yếu là đồng bằng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
+ Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
+ Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng, chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho gần 2400 nái cơ bản bao gồm:
+ Khu nái đẻ: Khu được chia làm 6 chuồng chia làm 2 bộ, bộ I và bộ II Mỗi chuồng có 2 dãy, mỗi dãy có 54 ô được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
Trang 125
+ Khu nái bầu: Khu được chia làm 4 chuồng chia làm 2 bộ, bộ I và bộ
II mỗi chuồng có 8 dãy, mỗi dãy có 75 ô chuồng được thiết kế thoáng mát sắp xếp theo thứ tự từ heo bầu, heo chờ phối, hậu bị
Toàn bộ hệ thống mái của khu chăn nuôi được lợp tấm nhựa nhập khẩu từ Thái Lan Ô chuồng đảm bảo tốc độ gió ổn định, nhiệt độ duy trì ở 27 độ
C, ở đầu các chuồng là hệ thống dàn mát cho mùa hè và đèn sưởi cho mùa đông Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hàng ngày, dưới sàn là hệ thống xử chất thải chảy xuống hố bioga Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa
ra vào chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng
2.1.1.4 Tình hình sản xuất của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,4 - 2,45 lứa/năm
Số con sơ sinh là 12,07 con/đàn, số con cai sữa là 10,03 con/đàn, lợn con theo
mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26-27 ngày thì cho cai sữa
Trong trại có 37 con lợn đực giống Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn là Landrace, Pi-du và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và luân chuyển đến khu chăm sóc nuôi dưỡng riêng
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Cám CP cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại
Trang 136
* Công tác vệ sinh thú y của trại
Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có tác dụng tăng sức
đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh
có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống
- Công tác vệ sinh: Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè,
mùa Đông được che chắn cẩn thận, ấm áp, xung quanh các chuồng nuôi đều trồng các cây xanh tạo cho các chuồng nuôi có độ thông thoáng và mát tự nhiên Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng Hàng ngày luôn quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng sạch sẽ, thay quần áo quy định của trại
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa
các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột Quy trình phòng bệnh bằng vaccine luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, cho đến lợn con Lợn được tiêm vaccine ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vaccine cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn
lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc
Trang 14Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Kèm theo đó là đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, năng động
và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại
2.2.1.1 Đặc điểm sinh học của lợn con theo mẹ
Lợn con hay gia súc nói chung trong thời kỳ bào thai phát triển tốt sẽ ảnh hưởng tốt đến sự phát triển về sau Sau sơ sinh, lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh Qua nghiên cứu thí nghiệm và thực tế sản xuất, người ta nhận thấy rằng, so với khối lượng sơ sinh thì sau 10 ngày tuổi, khối lượng lợn con tăng gấp 2 lần, sau 20 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, sau 30 ngày tuổi tăng gấp 5- 6 lần, sau 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần, sau 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần và sau 60 ngày tăng gấp 12 - 14 lần So với các gia súc khác, trong giai đoạn
Trang 15Lợn con phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm Sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ giảm sau 3 tuần và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con cũng giảm
