PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KHÁCH SẠN – DU LỊCH
————
BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ DU LỊCH
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ
ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn : Th.s Trần Thị Kim Anh
HÀ NỘI - 2021 MỤC LỤC
Trang 2PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Vai trò của chính phủ đối với ngành du lịch 2
1.1.1 Vai tò quản lý kinh tế đối với ngành du lịch 2
1.1.2 Chính phủ với vai trò là nhà cung ứng và là người tiêu dùng du lịch 2
1.2 Các chính sách kinh tế của chính phủ đối với sự phát triển du lịch 3
1.2.1 Thuế liên quan đến du lịch 3
1.2.2 Chính phủ chi tiêu cho du lịch 4
1.2.3 Các chính sách phân phối lại 6
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY 6
2.1 Khái quát về ngành du lịch Việt Nam hiên nay 6
2.2 Chính sách chi tiêu của chính phủ đối với ngành du lịch Việt Nam hiện nay 8
2.2.1 Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng 8
2.2.2 Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch 9
2.2.3 Tiến hành hoạt động marketing du lịch 11
2.3 Đánh giá về chính sách chi tiêu của Chính phủ đối với ngành du lịch Việt Nam hiện nay 15
2.3.1 Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng 15
2.3.2 Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch 16
2.3.3 Tiến hành hoạt động marketing du lịch 17
PHẦN 3: GIẢI PHÁP 18
3.1 Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng: 18
3.2 Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch: 19
3.3 Tiến hành hoạt động marketing du lịch: 19
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 31.1 Vai trò của chính phủ đối với ngành du lịch
1.1.1 Vai tò quản lý kinh tế đối với ngành du lịch
Cũng như đối với các ngành kinh tế khác, theo Bull – nhà kinh tế Úc, các chínhsách kinh tế vĩ mô của chính phủ có thể tác động trực tiếp và gián tiếp đến ngành du lịch.Cách chính sách kinh tế chung và chính sách kinh tế cụ thể đối với các ngành khác trongnền kinh tế của chính phủ có thể có tác động gián tiếp đến du lịch Các chính sách pháttriển du lịch của một quốc gia phản ánh đồng thời các mục tiêu về: Kinh tế, môi trường,
xã hội, giáo dục, ngoại giao Hầu hết các chính sách phi kinh tế đều có những quan hệmật thiết đáng kể về kinh tế đối với du lịch Các chính sách có xu hướng kết hợp lại đểnhằm vào các vấn đề kinh tế cũng như phi kinh tế Mục tiêu chung của chính sách kinh tế
là tối đa hóa những đóng góp của du lịch vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, Cácmục tiêu đóng góp của du lịch bao gồm:
- Tối đa hóa những đóng góp;
- Tập trung hóa để phát triển khu vực hoặc cán cân kinh tế khu vực;
- Góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia hoặc địa phương;
- Tạo việc làm;
- Phân phối lại và cải thiện thu nhập;
- Đóng góp vào phúc lợi xã hội;
- Tối đa hóa các cơ hội cho nguồn thu nhập ngân sách
1.1.2 Chính phủ với vai trò là nhà cung ứng và là người tiêu dùng du lịch
1.1.2.1 Chính phủ là nhà cung ứng du lịch
Thông thường, lĩnh vực vận chuyển hành khách và các điểm hấp dẫn du lịch lànhững khu vực chính thuộc sở hữu nhà nước Ở các quốc gia có nền kinh tế tập trunghoặc nền kinh tế chưa phát triển thì quyền sở hữu nhà nước có thể mở rộng tới hầu hếtmọi lĩnh vực trong ngành du lịch
Vai trò và hoạt động của các nhà cung ứng thuộc sở hữu nhà nước phản ánh cácnhiệm vụ chính trị cũng như kinh tế đối với quốc gia Nhiều doanh nghiệp nhà nước phải
có trách nhiệm mua các thiết bị, hàng hóa sản xuất tại địa phương phục vụ quá trình hoạtđộng kinh doanh của mình, mặc dù các thiết bị hàng hóa nhập khẩu có thể phù hợp hơn.Hãng hàng không quốc gia thường phục vụ các tuyến bay quốc tế vì lý do ngoại giao hơn
là lý do kinh tế và hàng không nội địa hoặc mạng lưới đường sắt có thể được phát triểnnhằm cung cấp dịch vụ và thỏa mã nhu cầu xã hội ở các khu vực biệt lập, các vùng sâu,vùng xa Do đó khi phân tích vao trò của chính phủ như nhà cung ứng du lịch nên phânbiệt giữa hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, xã hội là chủ yếu hay mục tiêukinh doanh và lợi nhuận như các doanh nghiệp cung ứng du lịch mang tính chất thươngmại trên thị trường
Trang 4- Sự lựa chọn nhà cung ứng của khách đi công tác là cán bộ, công chức có thể bịhạn chế vì các cơ quan có thể đã ký kết trước hợp đồng với một số nhà cung ứngdịch vụ nhất định.
