Đặc điểm nước thải của hoạt động sản xuất miến dong tại xã Đông Thọ là sản xuất quanh năm, nhưng khoảng từ tháng 8 đến trước Tết Nguyên Đán là hoạt động mạnh mẽ nhất, do vậy nước thải sả
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Họ và tên: Đặng Bảo Quỳnh Vân Lớp: 23KHMT11 Mã HV: 1581440301014 Chuyên ngành đào tạo: Khoa học Môi trường Mã số: 608502
Tôi xin cam đoan luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm
Thị Tố Oanh và PGS.TS Vũ Đức Toàn với đề tài “Đánh giá thực trạng môi trường và
đề xuất giải pháp quản lý nước thải sản xuất tại làng miến dong xã Đông Thọ, huy ện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”
Đây là đề tài nghiên cứu mới, là một phần nghiên cứu trong đề tài “ Quản lý môi trường làng nghề dựa vào cộng đồng, đề án 3 năm 2014 – 2016” của đơn vị Liên minh
hợp tác xã Việt Nam, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây, do đó, không phải là bản sao chép của bất kỳ một luận văn nào Các nội dung nghiên cứu, kết
quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung
luận văn của mình Trường đại học Thủy Lợi không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra trong quá trình thực hiện (nếu có)
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học Viên
Đặng Bảo Quỳnh Vân
Trang 2L ỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài những cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và các cá nhân, tập thể
tại khu vực nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô giáo trường Đại học
Thủy lợi, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệp quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến TS
Ph ạm Thị Tố Oanh, PGS.TS Vũ Đức Toàn cùng các thầy cô khoa Môi trường đã tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Các thầy cô đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp thạc sỹ Tôi cũng chân thành cảm ơn
ThS.Tr ịnh Xuân Hoàng – trưởng phòng Thí nghiệm và tư vấn quản lý chất lượng
nước, Môi trường – Viện Quy hoạch Thủy lợi và các chú, các anh trong phòng đã giúp
đỡ, tạo điều kiện trong quá trình tôi thực hiện luận văn Cảm ơn UBND xã Đông Thọ, Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện, cung cấp số liệu cho tôi thực hiện đề tài này Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi có thể tập trung hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
Với vốn kiến thức, kinh nghiệm, và thời gian còn nhiều hạn chế nên luận văn còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô giáo và bạn đọc để luận văn tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin kính chúc quý thầy cô và gia đình dồi dào sức khỏe, thành công trong sự nghiệp trồng người cao quý
Hà N ội, tháng 2 năm 2017
Học viên
Đặng Bảo Quỳnh Vân
Trang 3M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Tính c ấp thiết của đề tài 1
2 M ục tiêu đề tài 2
3 Ph ạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Cách tiếp cận 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TRẠNG S ẢN XUẤT MIẾN DONG 4
1.1 Đặc điểm chung về làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm ở Việt Nam 4
1.1.1 Phân bố các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên cả nước 4
1.1.2 Vai trò của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 7
1.1.3 Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề chế biến thực phẩm 8
1.1.3.1 Hiện trạng môi trường nước 8
1.1.3.2 Hiện trạng môi trường không khí 10
1.1.3.3 Môi trường đất và chất thải rắn 11
1.1.4 Thực trạng quản lý môi trường tại các làng chế biến thực phẩm 13
1.2 Đặc điểm chung về làng nghề sản xuất miến dong 16
1.2.1 Thông tin về làng nghề sản xuất miến dong tại Việt Nam 16
1.2.2 Thực trạng môi trường tại các khu vực sản xuất miến dong 18
1.3 Đặc điểm về làng miến xã Đông Thọ 20
1.3.1 Điều kiện tự nhiên 20
1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế 21
1.3.2.2 Điều kiện xã hội 21
1.3.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng 22
1.3.4 Hiện trạng sản xuất của làng nghề 23
1.3.4.1 Hiện trạng về công nghệ và thiết bị sản xuất 23
1.3.4.2 Quy trình sản xuất miến từ tinh bột dong riềng tại xã Đông Thọ 24
1.3.4.3 Nguyên liệu cung cấp cho sản xuất miến tại xã Đông Thọ 26
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM NƯỚC TẠI LÀNG MIẾN XÃ ĐÔNG THỌ, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH 28
2.1 Hi ện trạng sản xuất miến tại làng miến xã Đông Thọ 28
2.1.1 Hiện trạng sản xuất miến dong tại làng miến xã Đông Thọ 28
2.1.2 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường chính 29
2.2 Hi ện trạng ô nhiễm nước thải sản xuất và ảnh hưởng của ô nhiễm đến môi trường nước tại làng miến xã Đông Thọ 32
2.2.1 Cơ sở và vị trí lấy mẫu 32
2.2.2 Kết quả phân tích mẫu và đánh giá mức độ ô nhiễm 36
2.2.3 Thực trạng xử lý nước thải tại các cơ sở sản xuất 46
2.2.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước đến sức khỏe của người dân 47
2.3 Th ực trạng công tác quản lý môi trường nước tại làng miến Đông Thọ 48
Trang 42.3.1 Thực trạng quản lý môi trường nước của các cấp chính quyền 48
2.3.1.1 Thể chế, chính sách trong quản lý môi trường 48
2.3.1.2 Cơ cấu quản lý môi trường 48
2.3.2 Thực trạng hoạt động bảo vệ môi trường nước của người dân 51
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG T ẠI LÀNG MIẾN XÃ ĐÔNG THỌ 54
3.1 Gi ải pháp quản lý 54
3.1.1 Hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường nước tại làng miến 54
3.1.2 Đẩy mạnh áp dụng cách tiếp cận sản xuất sạch hơn 58
3.1.3 Áp dụng các công cụ kinh tế 60
3.1.4 Tuyên truyền, giáo dục về môi trường, bảo vệ môi trường 63
3.1.5 Định hướng lại không gian sản xuất 64
3.1.5.1 Định hướng tập trung 64
3.1.5.2 Định hướng phân tán 66
3.2 Gi ải pháp kỹ thuật 67
3.2.1 Cơ sở đề xuất lựa chọn giải pháp kỹ thuật 67
3.2.2 Biện pháp đề xuất 68
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
PH Ụ LỤC
Trang 5DANH M ỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất 4
Hình 1.2 Lưu lượng nước thải sản xuất của một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ (m3 /ngày) 8
Hình 1.3 Hàm lượng BOD5, COD và SS trong nước thải một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ 9
Hình 1.4 Hàm lượng SO2 trong không khí ở một số làng nghề chế biến lương thực,
thực phẩm (đơn vị mg/m3 ) 10
Hình 1.5 Hàm lượng NO2 trong không khí ở một số làng nghề chế biến lương thực,
thực phẩm (đơn vị mg/m3) 11
Hình 1.6 Quy trình làm tinh bột dong riềng 16
Hình 1.7 Quy trình sản xuất miến dong 17
Hình 1.8 Vị trí xã Đông Thọ - Đông Hưng - Thái Bình 20
Hình 1.9 Quy trình sản xuất miến từ tinh bột dong riềng tại làng miến xã Đông Thọ 24 Hình 2.1 Một số hình ảnh ô nhiễm trên kênh, mương thải quanh xã Đông Thọ 30
Hình 2.2 Sơ đồ vị trí lấy mẫu nước tại xã Đông Thọ 35
Hình 2.3 So sánh nhiệt độ của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT 37
Hình 2.4 So sánh độ pH của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT 37
Hình 2.5 So sánh hàm lượng TSS của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT 37 Hình 2.6 So sánh hàm lượng COD của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT37 Hình 2.7 So sánh hàm lượng BOD5 của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT38 Hình 2.8 So sánh hàm lượng Cl của 5 mẫu nước thải với QCVN 40:2011/BTNMT 38
Hình 2.9 So sánh pH của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 40
Hình 2.10 So sánh hàm lượng DO của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 41
Hình 2.11 So sánh hàm lượng TSS của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 41
Hình 2.12 So sánh hàm lượng COD của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 41
Hình 2.13 So sánh hàm lượng BOD5 của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 41
Hình 2.14 So sánh hàm lượng PO43- của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 42
Hình 2.15 So sánh hàm lượng NH4+ của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 42
Hình 2.16 So sánh hàm lượng NO2- của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 42