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn thức ăn ít hơn lợn lớn
Do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh, vậy nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, điều trị làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs 2003) [1]
2.2.1.2 Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hoá ở lợn con
* Cấu tạo và dung tích của đường tiêu hoá
Khi nghiên cứu sự phát triển đường tiêu hoá ở lợn con, nhiều tác giả đi đến kết luận: cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh hơn các cơ quan khác
Cơ quan tiêu hoá của lợn con giai đoạn theo mẹ phát triển nhanh về cấu tạo và hoàn thiện dần về chức năng tiêu hóa, biểu hiện:
Dung tích của dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc
sơ sinh khoảng 0,03lít)
Trang 169
Dung tích ruột non ở lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc
20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11lít)
Dung tích ruột già của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04lít)
* Đặc điểm tiêu hoá ở dạ dày
Theo Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm (1995) [2], lợn con dưới 1 tháng tuổi thì trong dịch vị hoàn toàn không có HCl tự do Lúc này lượng axit
ít và nó nhanh chóng liên kết với niêm dịch Hiện tượng này gọi là hypoclohydric và là một đặc điểm quan trọng trong tiêu hoá ở dạ dày lợn con
Vì thiếu HCl tự do nên dịch vị không có tính chất sát trùng, vi sinh vật xâm nhập vào dạ dày có điều kiện phát triển gây bệnh về đường tiêu hoá ở lợn con như bệnh phân trắng, tiêu chảy
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [3], cho rằng: “Nếu nuôi lợn trong điều kiện bình thường thì phải sau 25 - 30 ngày sau đẻ mới có HCL tự do Nếu tiến hơn cho lợn con tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi bằng thức ăn hạt thì đến ngày thứ 14 đã thấy có HCl ở dạng tự do”
Mặt khác, do sản lượng sữa mẹ tăng dần đến 3 tuần sau đẻ, sau đó giảm
đi cả về số lượng và chất lượng Nhưng nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng cao do tốc độ sinh trưởng nhanh Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Đây là cơ sở cho việc bổ sung thức ăn sớm và cai sữa sớm cho lợn con, vì nó rút ngắn được giai đoạn thiếu HCL
Trang 1710
* Đặc điểm sinh lý tiêu hoá ở ruột
Phân tiết các men tiêu hoá ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hoá các loại thức ăn đơn giản như sữa, đậu nành nhưng không thể tiêu hoá được protein của gạo, bột cá…
Lợn con 20 - 30 ngày tuổi lượng dịch tuỵ phân tiết trong một ngày là
150 - 300ml Sự phân tiết dịch tuỵ tăng theo tuổi: ở 40 ngày tuổi là 460ml, 3 tháng tuổi là 3 - 5lít và 7 tháng tuổi là 10lít Trong thời gian thiếu HCl, hoạt tính của dịch tuỵ rất cao bù lại khả năng tiêu hoá kém của dạ dày
Tác dụng của dịch mật đối với lợn con rất quan trọng vì trong sữa của lợn mẹ có rất nhiều lipit Dịch mật xúc tiến tiêu hoá lipit trong sữa, tương đối thấp đối với saccaroza, mantoza và tăng cường nhu động ruột
Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển rất nhanh, song khả năng chống
đỡ bệnh tật lại rất kém Do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống…và có các biện pháp kỹ thuật phòng bệnh đường tiêu hoá cho lợn con (giữ ấm, ẩm độ ổn định, tiêm phòng…)
2.2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [3], Lợn con mới sơ sinh có sự thay đổi rất lớn về điều kiện sống đang ở trong cơ thể mẹ với nhiệt độ ổn định 38,5°C và khi ra bên ngoài với điều kiện nhiệt độ rất hay thay đổi tùy theo từng mùa khác nhau
Khả năng điều tiết nhiệt của lợn con còn kém, nó do nhiều nguyên nhân:
- Lông lợn con thưa, lớp mỡ dưới da mỏng nên khả năng giữ nhiệt hạn chế
- Lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng lương để chống lạnh bị hạn chế