- Trong một số trường hợp, các cơ sở cung ứng dịch vụ du lịch của nhà nước có thểphải cung cấp dịch vụ miễn phí hoặc với mức giá ưu đãi không phản ánh đầy đủcác chi phí thực tế cho một số đối tượng khách đặc biệt
Ngoài các vai trò về kinh tế đối với du lịch nói trên, chính phủ có một số vai tròkhác đối với du lịch như:
- Chính phủ định hướng sự phát triển du lịch trên cơ sở xây dựng và ban hành cácchiến lược, quy hoạch phát triển du lịch, các chính sách kinh tế, các chương trìnhphát triển hoặc xúc tiến
- Chính phủ tạo môi trường pháp lý, chính trị, công nghệ, kinh tế thuận lợi cho sựphát triển du lịch, đồng thời giải quyết các mâu thuẫn, xung đột nảy sinh trên thịtrường du lịch
1.2 Các chính sách kinh tế của chính phủ đối với sự phát triển du lịch
1.2.1 Thuế liên quan đến du lịch
Du lịch là một nguồn thu thuế của nhà nước, mà nguồn thu này có thể sử dụng để
hỗ trợ lại cho ngành hoặc để nhập vào ngân sách chung của nhà nước Giống như các loạithuế gián tiếp khác, các loại thuế đối với sản phẩm du lịch có thể là thuế theo giá hànghoặc thuế theo số lượng Chúng có thể được chia thành ba loại: Thuế sản phẩm du lịch cótính chất thương mại; Thuế đối với người tiêu dùng khi là khách du lịch; Thuế sử dụngtiện nghi du lịch
Thuế sản phẩm du lịch có tính chất thương mại là các loại thuế tiêu thụ Đối tượngphổ biến của loại thuế này là các dịch vụ lưu trú, ăn uống, cho thuê xe Vì thuế tiêu thụphụ thuộc vào các mức độ co giãn cầu nên chính phủ có thể áp đặt một mức thuế trực tiếplên du khách mà không căn cứ vào loại hàng hóa và dịch vụ được mua Những loại thuếnày thường áp dụng cho khách du lịch quốc tế và được thu ở các cửa khẩu của quốc gia
Trang 5Ngoài những loại thuế liên quan đến sự đi lại của du khách, còn một loại thuế dulịch khác là thuế hải quan – thuế đánh vào hững hàng hóa mà du khách mang vượt quá sốlượng theo quy định của mỗi quốc gia Một xu hướng đang được chấp nhận hiện nay làngười sử dụng phải trả các khoản thanh toán nhưng không phân biệt rõ ràng giữa cáckhoản trả này là giá mua dịch vụ du lịch hay là trả thuế vì sử dụng dịch vụ đó Ở nước ta,ngành du lịch mới đang bắt đầu phát triển nên các loại thuế liên quan đến hoạt động nàychưa nhiều, chủ yếu là thuế giá trị gia tăng, thuế hải quan và một số loại lệ phí như lệ phísân bay, lệ phí khu du lịch Tuy nhiên ngành du lịch đã đóng góp đáng kể cho ngân sáchnhà nước thông qua các loại thuế và lệ phí này.
