1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

“Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3”

34 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (Lênin), “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác). Ngôn ngữ là phương tiện thể hiện tâm trạng, tình cảm. Chức năng quan trọng của ngôn ngữ đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trường. Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Nhà trường tiểu học ở Việt Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng cho các môn học khác.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người”(Lênin), “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng” (Mác) Ngôn ngữ làphương tiện thể hiện tâm trạng, tình cảm Chức năng quan trọng của ngôn ngữ

đã quy định sự cần thiết nghiên cứu sâu sắc tiếng mẹ đẻ trong nhà trường Vănhọc là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc sống con người

và xã hội Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng tạo nên nhữnghình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại cho người đọcnhững rung cảm thực sự trong sáng Nhà trường tiểu học ở Việt Nam đã coi TiếngViệt là một môn học trung tâm, làm nền móng cho các môn học khác

Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là

hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh Trong đó, Tập đọc là

một phân môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình Tiếng Việt ởtiểu học Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệmviệc hình thành và phát triển kỹ năng đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu củahọc sinh ở bậc Tiểu học đầu tiên Dạy tốt phân môn Tập đọc không những rènluyện cho học sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển cho các em vốn từ ngữ phongphú tạo điều kiện để các em học tốt các phân môn khác Kỹ năng đọc có nhiềumức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểuđược nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm.Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh được tri thức văn hóa của dân tộc, tiếp thunền văn minh của loài người thông qua sách vở, biết đánh giá cuộc sống xã hội,

tư duy Qua hoạt động học, tình cảm thẩm mĩ của các em được nâng cao nêntầm hiểu biết để nhìn ra thế giới xung quanh và quá trình nhận thức của các em

có chiều sâu hơn Đọc đúng, đọc hay cũng là kĩ năng của ngôn ngữ văn học

Trang 2

Qua đó có tác dụng tình cảm, đạo đức cao đẹp cho người học sinh Đồng thờiphát huy óc sáng tạo và khả năng tư duy như quá trình phân tích tổng hợp chocác em Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn họckhác một cách chắc chắn Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giaotiếp của mình

Hiện nay việc dạy tập đọc ở nhà trường Tiểu học đạt kết quả chưa cao,chưa thỏa mãn với yêu cầu đặt ra Có thể có nhiều nguyên nhân chẳng hạn nhưchương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy Nhưng nguyên nhân cơbản có lẽ vẫn là sự phân bố thời gian không hợp lý Nhiều giáo viên còn sa vàogiảng văn, dành nhiều thời gian không hợp lý cho việc tìm hiểu bài Do vậy thờigian dành cho luyện đọc còn ít Bên cạnh đó, thực tế ở các trường tiểu học hiệnnay giáo viên còn dựa trên hướng dẫn của sách giáo khoa bằng phương thứcgiáo viên hỏi - học sinh trả lời Chính vì vậy mà đã bộc lộ được nhiều nhượcđiểm trong việc quản lí lớp cũng như khả năng kích thích hứng thú học tập củahọc sinh tham gia tìm hiểu, xây dựng bài Đặc biệt là việc rèn luyện kĩ năng đọccho học sinh còn hạn chế và sau một giờ, một bài học sinh ít có khả năng đọchay, diễn cảm và hiểu nội dung bài một cách đầy đủ Học sinh không quan tâmtới phương pháp đọc của mình Do đó, các em rất yếu về năng lực Ở lớp 3 nộidung hướng dẫn đọc ở một số bài mới chỉ dừng lại những lưu ý phát âm đúngcác từ ngữ hoặc âm thanh của Tiếng Việt, chưa chú ý đầy đủ tới các phươngdiện (thao tác) khác nhằm tái hiện các tác phẩm hoặc khắc sâu kiến thức Trongkhi đó đọc đối với học sinh lớp 3, ngoài việc phát âm đúng học sinh phải đọclưu loát từng đoạn và từng bài, biết ngắt nghỉ cho phù hợp theo thể thơ hay nộidung đọc Bước đầu đọc diễn cảm được bài có cảm xúc, biết nhấn giọng ởnhững từ biểu cảm, gợi tả, biết đọc rõ lời tác giả, lời nhân vật Chính vì vậy cần

có biện pháp nâng cao hiệu quả “đọc” nghĩa là biện pháp rèn đọc cho học sinhTiểu học nói chung và đặc biệt đối với học sinh lớp 3 nói riêng