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt nằm ở vỏ não, mà vỏ não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở cả 2 giai đoạn trong và ngoài thai
Trang 182.2.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs (2009) [3], Lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Xong lượng kháng thể trong máu lợn con tăng lên rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ Cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, nó phụ thuộc vào lượng
kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ
Trong sữa đầu của lợn mẹ có hàm lượng protein rất cao, những ngày đầu mới đẻ trong sữa có tới 18 - 19% protein, trong đó lượng γ-globulin chiếm số lượng rất lớn (34 - 35%), có tác dụng tạo sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con
Lợn con hấp thu γ-globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ-globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử γ-globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt trong 24h đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của men trypin tuyến tụy và nhờ vào khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100ml máu Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, nên sự hấp thụ γ-globulin kém hơn, hàm lượng γ-globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng
Trang 1912
65 mg γ-globulin trong 100ml máu) Do đó, lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn con không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao
2.2.1.5 Một số hiểu biết về E.coli
* Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn Gram âm hình gậy ngắn, kích thước 0,6 x
2-3µm, hai đầu tròn Trong cơ thể E.coli có hình cầu trực khuẩn, đứng riêng lẻ,
đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông ở quanh nên có thể di động được, khi nhuộm bắt màu Gr (-) không hình thành nha bào, có thể có giáp mô Trong tổ chức và dịch thể ngấm ra từ bệnh tích, thỉnh thoảng thấy hiện tượng bắt màu sẫm ở hai đầu Tuy nhiên cũng có khi gặp những biến chủng không có lông, không di động
* Đặc điểm nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (1993) [4] trực khuẩn E.coli hiếu khí và
yếm khí tùy tiện, sinh trưởng ở nhiệt độ 5 - 400C, nhiệt độ thích hợp 370C và
pH 7,4 Trong nước thịt phát triển tốt, môi trường rất đục, có cặn lắng xuống đáy màu tro nhạt, đôi khi hình thành màu xám nhạt
Trên môi trường thạch thường nuôi cấy sau 8 - 10 giờ có thể nhìn thấy khuẩn lạc riêng rẽ, qua kính phóng đại, khuẩn lạc to dần, tròn lồi hơi phồng, mặt nhẵn, bờ đều, đường kính khoảng 1,5mm Những ngày sau, khuẩn lạc chuyển thành màu xám xanh, giữa đục xám Có thể thấy khuẩn lạc dạng R(xù xì) và M(nhầy)
Trên môi trường gelatin, vi khuẩn mọc tròn vết cấy mặt ống tạo thành một lớp bụi xám Trên môi trường E.M.B.E chúng hình thành những khuẩn
lạc màu tím đen Trên môi trường Endo, E.coli hình thành khuẩn lạc màu đỏ
Trang 2013
* Đặc điểm sinh hoá
- Trực khuẩn E.coli biểu hiện các đặc tính sinh hoá rõ rệt, chúng lên
men và sinh hơi đường glucoza, glactoza, matoza, lactoza, fluctoza Không
lên men đường adonit và inozit
Trực khuẩn E.coli làm đông vón sữa sau 24 - 27h, ở 370C không làm tan chảy gelatin Thường sinh Indole không sản sinh H2S, không làm tan chảy huyết thanh đông, lòng trắng đông
* Sức đề kháng của mầm bệnh
Trực khuẩn E.coli chịu nhiệt kém, chúng bị tiêu diệt ở 600C trong vòng
30 phút, 1000C trực khuẩn chết nhanh chóng Trong đất và nước E.coli sống
được vài tháng, các chất sát trùng thông thường như: hocmon 11%, Crezit
5%, nước vôi 20% có thể diệt E.coli trong vòng 15 - 20 phút
Sức sống của E.coli bị giảm xuống đáng kể khi độ ẩm trong chuồng hạ
xuống 30%
E.coli rất mẫn cảm với nhiều kháng sinh như: Streptomycin, ampocilin,
gentamicin…
* Cấu trúc kháng nguyên
Trong cơ thể lợn con thường có mặt 3 loại E.coli gây bệnh đó là loại