1.2.2 Chính phủ chi tiêu cho du lịch
Đối với mỗi quốc gia, ít khi có mối liên hệ riêng biệt giữa thuế du lịch và chi tiêucủa chính phủ cho ngành này Nhưng nguyên tắc đánh thuế trực tiếp để sau đó hỗ trợ lạicho chính ngành đó chỉ áp dụng đối với một số lĩnh vực nhất định trong hoạt động củangành du lịch như đào tạo Phần lớn các chi tiêu của chính phủ cho ngành du lịch tậptrung vào ba lĩnh vực sau:
- Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng
- Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch
- Tiến hành marketing du lịch: truyền thông, quảng bá, xúc tiến
1.2.2.1 Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng
Ở hầu hết các nước hiện nay, chính phủ thường có trách nhiệm tạo lập và cung cấp
cơ sở hạ tầng kinh tế Cơ sở hạ tầng liên quan đến du lịch bao gồm đầu tư vào vận chuyểnhành khách, các dịch vụ tại điểm đến du lịch như điện, nước, vệ sinh và y tế, đầu tư vào
hệ thống thông tin viễn thông Có rất ít cơ sở hạ tầng chỉ dành riêng cho khách du lịch
sử dụng trừ khi đó là một phần của quy hoạch phát triển khu du lịch
Ở những nơi thực hiện đầu tư lớn và cơ sở hạ tầng liên quan đến du lịch thì các chiphí đầu tư và bảo trì có thể được bù đắp một phần từ lãi suất và thuế tính cho các doanhnghiệp du lịch vì sau đầu tư, các doanh nghiệp này đều phát triển hoạt động kinh doanhcủa mình Ở nước ta, nhà nước đóng vai trò chính trong việc xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng cho nền kinh tế nói chung và cho ngành du lịch nói riêng Nguồn vốn đầu tư vào
cơ sở hạ tầng chủ yếu từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn vay ODA từ các nhà tài trợsong phương, các tổ chức tài trợ đa phương và các tổ chức phi chính phủ Một bộ phận cơ
sở hạ tầng khác thuộc các khu du lịch được đầu tư bở ngân sách địa phương và vốn đầu
tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) mà các nước dẫn đầu trong lĩnh vực du lịch thường làĐài Loan, Hồng Kông…
1.2.2.2 Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch
Trang 6Khi xác định du lịch là ngành đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thì các cơ quanquản lý du lịch quốc gia và địa phương thường có chính sách thúc đẩy phát triển du lịch
và dành kinh phí nhằm hỗ trợ phát triển khả năng cung ứng các dịch vụ của ngành Chínhphủ có thể không chỉ cung cấp vốn để đảm bảo tính khả thi của các dự án đầu tư, mà cònthông qua các chủ trương chính sách nhằm củng cố tâm lý cho các quyết định của nhàđầu tư
Các khoản kinh phí dành cho phát triển du lịch của chính phủ tác động đến cácdoanh nghiệp du lịch theo hai hướng chủ yếu Thứ nhất, có thể làm giảm nhu cầu vốnhoặc chi phí vốn đối với một dự án đầu tư, giúp cho dự án đó được duyệt và có tính khảthi Thứ hai, có thể làm giảm chi phí kinh doanh của các nhà cung ứng du lịch, trên cơ sở
đó cải thiện khả năng sinh lợi và sự ổn định dài hạn của doanh nghiệp
Hầu hết các chương trình chi tiêu của chính phủ nhằm tạo điều kiện và môi trườngphát triển du lịch thuộc một phần trong quy hoạch du lịch tổng thể quốc gia và các quyhoạch du lịch địa phương hoặc khu du lịch Tuy nhiên lại có những ý kiến không đồngtình với việc chính phủ cấp kinh phí nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh du lịch Thứ nhất,với mục tiêu phát triển du lịch nhằm tạo thêm việc làm thì các hỗ trợ hoặc tài trợ củachính phủ có thể làm các doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả mà ẫn tồn tại trênthị trường Thứ hai là lợi ích sử dụng không phải trả tiền của các cơ sở hạ tầng chủ yếu sẽdành cho du khách hơn là các nhà cung ứng du lịch
1.2.2.3 Tiến hành hoạt động marketing du lịch
Lĩnh vực chủ yếu thứ ba mà chính phủ dành kinh phí cho ngành du lịch là hoạt độngmarketing của các văn phòng du lịch, đối với toàn bộ quốc gia là cơ quan quản lý du lịchquốc gia và các cơ quan quản lý du lịch địa phương Mặc dù cơ quan quản lý du lịch ởmỗi quốc gia tiến hành các hoạt động marketing khác nhau, nhưng hầu hết kinh phí dànhcho các hoạt động cụ thể như sau:
- Nghiên cứu thị trường và nghiên cứu marketing
- Quan hệ công chúng
- Quảng cáo và các hình thức xúc tiến khác
- Thông tin về sản phẩm và kênh phân phối
- Phát triển sản phẩm mới
Hoạt động marketing tập trung có thể coi tương đương như sự trợ cấp xuất khẩu chocác nhà sản xuất, làm cho họ có khả năng cạnh tranh quốc tế cao hơn và cũng tương tựnhư sự tài trợ của chính phủ nhằm tạo điều kiện phát triển các công trình công cộng đểhấp dẫn khách du lịch quốc tế nhiều hơn Mặt khác marketing tập trung sẽ tạo ra sự dịchchuyển của cầu du lịch quốc tế đối với một điểm đến du lịch và sự thay đổi giá cả sảnphẩm dịch vụ Mục tiêu bao trùm của các chương trình marketing tập trung của cơ quanquản lý du lịch quốc gia là tối đa hóa số lượng khách du lịch và doanh thu Mục tiêu nội
Trang 7bộ của chương trình có thể là tạo lập được hình ảnh, uy tín và hiệu quả thực hiện chươngtrình với một khoản kinh phí nhất định.