Trang 3

Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 3” Với mong muốn nâng cao trình độ

nghiệp vụ nhằm giúp học sinh biết đọc đúng, hay, có khả năng kể chuyện, giaotiếp tốt, viết đúng chính tả, viết được những bài văn có đủ ý, trọn câu và ngàycàng yêu thích hứng thú đọc sách

2 Lịch sử vấn đề

Đọc và viết là hai kĩ năng dạy học sinh biết xử lý văn bản chữ Kĩ năngđọc không chỉ tiếp nhận thông tin mà đọc còn để bộc lộ khả năng hiểu của

người đọc Điều này đã được đề cập trong cuốn “Tìm vẻ đẹp bài văn ở Tiểu học”

(2005) NXB Giáo dục của hai tác giả Nguyễn Trí và Nguyễn Trọng Hoàn

Theo PGS.TS Lê Phương nga trong cuốn “Dạy tập đọc cho học sinh Tiểu

học” (2003) NXB Giáo dục đã xem xét việc dạy học chính là cách dạy tìm hiểu,

đánh giá cuộc sống, chính là quá trình nhận thức

Trong cuốn “Thế giới quanh ta” số Chuyên đề Tập đọc tháng 9 năm 2002

bài Hỏi – đáp về dạy Tập đọc ở Tiểu học đã coi Tập đọc là phân môn thực hành,năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng là đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức

và đọc hay

Cùng quan điểm về đọc, trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ phương pháp dạy

học tiếng Nga” (1998), Viện sĩ M.R.Lơrôp lại nghiên cứu việc đọc, khái niệm

đọc từ góc độ ngôn ngữ và ông cũng cho rằng đọc là quá trình giải mã chữ nghĩa Như vậy theo ông việc dạy đọc là kết hợp của hai quá trình đọc thànhtiếng và đọc hiểu

Trên Tạp chí ngôn ngữ, số 11 năm 2000 khái quát về giáo dục Ngữ Vănnước ngoài, giới giáo dục Ngữ Văn một số nước Âu – Mỹ cho rằng dạy đọc làmột quá trình tâm lí gồm nhiều khâu, từ cảm nhận văn tư lí giải ý nghĩa đến liêntưởng, tưởng tượng…

Việc nghiên cứu phương pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh Tiểu họckhông còn là vấn đề mới mẻ, nó đã được đề cập một cách khái quát hay cụ thể

Trang 4

trong các bài báo, trên các tạp chí ngôn ngữ và đời sống, các cuốn sách và cảcông trình khoa học Mỗi quan niệm, mỗi công trình nghiên cứu đều đi sâu vàomột khía cạnh nhất định Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện nay chưa có mộtcông trình nghiên cứu nào đề cập đến biện pháp cụ thể rèn kĩ năng đọc cho họcsinh lớp 3 Vì vậy chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài này nhằm tìm ra phươngpháp cụ thể để rèn kĩ năng đọc cho học sinh Tiểu học.

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm ra các biện pháp để rèn luyện cho học sinh đọc đúng, đọchay tốt nhất trong phân môn Tập đọc

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Các biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh

Phạm vi: Việc đọc các bài Tập đọc, đoạn trích trong sách giáo khoa Tiểuhọc lớp 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở lý luận của việc đọc

- Tìm hiểu thực trạng của việc dạy và học Tập đọc ở trường Tiểu học

Phần kết luận

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm đọc và ý nghĩa của việc đọc

1.1.1 Quan niệm về đọc

Trong thực tế mỗi chuyên ngành đều có yêu cầu về đọc khác nhau Nếunhư trong âm nhạc phải có năng lực đọc các nốt nhạc, bản nhạc thì trong kiếntrúc năng lực đọc các bản vẽ là rất quan trọng Vì vậy, đọc chính là yêu cầu lấyđược thông tin từ những điều mà mình vừa làm, vừa đọc