sinh độc tố hướng ruột (ETEC), loại gây bệnh đường ruột (EPEC) và loại sinh độc tố mạch máu Với ba loại kháng nguyên gây bệnh là: O, H và K
Kháng nguyên O còn gọi là kháng nguyên thân, chịu nhiệt khi đun sôi ở
1000C trong vòng 90 phút vẫn giữ được tính kháng nguyên, giữ được khả năng liên kết và kết hợp
Kháng nguyên H còn gọi là kháng nguyên lông là loại kháng nguyên có trên lông vi khuẩn, có tính chịu nhiệt cao hơn các kháng nguyên khác
Kháng nguyên K hay kháng nguyên bề mặt, kháng nguyên này có 3 loại được ký hiệu L, B và A
Trang 2114
+ Kháng nguyên L không chịu nhiệt, bị phá huỷ khi đun sôi ở 1000Ctrong một giờ Trong điều kiện đó kháng nguyên mất khả năng liên kết, kết tủa và không giữ được tính kháng nguyên
+ Kháng nguyên B bị phá huỷ ở nhiệt độ 1000C trong vào 1 giờ Khi
đó, kháng nguyên trị mất tính kháng nguyên nhưng vẫn giữ được khả năng liên kết và kết tủa
+ Kháng nguyên A chịu nhiệt tốt hơn chúng không bị phá huỷ khi đun sôi 1000C trong vòng 2 giờ 30 phút, tính kháng nguyên có khả năng liên kết
và kết tủa đều, giữ nguyên
* Độc tố của vi khuẩn E.coli
Trực khuẩn E.coli tạo ra hai loại độc tố nội độc tố và ngoại độc tố:
- Nội độc tố gây độc của E.coli là yếu tố gây độc nằm trong tế bào vi
khuẩn, chúng gắn chặt vào trong tế bào vi khuẩn Nội độc tố có thể chiết xuất bằng nhiều phương pháp như phá vỡ vỏ tế bào bằng cơ học rồi chiết xuất bằng axittrichoxetic, phenol-lipit Vì vậy, nó thuộc loại kháng nguyên hoàn
toàn và có tính đặc hiệu cao Ngoài ra còn có một loại E.coli sinh độc tố
hướng mạch máu gây bệnh phù thũng ở lợn
- Ngoại độc tố của vi khuẩn E.coli là một chất không chịu được nhiệt,
dễ bị phá huỷ ở 560C trong vòng 10 - 30 phút Dưới tác dụng của focmon và nhiệt độ, ngoại độc tố chuyển thành giải độc tố Ngoại độc tố có tính hướng thần kinh và gây ra hoại tử
* Tính gây bệnh của E.coli
- Bệnh phân trắng lợn con thường xuất hiện trong thời gian độ ẩm cao
- Chuồng trại ẩm ướt, sân chơi chật chội cũng tạo điều kiện cho bệnh phát triển, ngoài ra thành phần sữa nhiều chất khô, mỡ khó tiêu từ đó vi khuẩn
E.coli có tác dụng phân huỷ sữa thành axit gây viêm cho dạ dày và thành ruột
Trang 2215
- Do thời tiết khí hậu, chế độ ăn uống, vệ sinh chuồng trại cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm bệnh
- Lợn con chủ yếu khi ăn uống bị nhiễm mầm bệnh E.coli do trữ lượng
sắt của lợn con từ bào thai chưa đủ, khi sinh ra không đủ sữa mẹ cung cấp nhu cầu sữa cho lợn con, nên có thể suy yếu không thể hấp thu đầy đủ chất dinh dưỡng và tiêu hoá kém dẫn đến ỉa chảy
- Vi khuẩn E.coli thường làm đông sữa 24 - 37 giờ ở 30C không làm tan Gelatin, thường sinh ra Indol không sản sinh H2S
2.2.1.6 Bệnh phân trắng lợn con
* Khái niệm của bệnh phân trắng ở lợn con
- Bệnh lợn con ỉa phân trắng là hội chứng hoặc là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, đi tả, gầy sút rất nhanh Tác nhân gây
bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại Salmonella (S choleraesuis, S typhisuis ) và đóng vai trò phụ là: Proteus, trực trùng sinh mủ, song liên cầu khuẩn Bệnh xuất hiện những ngày đầu sau khi sinh do E coli hoặc khi cai sữa (Salmonella)
- Bệnh lợn con ỉa phân trắng có tên khoa học là: "Neonatal di ar hoea",
theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004)[5], bệnh này là bệnh đặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1 - 3 tuần tuổi, thì bệnh phát triển mạnh mẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10-20 ngày tuổi Bệnh này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới và cả ở Việt Nam Do nước ta có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ chênh lệch giữa các thời gian trong năm cao ) Đây là điều kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát bệnh dịch và
sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn
- Đặc điểm dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh là lợn phân có mà trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí lượng phân nhiều rơi vãi khắp chuồng, phân dính ở hậu môn và chân sau Lợn bệnh thường giảm bú, gầy sút, lông xù, thể
Trang 2316
nặng dẫn đến tử vong Nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả và thiệt hại về
kinh tế, ảnh hưởng đến năng suất chất lượng đàn lợn sau này
* Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh phân trắng lợn con
- Bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng lâm sàng đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày, ruột, đi iả dẫn tới vật nuôi gầy sút nhanh Tác nhân gây
bệnh chủ yếu là do E.coli và nhiều loại Salmonella, đóng vai trò quan trọng là
Proteus, Streptococus Bệnh xuất hiện vào những ngày đầu sau khi sinh (do E.coli) và trong suốt thời kỳ bú mẹ
- Bệnh có quanh năm, nhiều nhất vào thời điểm cuối đông sang xuân, cuối xuân sang hè
- Thời gian nào độ ẩm cao, thì bệnh phát triển nhiều
- Chuồng nái ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển
- Tỷ lệ mắc bệnh các cơ sở chăn nuôi miền trung du, miền núi ít hơn, thời gian mắc bệnh ngắn hơn so với đồng bằng
* Nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con
- Vi sinh vật
+ Vi khuẩn
Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy cho lợn thường gặp như E Coli,
Salmonella, Shigella, Clostridium perfringens… Lợn con sơ sinh có thể bị
nhiễm bệnh do vi khuẩn từ chuồng nuôi, da, phân lợn mẹ Do đó, trong điều
kiện vệ sinh kém hoặc trong hệ thống nuôi liên tục, mầm bệnh E coli tồn tại
trong môi trường có thể dẫn đến dịch tiêu chảy trên lợn con sơ sinh Lợn con được sinh ra từ những lợn mẹ chưa được tiêm phòng hoặc không có kháng thể
chống lại E coli trong sữa đầu sẽ rất nhạy cảm với bệnh Ở lợn cai sữa, hệ
tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, nếu cho ăn quá nhiều, thức ăn không tiêu hóa kịp sẽ
tích tụ trong đường ruột tạo chất nền cho E coli phát triển Do đó, ở giai đoạn
Trang 24Đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định Rotavirus, Enteravirus,
Andenovirus, Coronavirus, Pestivirus là nguyên nhân chủ yếu gây viêm ruột
với triệu chứng tiêu chảy đặc trưng ở lợn Các virus này tác động gây viêm loét niêm mạc ruột ở nhiều mức độ khác nhau, chính từ đó quá trình tiêu hóa hấp thụ ở lợn bị rối loạn, cuối cùng là triệu chứng ỉa chảy
- Ký sinh trùng
Ký sinh trùng ký sinh trong đường tiêu hóa là một trong những nguyên nhân gây hội chứng tiêu chảy Khi ký sinh trong đường tiêu hóa ngoài việc chúng cướp đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc cơ thể vật chủ, chúng còn gây tác động cơ giới làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa
và là cơ hội khởi đầu cho một quá trình nhiễm trùng Có rất nhiều loại ký sinh trùng đường ruột tác động gây ra hội chứng tiêu chảy như: Sán lá ruột lợn
(Fasciolopsis busky), giun đũa lợn (Ascaris suum)
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs 2009) [6]
Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn con tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [7] đã có kết luận cầu trùng và một số loại giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn con
- Nấm mốc
Thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nấm mốc
Một số loài nấm mốc như: Aspergillus, Penicillium, Fusarium… có khả năng
Trang 25- Nguyên nhân khác
+ Thời tiết
Theo Sử An Ninh và cs (1981) [8] : Lạnh ẩm là nguyên nhân hàng đầu của hội chứng tiêu chảy của lợn con theo mẹ Như vậy, nguyên nhân thường xuyên tác động đến hội chứng tiêu chảy ở lợn con là các yếu tố thời tiết
Nguyễn Thiện và cs (1996) [9], cho biết tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng trong chăn nuôi hộ gia đình là rất cao 30 - 40%, nguyên nhân do môi trường mở, điều kiện thời tiết ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường trong chuồng nuôi Trong khi đó, chăn nuôi trang trại môi trường trong chuồng nuôi