1.2.3 Các chính sách phân phối lại
Chính phủ có thể kết hợp sử dụng thuế và chi tiêu để phân phối lại các nguồn tàinguyên, thu nhập, và các lợi ích kinh tế của quốc gia Cùng với thuế và chi tiêu hoặc cácloại thuế nhằm mục đích riêng biệt, chính phủ còn phối hợp sử dụng các biện pháp kiểmsoát giá cả, các chính sách tiền tệ và các quy chế khác Thông qua quy hoạch du lịch vàcác chính sách tài chính làm xuất hiện hoặc đổi hướng dòng khách du lịch nội địa và quốc
tế giữa các địa phương Điều đó sẽ tạo ra sự phân phối lại thu nhập nhằm phát triển kinh
tế một số địa phương, đặc biệt ở những nơi có nhiều tài nguyên nhưng trình độ phát triểnkinh tế còn thấp
Đánh thuế và kiểm soát thị trường các nhân tố sản xuất, đặc biệt thị trường laođộng, có thể tạo ra các hiệu quả phân phối lại có ý nghĩa quan trọng Sự kiểm soát thịtrường lao đọng của chính phủ nhằm phân phối lại thu nhập cho những người mà côngviệc của họ có mức lương thấp, nhưng sẽ làm giảm mức độ sử dụng lao động của cácdoanh nghiệp Điều đó có thể gây ra sự dịch chuyển của tỷ lệ vốn/ lao động về phía sửdụng vốn nhiều hơn
Đào tạo nghề nghiệp cho đội ngũ lao động du lịch cũng có thể là sự phân phối lạithu nhập nếu nó được tài trợ từ một loại thuế đối với ngành Các doanh nghiệp sử dụnglao động đã qua đào tạo phải đóng góp một khoản thuế nhằm hỗ trợ cho việc đào tạo vàđào tạo lại đội ngũ lao động trong ngành
PHẦN 2: CHÍNH SÁCH CHI TIÊU CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NGÀNH
DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY2.1 Khái quát về ngành du lịch Việt Nam hiên nay
Du lịch Việt Nam được xem là một ngành kinh tế mũi nhọn vì có tiềm năng dulịch đa dạng và phong phú Tính đến năm 2020, Việt Nam có hơn 41.000 di tích, thắngcảnh trong đó có hơn 4.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia và hơn 9.000 di tíchđược xếp hạng cấp tỉnh Mật độ và số lượng di tích nhiều nhất ở 11 tỉnh vùng đồng bằngsông Hồng với tỷ lệ chiếm khoảng 56% di tích của Việt Nam Việt Nam là 1/12 quốc gia
có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang
Bảng thống kê số lượng khách và doanh thu
Năm
Số lượng khách dulịch nội địa (triệulượt khách)
Số lượng kháchquốc tế (triệu lượtkhách)
Doanh thu (nghìn tỷ
đồng)
Trang 82016 62 10,01 400
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Qua bảng số liệu thống kê, có thể thấy số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăngdần qua các năm Đặc biệt trong năm 2019, du lịch Việt Nam đã đạt được kỳ tích, thu húttrên 18 triệu lượt khách quốc tế, cao nhất từ trước đến nay Bên cạnh đó, thương hiệu,hình ảnh du lịch Việt Nam được tôn vinh với nhiều giải thưởng danh giá trên thế giới.Trong đó phải kể đến các giải thưởng như “Điểm đến hàng đầu châu Á”, “Điểm đến vănhóa hàng đầu châu Á”, “Điểm đến Golf tốt nhất thế giới 2019”…Với sự nỗ lực của toànngành, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển đột phá, đóng góp vào sự tăngtrưởng chung của đất nước
Song đến năm 2020, Đại dịch Covid-19 khiến 2020 trở thành năm khủng hoảng nhất trong lịch sử của ngành du lịch toàn cầu Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) ước tính, năm 2020, lượng khách quốc tế giảm từ 70% đến 75%, đồng nghĩa với việc du lịch toàn cầu trở lại mốc thành tích của 30 năm trước Năm 2020, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam chỉ đạt 3,7 triệu (giảm 79,5% so với năm 2019), số lượng khách nội địa là 56 triệu (giảm 34,1% so với năm 2019) Tổng thu từ du lịch đạt 312 nghìn tỷ đồng (giảm 58,7% tương đương 19 tỷ USD)
Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam có những hạn chế như tỷ lệ khách quay trở lạithấp (10-40%) Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao, trung bìnhhơn 1.000 USD cho một chuyến 9 ngày do sản phẩm du lịch của Việt Nam chưa hấp dẫn,thiếu gắn kết, các hoạt động giải trí, mua sắm, chăm sóc khách chưa đa dạng, công tácxúc tiến quảng bá chưa thực sự hiệu quả do hạn chế về nguồn lực, cơ chế vận hành, chưathành lập Văn phòng xúc tiến du lịch ở nước ngoài, Quỹ hỗ trợ và phát triển du lịch chưađược vận hành và đi vào hoạt động; hạ tầng sân bay có xu hướng quá tải, chưa đáp ứngđược tốc độ tăng trưởng cao về số lượng khách du lịch; chính sách thị thực nhập cảnh cònhạn chế so với các điểm đến cạnh tranh trực tiếp của du lịch Việt Nam như Thái Lan.Nguồn nhân lực hoạt động trong ngành dịch vụ du lịch tuy đông nhưng về mặt trình độchuyên môn là chưa cao, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách du lịch, nhất là dukhách quốc tế
Về mảng tiếp thị, quảng cáo hình ảnh Việt Nam trên thương trường du lịch thếgiới vẫn đang là vấn đề cần được quan tâm Việc xây dựng một chiến lược tiếp thị dài hơi
và phù hợp để du khách quốc tế luôn xem Việt Nam là một điểm đến hấp dẫn trong kếhoạch nghỉ dưỡng của họ đó là một thách thức không dễ thực hiện
Trang 92.2 Chính sách chi tiêu của chính phủ đối với ngành du lịch Việt Nam hiện nay
2.2.1 Đầu tư phát triển và bảo trì cơ sở hạ tầng
Trong năm năm trở lại đây, nguồn vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch(CSHTDL) từ ngân sách trung ương, địa phương và huy động từ nhiều nguồn khác đãtừng bước hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cần thiết cho các khu du lịch, nhất là các khu dulịch quốc gia, khu du lịch chuyên đề để tạo tiền đề hình thành các khu du lịch có tầm cỡkhu vực, quốc tế, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam Nhiều hạngmục và dự án hoàn thành đã phát huy hiệu quả, mang lại hạ tầng kỹ thuật cần thiết chocác khu du lịch, đặc biệt là những khu du lịch quốc gia, khu du lịch chuyên đề như: HạLong - Cát Bà (Quảng Ninh), Lăng Cô - Cảnh Dương (Thừa Thiên - Huế), bán đảo SơnTrà - Mỹ Khê - Non Nước (Ðà Nẵng), Mũi Né (Bình Thuận), Tuyền Lâm - Ðan Kia Suốivàng (Lâm Ðồng), Phú Quốc (Kiên Giang)
Mới đây, chương trình mục tiêu phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 2016 –
2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với tổngkinh phí thực hiện hơn 30.664 tỷ đồng Trong đó, các khu du lịch trọng điểm quốcgia sẽ được hỗ trợ 100% vốn đầu tư Mục tiêu cụ thể đến năm 2020 của chương trình
là bảo đảm cơ bản đồng bộ về kết cấu hạ tầng cho 3 – 5 khu du lịch quốc gia, gópphần tạo thuận lợi cho du khách cũng như thu hút đầu tư trong và ngoài nước Tổngkinh phí thực hiện Chương trình là 30.664 tỷ đồng trong đó vốn đầu tư từ ngân sáchtrung ương là 3.802 tỷ đồng, vốn đầu tư phát triển từ ngân sách địa phương là 1.000
tỷ đồng, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là 3.662 tỷ đồng và vốn huy độnghợp pháp khác là 22.200 tỷ đồng
- Cơ sở hạ tầng giao thông: Hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không,đường biển đều đang được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại, thuận tiện đảm bảo
sự liên kết vận tải, du lịch
+ Đường bộ: Giai đoạn 2012 - 2020, lĩnh vực đường bộ đã hoàn thành đầu tư 880 kmđường cao tốc, đưa tổng chiều dài cao tốc đang khai thác lên 1.041 km Mạng lưới quốc