Trang 6Hình 2.17 So sánh hàm lượng NO3- của 3 mẫu nước mặt với QCVN
08-MT:2015/BTNMT 42
Hình 2.18 So sánh hàm lượng Cl- của 3 mẫu nước mặt với QCVN 08-MT:2015/BTNMT 43
Hình 2.19 So sánh độ pH của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTNMT44 Hình 2.20 So sánh hàm lượng chỉ số penmanganat của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTNMT 44
Hình 2.21 So sánh hàm lượng NH4+ của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTNMT 45
Hình 2.22 So sánh hàm lượng NO2- của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTNMT 45
Hình 2.23 So sánh hàm lượng NO3- của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTNMT 45
Hình 2.24 So sánh hàm lượng Cl của 2 mẫu nước dưới đất với QCVN 09-MT:2015/BTN 45
Hình 2.25 Bể lắng 3 ngăn được xây dựng và che chắn tạm bợ nhà ông Tụ 47
Hình 2.26 Miến được phơi cạnh mương dẫn nước của thôn 49
Hình 3.1 Sơ đồ hệ thống quản lý môi trường cấp xã 55
Hình 3.2 Sơ đồ định hướng tập trung nguồn thải 65
Hình 3.3 Sơ đồ định hướng sử dụng đất hộ sản xuất miến dong và 66
Hình 3.4 Sơ đồ công nghệ mô hình xử lý nước thải phương án 1 68
Hình 3.5 Bể ABR 70
Hình 3.6 Sơ đồ công nghệ mô hình xử lý nước thải phương án 2 72
Hình 3.7 Bể lọc than hoạt tính 73
Trang 7Bảng 1.4 Tên các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm 11
Bảng 1.5 Thành phần và khối lượng bã thải từ sản xuất tinh bột tại làng nghề Dương
Liễu (Thời gian sản xuất từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) 12
Bảng 1.6 Nhu cầu nhiên liệu và khối lượng xỉ thải của một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm 13
Bảng 1.7 Tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải tại các làng nghề miến 19
Bảng 2.1 Chất thải sinh ra từ quy trình làm miến dong 28
Bảng 2.2 Kết quả phân tích tại cơ sở sản xuất miến dong tại làng miến xã Đông Thọ 30
Bảng 2.3 Mẫu nước 33
Bảng 2.4 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại làng nghề làm miến xã Đông Thọ 36
Bảng 2.5 Kết quả phân tích mẫu nước mặt tại làng nghề làm miến xã Đông Thọ 39
Bảng 2.6 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm tại làng nghề làm miến xã Đông Thọ 44
Trang 8DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tại nhiều vùng nông thôn nước ta, các làng sản xuất, làm nghề đã và đang phát triển mạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển của địa phương Bên
cạnh những đóng góp không nhỏ về kinh tế - xã hội, sự gia tăng các làng sản xuất, làm nghề cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường, đòi hỏi sự quan tâm kịp thời của các ngành, các cấp chính quyền địa phương
Ngành sản xuất, chế biến thực phẩm là hoạt động phổ biến ở nước ta Sự phát triển của
hoạt động sản xuất đã tạo công ăn việc làm cho cư dân bản địa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, nhưng mặt khác, chất lượng môi trường tại địa phương cũng phải đối mặt với nguy cơ xuống cấp, ô nhiễm nghiêm trọng do sự thiếu ý thức quan tâm, bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất Do sự phát triển tự phát, thiếu quy
hoạch đã dẫn tới hậu quả chất lượng nước tại các làng có nghề suy giảm nghiêm trọng, môi trường nước bị ô nhiễm, kéo theo đó là những nguy cơ lây nhiễm một số bệnh nguy hiểm cho con người gây nên sự bức xúc của dân cư sinh sống trên địa bàn xã
Xã Đông Thọ - huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình là nơi sản xuất miến dong lâu đời, được các thế hệ lưu truyền hàng trăm năm nay, tạo thu nhập và việc làm ổn định cho người dân Tuy nhiên điều đáng lo ngại nhất là trong quá trình sản xuất, kinh doanh
hiện nay, hàng ngày, một khối lượng lớn nước thải chưa qua xử lý ở các hộ sản xuất
miến xả ra môi trường xung quanh, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống của người dân, tạo những xung đột về môi trường Hàm lượng các chất hữu
cơ, chất rắn lơ lửng trong nước cao, gây nên hiện tượng phú dưỡng tại các ao hồ trên địa bàn, hệ quả là nước tại các ao hồ bị ô nhiễm nặng nề, gây bức xúc cho người dân
Xã Đông Thọ đang trên hành trình xây dựng nông thôn mới nên vấn đề bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp, hoạt động sản xuất an toàn, các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt chỉ tiêu về môi trường đang rất được quan tâm Theo “Báo cáo tổng kết xây dựng nông thôn mới xã Đông Thọ giai đoạn 2011 – 2014”, xã đã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới Quốc gia, tuy nhiên trên thực tế, tiêu chí 17 là tiêu chí về Môi trường trên địa bàn xã vẫn còn nhiều vấn đề chưa xử lý được, gây bức xúc cho người dân
Trang 10Đặc điểm nước thải của hoạt động sản xuất miến dong tại xã Đông Thọ là sản xuất quanh năm, nhưng khoảng từ tháng 8 đến trước Tết Nguyên Đán là hoạt động mạnh mẽ
nhất, do vậy nước thải sản xuất tập trung vào thời gian này trong năm với một lượng
lớn; thêm vào đó là các cơ sở sản xuất nằm rải rác, chiếm khoảng hơn 80% các hộ gia đình trong làng, nước thải sản xuất thường hòa trộn chung với nước thải sinh hoạt để
xả ra môi trường khiến cho công tác quản lý việc xả thải phức tạp, khó khăn hơn
Với mục đích bảo vệ môi trường và giúp các cấp chính quyền địa phương có cơ sở trong quản lý và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước do hoạt động sản xuất, góp phần vào sự phát triển bền vững của nghề sản xuất miến lâu đời tại xã Đông Thọ, đề tài
“Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp quản lý nước thải sản xuất
t ại làng miến dong xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình” được lựa chọn
để nghiên cứu
2 M ục tiêu đề tài
Đánh giá được thực trạng ô nhiễm môi trường do nước thải tại làng miến Đông Thọ
Đề xuất được các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng miến
xã Đông Thọ
3 Ph ạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng nước thải tại làng sản xuất miến dong xã Đông Thọ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Đối tượng nghiên cứu: Làng sản xuất miến dong xã Đông Thọ
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách ti ếp cận
Kế thừa: Đề tài sử dụng các số liệu về môi trường nước, đặc biệt là nước thải sản xuất, được thực hiện trước đây tại khu vực nghiên cứu
Tổng hợp: Tổng hợp một số phương pháp đã áp dụng xử lý trong nước và nước ngoài
để đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
Trang 114.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu: thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên
và kinh tế - xã hội của xã Đông Thọ, các số liệu đã có về chất lượng môi trường nước khu vực xung quanh làng miến Đông Thọ từ nguồn:
Báo cáo hiện trạng môi trường trên toàn tỉnh;
Các công trình nghiên cứu về hiện trạng môi trường ngành sản xuất miến
của Việt Nam;
Và nhiều nguồn số liệu khác
2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa:
Tham vấn các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư các thông tin về hiện
trạng môi trường, cơ cấu quản lý, tổ chức quản lý môi trường tại làng
miến xã Đông Thọ;
Các tài liệu, báo cáo chuyên đề của các chuyên gia trong ngành;
Lấy mẫu nước tại khu vực nghiên cứu trong thời gian thực hiện luận văn
3 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm: Các mẫu nước được lấy tại những
vị trí đại diện cho nguồn nước thải, nước mặt, nước ngầm trong làng nghề và được phân tích tại phòng thí nghiệm thuộc Viện Quy hoạch Thủy lợi
4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Tổng hợp thông tin số liệu, tính toán, xử lý số
liệu thống kê dựa trên kết quả đo đạc, phân tích thu được Các số liệu được xử lý bằng
phần mềm Excel
5 Phương pháp đánh giá chất lượng nước: Từ các kết quả phân tích chất lượng nước
để đánh giá mức độ ô nhiễm do nước thải sản xuất tại làng nghề sản xuất miến dong,
dựa vào các quy chuẩn hiện hành của nhà nước (QCVN 40:2011/BTNMT; QCVN 08 – MT:2015/BTNMT; QCVN 09 – MT:2015/BTNMT)
6 Phương pháp kế thừa: Kế thừa sơ đồ công nghệ từ đề án và xử lý thông tin, dựa trên
những ưu điểm đã có để đề xuất sơ đồ công nghệ mới
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ THỰC
TR ẠNG SẢN XUẤT MIẾN DONG