Về khái niệm đọc có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau

Theo từ điển Tiếng Việt “Đọc là hành động nhìn vào chữ hoặc kí hiệu,dấu hiệu để hiểu nội dung [3;520] Như vậy theo định nghĩa này đọc được hiểutheo nghĩa rộng bao hàm cả đọc chữ, đọc số liệu, bản vẽ,…

Tiến sĩ Nguyễn Trí cho rằng: “ Đọc cũng là một quá trình vừa tạo cảmxúc vừa thể hiện tình cảm của mình với nhân vật, với bức tranh cuộc sống hoặcvới nội dung được nêu trong bài văn [4;7] Quá trình đọc gắn liền với nhữngbiểu hiện cảm xúc của người đọc Đọc là suy ngẫm để thấy được cái hay trongngôn từ

Trong “Cẩm nang dạy học tiếng Nga (tiếng Nga) của M.R.Lơvôp “Đọc làmột dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lờinói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng) là quátrình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âmthanh (ứng với đọc thầm) Đọc không chỉ công việc giải một bộ mã gồm haiphần chữ viết và phát âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thànhtiếng mà theo đúng như các kí hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức

để có khả năng thông hiểu những gì được đọc

1.1.2 Ý nghĩa của việc đọc

Trang 6

Phần lớn những tri thức, kinh nghiệm của đời sống những thành tựu văn hoákhoa học, tư tưởng, tình cảm của các thế hệ trước và của cả những người đươngthời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con ngườikhông thể tiếp thu được nền văn minh của loài người Không thể sống một cuộcsống bình thường, không thể làm chủ trong xã hội hiện đại Ngược lại, biết đọccon người có thể dễ dàng tiếp thu nền văn minh của nhân loại Vì thế, học cónhững hiểu biết, có khả năng chế ngự một phương tiện văn học cơ bản giúp cho

họ giao tiếp với thế giới bên trong của người khác, đặc biệt khi đọc bài( Tậpđọc, học thuộc lòng) Đặc biệt trong thời buổi bùng nổ thông tin, biết đọc ngàycàng quan trọng vì nó sẽ giúp con người ta sử dụng các nguồn thông tin

Chính vì vậy dạy đọc có một ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Nó trở thành mộtđòi hỏi cơ bản, đầu tiên đối với mỗi người đi học Đầu tiên trẻ phải học đọc sau

đó đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được ngôn ngữ trong giao tiếp và họctập nó cũng là một công cụ để học các môn học khác nó tạo ra hứng thú và động

cơ học tập Đồng thời nó tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học Đọc làkhả năng không thể thiếu của con người trong thời đại văn minh Biết đọc sẽgiúp các em hiểu biết nhiều hơn, hướng các em tới cái thiện, cái đẹp, dạy chohọc sinh biết cách suy nghĩ lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh

Như vậy việc dạy đọc có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Vì nó bao gồmnhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển

1.2 Cơ sở khoa học của việc đọc

1.2.1 Cơ chế của đọc

Cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy đọc vì nó sẽ giúp chúng ta xác địnhmục đích, nội dung của quá trình đọc, cũng như xác định mục đích nội dung củaquá trình dạy học đọc

Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, làviệc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Một mặt, đó là quá trình vậnđộng của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những

Trang 7

dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng,tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ýtưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dungnhững gì được đọc.

Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơquan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc Càngngày, những yếu tố này càng gắn với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn.Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kĩ năng đọc là đạt dến sự tổng hợp giữanhững mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân biệt người mới biếtđọc và người đọc thành thạo Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêuthì việc đọc càng hoàn thiện càng chính xác và biểu cảm bấy nhiêu

Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ “đọc” được sử dụng trong nhiều nghĩa:Theo nghĩa hẹp, việc hình thành kĩ năng đọc trùng với nắm kĩ thuật đọc (tức làviệc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh) Theo nghĩa rộng, đọcđược hiểu là kĩ thuật đọc cộng với sự thông hiểu điều được đọc (không chỉ hiểunghĩa của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) Ý nghĩa hai mặt của thuật ngữ

“đọc” được ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học và phương pháp dạy học Từđây, chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai – đọc được xem như là một hoạtđộng lời nói trong đó có các thành tố: 1 Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ; 2.Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ theo từngchữ cái (đánh vần) hay là đọc trơn từng tiếng, từng từ, cụm từ, câu tùy thuộcvào trình độ nắm kĩ thuật đọc; 3.Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ,câu, đoạn, bài)