lộ đạt gần 24.600 km, tăng thêm 5.757 km so với năm 2011, trong đó quốc lộ 1 đã được
mở rộng từ Lạng Sơn đến Cà Mau, hoàn thành mở rộng tuyến đường Hồ Chí Minh quaTây Nguyên nối xuống miền Đông Nam Bộ; nhiều quốc lộ trọng yếu được đầu tư, nângcấp toàn tuyến hoặc một số đoạn có nhu cầu vận tải lớn
+ Về đường sắt: nỗ lực nâng cao an toàn, rút ngắn thời gian chạy tàu và cải thiện dịch vụ,nâng cao chất lượng phương tiện vận tải hành khách
+ Đường biển: Năng lực vận tải đường thủy cũng được nâng cao nhờ tập trung đầu tưnâng cấp một số tuyến tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long; mởtuyến vận tải ven biển giúp giảm áp lực cho vận tải đường bộ Hệ thống cảng biển dày
Trang 10đặc vừa là đầu mối giao thông du lịch thuận lợi vừa là cơ sở xuất nhập khẩu quan trọngcủa nước ta.
+ Đường hàng không: Ngành hàng không có bước phát triển đột phá về cả quy mô vàchất lượng dịch vụ, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt từ 16% - 18%/năm, bằng 2,5 - 2,9lần tăng trưởng GDP, góp phần phát triển du lịch, bảo đảm quốc phòng an ninh, khẳngđịnh chủ quyền quốc gia Các cảng hàng không quan trọng đã được nâng cấp (Nội Bài,Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng) và xây dựng mới (Phú Quốc, Vân Đồn), nâng tổng công suấtmạng cảng hàng không đạt khoảng 90 triệu hành khách/năm, tăng 2,5 lần so năm 2011,
- Hệ thống điện, nước, công nghệ thông tin: Các tỉnh/thành phố trong cả nước đều đãđược cấp điện lưới quốc gia; mỗi tỉnh/thành phố đều có nhà máy nước phục vụ chonhu cầu sản xuất và sinh hoạt với công suất lớn; Hệ thống công nghệ thông tin củamột số tỉnh/thành phố đang được đầu tư phát triển với quy mô khá lớn và hiện đại,trong đó Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Huế, Hội An và Đà Nẵng… đang dần phủ sóngwifi miễn phí, mang lại tiện ích không nhỏ cho khách du lịch
- Cơ sở hạ tầng lưu trú, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, không gian văn hóa: hệ thống
cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được đầu tư, đổi mới theo hướng hiện đại, phù hợp với sựphát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đáp ứng nhu cầu của lượng khách du lịch ngàycàng tăng, đặc biệt là từ khi đất nước đổi mới, mở cửa nền kinh tế
2.2.2 Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi phát triển du lịch
Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước là một trongnhững chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Để thực hiện và cụ thể hóa chủ trươngnày, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách chỉ tiêu và văn bản quy phạm pháp luậtkhác, nhằm phát triển ngành kinh tế quan trọng này
Nhà nước cũng bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư phát triển
hạ tầng du lịch; bố trí ngân sách hỗ trợ hoạt động xúc tiến du lịch, bảo vệ, tôn tạo tàinguyên và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo,phát triển nguồn nhân lực du lịch góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch một cáchnhanh chóng
Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch được hưởng mức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư caonhất khi Nhà nước ban hành, áp dụng các chính sách về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư Nhànước ưu tiên bố trí kinh phí cho các hoạt động:
a Điều tra, đánh giá, bảo vệ, tôn tạo, phát triển giá trị tài nguyên du lịch
Thủ tướng chính phủ liên tục phê duyệt những quyết định về nhiệm vụ quy hoạchtổng thể bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia ở hầu hết các địa danh trong