1.1 Đặc điểm chung về làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm ở Việt Nam
1.1.1 Phân b ố các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm trên cả nước
Các làng nghề đã tồn tại, phát triển từ hàng nghìn năm nay, có vai trò quan trọng đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đặc biệt ở khu vực nông thôn, trong tiến trình đổi mới và phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới thì đây là mắt xích đột phá để đầu tư khoa học, công nghệ phát triển nông thôn hiện đại Các làng nghề trên khắp cả nước rất đa dạng về ngành nghề sản xuất cũng như sản phẩm Có thể phân loại làng nghề theo 6 nhóm ngành sản xuất dựa trên loại hình sản xuất và loại hình sản phẩm, bao gồm:
- Ươm tơ, dệt vải và may đồ da
- Chế biến nông sản thực phẩm, dược liệu
- Tái chế phế liệu (giấy, nhựa, kim loại…)
- Thủ công mỹ nghệ, thêu ren
- Vật liệu xây dựng, khai thác và chế tác đá
- Nghề khác (mộc gia dụng, cơ khí nhỏ, đóng thuyền, quạt giấy, đan vó, lưới…)
Hình 1 1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo ngành nghề sản xuất [1]
Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm chiếm tỷ lệ lớn trong các làng nghề trên cả nước Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm được phân bố đều ở các khu vực nhưng nhiều nhất vẫn là khu vực châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long
Tại các làng nghề này phần lớn người lao động sử dụng thời gian nông nhàn để tham
da Vật liệu xây dựng, khai thác đá
Tái chế phế liệu Các nghề khác
Trang 13gia sản xuất, hình thức sản xuất chủ yếu vẫn mang tính thủ công, gần như không có sự thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm được hình thành nghề
Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có 197 làng nghề chế biến lương thực, thực
phẩm chiếm 13,58% trên tổng số 1450 làng nghề trong cả nước Các làng nghề này tập trung chủ yếu ở miền Bắc, có 134 làng chiếm 68% Miền Trung có 42 làng chiếm 21,32% 21 làng (chiếm 10,66%) thuộc các tỉnh phía Nam Tỉnh có nhiều làng nghề
chế biến lương thực, thực phẩm nhất là Hà Tây: 47 làng, chiếm 23,86% tổng làng nghề
chế biến lương thực, thực phẩm trong cả nước, ở Miền Nam tập trung nhiều nhất ở TP
Từ nguyên liệu chính là gạo, khoai, ngô sắn, dong riềng… sau khi qua các công đoạn
sản xuất đã tạo ra các sản phẩm được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận Hiện nay tại các làng nghề đang sản xuất những mặt hàng khác nhau như:
- Miến dong, bún khô (phở khô), bánh đa nem, tương, rượu
- Sản xuất bánh kẹo, bánh đậu xanh, mạch nha, tinh bột
Trang 14Bảng 1.2 Sản phẩm và sản lượng của một số làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm [3]
1 Bún Phú Đô
Từ Liêm - Hà Nội Bún Tấn/năm 10080
2 Tinh bột Dương Liễu
Hoài Đức - Hà Nội
Tinh bột Miến Nha Bún khô
Thống Nhất - Đồng Nai Tinh bột Tấn/năm 4214
Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm đã thu hút một số lượng lớn các hộ gia đình tham gia nhất là như ở các nghề truyền thống, chuyên nghề như Dương Liễu – Hà
Nội có 60% số hộ và hơn 3600 lao động tham gia sản xuất nghề, hai làng nghề bún bánh Vũ Hội - Thái Bình và Rượu Tân Độ - Hà Nội (Hà Tây cũ) đều có 80% số hộ làm nghề… thu hút hơn 6000 lao động [4] Do tính chất lao động ít nặng nhọc, hơn
nữa lại cần tỉ mỉ nên phần lớn là lao động nữ, đây cũng là nét đặc trưng của ngành chế
biến lương thực, thực phẩm
Khác với các ngành công nghiệp khác, ngành chế biến lương thực, thực phẩm từ lâu đã mang đặc trưng là làng nghề truyền thống, là cụm làng nghề với quy mô sản xuất theo
Trang 15sản xuất, một số hộ có vốn đầu tư mua nguyên liệu giao cho các hộ khác làm ra sản
phẩm, có một số hộ tự lo từ nguyên nhiên liệu đến khâu tiêu thụ sản phẩm Nguồn nguyên liệu chính phục vụ cho sản xuất được mua về từ nhiều nơi lân cận Quy trình
sản xuất đơn giản với hầu hết các công đoạn thủ công nên không đòi hỏi lao động có
kỹ thuật cao và đa phần nhân lực sản xuất là người trong hộ gia đình
Không chỉ tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt bình thường của người dân, rất nhiều trong số các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm đã tạo nên
những sản phẩm độc đáo đậm nét đặc trưng văn hóa và bản sắc của địa phương phục
vụ cho nhu cầu thưởng thức như cốm Vòng, đậu Mơ, bánh đa Ghế…
1.1.2 Vai trò c ủa làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Với 1450 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sử dụng hơn 13 triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốc gia… các làng nghề đã và đang đóng góp một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với giá thành rẻ Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn có trong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa
quả, ngô, khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng…[1]
- Làng ngh ề góp phần tăng thu nhập cho dân cư nông thôn: Trong nông thôn hiện nay,
quá trình đô thị hóa đang làm giảm đất trồng trọt, người dân không còn đất canh tác tăng lên Mặt khác, hàng năm lại có thêm nhiều người đến tuổi lao động và thời gian nông nhàn còn nhiều Do đó, nếu không có việc làm tại chỗ, thanh niên buộc phải di chuyển vào thành thị, gây ra những vấn đề xã hội lớn rất khó giải quyết Trong khi đó,
nếu có nghề thủ công tại chỗ, họ có them việc làm, them thu nhập (thường cao gấp rưỡi đến hai lần so với thu nhập từ nông nghiệp), gắn bó hơn với nông thôn [1]
- Làng ngh ề góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế nông thôn, xây
d ựng nông thôn mới: Quá trình công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch lao động từ
năng suất thấp sang năng suất cao, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp và dịch vụ chiếm phần lớn Năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững
của nền kinh tế cũng từ đó mà được bảo đảm Đồng thời, bộ mặt nông thôn cũng từ đó
Trang 16mà khắc sởi, kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống nâng cao, nông thôn khang trang, tươi đẹp, tệ nạn xã hội không còn [1]
Ngoài ra, nhiều Hiệp hội, Hội nghề nghiệp, Câu lạc bộ nghề nghiệp được thành lập như: Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn… Bên cạnh đó hình thành các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư với
lối sống đô thị tại nông thôn
1.1.3 Ô nhi ễm môi trường tại các làng nghề chế biến thực phẩm
Hiện nay, phần lớn các làng nghề chế biến thực phẩm của nước ta là làng nghề thủ công truyền thống, các quy trình sản xuất được nghiên cứu, sáng tạo, thực hiện truyền
từ đời này sang đời khác, thêm vào đó là hoạt động sản xuất tại các làng nghề được hình thành và phát triển mang tính tự phát, thiết bị đơn giản, công nghệ lạc hậu, hiệu
quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, cùng với đó là mặt bằng sản xuất còn hạn chế nên công tác bảo vệ môi trường chưa được chú trọng gây ra sự ô nhiễm cho môi trường xung quanh Các hệ thống xử lý nước thải, chất thải hầu như chưa được người lao động và dân cư sinh sống trong khu vực sản xuất quan tâm đúng mức, ý thức bảo vệ môi trường còn hạn chế, vì vậy môi trường các vùng nông thôn ngày càng xuống cấp nghiêm trọng Hệ quả của sự ô nhiễm đó là sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng, môi trường sinh thái bị hủy hoại nặng nề, làm cho sự phát triển của làng nghề là không bền vững
1.1.3.1 Hi ện trạng môi trường nước
Ngành chế biến thực phẩm là một ngành có nhu cầu nước sử dụng để sản xuất rất lớn,
có nơi lên tới 7.000 m3/ngày, thường không được xử lý đã thải trực tiếp vào môi trường
Hình 1.2 Lưu lượng nước thải sản xuất của một số làng nghề chế biến lương thực,
0 2000
Trang 17Đặc thù nước thải của các làng nghề chế biến thực phẩm là có hàm lượng các chất hữu
cơ cao Lượng nước thải này thường không được xử lý trước khi thải ra môi trường, thêm vào đó là nước thải sinh hoạt của ngươi dân cũng được đổ thẳng ra cống thải khiến cho nước tại các cống thải chung trong khu vực làng nghề Hầu hết nước thải tại các làng nghề có độ pH thấp, thể hiện chất thải hữu cơ lâu ngày đã bị phân hủy yếm khí, từ đó gây ra mùi hôi thối, gây ô nhiễm sang môi trường không khí Đây là môi trường thích hợp cho các vi khuẩn gây bệnh sinh sôi, dễ lây lan các bệnh truyền nhiễm