Kĩ năng đọc là một kĩ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâudài Các tác giả đã chia việc hình thành kĩ năng này ra làm ba giai đoạn: phântích, tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thểcủa hành động) và giai đoạn tự động hóa Giai đoạn dạy học vần là sự phân tíchcác chữ cái và đọc từng tiếng theo các âm Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả

Trang 8

từ trọn vẹn, trong đó sự tiếp nhận “từ” bằng thị giác và phát âm hầu như trùngvới nhận thức ý nghĩa Tiệp theo là sự thông hiểu ý nghĩa của “từ” trong cụm từ,trong câu đi trước sự phát âm, tức nghĩa là đọc được thực hiện trong sự đoáncác nghĩa.

Việc nghiên cứu cơ chế đọc giúp ta trải được hoạt động đọc theo chuỗituyến tính, nhờ đó có thể hình dung được trật tự các công việc cần làm để tổchức quá trình học đọc cho học sinh

1.2.2 Cơ sở về âm thanh của ngôn ngữ khi đọc

1.2.2.1 Chính âm

Chính âm là các chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệulực về mặt xã hội Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở Tiểu học.Chính âm liên quan đến vấn đề chuẩn hóa ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt Việc hiểu biết về chính âm sẽ giúp ta xác định nội dung đọc đúng,đọc diễn cảm một cách có nguyên tắc

Để luyện phát âm đúng cho học sinh trước hết và thực chất phải giảiquyết vấn đề về phương ngữ Mục tiêu của chúng ta đặt ra là luyện cho học sinhvươn đến một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất đẹp đẽ về mặt âm thanh Muốnnhư vậy, chúng ta phải luyện cho học sinh đọc đúng, hay trong phạm vi giáotiếp rộng hơn phương ngữ hẹp của mình

1.2.2.2 Trọng âm, ngữ điệu và đọc diễn cảm bài văn

a, Trọng âm

Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra âm tiết (tiếng) Dựa vào sựphát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanhđiệu rõ hay không rõ, người ta chia các tiếng trong chuỗi lời nói thành tiếng cótrọng âm (là tiếng có trọng âm mạnh) và không có trọng âm (tiếng có trọng âmyếu) Trọng âm mạnh rơi vào các từ truyền đạt thông tin mới hoặc có tầm quantrọng trong câu Trọng âm yếu đi với những từ không có hoặc có ít thông tin

Trang 9

mới Đây là căn cứ để chúng ta đọc rõ, nhấn mạnh hay kéo dài những từ quantrọng trong bài.

b, Ngữ điệu

Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lêncao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói Ngữ điệu là một trong những thành phầncủa ngôn điệu Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạothành lời nói

Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngônngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyểngiọng (phối hợp cả trường độ và cường độ)

Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơbản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âmđiệu, âm nhịp và âm sắc Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủnhững yếu tố này

c, Đọc diễn cảm baì văn

Đọc diễn cảm ở đây được hiểu là đọc hay, là một yêu cầu đặt ra khi đọcnhững văn bản văn chương hoặc các yếu tố của ngôn ngữ văn chương

Ở Tiểu học không yêu cầu học sinh có phong cách riêng khi đọc mà yêu cầu họcsinh có ý thức đọc đúng ngữ điệu để biểu đạt đúng ý nghĩa, tình cảm mà tác giả

đã gửi gắm trong văn bản được đọc, đồng thời cũng biểu hiện sự thông hiểu,cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm Đọc diễn cảm phản ánh cách hiểu bàivăn, bài thơ và việc hiểu là cơ sở của đọc diễn cảm Vì vậy để đọc diễn cảm,trước hết phải xác định nội dung ý nghĩa của bài học, sắc thái tình cảm, cảmxúc, giọng điệu chung của bài

Tiếp đó một điều rất quan trọng là sử dụng những yếu tố âm thanh củangữ điệu như thế nào để thể hiện cho đúng cảm xúc đã được xác định Giữa cảm