là môi trường nhân tạo có thể điều chỉnh để phù hợp với từng điều kiện cụ thể như nóng ẩm thì dùng quạt thông gió, hệ thống dàn mát và nhiệt độ thấp dùng bóng sưởi Lợn con không phải nằm trực tiếp xuống nền chuồng xi măng mà nằm trên đan nhựa cách nền chuồng một khoảng theo từng chuồng nuôi nên lợn con cũng không bị mất nhiều nhiệt năng cho sưởi ấm cơ thể và tỏa ra môi trường xung quanh như chăn nuôi hộ gia đình
Theo Đào Trọng Đạt (1996) [10], những tháng mưa nhiều kèm theo khí hậu lạnh, tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy tăng rõ rệt, có khi 80 - 100%
cá thể trong đàn bị tiêu chảy
+ Stress
Sự thay đổi yếu tố khí hậu thời tiết, mật độ chuồng nuôi, vận chuyển đi
xa đều là các tác nhân gây stress quan trọng trong chăn nuôi dẫn đến hậu quả
Trang 2619
giảm sút sức khỏe vật nuôi và bệnh trong đó có tiêu chảy ( Đoàn Thị Băng Tâm,1987 [11])
+ Do chăm sóc nuôi dưỡng lợn con không đúng kỹ thuật
Quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn con không đảm bảo kỹ thuật như: Nghèo dinh dưỡng, thức ăn bị ôi thiu, nấm mốc, chứa nhiều aflatoxin, thuốc trừ sâu, thiếu hoặc không cân đối các loại axit amin, vitamin và các nguyên tố vi lượng, nhất là Fe, Co, Ca, vitamin B12 Do đó lợn mới sinh dễ
bị mắc hội chứng tiêu chảy lợn con
Trong điều kiện ẩm thấp, thiếu ánh sáng tự nhiên thiếu vận động sẽ sinh ra những con dễ mắc bệnh hơn những con được nuôi trong điều kiện chuồng trại tốt mặc dù chúng được ăn cùng loại thức ăn như nhau
Phải tiêm phòng cho lợn mẹ các bệnh mà lợn con dễ mắc phải như:
Dịch tả, thương hàn, E coli nhằm tạo miễn dịch chủ động cho lợn con và từ
đó chất miễn dịch mới được có trong cơ thể Không úm cho lợn con hoặc úm không đúng quy cách làm lợn con bị lạnh, hệ tiêu hóa sẽ hoạt động yếu, thể hiện qua sự giảm nhu động ruột, giảm phân tiết dịch tiêu hóa, dẫn đến tình trạng không tiêu, viêm ruột, tiêu chảy
* Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích bệnh phân trắng lợn con
- Triệu chứng lâm sàng
Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [12], triệu chứng của bệnh như sau: Thân nhiệt ít khi cao, cá biệt có con lên 40,5-410C nhưng chỉ sau một ngày là xuống ngay Đặc trưng chủ yếu là phân lỏng, màu trắng như vôi, trắng xám màu xi măng hoặc hơi vàng như mủ, đôi khi trong phân có bột hoặc lổn nhổn hạt như vôi, có khi lầy nhầy, cá biệt có lẫn máu Phân từ màu vàng trắng lỏng, chuyển thành mầu xi măng và có khuôn là biểu hiện chuyển biến tốt Phân có mùi tanh đặc biệt khó ngửi, kiểm tra dưới kính hiển vi thấy những hạt mỡ chưa tiêu hoặc tế bào niêm mạc ruột bị tróc ra
Trang 27- Bệnh tích
Niêm mạc nhợt nhạt, xung huyết hoặc xuất huyết Niêm mạc ruột xung huyết hay xuất huyết từng đám hoặc viêm cata nhẹ Gan hơi sưng hoặc không sưng, màu nâu vàng nhạt Túi mật thường căng, phổi thường ứ huyết,
đôi khi có hiện tượng sưng phổi nhẹ
Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [13], nhu động ruột của lợn ở thời kì đầu của bệnh giảm yếu, thời kỳ sau lại tăng Nhiệt độ 39,5 - 40,50C, buổi chiều thường cao hơn buổi sáng 1- 20C Đi ỉa chảy một ngày 15-20 lần, con vật rặn nhiều lưng uốn cong, bụng thót lại, thể trạng đờ đẫn, bú chút ít hoặc không bú hoàn toàn, nằm nhiều hơn đi lại Các niêm mạc mắt, mũi, miệng nhợt nhạt vì thiếu máu và mất nước quá nhiều, chân lạnh Con vật chết trong tình trạng co giật bởi nhiễm độc Dù bệnh khỏi, sau khi cai sữa nuôi rất chậm lớn, khi bệnh nặng con vật mệt lử bỏ bú hoàn toàn, chân và toàn thân run rẩy,