Bảng 1.3 Tải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải của một số làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm [1]
Làng ngh ề S (t ản phẩm ấn/năm) COD BOD 5 SS
t ấn/năm t ấn/năm t ấn/năm
Tinh bột Dương Liễu 52.000 13.050 934,40 2.133
Hình 1.3 Hàm lượng BOD5, COD và SS trong nước thải một số làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm, chăn nuôi, giết mổ [1]
Đáng chú ý là Coliform trong nước thải của các làng nghề chế biến lương thực, thực
phẩm rất cao Đây là vấn đề cần được quan tâm đúng mức vì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng
Nguồn nước ngầm tại các khu vực làng nghề chế biến thực phẩm cũng đang có dấu
ệu bị ô nhiễm Sự ô nhiễm từ các kênh nước thải, các bãi tập trung rác thải lâu ngày
Tứ Kỳ (4)
Tân Độ (1)
Quang Minh (1)
Quang Bình (1)
Dương Liễu (1) MinhBình
(1)
Tân Phú Đông (3)
Cát Quế (2) MinhKhai
(2)
Hữu Hòa (4)
- 2005 (B) (COD) TCVN 5945
- 2005 (B) (SS) mg/l
Trang 18không được xử lý làm các chất ô nhiễm thấm xuống đất, đi vào các dòng chảy ngầm gây suy giảm chất lượng nước ngầm Do người dân ở nhiều vùng nông thôn chủ yếu
sử dụng nước giếng khoan, giếng đào làm nước sinh hoạt nên sự ô nhiễm này đã gây
ra các bệnh như viêm da, đau mắt, các bệnh về tiêu hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe của người dân trong khi vực, khiến cho chất lượng sống của cư dân bị suy giảm nghiêm trọng
1.1.3.2 Hi ện trạng môi trường không khí
Môi trường không khí tại các làng nghề chế biến thực phẩm bị ô nhiễm chủ yếu là do mùi bốc lên từ sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ trong nước thải Các khí ô nhiễm bao gồm H2S, CH4, NH3,… Tại các làng nghề chế biến thực phẩm cần phơi nguyên
liệu như làm nước mắm, do hoạt động phơi khô cá được thực hiện ngoài trời nên mùi hôi, mùi tanh bốc lên rất khó chịu, làm cho chất lượng môi trường không khí bị suy
giảm nghiêm trọng, các loài ruồi nhặng có môi trường sinh sôi nảy nở, từ đó làm lây lan các dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cư khu vực làng nghề và vùng lân
cận, giảm chất lượng môi trường sống của khu vực
Ngành chế biến thực phẩm cũng tiêu thụ một lượng lớn các nhiên liệu để sản xuất như than, củi Khí thải sinh ra trong quá trình đốt nhiên liệu là các khí SO2, CO2, CO,
NO2,… Đây là các khí gây hiệu ứng nhà kính, ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến môi trường sống tại địa phương
Hình 1.4 Hàm lượng SO2 trong không khí ở một số làng nghề chế biến lương thực,
SO2
Trang 19Hình 1.5 Hàm lượng NO2 trong không khí ở một số làng nghề chế biến lương thực,
2 Tinh bột sắn Tân Hòa, Quốc Oai, Hà Nội
3 Rượu sắn Tân Độ, Phú Xuân, Hà Nội
4 Bún Vũ Hội, Thái Bình
6 Miến Yên Ninh, Ninh Bình
7 Tinh bột Tân Phú Đông, Đồng Tháp
Hiện nay TCVN 5937:2005/BTNMT đã được thay thế bởi QCVN 05:2013/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng môi trường không khí xung quanh nhưng các giá trị trong quy chuẩn về chỉ tiêu SO2 và NO2 cơ bản vẫn không có gì thay đổi Ngoài ra, không khí tại các làng nghề còn bị ô nhiễm do bụi, khí thải từ hoạt động giao thông vận tải trong khu vực
1.1.3 3 Môi trường đất và chất thải rắn
Hoạt động sản xuất, chế biến thực phẩm tạo ra nhiều chất thải rắn như các loại vỏ, sơ,… từ quá trình sản xuất tinh bột dong, sắn; xỉ than từ quá trình sản xuất bún; bỗng rượu, bã đậu, bã cá,… trong hoạt động nấu rượu, làm tương, đậu phụ, làm nước
Trang 20gia súc, giải quyết được phần nào rác thải ra môi trường Phần còn lại được vứt bỏ để thu vào các khu rác tập trung của khu vực, hoặc bị vứt trực tiếp ra ven đường, ra ao hồ, kênh gần nơi sản xuất gây tắc nghẽn đường dẫn nước, ứ đọng nước thải và ô nhiễm nguồn nước, khi bị phân hủy sẽ gây mùi xú uế, rất khó chịu, tạo môi trường cho các loài ruồi nhặng, các vi khuẩn gây bệnh phát triển mạnh mẽ, làm lây lan bệnh tật như đau mắt, bệnh tiêu hóa, bệnh về da,… đến người dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức
khỏe của dân cư trong khu vực Các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, đặc
biệt là sản xuất tinh bột sắn, dong riềng tạo ra khối lượng lớn chất thải rắn (bã thải có
độ ẩm rất cao và chiếm tới gần 50% nguyên liệu, chứa chủ yếu là xơ – khoảng 10% và tinh bột khoảng 4 – 5%) Với sản lượng 52.000 tấn tinh bột/năm, làng nghề Dương
Liễu hàng năm phát sinh tới 105.768 tấn bã thải, một phần được tận thu làm thức ăn gia súc, làm nhiên liệu Một phần không nhỏ bã thải bị cuốn theo nước thải gây tắc nghẽn hệ thống thu gom cũng như các ao hồ trong khu vực và gây ô nhiễm nghiêm trọng nước mặt, nước ngầm khu vực
Bảng 1.5 Thành phần và khối lượng bã thải từ sản xuất tinh bột tại làng nghề Dương
Liễu (Thời gian sản xuất từ tháng 10 năm trước đến hết tháng 4 năm sau) [1]
1 Định mức thải (tấn chất thải rắn/tấn nguyên
Xỉ than được tạo ra bằng 20% trọng lượng của nhiên liệu đầu vào, tức là cứ 1 tấn than thì sẽ tạo ra 0,2% tấn xỉ than Làng nghề sản xuất miến Dương Liễu sử dụng 34.000
tấn than/năm, làng nghề sản xuất bún Phú Đô dùng 5.250 tấn than/năm, ước tính riêng hai làng nghề này đã tạo ra hơn 7.000 tấn xỉ than/năm[1], một phần lượng xỉ này sẽ được dùng làm vật liệu xây dựng như san lấp đường, đóng gạch,… phần còn lại sẽ bị
thải ra môi trường với quy trình xử lý sơ sài, thậm chí có thể không xử lý
Trang 21Bảng 1.6 Nhu cầu nhiên liệu và khối lượng xỉ thải của một số làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm (đơn vị: Tấn/năm) [1]
TT Làng ngh ề S ản lượng sản ph ẩm Nhu c ầu than Khối lượng x ỉ
Tuy nhiên, môi trường đất tại các làng nghề sản xuất chế biến thực phẩm hầu như chưa
bị ô nhiễm do lượng rác thải trực tiếp ra môi trường đất chưa quá nhiều, chủ yếu là thải vào môi trường nước
1.1.4 Th ực trạng quản lý môi trường tại các làng chế biến thực phẩm
Đối với việc quản lý môi trường tại làng nghề, các cấp quản lý ở cơ sở làng xã đóng
một vai trò rất quan trọng nhưng hầu hết trong cơ cấu tổ chức thì chức năng, nhiệm vụ
của cấp xã, cấp thôn chưa rõ ràng đối với công tác bảo vệ môi trường, bộ máy quản lý còn gặp nhiều hạn chế
Hầu hết các cán bộ quản lý về môi trường từ cấp huyện trở xuống đều không có chuyên môn về môi trường mà chỉ là cán bộ kiêm nhiệm, năng lực quản lý còn hạn
chế Thêm vào đó, số cán bộ này không được tập huấn, đào tạo trình độ nghiệp vụ,
thực tế có tới khoảng 95% cán bộ quản lý môi trường tại các xã, thôn không có chuyên môn về môi trường Do năng lực quản lý kém nên các văn bản pháp luật của nhà nước ban hành về bảo vệ môi trường, cũng như các văn kiện từ cấp trên ban hành xuống xã cũng không được chú tâm thực hiện, từ đó công tác vệ sinh môi trường, tuyên truyền
về bảo vệ môi trường cho người dân không được quan tâm, khiến cho việc giữ gìn môi trường sạch sẽ ngày càng khó khăn hơn
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, các trang thiết bị sử dụng để vệ sinh môi trường, quan trắc môi trường còn thiếu nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn Một vài nơi được cung
cấp các thiết bị tiên tiến từ các dự án của nước ngoài, nhưng do năng lực cán bộ còn
yếu nên không thường xuyên sử dụng, cũng không quan tâm đến việc sử dụng thiết bị lâu dài khiến cho sự đầu tư bị lãng phí Đối với cấp huyện, xã hầu như việc thu thập số
Trang 22liệu, thông tin môi trường đều qua các cơ quan chuyên môn khác, qua cảm quan của người phụ trách về môi trường nên không chính xác, không đánh giá đúng được mức
độ ô nhiễm của khu vực để lập kế hoạch kịp thời cải tạo, bảo vệ môi trường
Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động bảo vệ môi trường cũng rất quan
trọng, nhưng việc thực hiện lại chưa triệt để, còn hời hợt, chưa đủ tính răn đe với các
cấp dưới, từ đó dẫn đến sự thờ ơ với môi trường Tình hình thi hành luật tại các làng nghề còn gặp nhiều khó khăn do sự chỉ đạo của cấp trên còn chung chung, các cán bộ lúng túng với việc thực hiện hoạt động vệ sinh, bảo vệ môi trường