Trang 10

xúc toàn bài với ngữ điệu, giữa ý với nhạc điệu, âm thanh luôn có sự tương ứng.Người đọc phải nắm được sự tương ứng này và làm chủ được chỗ ngắt giọng( ởđây muốn nói đến kĩ thuật ngắt giọng biểu cảm), làm chủ được tốc độ đọc (độnhanh, chậm, chỗ ngân hay là việc dãn nhịp đọc), làm chủ được cường độ giọng(đọc to hay nhỏ, nhấn giọng hay lơi giọng) và làm chủ được cao độ (độ cao củagiọng điệu, lên giọng hay hạ giọng)

1.3 Vị trí nhiệm vụ của phân môn Tập đọc

1.3.1 Vị trí của phân môn Tập đọc

Phân môn Tập đọc trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học cũng tươngđương đồng đều trong một đơn vị bài học Tập đọc hỗ trợ tất cả các phân mônnhư Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Với Chính tả, Tập đọc giúp họcsinh nhận diện từng ngôn ngữ trong văn bản cụ thể, nhận diện từng tiếng từngchữ ghi âm Với Luyện từ và câu, Tập đọc giúp học sinh biết thế nào là câu, làđơn vị từ, là tiếng của văn bản Có thể nói Tập đọc chính là thực hành của tiếngviệt một cách kĩ lưỡng

Bên cạnh đó, cuộc sống của con người luôn sản sinh ra sáng tạo, nhữngkinh nghiệm trong cuộc sống và nhiều hiểu biết về tự nhiên, con người, văn hóacủa dân tộc Và để văn hóa, kinh nghiệm sống được truyền lại cho đời sau phảiđưa nó vào các văn bản chữ, tìm ra loại kí hiệu để ghi lại tiếng nói của dân tộcmình Biết đọc tức nghĩa là mỗi con người có một chìa khóa để mở cửa bướcvào kho tàng văn hóa văn minh nhân loại Biết đọc tức là biết giao tiếp vớingười khác không bị giới hạn bởi thời gian và không gian Đặc biệt với học sinhTiểu học niềm vui lớn nhất khi các em đến trường là biết đọc, biết viết Vì vậyđọc chính là công cụ để các em nhận thức là nơi để các em tìm niềm vui trẻ thơ

1.3.2 Nhiệm vụ của dạy Tập đọc Tiểu học

Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó làhình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩnăng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc

Trang 11

lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mìnhđọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễncảm) Bốn kĩ năng này được hình thành từ hai hình thức đọc: đọc thành tiếng vàđọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ nhau.

Dạy đọc là giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thóiquen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh Làm cho sách đượctôn kính trong trường học, đó là một trong những điều kiện để trường học thực

sự trở thành trung tâm văn hóa Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phảilàm cho học sinh thích thú đọc và thấy được khả năng đọc là có lợi ích cho các

em trong cả cuộc đời, thấy được đó là một trong những con đường đặc biệt đểtạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển

Vì việc đọc không thể tách rời khỏi những nội dung được đọc nên bêncạnh nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách, phân môn Tập đọc còn

có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học chohọc sinh Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới ngôn ngữ và tư duycủa người đọc Việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các emlòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách logic cũngnhư biết tư duy một cách có hình ảnh… Dạy đọc không chỉ giáo dục về tưtưởng, đạo đức mà còn giáo dục tính cách thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh

Như vậy dạy đọc có một ý ngĩa to lớn vì nó có cả nhiệm vụ giáo dưỡng,giáo dục và phát triển

1.4 Kĩ năng đọc

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Kĩ năng là khả năng vận dụng nhữngkiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào trong thực tế” Đây làmột định nghĩa mang hàm ý rộng Kĩ năng chính là khả năng vận dụng lí thuyếtvào thực tế Kĩ năng đạt đến mức thuần thục gọi là kĩ xảo

Vậy kĩ năng đọc là gì? Kĩ năng đọc chính là khả năng vận dụng nhữngkiến thức về ngữ âm học để tri giác văn bản, tù đó hiểu được nội dung, ý nghĩa

Trang 12

của từng con chữ trong văn bản và hiểu được nội dung của văn bản Như vậy,đọc là sự tổng hợp của hai quá trình phát âm thành tiếng và nhận thức để có khảnăng thông hiểu những gì được đọc Người biết đọc phải đọc thông văn bản vànắm được nội dung, ý nghĩa từ những con chữ Giáo viên và học sinh dạy vàhọc phân môn Tập đọc dựa trên cơ chế của việc đọc và những cơ sở về âmthanh của nó Trên căn cứ đó chúng tôi tiếp tục đi nghiên cứu thực trạng củaviệc dạy học Tập đọc hiện nay trong trường Tiểu học.