đi lại không được, nằm một chỗ, đặc biệt là hai chân sau liệt, mắt sâu lõm, khô, khát nước nhiều, thở dốc, mạch nhanh, phản xạ các bắp thịt và gân yếu, không điều trị kịp thời con vật chết trong 3- 6 ngày, trước khi chết nhiệt độ hạ xuống chỉ còn 35-36,50C Sau giai đoạn bệnh dữ dội nếu được điều trị kịp thời bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn lành bệnh Lúc này phân chuyển từ màu trắng hoặc trắng xám đen, phân đặc dần thành khuôn như phân của lợn khoẻ
Theo Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [12], bệnh tích khi mổ khám cho thấy: Xác gầy niêm mạc nhợt nhạt máu loãng hơi đen, dạ dày chứa đầy hơi, còn sữa hoặc thức ăn chưa tiêu, màng treo ruột sưng mềm, đỏ tấy
Trang 2821
sung huyết, niêm mạc ruột, dạ dày sưng, ở ruột già cũng có một số đám máu, ở ruột non có chất màu vàng, lỏng, tanh Nhìn bề ngoài xác lợn gầy khô thót bụng, bẩn
* Biện pháp phòng và trị bệnh phân trắng lợn con
- Biện pháp phòng bệnh
Có rất nhiều biện pháp phòng bệnh như (vệ sinh chuồng trại, chống lạnh, ẩm, nuôi dưỡng tốt mẹ và con, bổ sung các thành phần dinh dưỡng con thiếu vào khẩu phần), Sử dụng nhiều loại thuốc kháng sinh, thảo mộc để phòng bệnh
+ Dùng chế phẩm sinh học: Là dùng các vi khuẩn có lợi để phòng trị
bệnh Các nhóm vi khuẩn thường dùng là Bacillus suptilis, Colibacterium,
Lactobacillus… các vi khuẩn này khi đưa vào đường tiêu hoá của lợn sẽ có
vai trò cải thiện tiêu hoá thức ăn, lập lại cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột,
ức chế và khống chế vi sinh vật có hại
+ Phòng bệnh bằng nguyên tố vi lượng: Lợn con bú sữa mẹ thường thiếu sắt vì sữa mẹ không cung cấp đủ cho lợn con Dẫn đến, lợn con thường rối loạn tiêu hoá và ỉa phân trắng Vì vậy, lợn con cần được tiêm bổ sung dextran Fe để phòng bệnh thiếu máu và nâng cao sức đề kháng cho lợn con
+ Cải thiện các điều kiện nuôi dưỡng lợn nái và lợn con: Nuôi dưỡng lợn nái đúng khẩu phần quy định bao gồm đủ lượng đạm, vitamin, khoáng đa lượng và vi lượng… sẽ đảm bảo cho thai phát triển tốt và lợn con sau khi sinh
có sức đề kháng với bệnh Dùng đèn hồng ngoại để sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông có thể giảm thiểu được bệnh
+ Vệ sinh chuồng trại, máng ăn, uống, dụng cụ chăn nuôi: Là một khâu hết sức quan trọng để phòng bệnh phân trắng lợn con, hạn chế mầm bệnh trong môi trường, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh Việc vệ sinh được tiến hành hằng ngày đảm bảo chuồng trại luôn sạch sẽ, chuồng nuôi được thiết kế sao
Trang 2922
cho luôn thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông Đồng thời, tuân thủ
nghiêm ngặt lịch khử trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi theo định kì Xử lý
phân, rác thải, xác chết… đúng quy định
+ Phòng bệnh bằng vaccine: Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vaccine để phòng bệnh phân trắng lợn con do vi khuẩn gây ra, do đó
các nghiên cứu tập trung chế tạo vaccine từ vi khuẩn E.coli và Salmonella Sử
dụng vaccine cho lợn nái mang thai bằng cách tiêm hoặc cho uống trước khi
đẻ 4 - 6 tuần để kích thích lợn mẹ đáp ứng miễn dịch, sản sinh kháng thể đặc
hiệu trong máu, truyền qua sữa đầu, cung cấp cho lợn con sau khi bú sữa (
Nguyễn Thị Nội và cs 1998 [14] ; Lê Văn Tạo, 1993 [15])
Gần đây một số nhà nghiên cứu còn dùng hỗ hợp vi khuẩn đường ruột
E.coli và salmonella phân lập được từ cơ sở chăn nuôi để chế tạo vaccine với
mục đích ngăn cản sự xâm hại của 2 loại vi khuẩn này Kết quả cho thấy
vaccine chế tạo được có khả năng cản trở sự bám dính và xâm nhập của E.coli
và Salmonella vào các tế bào biểu mô ruột Hiệu lực miễn dịch của kháng
sinh này tương đương với hiệu lực của kháng sinh sống, cao hơn vaccine chết
hoặc vaccine lipopolisaccharid chiết xuất
Nguyễn Thị Nội và cs (1998) [14], đã tiến hành nghiên cứu vaccine
hỗn hợp saclsco, được chế tạo từ các chủng E.coli, Salmonella, Streptococcus
để phòng bệnh phân trắng lợn con
Lê Văn Tạo và cs (1993) [15], đã chọn các chủng vi khuẩn kết hợp ít
nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là ent và hly để sản xuất vaccine cho uống