Làng nghề sản xuất bún, bánh và dịch vụ xóm Chùa (xã Phú Nham, huyện Phù Ninh, Phú Thọ) có 70 hộ làm nghề, trong đó có 24 hộ làm bún, bánh Số hộ tham gia sản xuất không nhiều nhưng do quy trình sản xuất còn lạc hậu, nước thải với hàm lượng tinh bột
lớn không được xử lý triệt để khiến môi trường xung quanh bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Một số ít hộ tự xử lý bằng cách xây hầm biogas, xây bể lắng, còn đa phần thải trực tiếp
ra kênh mương nên tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ ô nhiễm do nước thải, chất thải từ làm nghề thải ra [1]
Tại làng nghề nấu rượu Phú Lộc (xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương), toàn bộ nước thải của gần 200 hộ làm nghề nấu rượu, bánh đa và chất thải chăn nuôi được xả
thẳng xuống ao, rồi đổ ra kênh trung thủy nông chảy ngang qua thôn, không qua bất cứ công đoạn xử lý nào Nước của hệ thống kênh mương luôn có màu trắng đục Nhiều ao trong làng trở thành nơi chứa nước thải, rác thải cùng với bùn, cỏ dại và bèo tây dày đặc, mùi hôi thối nồng nặc [1]
Ở làng nghề làm bánh đa Tống Buồng (xã Thái Thịnh, huyện Kinh Môn, Hải Dương),
từ nhiều năm nay, toàn bộ nước thải sau khi sản xuất bánh đa không qua xử lý mà được thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung của làng Qua phân tích môi trường nước mặt của Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường tỉnh Hải Dương cho thấy hàm lượng COD vượt từ 12-15 lần, TSS vượt từ 2-3 lần, Coliform vượt từ 11-19 lần, Amoni vượt từ 12-16 lần, Photphat vượt từ 26-31 lần tiêu chuẩn cho phép [1] Các hộ
sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công truyền thống, chất thải qua ngâm gạo và
sản xuất bánh đa được thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên
Trang 23Làng nghề bánh, bún Huỳnh Dương (xã Diễn Quảng, huyện Diễn Châu, Nghệ An), từ nhiều năm nay tình trạng nước thải chưa qua xử lí của những hộ làm bún, được thải
trực tiếp ra môi trường, khiến cả làng phải hứng chịu mùi hôi thối, nhất là vào mùa hè
oi bức như hiện nay Ảnh hưởng tới đời sống, sức khỏe cũng như hoạt động sản xuất
của hàng nghìn hộ dân xung quanh Không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe, cuộc sống của người dân, trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm đã làm cho hơn 2.500 m2
lúa không gieo cấy được, hoặc gieo cấy thì chậm phát triển, thu hoạch năng suất thấp Nhìn chung, hiện nay các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm cơ bản vẫn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, công nghệ chưa được cải tiến, thiết bị thủ công, mặt bằng sản xuất
nhỏ hẹp, xưởng sản xuất lẫn vào khu dân cư Trong khi đó, để đầu tư một hệ thống chuyên xử lý nước thải làng nghề rất khó vì các hộ sản xuất không tập trung, địa phương cũng chưa có kinh phí để làm
Để giải quyết tình trạng này, những năm qua, chính quyền các cấp đã tập trung thực
hiện các biện pháp nhằm giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, trong đó có việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân
cư tập trung, chuyển tới các cụm công nghiệp, làng nghề Cùng với đó, mở rộng và đa
dạng các hình thức tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng trong làng nghề, góp phần
tạo nên sự nhất trí trong nhận thức và hành động bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Đồng thời, triển khai các mô hình công nghệ, các biện pháp kỹ thuật
nhằm định hướng cho việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề
Thời gian tới, các ban, ngành, chính quyền địa phương cần có chính sách khuyến khích và đa dạng hóa đầu tư cho bảo vệ môi trường làng nghề như xã hội hóa việc xử
lý môi trường làng nghề; xử lý nghiêm những cơ sở gây ô nhiễm môi trường; tiếp tục nghiên cứu chuyển giao công nghệ sạch thân thiện với môi trường Đồng thời, lồng ghép chương trình bảo vệ môi trường làng nghề vào các chương trình mục tiêu quốc gia, có như vậy môi trường trong các làng nghề hiện nay mới sớm được cải thiện
Trang 241.2 Đặc điểm chung về làng nghề sản xuất miến dong
1.2.1 Thông tin v ề làng nghề sản xuất miến dong tại Việt Nam
Miến dong là loại thực phẩm truyền thống của Việt Nam, thường được tiêu thụ nhiều vào các dịp lễ, tết Miến thường được sản suất bằng tinh bột dong riềng Có hai loại tinh bột là tinh bột khô và tinh bột ướt Để làm miến, người ta thường sử dụng tinh bột ướt để giá thành rẻ hơn và thông thường, tại các vùng chuyên về nghề làm miến dong luôn có các hộ gia đình sản xuất tinh bột dong riềng ướt để bán cung ứng nguyên liệu,
do đó nguồn nguyên liệu được cung cấp rất thuận tiện Quy trình sản xuất bột dong
giềng và miến dong được thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Quy trình sản xuất tinh bột dong riềng:
Hình 1 6 Quy trình làm tinh bột dong riềng
Thuy ết minh quy trình:
Củ dong riềng sau khi thu hoạch về được cho vào máy rửa để loại bỏ đất cát bẩn, sau
đó chuyển vào máy nghiền Tại đây, dong giềng sẽ được nghiền kỹ thành bột ướt Trong bột dong giềng ướt vẫn còn nhiều tạp chất, chưa thể dùng để chế biến ngay được, cần phải làm sạch bằng cách rửa với nước Cứ 100kg bột ướt cho vào thùng (thường là thùng chuyên dụng có cánh khuấy) thì cho 50l nước sạch, bật cánh khuấy đều trong khoảng 15 phút, để lắng 3 tiếng rồi tháo bỏ nước bẩn Bột thường được làm
sạch 3 lần như vậy Kết thúc công đoạn rửa, bột thu được đã sạch nhưng chưa trắng
Để làm trắng bột, các hộ sản xuất cho 100g NaHSO3 (là hóa chất được phép sử dụng
Củ dong riềng
nguyên liệu Củ dong riềng đã rửa sạch
Tinh bột dong thô
Tinh bột dong nguyên chất
Nghiền, lọc
Nước thải (ch ứa chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng)
Ngâm nước, NaHSO 3 Nước thải, mùi
hôi từ nước ngâm b ột
Trang 25trong thực phẩm) cùng 50l nước sạch vào thùng, khuấy đều và ngâm bột trong 10 – 12
tiếng, sau đó xả nước, rửa sạch Tinh bột thu được có độ trắng 95% và lúc này bột đã
sẵn sàng để đưa vào quy trình sản xuất miến
Quy trình sản xuất miến dong:
Hình 1 7 Quy trình sản xuất miến dong
Thuy ết minh quy trình:
Tinh bột dong riềng sau khi được làm sạch sẽ đưa vào khâu chuẩn bị dịch tráng bánh, được gọi là hồ hóa Để tráng bánh tạo mỏng tốt cần phải chuẩn bị dịch tinh bột đồng
nhất, không bị kết lắng trong quá trình tráng Lấy khoảng 5 – 6 kg bột hòa đều trong 5l nước lạnh, sau đó cho vào 70l nước sôi, khuất đều lên sẽ thu được dịch hồ sánh Đổ toàn bộ lượng dịch bột này vào khối tinh bột ướt và đánh đều lên, cho thêm nước lã
sạch đến mức cần thiết Kết quả ta thu được dịch bột đồng nhất dạng sệt sệt và sẵn sàng để tráng bánh
Tinh bột dong riềng
R ửa bột
Hồ hóa
Trộn đều Nước lạnh và
Trang 26Công đoạn tiếp theo là công đoạn tráng tạo móng và hấp chín bánh Sau khi chuẩn bị
dịch tráng, công việc tiếp theo là tráng tạo mỏng dịch bột thành các bánh tráng có độ
mỏng 1 – 1,2 mm Việc tráng tạo mỏng và hấp chín bánh được tiến hành trên một nồi chuyên dụng có kích thước đường kính miệng khoang 40 – 60cm tùy chiều dài miến định sản xuất Bánh tráng được làm chín bằng hơi nước đun trong nồi sau đó được đưa
ra phên để phơi nắng làm khô sơ bộ
Mục đích của việc phơi sấy sơ bộ và ủ cân bằng ẩm là để tạo cho bánh tráng độ ẩm phù hợp cho việc cắt, tạo hình Nếu bánh tráng ẩm quá sẽ không cắt tạo sợi được, nếu khô quá sẽ bị vỡ vụn, do đó, độ ẩm phù hợp cho việc cắt bánh là 20 – 22% Tiếp theo,
lấy bánh ra khỏi phên, xếp bánh và bọc kín vào các túi nilon ủ trong 10 – 12 tiếng
Nhờ quá trình ủ, độ ẩm của bánh tráng sẽ đồng đều, thuận lợi cho công đoạn cắt bánh
Việc tạo hình cho sợi miến có thể dùng dao sắc và cắt thủ công bằng tay, bánh tráng được xếp chồng lên nhau và dùng dao sắc cắt nhỏ Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các hộ
sản xuất đều sử dụng máy cắt để tiết kiệm thời gian và sợi miến đồng đều
Công đoạn cuối cùng của quy trình sản xuất miến là phơi khô Sau khi cắt tạo hình,
miến được đem ra phơi trên các dàn phên bằng tre, nứa Thời gian phơi tùy thuộc vào
thời tiết, miến phơi đến độ ẩm 8 – 10% Kết quả sẽ thu được miến thành phẩm Theo kinh nghiệm của người dân làm miến, chế biến 100kg tinh bột dong riềng ướt sẽ thu được 63 – 65kg miến dong