Trang 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC PHÂN MÔN

TẬP ĐỌC LỚP 3

2.1 Nội dung chương trình và phân bố thời lượng

Ở lớp 3 mỗi tuần có khoảng 3 tiết Tập đọc, trong đó một bài dạy trong 2tiết gồm có 1,5 tiết học Tập đọc còn lại 0,5 tiết là kể chuyện

Số lượng bài đọc: Có 93 bài Tập đọc, trong đó 62 bài là văn xuôi, 31 bàithơ gồm các chủ điểm sau :

Học kì I :

- Măng non (thiếu nhi)

- Mái ấm (gia đình)

- Tới trường (trường học)

- Cộng đồng (Những người xung quanh ta)

- Quê hương

- Bắc – Trung – Nam (các vùng miền trên đất nước ta)

- Anh em một nhà (các dân tộc anh em trên đất nước ta)

- Thành thị - Nông thôn (sinh hoạt ở đô thị, nông thôn, công nhân, nôngdân)

Học kì II:

- Bảo vệ Tổ quốc (gương chiến đấu xưa nay, bộ đội, công nhân, dân quân,

tự vệ)

- Sáng tạo (hoạt động khoa học, trí thức)

- Văn hóa – Nghệ thuật

- Lễ hội

- Thể thao

- Ngôi nhà chung (các nước: một số vấn đề toàn cầu – hòa bình, hữu nghị,hợp tác, bảo vệ môi trường…)

Trang 14

- Bầu trời và mặt đất (các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ, con người vớithiên nhiên, vũ trụ…)

Đây là phần giải nghĩa từ mới, những từ khó hiểu đối với học sinh

Phần 3: Hướng dẫn tìm hiểu bài

Nội dung này gồm những câu hỏi xoay quanh nội dung bài học nhằmgiúp học sinh tái hiện những chi tiết của bài hay phát hiện ra ý nghĩa, nội dungcủa bài đọc

2.2 Quy trình dạy Tập đọc ở lớp 3

Quy trình dạy Tập đọc ở lớp 3 có những điểm kế thừa và phát triển quytrình dạy Tập đọc ở lớp 2 Các hoạt động dạy học của một bài Tập đọc lớp 3được tiến hành cụ thể như sau:

A- Kiểm tra bài cũ

Giáo viên kiểm tra 2,3 học sinh về bài Tập đọc kế trước Tùy điều kiện cụ thể,giáo viên yêu cầu từng học sinh đọc (kể) 1,2 đoạn ngắn hoặc 2,3 học sinh đọc(kể) tiếp nối nhau toàn bài; sau đó, giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh trảlời về nội dung đoạn đọc (kể) củng cố kĩ năng đọc - hiểu

Việc kiểm tra bài cũ cần thể hiện tinh thần động viên, khuyến khích học sinhluyện đọc (cho điểm biểu dương học sinh đọc tốt, nhắc nhở và giúp đỡ học sinhđọc yếu, không nên cho điểm kém)

B- Dạy bài mới

(1) Giới thiệu bài

Giáo viên có thể lựa pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài mới như: gợi

mở bằng câu hỏi hoặc tranh ảnh trong SGK (hoặc tranh phóng to, nếu có), dùng

Trang 15

vật thật (nếu cần thiết), diễn giảng bằng lời, Nhìn chung, lời giới thiệu bài cầnngắn gọn, nhẹ nhàng, gây hứng thú cho học sinh; tránh rườm rà, cầu kì, làm mấtnhiều thời gian.