và tiêm phòng bệnh phân trắng lợn con
- Điều trị bệnh
Phạm Ngọc Thạch, Đỗ Thị Nga (2006) [12] đã dùng các thuốc hoá học
có độ mẫn cảm cao với vi khuẩn E coli và Salmonella gây bệnh như:
neomycin; antidia, đặc trị tiêu chảy, hay một số loại kháng sinh có nguồn gốc
Trang 3023
thảo dược: viên tô mộc, becberin, palmatin, ngũ bội tử, nước sắc của các lá, quả chát chưa nhiều tanin như hồng xiêm, lá ổi… Dùng các chế phẩm sinh học: Complex-subtilit, bột subtilit, bổ sung các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu…
* Một số loại thuốc kháng sinh thường dùng để điều trị bệnh phân trắng
- Nor - 100 (norfloxacin 10%)
+ Thành phần: Norfloxacin 10.000 mg
+ Cơ chế tác dụng: Quinolone (flumequin, norfloxacin, enrofloxacin,
ciprofloxacin, difloxacin, marbofloxacin, ofloxacin ) là nhóm kháng sinh nhân tạo gồm những dẫn xuất của quinolein Quinolone đầu tiên (acid nalidixic) có phổ kháng khuẩn hẹp (tác dụng trên vi khuẩn gram (-), được sử dụng vào
những năm 1960 Quinolone được fluor hóa gọi là fluoroquinolone đã được đưa vào sử dụng trong lâm sàng vào những năm 1970 Fluoroquinolone có
phổ kháng khuẩn rộng, tác dụng trên cả vi khuẩn gram (-) và gram (+) Kháng sinh nhóm này phân bố đồng đều cả trong dịch nội và ngoại bào, phân bố hầu hết các cơ quan: phổi, gan, mật, xương, tiền liệt tuyến, tử cung, dịch não tủy
và qua được hàng rào nhau thai Fluoroquinolone bài thải chủ yếu qua đường
tiết niệu ở dạng còn nguyên hoạt chất và tái hấp thu thụ động ở thận
Trong các cơ chế tác động của kháng sinh lên vi khuẩn thì cơ chế tác
động của fluoroquinolone là ức chế tổng hợp acid nucleic Sự nhân đôi DNA
bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để
gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bổ sung
Enzym DNA polymerase xúc tác sự tổng hợp các liên kết giữa các
nucleotid; enzym DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo
thành các vòng xoắn Quinolone (acid nalidixic và các fluoroquinolone) ức
chế mạnh sự tổng hợp DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế
enzym DNA gyrase Cơ chế tác động này hiệu quả trên cả vi khuẩn gram (+)
và gram (-) Nhưng cũng có thể do cơ chế ức chế tổng hợp acid nucleic này
Trang 3124
mà kháng sinh nhóm fluoroquinolone được cho là có nguy cơ gây đột biến gene, gây sẩy thai khi sử dụng cho động vật mang thai và khuyến cáo là không nên dụng kháng sinh nhóm fluoroquinolone cho động vật mang thai, động vật sinh sản và làm giống
+ Công dụng: điều trị cho lợn mắc bệnh tiêu chảy, thương hàn và phó
thương hàn
+ Cách dùng: Tiêm bắp thịt hoặc dưới da
Dùng liên tục trong 3-5 ngày
Lợn con, chó mèo: 1ml/ 5-7kgTT/ ngày
Lợn, trâu, bò: 1ml/8-10kg TT/ngày
- Nova - amcoli
+ Thành phần: ampicillin 10mg
+ Cơ chế tác dụng: Là kháng sinh phổ rộng thuộc nhóm betalactam, tức
là nhóm kháng sinh có cấu trúc phân tử gồm khung beta-lactame Cùng trong nhóm betalactam với ampicillin, còn có các loại thuốc kháng sinh khác
là: penicillin, amoxycillin, augmentin, unacyl, cloxacillin, oxacillin,
Ampicillin thực chất là một penicillin bán tổng hợp nhóm A có hoạt phổ rộng với nhiều chủng vi khuẩn gram (+) và vi khuẩn gram (-) Ampicillin
có tác dụng chống lại những vi khuẩn mẫn cảm gây nhiễm khuẩn đường hô hấp, dẫn mật, tiêu hoá, tiết niệu, một số bệnh ngoài da như viêm bì có mủ, áp
xe, đầu đinh viêm tai giữa, bàng quang và thận
Ampicilin tác động vào quá trình nhân lên của vi khuẩn, ức chế sự tổng hợp mucopeptid của thành tế bào vi khuẩn Để đạt được hiệu quả, ampicilin phải thấm qua thành tế bào và gắn với các protein Các protein gắn ampicilin chịu trách nhiệm nhiều bước trong quá trình sinh tổng hợp của thành tế bào và có mặt trong hàng trǎm đến hàng nghìn phân tử trên một tế
bào vi khuẩn Các protein gắn ampicilin rất khác nhau giữa các chủng vi