1.2.2 Th ực trạng môi trường tại các khu vực sản xuất miến dong
Do trong quy trình sản xuất miến dong, lượng thải ra môi trường lớn nhất là nước thải
từ các công đoạn làm tinh bột dong riềng với hàm lượng chất hữu cơ rất cao nên vấn
đề ô nhiễm nguồn nước tại các làng sản xuất miến khá nghiêm trọng, gây nhiều bức xúc cho người dân trong khu vực
Trang 27Bảng 1.7 Tải lượng một số chất ô nhiễm trong nước thải tại các làng nghề miến[5][6]
Cống thải xóm An Lạc – làng nghề Cự Đà
Cống thải chung xóm Đồng Nhân Cát –
làng nghề Cự Đà – Hà Nội 920 1620 385 Nước thải hộ sản xuất miến – làng nghề
Dương Liễu – Hà Nội 871,7 1333 258
Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng nồng độ các chất ô nhiễm, điển hình là ô nhiễm
chất hữu cơ trong nước thải tại một số làng nghề sản xuất miến là rất lớn Chỉ tiêu COD và BOD5 trong nước thải vượt quá quy chuẩn cho phép nhiều lần và hàm lượng
chất rắn lơ lửng trong nước cũng rất cao Tại các hộ sản xuất, do thường là phát triển
tự phát, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc đầu tư hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường hầu như không có Nước thải đậm đặc thải trực tiếp ra môi trường khiến cho các ao hồ, kênh rạch trong khu vực sản xuất bị ô nhiễm chất hữu cơ
nặng nề Các kênh rạch lâu ngày không được nạo vét, bị ứ đọng các chất ô nhiễm, sự phân hủy chất hữu cơ diễn ra mạnh mẽ khiến cho mùi hôi thối bốc lên rất khó chịu Thêm vào đó là lượng nước thải sinh hoạt hàng ngày cũng thường được thải trực tiếp
ra các kênh nước thải nên sự ô nhiễm lại ngày càng tăng thêm
Nguồn không khí tại các làng nghề làm miến cũng bị ô nhiễm do mùi chua ngai ngái
từ nước ngâm bột bốc lên Để tiết kiệm chi phí, nhiều hộ gia đình sản xuất tận dụng nước ngâm bột cuối cùng để ngâm bột mới, do để lưu cữu chưa sản xuất ngay nên chất
hữu cơ bị phân hủy trong nước gây mùi hôi chua, vừa làm giảm chất lượng môi trường không khí, vừa làm bột ngâm mới không đảm bảo độ sạch, giảm chất lượng sản phẩm
Trong các quy trình sản xuất miến dong, lượng chất thải rắn thải ra chủ yếu là từ công đoạn tráng bánh bằng nồi hơi Để nồi hơi hoạt động cần có nhiên liệu đốt như than,
củi, từ đó sinh ra một lượng lớn xỉ than Lượng xỉ than này được đổ chung vào với rác
thải sinh hoạt trong gia đình hoặc đổ trực tiếp ra ven đường, ven đồng ruộng gây mất
mỹ quan và ô nhiễm một phần môi trường đất
Trang 281.3 Đặc điểm về làng miến xã Đông Thọ
1.3 1 Điều kiện tự nhiên
Xã Đông Thọ là xã nằm phía Nam huyện Đông Hưng, Phía đông giáp xã Đông Mỹ, phía Tây giáp sông Trà Lý, phía Nam giáp xã Đông Hòa, phía Bắc giáp xã Đông Dương
Địa hình xã Đông Thọ không được bằng phẳng, đồng ruộng phức tạp, xâm canh nhiều nơi, vùng cao thường hay hạn hán, vùng trũng thường xuyên bị ngập úng Trong địa
giới hành chính chủ yếu là dân cư, các khu dân cư phân bố gọn trong diện tích khoảng 1,69km2
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Đông Thọ là 243,0912 ha, trong đó đất nông nghiệp
là 169,76 ha (chiếm 70%), diện tích đất trồng lúa là 41,2 ha (chiếm 16,9%), diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 37,665 ha (chiếm 15,5%), diện tích sông dẫn là 8,56 ha (chiếm 3,5%) [7]
Hình 1.8 Vị trí xã Đông Thọ - Đông Hưng - Thái Bình
Trang 291.3 2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế
Sản xuất nông nghiệp:
Đồng ruộng tại đây canh tác nhỏ lẻ, phân tán trước khi xây dựng nông thôn mới, bình quân 2,72 thửa ruộng/hộ Tổng diện tích gieo trồng 2 vụ trong năm 2011 duy trì 140
ha, năng suất đạt 122 tạ/ha, sản lượng đạt 1.666 tấn Trong sản xuất nông nghiệp, xã Đông Thọ chưa có quy hoạch chuyển đổi vùng cấy lúa kém hiệu quả trong tập trung sang sản xuất cây con có hiệu quả kinh tế cao hơn do đó hiệu quả kinh tế từ việc canh tác đồng ruộng chưa cao
Về chăn nuôi: tại xã Đông Thọ, hình thức chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi gia súc gia
cầm nhỏ lẻ và nuôi trồng thủy sản Diện tích nuôi trồng thủy sản duy trì 37,66 ha
- Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp – thủy sản đạt 52,17 tỷ đồng
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp – xây dựng: Tổng số hộ tham gia sản xuất là 321 hộ, thu hút trên 1.200 lao động trong và trên độ tuổi lao động Tổng giá trị sản xuất đạt 86,37 tỷ đồng
- Thương mại – dịch vụ: Tổng giá trị thương mại – dịch vụ năm 2011 đạt 46,7 tỷ đồng
- Ngoài ra còn có các khoản thu khác của xã và kinh tế từ các lao động ở bên ngoài
- Tổng giá trị sản xuất năm 2011 đạt 156,7 tỷ đồng
- Tổng thu nhập toàn xã đạt 91,670 tỷ đồng
- Tổng số khẩu của xã là 4.450 khẩu và thu nhập bình quân đầu người đạt 20,6 triệu/người/năm
1.3.2.2 Điều kiện xã hội
Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Đông Thọ là 8,06%
Tổng số lao động trong độ tuổi là 2.022 người, trong đó lao động nông nghiệp là 1000 người, lao động thương mại dịch vụ 322 người, lao động tiểu thủ công nghiệp là 700 người
Tại xã Đông Thọ có hai hình thức hợp tác xã (HTX) là: HTX dịch vụ nông nghiệp và HTX dịch vụ điện năng hoạt động cơ bản đạt hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp phát
Trang 30triển kinh tế - xã hội tại địa phương Hệ thống cung ứng thuốc bảo vệ thực vật được HTX dịch vụ nông nghiệp đảm nhiệm và được kiểm soát chặt chẽ
Về giáo dục: công tác phổ cập giáo dục đạt 100% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp
tục học THPT, bổ túc văn hóa và học nghề đạt trên 80%
Về y tế: năm 2011, toàn xã có tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 40% Có 01
trạm y tế với 01 bác sỹ, 01 nữ hộ sinh, 02 y sỹ và 01 dược sỹ Đội ngũ cán bộ y tế thôn đảm bảo đủ 6/6 thôn, trạm y tế đặt chuẩn quốc gia năm 2010
Về văn hóa: toàn xã có 6/6 thôn đạt tiêu chuẩn thôn văn hóa, có 86,7% số gia đình đạt tiêu chuẩn “gia đình văn hóa”
Về môi trường: nguồn nước ăn chủ yếu của dân cư xã Đông Thọ chủ yếu là nước mưa, nước sinh hoạt chủ yếu là nước giếng khoan thủ công Tình trạng ô nhiễm nước tại xã chưa được khắc phục
Các hộ sản xuất kinh doanh, chăn nuôi gia súc gia cầm vẫn còn thiếu tinh thần trách nhiêm trong việc bảo vệ môi trường Tình hình thu gom rác thải, xử lý rác sinh hoạt trong địa bàn xã chưa tốt, nhân dân còn xả rác thải sinh hoạt tự do nên tạo thành nhiều
tụ điểm rác thải lưu cữu trong xã Nghĩa trang nhân dân tại xã Đông Thọ chưa được quy hoạch phân khu, chật chội, rất khó khăn cho nhân dân khi có nhu cầu chôn cất người thân, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường
1.3 3 Điều kiện cơ sở hạ tầng
Về hệ thống giao thông – thủy lợi:
Toàn xã có 03 tuyến đường trục xã với tổng chiều dài là 1,82km, các tuyến đường có
bề rộng trung bình là 3m, đã bê tông hóa, đáp ứng được nhu cầu giao thông của xe cơ
giới
Xã Đông Thọ nằm giáp sông Trà Lý, hệ thống sông dẫn nước nội xã dài 4,2km, sông
dẫn đầu trạm bơm và sông tiêu dài 1km Thực tế hệ thống sông dẫn của xã Đông Thọ
chảy theo hướng Bắc – Nam, đến địa phận xã Đông Hòa bị chặn lấp Sông tiêu nội xã dòng chảy quá nhỏ do bị lấn chiếm, không được kè chắn và nhiều năm không được
nạo vét nên hay bị ách tắc, không đảm bảo tưới tiêu cho diện tích ruộng trong xã
Trang 31 Hệ thống điện áp: được nâng cấp năm 2009, toàn xã có 4 trạm biến áp, đường dây hạ áp mới cơ bản đáp ứng nhu cầu dùng điện của các hộ tập trung trong xã, các hộ dân ở ngõ hẻm và vùng chuyển đổi chưa được quan tâm nhiều
Xã Đông Thọ đã có nhà văn hóa xây dựng từ năm 2006 với các trang bị tối thiểu, phục vụ cho hoạt động hội họp, văn hóa văn nghệ của xã Toàn xã có 01 khu thể thao nhỏ, có 6/6 nhà văn hóa thôn, 01 khu chợ tập trung, 01 trường tiểu học, 01 trường THCS, 01 trường mầm non được xây dựng khang trang để phục vụ cho cư dân trong địa bàn xã
1.3.4 Hi ện trạng sản xuất của làng nghề
1.3.4.1 Hi ện trạng về công nghệ và thiết bị sản xuất
Cũng như các làng nghề chế biến lương thực thực phẩm khác, sản xuất và chế biến
miến dong Đông Thọ có tỷ lệ cơ khí hóa khá thấp Do quy mô sản xuất nhỏ, vốn đầu
tư hạn hẹp nên hầu như các máy móc sử dụng trong sản xuất như máy tráng bánh, máy