(2) Luyện đọc

a, GV đọc toàn bài

Căn cứ vào hình văn bản tập đọc (nghệ thuật, hành chính, báo chí, ) GV xácđịnh cách đọc sao cho phù hợp (tham khảo hướng dẫn trong SGV)

b, GV hướng dẫn học sinh luyện đọc, kết hợp giải nghĩa từ

- Đọc từng câu: Học sinh tiếp nối nhau đọc từng câu trong bài (có thể đọc

1 hay 2 vòng đối với bài TĐ hai tiết, đọc 2 hay 3 vòng đối với bài TĐ ngắn)

GV theo dõi học sinh đọc để sửa phát âm (nếu có), đồng thời kết hợp luyện đọcđúng từ ngữ (nếu cần)

- Đọc từng đoạn trước lớp: HS tiếp nối nhau đọc từng đoạn trong bài (đọc

2 hay 3 vòng đối với bài tập đọc hai tiết, đọc 3 hay 4 vòng đối với bài tập đọcngắn) GV theo dõi học sinh đọc để gợi ý, hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi, cáchngắt nhịp thơ cho đúng, đọc đúng ngữ điệu câu và tập phân biệt lời người dẫnchuyện với lời nhân vật, phân biệt lời các nhân vật với nhau (nếu có); hướngdẫn học sinh tìm hiểu nghĩa từ ngữ được chú giải trong SGK, từ ngữ chưa quenthuộc với học sinh địa phương (nếu có)

- Đọc từng đoạn trong nhóm (hoặc theo từng cặp): GV yêu cầu học sinh

cả lớp thực hành luyện đọc theo từng cặp (2 em) hoặc theo nhóm nhỏ (3, 4 em),dựa vào cách đọc đã được hướng dẫn trên lớp HS cần tiếp nối nhau đọc và theodõi SGK để nhận xét, góp ý cho bạn về cách đọc

- Cả lớp đọc đồng thanh (một, hai đoạn hoặc cả bài): Hoạt động này cầnđược giáo viên vận dụng một cách linh hoạt Có văn bản (văn bản thông thường,những câu chuyện buồn) không nên đọc đồng thanh, có văn bản chỉ chọn đọcđồng thanh một đoạn (không có hoặc có rất ít lời đối thoại), có văn bản miêu tảđược đọc đồng thanh 2,3 đoạn hoặc cả bài, có bài thơ được đọc đồng thanh toàn

Trang 16

bài 2,3 lượt nhằm hỗ trợ cho việc học thuộc lòng Giáo viên cần rèn cho họcsinh có cách đọc đồng thanh nhịp nhàng, vừa phải (không đọc quá to, biết kếthợp nghe các bạn để điều chình giọng đọc).

(3) Hướng dẫn tìm hiểu bài

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài tập đọc dựa theo cáccâu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa là chủ yếu Để giúp học sinh định hướnghoạt động đọc hiểu, giáo viên cần nêu rõ câu hỏi hoặc giao nhiệm vụ cụ thể chohọc sinh trước khi đọc (đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào; đọc để biết, hiểu, nhớđiều gì ) Sau khi học sinh đọc thầm (hoặc kết hợp theo dõi sách giáo khoatrong khi một bạn đọc thành tiếng) giáo viên có thể yêu cầu các em trả lời, traođổi ngay trước lớp hoặc nêu ý kiến trong nhóm rồi cử đại diện phát biểu (tùyđặc điểm, mức độ, yêu cầu của câu hỏi, bài tập trong sách giáo khoa) Cuối cùnggiáo viên chốt lại những ý chính để học sinh nắm vững (có thể yêu cầu học sinhyếu kém nhắc lại)

(4) Luyện đọc lại bài tập đọc

Dựa vào trình độ của đa số học sinh trong lớp và đặc điểm của bài tậpđọc, giáo viên lựa chọn mức độ và hình thức luyện đọc lại sao cho phù hợp:luyện tập và thi đọc tốt một, hai đoạn hoặc cả bài; đọc truyện theo vai; tổ chứctrò chơi học tập cáo tác dụng luyện đọc, Đối với bài tập đọc có yêu cầu HTL,giáo viên tổ chức cho học sinh học và thi đọc thuộc lòng ngay ở lớp một phầnhoặc toàn bài tập đọc theo cách đã hướng dẫn (ghi từ ngữ có tác dụng “điểmtựa”, xóa dần bảng một cách hợp lí, ) ở những lớp có nhiều học sinh khá giỏigiáo viên có thể bước đầu hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm

(5) Củng cố, dặn dò

Giáo viên hướng dẫn học sinh chốt lại ý chính bằng câu hỏi củng cố(hoặc đọc lại bài Tập đọc, nêu ý nghiac hoặc rút ra bài học, trao đổi – liên hệthực tế, ) nhận xét về tiết học, dặn dò về yêu cầu luyện tập và chuẩn bị bài sau

2.3 Phương pháp rèn đọc cho học sinh lớp 3

Trang 17

Trong thực tế mỗi bài Tập đọc đều có hai phần lớn: Luyện đọc và tìm hiểunội dung Hai phần này có thể tiến hành cùng mọt lúc hoặc đan xen vào nhauhoặc cũng có thể dạy tách theo hai phần Tuỳ theo từng bài mà giáo viên lựachọn, dù dạy như thế nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ khăng khít vớinhau, cần tìm hiểu bài giúp học sinh hiểu kĩ nội dung, nghệ thuật của bài từ đócác em đọc đúng, biết đọc ngắt giọng, nhấn giọng để thể hiện nội dung của bài,thể hiện những hiểu biết của mình xung quanh bài đọc Vì vậy việc rèn đọctrong bài Tập đọc rất quan trọng, góp phần làm giàu vốn kiến thức ngôn ngữvào đời sống và kiến thức văn học cho học sinh Từ đó góp phần hình thành ởcác em những phẩm chất, nhân cách tốt.

Trong quá trình tìm hiểu bài, cho học sinh phải biết tìm hiểu nội dung vànghệ thuật của từng đoạn Từ đó mới hiểu được nội dung của từng bài và tìm racách đọc tốt nhất (đọc thầm, đọc thành tiếng) Vì vậy người giáo viên phải từngbước hình thành cho học sinh cách đọc Sau khi chia bài thành các đoạn giáoviên tiếp tục tổ chức, điều khiển, hướng dẫn tìm hiểu nội dung của từng đoạnbằng phương pháp như: Vấn đáp, trực quan, giảng giải và có thể sử dụng cácloại kĩ thuật khác trong giờ dạy như giải nghĩa từ Còn với học sinh mỗi đoạn,mỗi bài là một chủ thể luyện tập, các em phải được suy nghĩ, được nói lên ýnghĩa đó được luyện trong bài

Dạy Tập đọc cần dạy sát đối tượng, sát trình độ để đảm bào tính vừa sức Những phương pháp đã được áp dụng cho phân môn Tập đọc:

* Phương pháp trực quan

Phương pháp này phù hợp với tư duy, tâm lý, lứa tuổi học sinh Có thể trựcquan bằng giọng đọc của giáo viên Giọng đọc mẫu của giáo viên là hình thứctrực quan sinh động và có hiệu quả cao, có tác dụng làm mẫu cho học sinhluyện đọc Mỗi bài văn, bài thơ viết ở thể loại khác nhau Có bài giọng đọc náonức, phấn khởi; có bài giọng đọc trang nghiêm trầm lắng; có bài giọng đọc âncần khuyên nhủ nghĩa là mỗi bài một vẻ Do đó giáo viên cần đọc đúng thể loại

Ngày đăng: 10/04/2021, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học – NXB đại học Sư phạm- năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXB đại học Sư phạm- năm 2007
2. Lê Phương Nga, Dạy tập đọc ở Tiểu học – NXB Giáo Dục - năm 2002 3. Viện ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt – NXB Đà Nẵng - năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tập đọc ở Tiểu học" – NXB Giáo Dục - năm 20023. Viện ngôn ngữ học, "Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo Dục - năm 20023. Viện ngôn ngữ học
4. Nguyễn Trí, Nguyễn Trọng Hoàn, Tìm vẻ đẹp bài văn ở Tiểu học – NXB Giáo Dục – năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm vẻ đẹp bài văn ở Tiểu học
Nhà XB: NXB GiáoDục – năm 2005
5. Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (tập 1, tập 2) Khác
6. Hỏi - đáp về dạy học Tiếng Việt 3 – NXB Giáo Dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w