thải sợi đều trong tình trạng hoen rỉ và mất vệ sinh do lâu ngày không được bảo dưỡng; các thùng hồ hóa bột trước khi tráng bánh cũng đều có tình trạng này Trong
những năm gần đây tốc độ đầu tư để đổi mới công nghệ nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm diễn ra khá nhanh ở hầu hết các lĩnh vực của xã hội Tuy nhiên quá trình đầu tư đổi mới khoa học còn mang tính chắp vá và thiếu đồng bộ Hiện nay các thiết bị máy móc dùng cho sản xuất chế biến hầu như do các xưởng cơ khí của địa phương sản xuất tại chỗ Bao gồm các dạng máy tự động và bán tự động
Ưu điểm của các loại máy này là thuận tiện khi mua bán, trao đổi, sửa chữa do có giá thành rẻ, chi phí đầu tư không cao, phù hợp với nguồn kinh tế tại các làng làm nghề Máy móc phục vụ sản xuất có cấu tạo đơn giản, không yêu cầu người sử dụng có trình
độ nên dễ vận hành, điều này rất phù hợp khi mà nguồn nhân công chính tại các làng nghề là những lao động chưa được qua đào tạo các kiến thức cơ bản về máy móc, thuận lợi cho việc truyền đạt lại cách sử dụng cho người làm
Về nhược điểm: Do các máy này còn bán thủ công nên chưa thân thiện với môi trường, nguồn năng lượng chính là điện và nhiên liệu để sử dụng cho các loại máy móc này thường là dầu diezen do đó trong quá trình vận hành thải ra nhiều loại khí độc
Trang 32như CO2, SO2,…Chất lượng sản phẩm, mẫu mã được sản xuất ra vẫn còn kém từ đó
dẫn tới sức cạnh tranh trên thị trường yếu, năng suất thấp cần nhiều lực lượng lao động
và thời gian đầu tư cho sản xuất còn nhiều Đặc biệt hiện nay làng nghề chưa có đầu tư công nghệ cho vấn đề giảm thiểu ô nhiễm môi trường, sản xuất sạch hơn Lượng nước
thải hàng năm từ hoạt động sản xuất là rất lớn nhưng dù có dẫn qua hệ thống xử lý nhưng hệ thống này hoạt động không hiệu quả, sau đó thải trực tiếp vào kênh mương, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, khiến cho người dân trên địa bàn bức xúc nhiều năm Những hạn chế trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển chung của làng nghề và tác động nghiêm trọng đến môi trường tại địa bàn làng nghề
1.3.4.2 Quy trình s ản xuất miến từ tinh bột dong riềng tại xã Đông Thọ
Hình 1.9 Quy trình sản xuất miến từ tinh bột dong riềng tại làng miến xã Đông Thọ
Tinh b ột dong riềng
Ngâm
Ngâm t ẩy màu, mùi
Ngâm
Hồ hóa
Tráng mỏng và hấp chín Phơi
Thái sợi
Miến thành phẩm
Nước
Hóa chất (Kal(SO 4 ) 2 , KMnO 4 ,
Na 2 SO 4 , H 2 SO 4 ,…)
Nước
Nước thải (chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng)
Phơi
Nước
Nước thải (ch ất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, hóa chất) Nước thải (chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng)
Vụn miến
Trang 33Đầu tiên bột dong được ngâm với nước giếng khoan sau đó lọc bỏ nước, lấy phần tinh
bột, ngâm từ 3 - 5 lần để làm sạch bột Ở lần ngâm thứ hai bột này được tẩy bằng hóa
chất để sạch màu và mùi chua, sau đó ngâm thêm một lần nước sạch nữa Hóa chất sử
dụng là thuốc tím (KMnO4), thuốc tẩy trắng (Natri sunfit Na2SO3) và axit sunfuric
H2SO4 Ở công đoạn ngâm bột lượng nước thải rất lớn bao gồm cả đất, cát và tinh bột dong Sau khi lọc nước lần cuối cùng được hỗn hợp bột tươi
Tiếp theo là công đoạn hồ hóa: Bột khô được đánh chín bằng cách đổ từ từ nước sôi vào và đánh đều cho đến khi bột chín hết Sau đó bột khô được trộn cùng với bột vừa được ngâm và lọc tẩy ở trên theo tỷ lệ 50kg bột khô/1 tấn bột tươi Ở công đoạn này,
hỗn hợp bột sau khi trộn với bột khô thì cũng được trộn thêm với phèn chua (Kali alum) KAl(SO4)2.12H2O để cho bột dai không bị rách khi tráng bánh Tùy theo nhu
cầu của người tiêu dùng và mục đích sản xuất ra các loại miến theo ý muốn của người
sản xuất mà hỗn hợp bột được trộn với các loại chất tạo màu khác nhau (ví dụ miến
mộc thì cho thêm kẹo đắng) Làng Đông Thọ hiện nay đang sản xuất các loại miến sau: miến xám tro, miến mộc (màu vàng đồng), miến hanh vàng và miến trắng
Hỗn hợp bột sau khi đã được tạo màu sẽ được mang đi tráng Công đoạn tráng bánh được thực hiện thủ công (hiện nay còn rất ít) hoặc cơ giới hóa Với cách làm thủ công, bánh được tráng tương tự như làm bánh cuốn bằng cách tráng bánh trên một mặt vải
mỏng được căng trên miệng của một nồi nước đang sôi Hơi nước sẽ xuyên qua lớp vải
và làm chín bánh bên trên Cách làm này tốn rất nhiều nhân công và nguyên vật liệu
mà lại chỉ tạo được các miếng bánh nhỏ vì vậy hiện nay đã có nhiều lò sản xuất miến
lựa chọn cách đầu tư công nghệ tráng bánh tự động bằng hệ thống nồi hơi Vừa tiết
kiệm được năng lượng, nhiên liệu than cũng như nhân công sản xuất mà còn tạo được
miếng bánh theo kích thước mong muốn (2,5m x 1m) Bánh sau khi tráng được đặt lên
1 tấm phên đan bằng tre có kích thước 2,7m x 1,2m để đặt vừa miếng bánh sau tráng lên trên Tiếp đó được mang đi phơi thật khô bằng ánh nắng mặt trời Bánh khô được thu về và tiến hành cắt sợi bằng máy theo kích thước 20cm x 2,5m theo đúng chiều dài
của miếng bánh rồi lại được đưa vào máy cắt sợi nhỏ hơn tạo thành sợi miến như chúng ta thường mua ngoài thị trường Cắt xong miến lại được đem đi phơi khô một
Trang 34lần nữa sau đó được đóng gói tạo thành miến thành phẩm rồi xuất đi khắp nơi trên địa bàn Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận Bắc Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An…
1.3.4.3 Nguyên li ệu cung cấp cho sản xuất miến tại xã Đông Thọ
Nguyên liệu sản xuất chính của làng nghề sản xuất miến Đông Thọ là tinh bột làm từ
củ dong riềng Tinh bột dong riềng có hai loại: tinh bột khô và bột tươi Tinh bột khô được sử dụng rộng rãi và thường xuyên hơn do ưu điểm sản xuất được quanh năm, còn
bột tươi tuy giá thành rẻ hơn nhưng chỉ sử dụng sản xuất được vào mùa dong riềng vì không để được lâu, bên cạnh đó nếu dùng bột tươi để sản xuất thì các công đoạn có khác một chút, đặc biệt là công đoạn ngâm và tẩy bột mất nhiều công sức và tiêu hao nước nhiều hơn do phải ngâm nhiều lần để làm sạch bột
Các nguyên liệu tinh bột dong và bột tươi được thu mua chủ yếu từ hai làng nghề nổi
tiếng về sản xuất tinh bột dong là: Làng So – xã Tân Hòa – huyện Quốc Oai – Hà Nội
và thôn Cát Quế - xã Dương Liễu – huyện Hoài Đức – Hà Nội Theo thông tin thu thập được qua các hộ gia đình sản xuất miến trong làng nghề thì cứ 1 tấn bột sau khi ngâm
bất kể bột tươi hay bột khô sẽ sản xuất được từ 800 đến 900 kg miến thành phẩm và tiêu tốn khoảng 50 kg than đá sử dụng trong việc đốt tạo nhiệt cho công đoạn tráng bánh
Quy trình sản xuất miến từ tinh bột dong cũng không quá phức tạp, nguyên liệu sử
dụng cũng không quá nhiều và đa dạng nhưng phải kể đến lượng hóa chất sử dụng trong sản xuất Hóa chất được sử dụng trong sản xuất miến dong tại làng nghề là:
- Phèn chua (Kali Alum KAl(SO4)2.12H2O);
- Thuốc tím KMnO4;
- Thuốc trắng Natri Sunfit Na2SO3;
- Axit sunfuric H2SO4;
- Và một số chất tạo màu
Điều đáng lo ngại ở đây là hóa chất được bán trôi nổi trên thị trường với những cái tên
do người bán và người mua gọi truyền tai nhau là thuốc trắng, thuốc tím… Mà bản thân người mua cũng không hiểu rõ về hóa chất đó Xưa kia khi sản xuất miến dong cha ông chúng ta thường có những mẹo sản xuất riêng mang tính kinh nghiệm được
Trang 35gọi là gia truyền, những phương pháp này tuy có hiệu quả, thân thiện với người tiêu dùng nhưng lại không được đẹp về mẫu mã và chất lượng sản phẩm Vì thế cho nên theo thời gian và tiến bộ khoa học kỹ thuật, con người đã phát hiện ra những phương pháp mới bổ sung những chất hóa học giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản
phẩm về hình thái sản phẩm và mẫu mã sản phẩm, thế nhưng không biết ẩn chứa bên trong đó là những mối nguy hại khó lường đối với sức khỏe con người Khi được hỏi, người sản xuất chỉ biết rằng hóa chất được gọi bằng những cái tên truyền tai mà không
hề hiểu bản chất của nó, chỉ biết rằng khi sử dụng nó có hiệu quả rất tốt mà thôi
Nguyên liệu cuối cùng phải kể đến nhưng cũng rất quan trọng trong việc sản xuất miến
từ tinh bột dong là nước Công đoạn ngâm bột là công đoạn sử dụng rất nhiều nước để làm sạch bột, vì thế lượng nước thải ô nhiễm chủ yếu phát sinh từ công đoạn này Theo ước tính của người sản xuất, lượng nước sử dụng cho công đoạn này rơi vào khoảng 22,5 m3 cho 1 tấn bột nguyên liệu (1 tấn bột nguyên liệu sẽ sản xuất ra được
800 – 900 kg miến thành phẩm) Hiện nay, trong sản xuất tại làng nghề Đông Thọ người dân chủ yếu sử dụng nguồn nước giếng khoan
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM NƯỚC TẠI LÀNG
MI ẾN XÃ ĐÔNG THỌ, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
2.1 Hi ện trạng sản xuất miến tại làng miến xã Đông Thọ
2.1.1 Hi ện trạng sản xuất miến dong tại làng miến xã Đông Thọ
Hoạt động sản xuất tại xã Đông Thọ đã gây nên những tác động xấu tới môi trường khu vực sản xuất, đặc biệt là môi trường nước và không khí Để đánh giá được hiện
trạng môi trường làng nghề miến dong xã Đông Thọ, cần phải tìm hiểu rõ nguồn gốc phát sinh của các loại chất thải và từ đó phân tích, đánh giá tác động của nguồn thải đến môi trường
Bảng 2.1 Chất thải sinh ra từ quy trình làm miến dong
Nhập nguyên liệu (tinh bột dong riềng)
- Nước thải vệ sinh máy móc (chứa dầu máy, cặn bẩn)
- Dầu thải, xỉ than Phơi miến
Thái sợi
- Nước thải vệ sinh máy móc, dầu thải (chứa dầu máy, cặn bẩn)
- Vụn miến Đóng gói thành phẩm - Bao bì nilon, dây nilon, lạt,… còn dư
thừa
Vận chuyển, tiêu thụ thành phẩm - Khói bụi thải từ phương tiện vận chuyển
Trang 372.1.2 Các ngu ồn gây ô nhiễm môi trường chính
a Nước thải:
Nước thải sinh hoạt:
Lượng nước thải sinh hoạt được sinh ra từ hoạt động hàng ngày của dân cư trong làng nghề như vệ sinh, tắm giặt, chế biến thực phẩm, rửa vật dụng,… Loại nước thải này có hàm lượng chất lơ lửng, chất hữu cơ cao và cả những vi trùng vi khuẩn gây bệnh;
- Lượng chất lơ lửng cao gây lắng đọng tại cống thải, tạo điều kiện cho phân hủy yếm khí;
- Hàm lượng chất hữu cơ dễ bị phân hủy bởi các vi sinh vật được chỉ thị bằng chỉ số BOD Lượng BOD cao có thể hình thành điều kiện yếm khí, phân hủy ra các sản phẩm như H2S, NH3, CH4,… làm cho nước thải có mùi hôi thối và làm giảm pH của môi trường;
- Các vi trùng, vi khuẩn gây lan truyền các bệnh qua đường nước như tiêu chảy, vàng da,…
- Ngoài ra nước thải có màu đen và bốc mùi nồng nặc gây mất mỹ quan của khu vực làng nghề
Theo số liệu của xã cung cấp, trung bình một người dân tại làng nghề miến xã Đông
Thọ sử dụng 50 lít nước một ngày Với dân số là 9.681 người, lượng nước thải sinh
hoạt được tính bằng 80% lượng nước cấp cho sinh hoạt, tổng lượng nước thải sinh
hoạt hàng ngày tại làng nghề được tính là:
W sh = 9681 × 50 × 80% = 387240 (l/ngày) = 3872,4 (m3/ngày)
Nước thải sản xuất:
Hàng năm cứ vào mùa vụ ở những tháng cuối năm, mỗi ngày tại làng nghề làm miến
xã Đông Thọ sản xuất ra hàng trăm tấn miến và thải ra môi trường hàng ngàn m3 nước
thải Theo số liệu khảo sát từ người dân, trung bình 1 ngày trong các tháng cao điểm, 1
hộ gia đình sử dụng hết khoảng 30 m3 nước để sản xuất, với lượng nước thải ra chiếm 70% lượng cần thiết Trên xã có 321 hộ gia đình làm nghề nên có thể tính lượng nước
thải ra trong toàn bộ khu vực sản xuất như sau:
Trang 38321 30 70 741
sx
Với đặc thù nước thải sản xuất trong khu vực là nước ngâm rửa bột với hàm lượng
chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng rất cao, kết hợp với thời gian tồn đọng lại các kênh mương thải lâu nên lúc nào trong làng cũng có mùi chua rất đặc trưng, và mùi hôi thối
từ cống rãnh
Hình 2.1 Một số hình ảnh ô nhiễm trên kênh, mương thải quanh xã Đông Thọ
Bảng 2.2 Kết quả phân tích tại cơ sở sản xuất miến dong tại làng miến xã Đông Thọ và
làng nghề miến Dương Liễu – Hà Nội [6][8]
STT Thông s ố Đơn vị
K ết quả phân tích nước
th ải 40:2011/BTNMT QCVN
(B) Đông Thọ Dương Liễu
thập được tại cơ sở sản xuất miến tại làng miến Dương Liễu – Hà Nội vào tháng 8/2016 – khi chưa vào mùa vụ sản xuất của làng nghề, TSS = 176 mg/l; COD = 586
Trang 39mg/l; BOD5 = 275 mg/l [6], nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ tại làng nghề xã Đông
Thọ thấp hơn, tuy nhiên hàm lượng chất rắn lơ lửng lại cao hơn nhiều lần Nguyên nhân chính phụ thuộc vào cách thức rửa bột của từng khu vực, cũng như nguyên liệu đầu vào khác nhau, khối lượng nguyên liệu sử dụng khác nhau Tuy nhiên, nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất tại làng nghề sản xuất miến là rất lớn
Mặc dù chưa vào thời gian cao điểm nhưng hàm lượng các chất hữu cơ, chất rắn lơ
lửng trong nước thải tại khu vực sản xuất miến đã rất cao Với lượng nước thải bị ô nhiễm này, khi xả vào môi trường trong thời gian dài mà không được xử lý sẽ gây nên
hậu quả rất nghiêm trọng, khiến cho môi trường nước xuống cấp nhanh chóng và gây nên nhiều hệ lụy kéo theo
b Khí thải và chất thải rắn:
Lượng khí thải chủ yếu tại khu vực làng nghề miến này chủ yếu là bụi thải ra trong quá trình tham gia giao thông, sinh hoạt của người dân Lượng bụi này không ảnh hưởng nhiều đến đời sống của dân cư Tương tự với chất thải rắn, phần lớn là rác thải sinh hoạt trên địa bàn, đã được thu gom lại và tập trung tại bãi chôn lấp của xã Các
loại phế liệu do hoạt động bảo dưỡng, sửa sang máy móc được sinh ra không nhiều và thường được tận dụng cho mục đích khác hoặc được thu mua lại Một lượng miến vụn
thừa sinh ra trong quá trình thái sợi miến được người dân thu gom lại để làm thức ăn chăn nuôi gia cầm
Môi trường đất và môi trường không khí tại làng nghề cũng bị ô nhiễm, đó chính là hệ
lụy từ việc gây ô nhiễm môi trường nước của hoạt động sinh hoạt và sản xuất làng nghề làm miến xã Đông Thọ Ngoài diện tích đất ở và các công trình công cộng, cơ sở
hạ tầng… toàn bộ diện tích đất trống đều được người dân tận dụng làm nơi phơi bánh tráng và miến Thậm chí miến được phơi ngay cả trên đường, mương, rãnh và cống ô nhiễm, bốc mùi gây mất vệ sinh Đất trơ trọi, bạc màu và khô cằn không thể trồng cây, rau màu… Vì vậy, ngoài việc sản xuất miến thì người dân trong làng cũng không trồng
trọt
Đặc trưng của nước thải sản xuất miến nói riêng và ngành sản xuất chế biến lương
ực thực phẩm nói chung là có nồng độ chất hữu cơ rất cao Vì vậy, các hợp chất hữu
Trang 40cơ dễ bị phân hủy sinh học bị các vi sinh vật phân hủy tạo các khí có mùi khó chịu, hôi, thối làm ô nhiễm môi trường không khí Đặc biệt là quá trình ngâm bột, theo phản ánh của người dân xung quanh thì mỗi lần các hộ sản xuất miến ngâm bột (thường vào ban đêm hoặc sáng sớm để ban ngày có bột tráng bánh) cả làng bốc lên một mùi chua
nồng và rất khó chịu
2.2 Hi ện trạng ô nhiễm nước thải sản xuất và ảnh hưởng của ô nhiễm đến môi trường nước tại làng miến xã Đông Thọ
2.2.1 Cơ sở và vị trí lấy mẫu
a Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá:
Do tất cả các ao hồ, kênh mương trên địa bàn xã Đông Thọ đều tiếp nhận nguồn nước
thải từ quá trình sản xuất miến, chủ yếu là nước thải ở công đoạn rửa bột nên nước luôn có mùi chua đặc trưng của tinh bột lên men Mặc dù mỗi hộ gia đình đều đã có hệ
thống xử lý nước sơ bộ là bể lắng 3 ngăn (nước thải đi vào ngăn 1 để lọc cát, sau đó đến ngăn 2 và ngăn 3 chủ yếu để lắng rồi xả thải ra kênh mương cạnh nhà) nhưng hệ
thống này hoạt động không hiệu quả, các hộ gia đình không thay lớp vật liệu lọc theo định kì nên khả năng xử lý nước thải thấp Hoạt động sản xuất diễn ra quanh năm nên
mức độ ô nhiễm nước mặt cao
Đặc thù nước thải sản xuất tại các làng nghề sản xuất miến là hàm lượng các chất hữu
cơ và chất dinh dưỡng cao, cùng với đó là hàm lượng chất rắn lơ lửng lớn nên các thông số đánh giá mức độ ô nhiễm nước do nước thải sản xuất được lựa chọn bao
gồm: nhiệt độ, pH, DO, TSS, COD, BOD5, PO43- (tính theo P), NH4+ (tính theo N),
NO3- (tính theo N), Cl-
Để đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề làm miến dong xã Đông Thọ, cần phải khảo sát thực tế và lấy các mẫu nước mặt, nước thải, nước ngầm đại diện để phân tích, từ đó đưa ra những nhận xét dựa trên kết quả thí nghiệm có được
b Lựa chọn vị trí lẫy mẫu:
Vị trí lấy mẫu nước được chọn sao mang tính đại diện cho khu vực phát sinh nước thải
ủa làng nghề Xã Đông Thọ có 6 thôn, trong đó có hai thôn Đoàn Kết và Thống Nhất